dongcong.net
 
 

Suy Niệm và cầu nguyện

Chúa nhật 3 mùa vọng, năm B-2017

Lm Jude Siciliano, OP

Isaia 61:1-2a, 10-11; I Thêsalônica. 5: 16-24; Gioan 1: 6-8, 19-28

Bài Phúc âm hôm nay đến ngay sau Lời Tựa của Phúc âm thánh Gioan "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa" (Ga 1:1). Bài Phúc âm này nói về thực tế: Chúng ta gặp "một người tên là Gioan". Trong khi thánh Luca tả trường hợp ông Gioan sinh ra bởi Ông Zacharia và Bà Elizabeth là hai người đã lớn tuổi, thì Phúc âm thánh Gioan trình bày ông Gioan Tấy Giả đã lớn, đi rao giảng và làm phép rửa bên sông Jordan.

Ông Gioan, người phàm đầu tiên chúng ta gặp trong Phúc âm thánh Gioan, là người được biết ngay là "người được Thiên Chúa sai đến... để làm chứng về ánh sáng". Ông Gioan là người được hưởng ánh sáng và đó là bản tính của ông ta. Ông ta là người được sai đến để chia sẻ với người khác điều gì ông ta đã được hưởng. Ông ta không phải là người được tả là người làm phép rửa, hay là một ngôn sứ, nhưng là một "nhân chứng". Từ ngữ đó được dùng trên 30 lần trong Phúc âm thánh Gioan. "nhân chứng" là từ bởi tiếng Hy lạp "martyria" có nghĩa là "tử đạo". Trong Phúc âm thánh Gioan chúng ta biết một điều mới mà sau này dược diễn tả trong ba Phúc âm Nhất Lãm là làm sao mà ông Gioan được Thiên Chúa định như vậy. Ông ta sẽ bị "tử đạo", vì ông ta làm chứng cho ánh sáng mà Thiên Chúa gởi đến cho thế gian. Số phận ông Gioan cũng là dấu chỉ sự đối kháng của thế gian đối với những người theo ánh sáng mà chúng ta sẽ gặp. Qua phép rửa tội, chúng ta cũng như ông Gioan, được gọi làm nhân chứng cho Ngôi Lời Nhập Thể.

Nếu hôm nay người thuyết giảng đứng trước cộng đoàn và hỏi "Ai sẽ là nhân chứng cho Chúa Kitô?" Tất cả chúng ta, những người đã chịu phép rửa phải đưa tay lên. Nhưng, làm chứng nghĩa là trước hết phải là chứng nhân tại khung cảnh mà chúng ta đang sống. Chúng ta sẽ là những nhân chứng như thế nào? Điều đó tùy việc chúng ta biết Chúa Giêsu như thế nào. Chúng ta trông thấy và nghe Chúa Giêsu ở nơi nào và trong lúc nào trong đời sống chúng ta? Hôm nay chúng ta cảm nghiệm Ngài trong Ngôi Lời và Bí Tích, và trong lời giảng dạy của Giáo hội, trong cộng đoàn tín hữu, giữa những người nghèo khó và sống bên lề. Lễ Giáng Sinh sắp đến gần, chúng ta nghe câu chuyện Thánh Gia trốn qua Ai Cập. chúng ta được nhắc nhở là Đức Kitô cũng ở trong số những người di cư. Chúng ta cũng gặp Ngôi Lời trong cảnh vật thiên nhiên, trong tranh ảnh và những lúc chúng ta thinh lặng cầu nguyện. Trong những khung cảnh này và những nơi khác, ánh sáng chiếu tỏa qua bóng tối âm u của thế gian. Cũng như ông Gioan, chúng ta là tiếng nói để dọn đường cho Đức Kitô đến.

Một trong những cách đưa ngay đến việc làm chứng về đức tin của chúng ta vào Đức Kitô là nói lên điều đó. Có thể, người Công Giáo là những người có đức tin nhút nhát nhất khi nói đến "làm chứng" . Thật ra thì chúng ta có cách làm chứng mà không đối đáp "trước mặt" người khác.Tôi làm sao có thể là "một tiếng nói" để dọn đường cho Đức Kitô ngự đến?: bằng cách làm chứng đức tin của tôi trong cộng đoàn Giáo hội qua sự cộng tác đắc lực trong các tổ chức của giáo xứ và của địa phận; bằng cách là thành phần đắc lực của cộng đoàn để giúp người nghèo, người bị áp bức, người ít học, người di cư; bằng cách nói lên tiếng nói bênh vực các bào thai và các người bị bệnh nan y, và những tù nhân bị tử hình; bằng cách chống lại việc đàn áp những người thiểu số, người Hồi giáo, và người không có giấy tờ hợp pháp để cư ngụ; bằng cách yêu thương kẻ thù, và lên tiếng bênh vực các tạo vật Thiên Chúa dựng nên.

Cũng như ông Gioan Tẩy Giả là nhân chứng cho Đức Kitô đến, chúng ta được nhắc nhở rằng, làm chứng cho Chúa Kitô là một việc có thể gây khó khăn. Chúng ta nên nhớ rằng trong Kinh Thánh từ "làm chứng" là bởi từ "tử đạo" mà ra. Ông Gioan là một người "tử đạo" và chúng ta cũng sẽ như thế. Có thể là chúng ta không gặp chống đối mãnh liệt với việc chúng ta làm chứng vì danh Chúa Kitô. Trong xã hội ngày nay dân chúng thường không mấy để ý đến chúng ta, và làm lơ, hay gọi chúng ta là những người ngu si. Tuy vậy, bổn phận chúng ta là Kitô Hữu là làm chứng với kẻ khác, và chịu hậu quả của việc làm chứng đó, là bị đối xử thậm tệ hay bị gạt ra một bên.

Thường thì trong việc làm chứng cho Chúa Kitô đều luôn luôn gặp khó khăn. Nhất là trong mùa mua bán này. Khi người khác hỏi chúng ta muốn gì trong lễ Giáng Sinh, chúng ta có định đề nghị việc giúp các tổ chứ từ thiện hay không? Hay hoặc đề nghị tặng một con vật như: gà, vịt, dê, cừu cho người nghèo ở các quốc gia thiếu thốn hay không? Bạn nên xem trên mạng, trang của tổ chức quốc tế Heifer để biết một quà đầy ý nghĩa cho lễ Giáng Sinh. Thật là một sự lạ là đề nghị biếu một con dê cho lễ Giáng Sinh. Nhưng, đó có thể là việc thực tế để làm chứng cho ánh sáng Chúa Kitô trong thế gian, một ánh sáng chiếu qua bóng tối âm u và rọi vào gương mặt của những người nghèo.

Hôm nay chúng ta đến để thực hiện phụng vụ giữa Mùa Vọng. Nội việc chúng ta đến nhà thờ là chúng ta đã làm chứng cho ánh sáng. Chúng ta đã nói lên sự quan trọng của Chúa Giêsu trong đời sống chúng ta, và, cũng như ông Gioan Tấy Giả, chúng ta không chú trọng đến chúng ta, mà chú trọng đến Chúa Kitô. Hay, ít ra, chúng ta cố gắng chú trọng đến sự hiện diện của Chúa Kitô ở giữa chúng ta, trong cộng đoàn cầu nguyện, và là bước để chúng ta quay về ánh sáng thật sẽ đến trong thế gian.

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP



3rd ADVENT (B)
Isaiah 61:1-2a, 10-11; I Thess. 5: 16-24; John 1: 6-8, 19-28

Today’s gospel passage comes right after the Prologue to John’s Gospel. "In the beginning was the Word: the Word was with God, and the Word was God" (John 1:1). Today’s passage moves to the very concrete. We meet "a man named John." While Luke describes the circumstances of his birth to the elderly couple Zachariah and Elizabeth, John’s Gospel presents the grownup Baptist already preaching and baptizing near the Jordan River.

John, the first human we meet in John’s Gospel, is immediately identified as "sent from God… to testify to the light." John is a recipient of the light and that is his identity: he is one sent to share what he has received with others. He is not described as the baptizer, or prophet, but as a "witness." It is a term used more than 30 times in John’s Gospel. "Witness" is derived from the ancient Greek "martyria," from which we get our word "martyr." We have an early hint in this gospel, which is further spelled out in the Synoptics, how John will meet his fate. He will be martyred for witnessing to the light God has sent into the world. John’s fate is also a hint to the opposition those who follow the Light of the world will meet. By our baptism we, like John, are called to be witnesses to the Word-made-flesh.

If the preacher were to stand before the congregation today and ask, "Who will be a witness to Christ?" – all of us baptized should raise our hands. But to give witness means we have first witnessed the events we are giving testimony to. What kind of witness shall we be? It depends on how well we have come to personally know Jesus. Where and how do we see and hear him in our lives? We experience him today in the Word and Sacrament; and in the teachings of our church; in our faith community; among the poor and outcast. As Christmas draws closer and we hear the story of the Holy Family’s flight into Egypt we are reminded that Christ is also found among displaced refugees and exiles. We also meet the Word in the world of nature, the arts and in our quiet times of prayer. In these and many other places, the light pierces the darkness of our world. Like John, we are then to be voices that prepare for the coming of Christ.

One of the most direct ways of witnessing to our faith in Christ is by talking about it. Perhaps Catholics are the shyest believers when it comes to "giving witness." Surely we can find ways to do that without being confrontational, or "in the face" of people. How could I be a "voice" that prepares for Christ’s coming? – by witnessing to my faith in my church community through active participation in parish and diocesan ministries; being part of my civic community’s efforts to help the poor, abused, uneducated and migrant; speaking up for the unborn, terminally ill, and those condemned to die; protesting violence towards minorities, Muslims and the undocumented; loving our enemies and being a voice for God’s beloved creation. What would you add to that list?

We are reminded that, as John was a witness to Christ’s coming, witnessing to Christ has its costs. Remember, "witness" in the Scriptures is derived from the word for martyr. John was "martyria" and so are we to be. Most likely we will not meet severe reactions to our witnessing in Christ’s name. In our society people will probably give a light listening and then ignore us, or call us naïve. Still, our job description as Christians is to give witness to others and suffer the consequences, being treated severely, or just being shrugged off.

It is always hard to witness to Christ, but especially in this consumer-oriented season. When people ask us what we want for Christmas would we suggest a donation to a favorable charity? Or, how about chickens, ducks, or goats for poor people in developing countries? Check the Heifer International webpage for meaningful Christmas giving. It is going to feel strange to ask for goats for Christmas, but that might be a concrete way to witness to the light of Christ in the world – a light which pierces the darkness and illumines the face of the poor to us.

We come to worship in the midst of Advent. Just by our coming here we are witnessing to the light. We have made a statement about the importance of Jesus in our lives and, like John the Baptist, we’re not preoccupied with ourselves, but are focused on Christ. Or, at least, we are trying to focus on him and being here, in our community of prayer, is one more step to our turning towards the true light who is coming into the world.

 

Hãy vui lên, vì Chúa sắp đến giải thoát chúng ta
Lm Jude Siciliano OP12/12/2014

Chúa Nhật III VỌNG –B
Isaia 61:1-2a, 10-11; Luca 1: 46-54; I Thêsalônica. 5: 16-24; Gioan 1: 6-8, 19-28

HÃY VUI LÊN, VÌ CHÚA SẮP ĐẾN GIẢI THOÁT CHÚNG TA

Sân khấu hạ màn bất ngờ ở đoạn kết Tin Mừng hôm nay; và chúng ta bị để lại trước một bí nhiệm. Ngay vào cuối cảnh kết, ông Gioan loan báo điều bí nhiệm này. Ông trả lời cho các tư tế và Lêvi được sai đến chất vấn một cách rõ ràng rằng ông không phải là Đấng Kitô, cũng không phải là một ngôn sứ như Êlia, hay Môsê được nói tới suốt thời gian bốn mươi năm Israel lang thang trong sa mạc.

Ông Gioan từ chối tầm quan trọng của mình, nhưng lại xuất hiện rất nổi bật trong các sách Tin Mừng. Độc giả Tin Mừng quen thuộc với một người được gọi là Gioan. Nhưng chúng ta biết Gioan này là vị Tẩy giả, vị Tiền hô của Đức Kitô. Đoạn cuối của bài Tin Mừng kết thúc với lời loan báo của ông Gioan: “Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. Màn sân khấu hạ xuống và chúng ta bị bỏ lại ngay tại chỗ này. Có một người trổi vượt hơn ông Gioan đang đến. Vậy ai là “người sẽ đến”? Ông Gioan cho biết người ấy đã ở giữa chúng ta, vấn đề là làm thế nào để ta nhận ra người? Đây là những câu hỏi của Mùa Vọng để chúng ta suy tư và tìm ra câu trả lời khởi đi từ kinh nghiệm sống của mình.

Vở kịch được bắt đầu với lời từ chối của Gioan rằng ông không phải là ánh sáng, Đấng Kitô, ngôn sứ Êlia, hay Ngôn sứ Môsê; ông nhìn nhận mình thậm chí không xứng để cởi dây giày cho “Đấng sẽ đến.” Ông Gioan là vị tiền hô của một Đấng cao trọng hơn ông, và vì vậy, vai trò của ông là làm chứng cho Đấng sẽ đến. Thế còn chúng ta, chúng ta nhận ra được Đấng sẽ đến không? Làm thế nào ta biết được Người? Ta sẽ tìm kiếm những dấu chỉ nào? Phải chăng ta sẽ tìm kiếm cũng những dấu chỉ mà Đức Giêsu đã biểu lộ trong cuộc đời của Người? Hay chúng ta sẽ bị quyến rũ bởi các tiêu chuẩn của thế gian? Và một khi đã nhận ra rằng Đức Kitô sắp đến, liệu những người đã chịu Phép Rửa trong Thánh Thần như chúng ta, sẽ nhận lấy vai trò chứng nhân cho Đức Giêsu như ông Gioan đã làm?

Điều gì sẽ giúp chúng ta nhận ra Đức Kitô đang ở giữa chúng ta và Người có ý nghĩa gì trong đời ta? Tin Mừng theo Thánh Gioan sẽ cho ta những “dấu chỉ”: Nước hóa thành rượu, người què đi được, nước hằng sống ban cho người phụ nữ xứ Samari, Lazarô sống lại từ cõi chết, v.v… Chính những dấu chỉ này sẽ khai lòng mở trí cho ta đón nhận Đức Kitô. Khi chúng ta khám phá ra ý nghĩa của chúng và nhờ đó nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô, chúng ta sẽ có khả năng làm chứng cho Người, Đấng đã trỗi dậy từ cõi chết và đang hiện diện giữa chúng ta.

Tin Mừng đặc biệt chú ý đến nơi và thời điểm mà ông Gioan làm chứng về Đức Kitô - “Việc này đã xảy ra ở Bêtania, bên kia sông Giođan, nơi ông Gioan làm phép rửa.” Ông Gioan bắt đầu làm chứng cho Đức Kitô trong thời đại, nơi chốn và hoàn cảnh của mình. Giờ đây, nhờ vào Phép Rửa trong Thánh Thần mà chúng ta cũng có thể làm chứng cho Chúa trong thời đại, nơi chốn và bối cảnh riêng của mình. Thế gian là một nơi tối tăm và chúng ta, các chứng nhân của Đức Kitô, mang ánh sáng chiếu rọi vào sự tối tăm này, “để tất cả nhờ đó mà tin.”

Sự khiêm nhường và lời chứng về “Đấng sẽ đến” của ông Gioan cho chúng ta, những thừa tác viên của Chúa, một khoảng lặng để suy tư. Chẳng hạn, với tư cách là một vị chủ tế hay vị giảng thuyết, liệu lời nói và phong cách của tôi lại chỉ tập trung về chính mình hay như ông Gioan, tôi chỉ nói và chỉ ra sự hiện diện của Đức Kitô mà thôi? Nếu ông Gioan nói đúng, “Có vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết,” thì ta phải xem lại cách thức chúng ta xử sự với người lạ và tiếp đón mọi người. Tất cả chúng ta, những thừa tác viên phụng vụ - giúp lễ, người tiếp đón và xếp chỗ, người đọc sách, người lo ca đoàn và thừa tác viên trao Mình Thánh, v.v… - cũng phải tự hỏi liệu cách hành xử của mình trong cũng như ngoài thánh đường có làm chứng về Đức Kitô cho những người biết và đang quan sát chúng ta không.

Ông Gioan Tẩy Giả biết rõ ông là ai cũng như tầm quan trọng của Đấng sẽ đến như thế nào. Vậy ta sẽ trả lời cho những ai hỏi mình: “Ông là ai?” Liệu chúng ta xác định được căn tính của mình trong mối tương quan với Đức Giêsu không? Trong lúc này, chúng ta là những tiếng hô trong hoang địa, “Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi.” Tiên vàn ta phải công bố sứ điệp này cho mình, sau đó cho thế giới. Ta cần phải chuẩn bị tâm hồn, gia đình, cộng đoàn và thế giới của chúng ta cho “Đấng sẽ đến.” Có một cách cụ thể để ta thực hiện điều này, đó là ta sống quảng đại và bắt chước lòng khiêm nhường và sự cho đi của Người.

Chúng ta nghe ông Gioan mời gọi “Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi”, và vì vậy, chúng ta hãy cầu nguyện để trong Mùa Vọng này ta được canh tân lòng nhiệt thành đức tin và tin tưởng vào những gì Đức Kitô đã mời gọi chúng ta: từ bỏ lối sống bạo lực, ích kỷ, tham lam của thế gian, sự thờ ơ trước những nhu cầu bức thiết của anh chị em xung quanh mình. Chúng ta hãy dọn đường cho Chúa đến bằng cách họa lại chính cuộc đời của Đức Kitô nơi cuộc đời của mỗi người trong chúng ta. Khi chúng ta lượng giá cuộc sống của mình và của thế giới xung quanh, ta nhận ra rằng mình chưa chuẩn bị đủ tâm hồn để đón Chúa. Lúc này chúng ta đang sống trong tình thương của Đức Kitô, vì vậy ta không sợ hãi khi đợi chờ và hy vọng.

Trích đoạn trong sách Isaia thật thiết thực cho những Kitô hữu chúng ta. Ở chương 4,16-30 trong Tin Mừng theo Thánh Luca, Đức Giêsu trong hội đường đã dùng đoạn trích này. Người đã nhận chính Người là sự thành toàn của niềm hy vọng đã được diễn tả trong trích đoạn Isaia này. Khi chọn đoạn Sách Thánh này, Đức Giêsu bác bỏ kiểu mong đợi một đấng Mêsia - vị Vua mang màu sắc quân phiệt của nhiều người đương thời. Thay vào đó, “Đấng sẽ đến” tuyệt nhiên không phải là kẻ sẽ chinh phục và thống trị bằng sức mạnh vũ lực. Đức Giêsu nhận ra sứ mạng của mình trong ánh sáng của lời ngôn sứ Isaia: loan báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, kẻ giam cầm được tự do và công bố một năm hồng ân của Chúa - năm hồng ân vĩ đại nhất trong các năm hồng ân, khi đất đai không được canh tác, các nô lệ được trả tự do, và nợ nần được xóa bỏ. Đây là cơ hội nghìn năm có một dành cho toàn thể cộng đồng.

Theo truyền thống, ngày hôm nay được gọi là “Chúa Nhật hân hoan” - Nhắc ta nhớ lại lời khuyên nhủ của thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Thêxalônica, “Anh em hãy vui mừng luôn mãi.” Trong thế giới ngổn ngang này, ta có lý gì để vui mừng được? Chúng ta chú tâm đến những gì ông Gioan ra dấu cho chúng ta: Đấng sắp đến sẽ công bố tin mừng, giải thoát chúng ta khỏi mọi sự giam hãm. Năm hồng ân mà Đức Giêsu công bố đã bắt đầu, nó đang diễn ra và chúng ta là một phần trong đó. Chúng ta cũng đã được xức dầu tấn phong để ra đi loan báo tự do cho những ai bị giam cầm cách này cách khác qua chính lời nói cũng như hành động của chúng ta.

Chúng ta đã cảm nghiệm được năm hồng ân trong cuộc đời chúng ta chưa? Một số người đã có được cơ hội làm lại cuộc đời vì đã được giải thoát khỏi cơn nghiện ngập ma túy, rượu chè và khỏi những mối tương quan tiêu cực để có một cuộc sống mới. Những người khác lại có cơ hội để khởi đầu lại vì tội lỗi của mình được tha thứ. Sự chữa lành nội tâm này giúp họ bớt âu lo và sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn.

Tóm lại, ngôn sứ Isaia hứa một Đấng sẽ được Thiên Chúa sai đến để chữa lành tâm hồn tan nát và ban cho chúng ta tự do và cảm nghiệm được niềm vui trong mối tương quan với Thiên Chúa. Ông Gioan Tẩy Giả mời gọi dân chúng hãy chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận lời hứa của Thiên Chúa sẽ được thành toàn nơi “Đấng sẽ đến.” Đức Giêsu đến luôn mang lại sự giải thoát và canh tân trong cuộc đời chúng ta, như lời ngôn sứ Isaia đã hứa. Đó cũng chính là những gì ông Gioan rao giảng. Chính vì thế, thánh Phaolô cho thấy kết quả của việc Đức Kitô đến, những người tin như chúng ta nên làm điều rất tự nhiên đó là “anh em hãy vui mừng luôn mãi!”

Chuyển ngữ: AE. HV. Đaminh Gò Vấp

3rd SUNDAY OF ADVENT (B) -
Isaiah 61:1-2a, 10-11; Luke 1: 46-54; I Thess. 5: 16-24; John 1: 6-8, 19-28

The curtain comes down suddenly at the end of today’s gospel. And we are left with a mystery. Just before the end of this act John speaks an enigmatic pronouncement. He has responded to the priests and Levites sent to question him and has made it quite clear that he is not "the Christ," nor a prophet like Elijah, nor "the Prophet" Moses spoke of during Israel’s forty-year wandering in the desert.

John may deny his importance, but he is a significant presence in the gospels. He is so well known by gospel readers that he is simply called John. But we know this is the Baptist, the precursor of Christ. Still, today’s scene ends with John’s pronouncement, "There is one among you whom you do not recognize, the one who is coming after me, whose sandal strap I am not worthy to untie." That’s where we are left as the curtain drops. There is someone more important than John coming. Who is this "one who is coming?" If, as John says, he is already among us, how will we identify him? These are Advent questions we will need to reflect upon and come up with our own responses from our experience.

The drama is built up by John’s denial that he is: the light, the Christ, Elijah, the Prophet and his admission that he is even unworthy to untie the sandal strap of "the one who is coming." John is the forerunner of someone even more significant than he and so his role is to give "testimony," or witness to the one coming. How about us, will we recognize the one who is to come? How will we know him? What signs are we looking for? Will we look for the same signs that Jesus exhibited in his lifetime? Or will we be seduced by the criteria of the world? And when we do recognize the arrival of Christ we, we who have been baptized with the Holy Spirit, will, like John, also be given the role of "witnessing" to Jesus, as John did.

What will help us recognize Christ in our midst and his meaning for our lives? The gospel of John will present "signs" to us: the water turned to wine, the cripple cured, the living water offered the Samaritan woman, Lazarus raised from the dead, etc. These signs will open our minds and hearts to Christ. Then, when we discover the significance of the signs and recognize in them Christ’s presence, then we will be enabled to give our own testimony of Christ, raised from the dead and among us now.

The gospel is specific about where John was when he testified about Christ – "this happened in Bethany across the Jordan where John was baptizing." John begins his testimony to Christ in his own time, place and circumstance. Now, thanks to our baptism in the Spirit, we can testify in our own time, place and circumstance. The world is a dark place and Christ’s witnesses bring his light into the darkness, "so that all might believe" – through us.

John’s humility and words about "the one who is to come" gives us ministers a moment’s pause for reflection. For example, as a presider/preacher do my words and mannerisms call attention to myself, or do I, like John, speak of and point to Christ’s presence? If what John says is true, "there is one among you whom you do not recognize," then we must reflect on how we treat strangers and greet people at our services. All of us liturgical ministers – servers, greeters, lectors, music and Eucharistic ministers, etc – must also ask whether our behavior both in and beyond the sanctuary gives testimony to Christ to all who know or observe us.

John the Baptist knew who he was and also the importance of the one who was to come. How would we answer someone who asked us, "Who are you?" Would we identify ourselves in our relation to Jesus? Now we are the voices in the desert crying out, "Make straight the way of the Lord." We announce this message first to ourselves and then to the world. We are to prepare our hearts, our homes, our communities and our world for the "one who is coming." One way we do this is by our living generously and imitating his meekness and his self-giving.

We hear John’s call to "make straight the way of the Lord" and so we pray this Advent for renewed fervor of faith, trusting what Jesus has shown us: rejecting the world’s ways of violence, selfishness, greed and indifference to the needs of people around us. We prepare for the Lord’s coming by conforming our lives to that of Christ. As we examine our lives and the world around us, we realize how much is not yet prepared to receive the Lord. Yet, we live in Christ’s love and have no fear as we wait and hope.

Our Isaiah passage is an essential one from the Hebrew Scriptures for us Christians. In chapter 4:16-30 of Luke’s gospel, Jesus is in the synagogue and quotes from this section of Isaiah. He identifies himself as the fulfillment of the hope expressed in it. In choosing this passage Jesus rejected the militaristic expectation many had for the Messiah-King. Instead, the "one who is to come" is certainly not one who conquers and rules by force. Jesus sees his role in light of Isaiah’s prophecy, as proclaiming good news to the poor, liberty to captives and a Jubilee year – the greatest of all sabbatical years, when the land was to lie fallow, slaves freed, and debts canceled. A big second chance offered to the whole community.

Today is traditionally called "Gaudete Sunday," – Rejoice Sunday. Note Paul’s instruction to the Thessalonians, "Rejoice always." What is the reason in our still-undone world for this rejoicing? We attend to what John the Baptist has signaled for us: one is coming to proclaim good news and release from whatever holds us captive. The Jubilee year Jesus announced has begun for us, it continues to happen and we are part of it. We have also been anointed to proclaim, through words and actions, freedom for those held captive in any way.

Haven’t we experienced the Jubilee in our lives? Some have been given a second chance by being set free from drugs, alcohol or from destructive relationships, to a new life. Others have been given a chance to start over through forgiveness of their sins and by interior healings that enabled them to live fuller lives with less fear and anxiety.

In sum: Isaiah promises one will be sent by God to heal our broken heart and to give us liberty and the experience of joy in relationship to God. John the Baptist primes the people and calls them to prepare themselves to see God’s promise fulfilled in "one who is coming." Jesus’ arrival into our lives is always freeing and renewing. Just as the prophet Isaiah promised. That’s what John announced. So, as a result of Christ’s arrival Paul directs us to do what should come naturally for believers, "Rejoice always!"

 

CN III MÙA VỌNG (B), 11-12-2011
Is61:1-2a,10-11;Lc1: 46-48,49-50; 1Thêxalônica5: 16-24; Gioan 1: 6-8, 19-28
Lm. Jude Siciliano, OP
LÀM CHỨNG VỀ ÁNH SÁNG

Những tín hữu am hiểu Tân Ước thì sẽ hiểu ngay bài đọc Isaia hôm nay. Trong Tin Mừng Luca (4,14-30), Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai của mình trong hội đường ở Narareth. Người được mời đọc và giải thích Sách Thánh. Thánh Luca kể, khi người ta trao cho Người sách ngôn sứ Isaia, “Người mở ra, gặp đoạn chép rằng…”. Có vẻ như Đức Giêsu cố ý chọn đoạn sách ngôn sứ Isaia này. Sau khi đọc xong, Người ngồi xuống và ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Và đây có lẽ là bài giảng ngắn nhất mà Đức Giêsu từng giảng cho họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." (Lc 4,21).

Nghe lời tiên báo của ngôn sứ Isaia hôm nay, những người Kitô hữu chúng ta, không thể không liên hệ lời ấy với Đức Giêsu. Chọn cách này làm khởi đầu sứ vụ rao giảng của mình, Đức Giêsu đã tỏ cho thấy Người tự ý thức về mình ra sao. Người tự nhận mình trong vai trò của một người tôi tớ. Người sẽ không cai trị bằng quyền lực, nhưng giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi bằng sự bất lực của một người nô lệ vốn sẽ chịu đau khổ.

Có lẽ điều mà các độc giả Kitô hữu ít biết đến là một cụm từ rất ấn tượng đối với các anh chị em Dothái của chúng ta. Vị ngôn sứ, như Isaia cho biết, đến để “công bố một năm hồng ân của Đức Chúa”(6,2). Người tôi tớ của Thiên Chúa sẽ đến để công bố một Năm Hồng Ân cho những người đang sống cảnh tha hương và những ai bị cầm tù. Năm Hồng Ân là năm vĩ đại nhất trong tất cả những năm Sabát. Cứ mỗi bảy năm thì có một năm Sabát, nhưng phải bẩy lần năm Sabát thì mới có một Năm Hồng Ân – nghĩa là mỗi 49 năm.

Suốt năm Sabát, đất đai không được canh tác; các nô lệ được trả tự do và nợ nần được xóa. Còn suốt Năm Hồng Ân, đất đai phải được trả lại cho những chủ đầu tiên. Vì thế, những người chủ đất nghèo, những người đã phải bán đất của mình trong lúc cơ cực, sẽ được nhận lại đất của mình. Sẽ không có sự tích lũy của cải hay những mảnh đất lớn được thuê hàng loạt (Isaia sẽ nói gì về sự phân cách giữa người rất giàu và những người khác trong đất nước chúng ta – tỉ lệ 1% và 99%?). Do đó, chẳng có gì ngạc nhiên khi Năm Hồng Ân hầu như không bao giờ được cử hành ở Israel.

Nhưng Năm Hồng Ân dần dần có liên quan đến khoảng thời gian lý tưởng tương lai khi Đấng Mêsia đến và hoàn trọn những hy vọng mỏi mòn.  Hãy hình dung phản ứng của những người trong hội đường khi Chúa Giêsu công bố bài đọc trích từ sách ngôn sứ Isaia và thêm vào lời công bố ngắn gọn của Người: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Những thính giả của Đức Giêsu có lẽ đã nghĩ Người bị điên hoặc quá táo bạo khi dám quả quyết về mình như thế. “Mọi người trong hội đường  đầy phẫn nộ” (4,28?). Thế rồi, thánh Luca cho chúng ta biết, họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực (4, 29).

Chúng ta chưa từng biết đến kinh nghiệm được xóa bỏ nợ nần tài chính, hay xé bỏ những văn tự thế chấp trong thời chúng ta -điều đó chẳng khác thường sao! Nhưng chúng ta tin Đức Giêsu đã hoàn thành lời ngôn sứ của Isaia. Chúng ta không cảm thấy hy vọng và niềm vui mà đoạn văn của vị ngôn sứ gợi lên hay sao? Ông đưa ra lời hứa với chúng ta rằng quá khứ có thể bị gạt sang một bên để khởi đầu một ngày mới. Những người sầu khổ sẽ được ủi an; tất cả được cho những kẻ khốn cùng.  Ai có thể mang lại sự chữa lành và sự hồi phục mà chúng ta vẫn thường cố hết mình để đạt cho được, nhưng không thành công? Chỉ có Đấng đã được Thiên Chúa xức dầu mới có thể và Người sẽ đến làm trổ hoa công chính. Khi nhận ra điều này, chúng ta chỉ có thể đáp lại bằng lời ca ngợi (“Vì thế, Đức Chúa là Chúa Thượng cũng sẽ làm trổ hoa công chính, làm trổi vang lời ca ngợi trước mặt muôn dân”).

Những vị ngôn sứ như Isaia và Đức Giêsu là  những nhà cách mạng; cả hai đòi một sự thay đổi toàn diện trật tự xã hội. Đó không phải là điều mà những người có địa vị và những kẻ áp bức muốn nghe. Nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi họ muốn giết các ngôn sứ. Chúng ta, Giáo hội, được mời gọi để tiếp tực những gì ngôn sứ Isaia và Đức Giêsu đã thực hiện. Chúng ta phải loan báo Tin Mừng cho những kẻ tù đày và người bị áp bức, không chỉ bằng lời nói nhưng còn qua những việc chúng ta làm. Và vì đó, chúng ta cũng sẽ phải chịu những hậu quả. 

Qua ngôn sứ Isaia và Đức Kitô, chúng ta được mời gọi đứng về phía Thiên Chúa, Đấng muốn tẩy trừ bất công và tất cả những gì làm khổ các thụ tạo của Thiên Chúa. Chủ đề Mùa Vọng này mang lại hy vọng cho sự biến đổi cá nhân và cộng đoàn, và đảm bảo rằng Thiên Chúa sẽ hoạt động với chúng ta khi chúng ta nỗ lực hoàn thành những gì mà ngôn sứ Isaia đã thị kiến và Đức Kitô đã đến thực hiện – sự công bình, việc chữa lành và sự bình an cho khắp thế giới.

Người tôi tớ nói trong đoạn này đã được ban cho một ơn gọi phục vụ cộng đoàn nhân loại. Thần Khí Chúa là nguồn sức mạnh của người tôi tớ. Làm sao một việc như có thể được hoàn thành, nếu không nhờ việc xức dầu của Thần Khí Chúa? Thiên Chúa đã hoạch định Tin Mừng cho mọi người và Tin Mừng đó được thực hiện bởi tác nhân con người là Đức Kitô. Và bởi ai nữa? Bởi tất cả chúng ta là những người đã được rửa tội nhân danh Đức Kitô và được Thần Khí của Người xức dầu. Điều mà ngôn sứ Isaia mơ ước và Đức Giêsu khởi đầu, thì chúng ta sẽ phải tiếp tục thực hiện.

Việc  Đức Giêsu công bố một Năm Hồng Ân không phải là sự kiện có một không hai. Năm Hồng Ân cũng không đến bất ngờ đối với các thính giả của Người. Qua Đức Kitô, Năm Hồng Ân tiếp diễn trong hiện tại và nó diễn ra qua chúng ta. Qua Bí tích Rửa tội và Bí tích Thêm sức, chúng ta được sai đi để công bố Năm Hồng Ân.

Trong ánh sáng của tự do mà Đức Kitô đã ban cho chúng ta, làm cách nào chúng ta có thể trở nên khí cụ của đời sống mới cho người khác? Chúng ta đã có sức mạnh để mang lại tự do cho con người, trong gia đình của mình, trong đám bạn và đồng nghiệp bằng cách tha thứ cho những ai đã xúc phạm đến chúng ta; bớt khắt khe với họ; nâng đỡ những ai đang nỗ lực muốn thay đổi. Chúng ta cũng có thể làm việc theo những chương trình giúp giải thoát con người khỏi sự nghèo đói, khỏi nghiện ngập và bất công. Chúng ta không chỉ được giải thoát. Hơn thế nữa, chúng ta được tự do để thực hiện mục đích ngay lành, loan báo Tin Mừng cho những người bị tù đày dưới bất cứ hình thức nào.

Tuần trước, ông Gioan Tẩy giả đã xuất hiện trong những câu mở đầu của Tin Mừng thánh Máccô. Hôm nay ông lại xuất hiện lần nữa, lần này ông được thánh sử Gioan mô tả. Khi những nhân vật quan trọng bước vào chính trường thế giới hay những cuộc tranh luận để được bầu vào chức vụ nào đó, chúng ta thường nghe họ thao thao về những thành tựu của họ. Chắc chắn thánh Gioan cũng xứng đáng và có thể đòi được ca ngợi, sau hết, chúng ta nói cho biết rằng: “Gioan được Thiên Chúa sai đến”.

Nhưng tác giả Tin Mừng có vẻ muốn giảm thiểu tầm quan trọng của Gioan Tẩy giả và giới hạn vai trò của ông. Trước hết, ông được mô tả không phải là “ánh sáng”. Sau đó, khi được các nhà cầm quyền Dothái hỏi: “Ông là ai?” Ông trả lời rằng “tôi không phải” như những gì người ta nghĩ. Ông không phải là Đấng Kitô, cũng chẳng phải là Êlia. Trong cuộc đời của mình, ông Gioan Tẩy giả đã thu hút một lượng người đáng kể và hăng say theo ông suốt đời. Vì thế, tác giả Tin Mừng đang cố gắng sửa mọi thứ cho thẳng, vì ngay khi sách Tin Mừng cuối cùng này được viết ra thì cũng có người xem Gioan cao trọng hơn Đức Giêsu. Sau hết, họ đã cho rằng, chẳng phải Đức Giêsu đã làm theo lời Gioan lúc chịu phép rửa của ông sao?

Mục  đích của ông Gioan Tẩy giả là giới thiệu Đức Giêsu cho người ta biết và rồi nhường chỗ cho Người. Những người chất vấn ông không biết ông là ai. Qua Tin Mừng này, những vấn đề đặt ra cho Gioan thì cũng được đặt ra cho Đức Giêsu. Đức Giêsu sẽ kéo mọi người đến với Người, vì họ nhận ra nơi Người vòng tay yêu thương của Thiên Chúa. Những người khác cũng sẽ đặt ra cho Ngài nhiều vấn đề; không phải là những câu hỏi chất vấn, nhưng là những vấn đề nhằm dồn Người vào đường cùng. Người sẽ giải đáp những vấn đề của họ, nhưng tâm hồn khép kín và tâm trí của họ sẽ không mở ra để bước vào mối tương quan niềm tin với Ngài.

Mỗi chúng ta cũng có phận sự khi lãnh nhận Bí  tích Rửa tội. Giống như Gioan Tẩy giả, chúng ta phải dọn đường cho Đức Kitô. Trước hết, Người xếp chúng ta vào hàng chứng nhân của Người – “làm chứng về ánh sáng”. Chúng ta có nghĩa vụ làm chứng cho sự hiện diện của Người giữa chúng ta, đặc biệt là nơi những người nghèo và những người hèn mọn.

Chúng ta sẽ mừng sinh nhật của Đức Kitô trong hai tuần nữa. Nhưng lưu ý cách chúng ta đã quan tâm thế nào đến Người như một người trưởng thành trong những đoạn Tin Mừng của Mùa Vọng. Trong đó có một thông điệp: trước tiên chúng ta phải được Đức Kitô trưởng thành lôi cuốn và biến đổi. Sau đó chúng ta sẽ thấy được ý nghĩa về việc Người sinh ra giữa chúng ta. Nếu Người không biến đổi cuộc đời chúng ta và chúng ta không đón nhận đường lối của Người, thì hài nhi trong máng cỏ sẽ chỉ là một đứa trẻ đáng yêu được trưng bày trong một khung cảnh đẹp như tranh nơi những cửa sổ của tiệm tạp hóa và trên những tấm thiệp chúc mừng. 

Lm. Jude Siciliano, OP

Chuyển ngữ:: Anh em HV Đaminh Gò-Vấp

3rd SUNDAY OF ADVENT(B)-December 11,20012
Isaiah 61:1-2a, 10-11; I Thess. 5: 16-24;
John 1: 6-8, 19-28
By Jude Siciliano, OP

 

Believers familiar with the New Testament will recognize the Isaiah reading today. In Luke’s gospel (4:14–30) Jesus begins his public ministry in the synagogue in Nazareth. He had been invited to read and comment on the Scriptures. When he was handed the book of the prophet Isaiah, Luke says, "He unrolled the scroll and found the passage where it was written…." It seems Jesus deliberately chose this passage from Isaiah. After he read it he sat down and the congregants’ eyes were fixed on him. Then Jesus gives probably the shortest sermon ever preached, "Today, this scripture has been fulfilled in your hearing" (Luke 4:21).

Hearing Isaiah’s prophecy today we Christians can’t help but relate it to Jesus. By choosing it as his inaugural preaching Jesus revealed how he understood himself. He saw himself in the role of a servant. He will not rule from power, but will release us from sin by the powerlessness of a slave who will suffer.

Perhaps less familiar to Christian readers in the Isaiah passage is a phrase that would jump off the page for our Jewish sisters and brothers. The messenger, Isaiah says, comes "to announce a year of favor from the Lord" (6:2). The servant of God will come to declare a Jubilee year to exiles and those imprisoned. The Jubilee was to be the greatest year of all sabbatical years. A sabbatical year happened every seven years, but a Jubilee year was every seven sabbaticals – every 49 years.

During the sabbatical year the land was to be left fallow; slaves set free and debts canceled. During the Jubilee the land was to be returned to its original owners. So, impoverished land owners, who may have sold their land during times of dire need, would receive their land back. There would be no accumulation of wealth and vast land holdings. (What would Isaiah say about the separation in our country between the very rich and the rest of the nation–the 1% and the 99%?) It’s not surprising that the Jubilee year was most likely never observed in Israel.

But the Jubilee year became identified with some future ideal time when the Messiah would arrive and fulfill long-held hopes. Imagine the reaction of the people in the synagogue when Jesus proclaimed this reading from Isaiah and added his succinct announcement, "Today this scripture has been fulfilled in your hearing." Jesus’ hearers must have thought him mad or presumptuous to make such a claim about himself. "The whole audience was filled with indignation" (4:25). Then, Luke tells us, they led Jesus to the brow of the hill "to hurl them over the edge" (4:29).

We haven’t experienced the cancellation of financial indebtedness, nor the ripping up of mortgages in our time – wouldn’t that be extraordinary! But we believe Jesus fulfilled Isaiah’s prophecy. Don’t we feel the hope and joy the prophet’s passage is meant to stir up? He holds out the promise for us that the past can be put aside and a new day begun. Comfort is offered to broken hearts; wholeness promised to those shattered. Who can possibly bring the healing and restoration we have so often attempted on our own – without success? Only God’s Anointed can and he is coming to bring forth new shoots of justice. Our response on seeing this can only be praise. ("So will the Lord God make justice and praise spring up before all nations.")

Prophets like Isaiah and Jesus are revolutionaries; they call for a complete change in the social order as it is. That’s not what the well-established and oppressors want to hear. It’s no wonder they want to kill prophets. What Isaiah promised and Jesus fulfilled we, the church, are called to continue. We must preach good news to prisoners and oppressed not only in words, but through our deeds. And for that we too might have to suffer the consequences.

Through Isaiah and the Christ we are invited to stand with God who wants an end to injustice and all that afflicts God’s creatures. This Advent text offers hope for personal and community transformation and assures us that God will work with us as we attempt to bring about what Isaiah envisioned and Christ came to fulfill – justice, healing and peace throughout the world.

The servant who speaks in this passage has been given a vocation to serve all the human community. The Spirit of God is the source of the servant’s power. How else could such a task be accomplished, except by the anointing of God’s own Spirit? God has planned good news for all and it is to be accomplished by a human agent – the Christ. And by whom else? By those of us who are baptized in Christ’s name and anointed by his Spirit. What was a dream expressed by Isaiah and begun by Jesus, is now ours to continue.

Jesus’ announcement of the Jubilee year was not a once-only event. Nor did it come suddenly upon his hearers. Through Christ the Jubilee continues to happen in the present and it happens through us. Through our baptism and confirmation we are sent to proclaim the year of favor.

In the light of the freedom Christ has given us, how can we be instruments of new life for others? We already have the power to set people free, in our own families, circle of friends and co-workers by: forgiving those who have offended us; being less demanding on them; supporting individuals in their efforts to change. We can also work with programs that set people free from poverty, addictions and injustice. We have not just been set free. Rather, we are free FOR some good purpose, some announcement of good news for those imprisoned in any way.

John the Baptist appeared last week in the opening verses of Mark’s gospel. Once again he appears today, this time he is described by John, the Evangelist. When important figures enter onto the world stage, or in national debates for elected office, we usually hear a litany of their achievements. John certainly would deserve and could claim accolades, after all, we are told "John was sent from God."

But the Evangelist seems to be subverting the Baptist’s importance and limiting his role. He is first described as not being "the light." Then, when asked by the Jewish authorities, "Who are you?" He responds with "I am not" statements. He is not the Christ… not Elijah. The Baptist had attracted a considerable and excited following in his lifetime. So the Evangelist is trying to set things straight, because even when this last gospel was written there were those who saw John as superior to Jesus. After all, they would argue, didn’t Jesus defer to John at his baptism?

John the Baptist’s purpose was to point to Jesus and then step aside. Those questioning him do not understand who he is. Throughout this gospel the questions put to John are put to Jesus. Jesus will draw people to himself because they saw in him the embrace of God’s love. Others will just have questions to put to him; not the questions of searching inquirers, but questions intended to corner him. He will answer their questions, but their closed hearts and minds will not be open to entering into a relationship of faith with him.

Each of us has our baptismal task. Like John the Baptist we are to prepare a way for Christ. He ranks first, we are his witnesses – "witnesses to the light." We are charged to give witness to his presence among us, especially in the poor and the least.

We will celebrate the birth of Christ in two weeks. But notice how much attention is given to him as an adult in these gospel passages of Advent. There is a message in that: we must first be drawn to and changed by the adult Christ. Then we will see the significance of his birth among us. Unless he has changed our life and we have absorbed his ways, the infant in the manger will just be a cute baby displayed in a picturesque setting in department store windows and on greeting cards.

Fr. Jude Siciliano, OP

Lm Jude Siciliano OP December 15, 2017

 

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)