dongcong.net
 
 

Suy Niệm của Lm Đan Vinh

 HIỆP SỐNG TIN MỪNG B – LM ĐAN VINH

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH A.B.C
Cv 4.32-35 ; 1 Ga 5,1-6 ; Ga 20,19-31
PHÚC THAY AI KHÔNG THẤY MÀ TIN

I.HỌC LỜI CHÚA
1.TIN MỪNG: Ga 20,19-31:
(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”. (24) Một người trong Nhóm Mười Hai tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. (25) Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa! Ông Tô-ma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. (26) Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. (27) Rồi người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra và đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. (28) Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! “(29) Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc cho những người không thấy mà tin!”. (30) Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ ; Nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. (31) Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.

2.Ý CHÍNH:
Tin Mừng Gio-an hôm nay tường thuật hai lần Đức Giê-su hiện ra với các tông đồ. Cả hai lần đều vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần và cách nhau một tuần lễ. Lần đầu Tô-ma vắng mặt, và lần sau có ông hiện diện. Khi hiện ra lần thứ hai, Đức Giê-su đã thỏa mãn đòi hỏi của Tô-ma đòi được “mắt thấy tai sờ”. Khi được Chúa Phục Sinh hiện ra, lập tức Tô-ma đã có đức tin và tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Sau đó, Đức Giê-su đã động viên các tín hữu về sau là những người chỉ có đức Tin bởi nghe: “Phúc thay những người không thấy mà Tin!”.

3.CHÚ THÍCH:
- C 19-20: + Ngày thứ nhất trong tuần: Ngày nay, Giáo Hội đã chọn Ngày Thứ Nhất trong tuần để mừng mầu nhiệm Chúa Phục Sinh và gọi là Chúa Nhật hay Ngày Của Chúa. Đây là ngày lễ nghỉ, thay thế Thứ Bảy (Sa-bát) của Do Thái Giáo. + Đức Giê-su đến: Đức Ki-tô hiện đến trong lúc phòng đóng kín. Điều này cho thấy thân xác phục sinh của Người có đặc tính thiêng liêng siêu việt, có khả năng hiện diện khắp nơi. + Bình an cho anh em! Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa: Đức Ki-tô Phục Sinh đem lại sự bình an (x. Ga 20,19.21) và niềm vui (x Ga 20,20) cho các môn đệ (x Ga 14,27). + Người cho các ông xem tay và cạnh sườn: Đức Giê-su Phục Sinh cũng là Đấng đã bị đóng đinh chân tay vào thập giá (x. Ga 19,18), và bị lưỡi đòng đâm thâu cạnh sườn (x. Ga 19,34). Điều này cho thấy có một dây liên kết giữa mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh.

- C 21-23: + Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em: Tông đồ nghĩa là “được sai đi”. Sứ mạng này xuất phát từ Chúa Cha truyền cho Đức Giê-su, và giờ đây đến lượt Đức Giê-su Phục Sinh lại truyền cho các môn đệ và tất cả mọi tín hữu. + Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”: Theo Kinh Thánh, hơi thở chính là sự sống. Như xưa, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào con người A-đam và ban sự sống cho ông (x. St 2,7), thì nay, Đức Giê-su Phục Sinh cũng thổi Thần Khí cho các môn đệ. Rồi đến lượt các môn đệ lại sẽ ban sự sống thiêng liêng ấy cho các tín hữu. + “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”: Đức Giê-su được Gioan Tẩy Giả giới thiệu là Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian (Ga 1,29). Khi làm phép lạ chữa lành một người bại liệt, Đức Giê-su đã cho thấy Người có quyền tha tội (x. Mt 9,6). Trong bài Tin Mừng hôm nay, Người còn thiết lập Bí Tích Giải Tội, ban quyền tha tội cho các Tông đồ bằng việc thông ban Thánh Thần cho các ông. Từ đây các Giám Mục kế vị các Tông đồ sẽ tiếp tục thông ban quyền tha tội cho các linh mục là những cộng sự viên của các ngài.

- C 24-25: + Một người trong Nhóm Mười Hai tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô: Tô-ma là một trong Mười Hai Tông đồ (x. Mt 10,3). Biệt danh là “Sinh Đôi”. Tính tình bộc trực và can đảm (x. Ga 11,16). Ông ưa nêu ra thắc mắc khi Đức Giê-su giảng để được Người dạy rõ hơn (x.Ga 14,5). + Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người...: Tô-ma đòi được “mắt thấy tay sờ”, nghĩa là đòi một đức tin khả giác giống như một nhà khoa học thực nghiệm (x. Ga 20,25). + “... thì tôi chẳng có tin”: Nhiều môn đệ khác cũng cứng tin như thế. Tin Mừng Nhất lãm đã nói tới sự cứng tin của các ông như sau: “Nhưng có mấy ông vẫn hoài nghi” (Mt 28,17) ; “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người chỗi dậy” (Mc 16,14) ; Chúa phán: “Sao anh em lại hoảng hốt? Sao còn ngờ vực trong lòng?” (Lc 24,38)

- C 26-27: + “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay thầy”. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy: Đức Giê-su đã thoả mãn những đòi hỏi của Tô-ma. + Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin: Đức Giê-su tuy khiển trách tội cứng lòng của Tô-ma, nhưng Người cũng thông cảm và chỉ kêu gọi ông từ bỏ sự cứng lòng để tin vào mầu nhiệm Phục sinh của Người.

- C 28-29: + Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”: Tô-ma là môn đệ cuối cùng tin Đức Giê-su sống lại, nhưng lại là người đầu tiên tuyên xưng nội dung đức tin đầy đủ nhất về Đức Giê-su: Người vừa là Chúa (Cứu Chúa), vừa là Thiên Chúa. + Phúc thay những người không thấy mà tin”: Từ nay trở đi, đức tin và mầu nhiệm Phục Sinh không dựa trên kinh nghiệm khả giác về các lần hiện ra nữa, nhưng dựa trên lời chứng của các Tông Đồ (x. Ga 19,35). Sau này các tông đồ còn làm chứng về Đức Giê-su Phục Sinh bằng việc sẵn sàng chịu chết vì đức tin vào mầu nhiệm ấy.

4.CÂU HỎI: 1) Tại sao ngày nay Hội Thánh chọn ngày thứ Nhất trong tuần làm ngày Chúa Nhật thay vì ngày Thứ Bảy (Sabát) như đạo Do thái? 2) Việc Đức Giê-su Phục Sinh đến giữa các môn đệ tại nhà Tiệc ly đang khi cửa đóng kín cho thấy thân xác của Người sau khi sống lại có phẩm chất gì? 3) Qua lời chào chúc, Chúa Phục Sinh đến đã đem lại điều gì cho các môn đệ?4) Qua việc cho môn đệ xem tay và cạnh sườn, Chúa Phục Sinh muốn nói gì với các ông? 5) Sứ mệnh tông đồ thừa sai của Hội Thánh phát xuất từ đâu và vào lúc nào? 6) Tại sao Đức Giê-su lại thổi hơi ban Thần Khí cho các môn đệ? 7)Bằng chứng nào cho thấy Đức Giê-su có quyền tha tội và Người thiết lập bí tích Giải tội ban quyền tha tội cho Hội Thánh khi nào? 8) Tin Mừng cho biết gì về tông đồ Tô-ma? 9) Tô-ma và các tông đồ có dễ tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giê-su hay không? 10) Khi hiện ra lần thứ hai, Chúa Giê-su đã làm gì để thỏa mãn đòi hỏi mắt thấy tay sờ của Tô-ma? 11) Cuối cùng Tô-ma đã đạt tới đức tin trọn vẹn qua lời tuyên xưng nào? 12) Ngày nay các tín hữu dựa vào đâu để tin vào mầu nhiện Phục Sinh của Chúa Giê-su? 13) Sự cứng lòng của Tô-ma và của các tông đồ có giá trị thế nào đối với đức tin của các tín hữu hôm nay?         

II.SỐNG LỜI CHÚA

1.LỜI CHÚA: Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha” (Da 20,23),

2.CÂU CHUYỆN: NẾN PHỤC SINH KHOAN DUNG
Tại một nước Công giáo toàn tòng kia, có một tập tục tốt đẹp này là: Mỗi năm vào dịp lễ Phục Sinh, nhà vua mở ra một tuần đặc xá cho các tội nhân phạm trọng án còn đang ẩn trốn. Vào cuối Thánh lễ Canh thức Đêm Phục Sinh tại nhà thờ Chánh tòa, chính nhà vua sẽ châm lửa mới từ cây nến Phục Sinh, để đốt vào một cây nến khác gọi là NẾN PHỤC SINH KHOAN DUNG. Sau đó cây nến này được mang đến phòng Đại xá nằm trong khu vực hoàng cung. Trong suốt thời gian một tuần lễ sau Phục Sinh, các tội nhân phạm trọng án, đang bị truy nã mà muốn được ơn đặc xá thì phải thực lòng sám hối, đến trước cây Nến Phục Sinh Khoan Dung, giơ tay công khai xưng tội trước mặt nhà vua và quần thần, hứa quyết hoán cải nên người lương thiện và làm việc đền tội cân xứng với tội đã gây ra, thì sẽ được nhà vua ban cho một giấy đặc xá khỏi bị vào tù. Chính nhờ tập tục tốt đẹp này mà nhiều tội nhân trọng án đã xin đầu thú và đã thực sự hoàn lương.

Vào dịp lễ Phục Sinh nọ, người ta thấy trong số những kẻ trọng tội đang xếp hàng xưng tội để xin ơn đặc xá, có một thiếu phụ khá đẹp. Anh chồng của chị này cũng có mặt với tờ đơn tố cáo tội lỗi của vợ. Anh ta định sẽ công khai cáo tội vợ khi chị ta đang đặt tay trên Nến Phục Sinh xin tha tội với lý do chị ta đã được anh tha thứ nhiều lần tội ngoại tình, mà vẫn chứng nào tật đó. Khi đến phiên người phụ nữ xưng tội, Nhà Vua và mọi người hiện diện đều chăm chú lắng nghe. Bấy giờ chị ta giơ tay trên Nến Phục Sinh Khoan Dung và nói như sau: “Lạy Chúa, con đã phạm tội ngoại tình!”.Vừa nói xong câu này, bỗng chị ta thổi tắt cây nến Phục Sinh. Rồi chị nhắm mắt và nói trong sự nghẹn ngào như sau: “Lạy Chúa, con đã yếu đuối sa đi ngã lại nhiều lần. Tội con quả thật quá nặng nề và không đáng được ơn tha thứ!”. Khi mở mắt ra, chị ta rất ngạc nhiên khi thấy cây Nến Phục Sinh Khoan Dung vẫn đang cháy sáng. Thì ra trong lúc chị nhắm mắt thành khẩn xưng thú tội lỗi, anh chồng đã dùng tờ cáo tội vợ làm mồi lửa và đốt Nến Phục Sinh cháy sáng lại như cũ.

Bấy giờ nhà vua lên tiếng hạch hỏi người đàn ông rằng: “Tên kia! Tại sao nhà ngươi dám tự tiện châm lửa đốt cháy cây Nến Phục Sinh Khoan Dung như thế?”. Anh chồng sợ hãi trả lời: “Tâu bệ hạ, tiện dân chính là chồng của phụ nữ kia. Vợ của tiện dân đã phạm tội ngoại tình và đã công khai thú nhận tội lỗi đang lúc cây Nến Phục Sinh bị tắt. Sợ rằng vợ của tiện dân sẽ không được hưởng ơn đặc xá tội lỗi, nên tiện dân vội dùng lá đơn tố cáo kia làm mồi châm lửa cho cây Nến Phục Sinh được cháy sáng trở lại. Vậy cúi xin bệ hạ thương tha tội chết cho vợ của tiện dân”. Sau khi suy nghĩ một lát, nhà vua ôn tồn phán như sau: “Nhà ngươi thật đáng khen khi một lần nữa sẵn sàng tha thứ cho vợ dù nó không xứng đáng được tha. Vì ngươi vẫn còn thương vợ và đứng ra xin tha tội cho nó, ta sẽ đặc xá cho vợ ngươi khỏi án tử hình. Vậy ngươi hãy mau đưa vợ về nhà và từ nay, hai vợ chồng phải đối xử tốt với nhau, yêu thương và trung thành với nhau mãi mãi!”

3.THẢO LUẬN: 1) Tình yêu của người chồng đối với người vợ phản bội trong câu chuyện trên được thể hiện qua hành động nào? 2) Trước đây bạn có bị ai thù ghét làm hại hay không? Nếu có, bạn sẽ làm gì để thực hành Lời Chúa dạy về sự tha thứ cho kẻ thù ghét làm hại mình? 3) Câu: “Tha kẻ dể ta. Nhịn kẻ mất lòng ta” trong kinh gì? (Kinh “Thương người”).- Bạn hãy đọc thuộc kinh ấy và quyết tâm thực hiện trong đời sống hằng ngày.

4.NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU, con cảm thấy tâm trạng của con nhiều lúc rất giống với tâm trạng của tông đồ Tô-ma trong Tin Mừng hôm nay, khi con đòi phải “mắt thấy tay sờ” rồi mới tin vào Chúa. Lạy Chúa, Tô-ma tuy lúc đầu có cứng lòng, nhưng khi đã tin thì đức tin của ông lại tuyệt hảo hơn đức tin của mọi người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Lời tuyên xưng của Tô-ma vừa củng cố đức tin của những ai đang hồ nghi, lại vừa là khuôn mẫu của một đức tin trọn vẹn. Giờ đây, cùng với Tô-ma, chúng con xin tuyên xưng rằng: “Chúa thực là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa hằng sống!”.

- Lạy Chúa Giê-su, chính Chúa đã ban ơn đức tin cho con trong ngày con chịu phép rửa tội. Xin cho con nhớ mình là con Thiên Chúa để sống hiếu thảo với Chúa Cha, biểu lộ qua việc năng cầu nguyện với Người và luôn làm đẹp lòng Người. Đồng thời, xin cho con biết học nơi Chúa sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin cho con biết quảng đại tha thứ những xúc phạm của tha nhân đối với chúng con, để chúng con xứng đáng nên con cái Cha trên trời và nên môn đệ trung tín của Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. –Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH
www.hiephoithanhmau.com

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH A.B.C
Cv 4.32-35 ; 1 Ga 5,1-6 ; Ga 20,19-31
QUA ĐAU KHỔ VÀO VINH QUANG
LM ĐAN VINH - www.hiephoithanhmau.com

1. Đức Kitô phục sinh phải qua đau khổ thập giá:

Một hôm do muốn cám dỗ thánh Martinô phạm tội, nên quỷ đã hiện hình thành một ông vua oai phong và phán rằng “Hỡi Martinô, Ta cám ơn con đã tin vào Ta, và Ta mong rằng từ nay con sẽ luôn ở bên Ta và vâng nghe lời Ta truyền dạy”.

Martinô chăm chú nhìn ông vua giàu sang kia và hỏi: “Nhưng thưa ngài, ngài là ai vậy?”. Vua liền trà lời: “Ta là Vua Kitô đây !”

Martinô lại hỏi:  “Vậy những vết thương ở tay chân của Đức Kitô đã biến đi đâu cả rồi ?” Vua liền đáp “Ta từ trời xuống, nên không cần đến các vết hương đó nữa !”

Bấy giờ Martinô nói: “Tôi sẽ không bao giờ tin vào một Đức Kitô không chịu khổ nạn và tay chân không mang thương tích!” Tên vua quỷ nghe vậy liền biến mất.

2. Phúc thay những người không thấy mà tin:

Tin Mừng Gio-an hôm nay tường thuật hai lần Đức Giê-su hiện ra với các tông đồ sau khi sống lại. Cả hai lần Chúa đều hiện ra vào buổi chiều Ngày Thứ Nhất trong tuần và cách nhau đúng một tuần lễ. Lần thứ nhất vắng mặt Tôma, và lần thứ hai ông đã hiện diện cùng với các anh em. Trước đó, Tôma đã đòi phải được “mắt thấy tay sờ” mới chịu tin Thầy sống lại. Do đó, trong lần thứ hai hiện ra, Chúa Giêsu đã thỏa mãn đòi hỏi của Tôma khi chỉ cho ông xem các vết đinh ở hai bàn tay và vết thương do lưỡi đòng đâm thâu ở cạnh sườn Người. Bấy giờ Tôma lập tức đạt tới đức tin trọn vẹn khi tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa qua  lời cầu nguyện: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”(Ga 20,28). Sau đó Đức Giê-su đã nhắn nhủ Tôma và qua ông, Người chúc phúc cho những ai dù mắt không thấy, nhưng vẫn tin vào Người khi nghe lời rao giảng của các chứng nhân: “Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà Tin!”(Ga 20,29).

3. Tiến trình đức tin của các môn đệ Chúa:

Các môn đệ của Chúa Giêsu không phải là những người dễ tin. Đức tin của các ông được diễn tiến như sau:

-Vào sáng ngày Thứ Nhất trong tuần, khi nghe bà Maria bao tin xác Thầy biến mất, hai môn đệ Phêrô và Gioan đã chạy đến mồ quan sát thực hư. Gioan đã đạt tới đức tin trước các anh em nhờ đã nhìn thấy những tấm khăn liệm xác và các dây băng được xếp gọn để lại trong mồ. “Ông đã thấy và đã tin” nhờ sự tư duy và trực giác (x Ga 20,1-8).

-Bà Maria Mácđala đã gặp Chúa phục sinh nhưng không nhận ra Người và bà tưởng là người giữ vườn. Bà chỉ nhận ra Ngừơi khi nghe gọi đích danh “Maria” Ga 20,16).

-Hai môn đệ làng Emmau đã nhận ra Chúa phục sinh sau khi nghe người giải thích Kinh thánh và chứng kiến việc Người bẻ bánh (x Lc 24,13-31).

-Bảy môn đệ rủ nhau đi đánh cá tại biển hồ Galilê đã nhận ra Chúa Phục Sinh do  vâng lời Người nên đã bắt được mẻ cá lạ lùng (x Ga 21,1-14).

-Còn Tôma trong Tin mừng hôm nay đã có đức tin khi được Người cho thỏa mãn đòi hỏi “mắt thấy tay sờ” của ông (x Ga 20,19-29).

-Tuy nhiên các môn đệ chỉ đạt tới đức tin trọn vẹn vào ngày lễ Ngũ Tuần, sau khi đã cầu nguyện kết hiệp với Đức Maria và các anh em Chúa trong Nhà Tiệc Ly (x Cv 2,1-12);  Chính nhờ đón nhận được sức mạnh Thánh Thần từ trên cao, các ngài đã hăng say chu tòan sứ mệnh “loan báo Tin Mừng đến tận cùng thế giới”.(x Cv 1,8).

4. Loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay:

Như Tôma xưa, con người ngày nay cũng không dễ tin: họ luôn đòi phải được “mắt thấy tay sờ”, phải thấy được bằng chứng đáng tin. Do đó, các tín hữu cần trình bày khuôn mặt của Chúa Phục Sinh cho người khác thấy.

Thực vậy: Làm sao họ có thể tin vào Chúa Phục Sinh, nếu không được xem những vết chai cứng nơi bàn tay lao động, những khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi vì phục vụ những người nghèo khổ của các tín hữu chúng ta?

Làm sao họ tin Chúa đã yêu thương chịu chết đền tội thay và sống lại để ban cho họ sự sống đời đời, nếu họ không nhìn thấy những dấu chỉ yêu thương quên mình phục vụ giữa các cộng đòan tín hữu hay các hội đòan công giáo tiến hành… như sách Công vụ đã thuật lại sinh họat của cộng đòan sơ khai tại Giêrusalem:

“Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ Bẻ Bánh và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kính sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải , lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ Bẻ Bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ,. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được tòan dân thương mến. Và Chúa cho cộng đòan mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,42-47).

Đó chính là những dấu hiệu tình yêu đích thực của các môn đệ Đức Giêsu: “Ở điểm này , mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng yệu thương nhau” (Ga 13,35). Con người ngày nay luôn đòi thấy những chứng tích tình yêu như thế nơi các tín hữu.

5. Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh.

Khi chúng con đi tìm kiếm Chúa trong nước mắt đau thương, xin hãy âu yếm gọi tên chúng con như Chúa đã gọi tên bà Maria đang khóc bên mộ Chúa khi xưa.

Khi chúng con chán nản muốn bỏ Chú,  xin hãy đi với chúng con trên những đọan đường dài, như Chúa đã đồng hành với hai môn đệ trên đường về làng Em-mau.

Khi chúng con đang đóng cửa lòng vì sợ hãi, xin hãy đến ban sự bình an cho chúng con, như Chúa đã đến ban bình an cho các môn đệ vào chiều ngày phục sinh.

Khi chúng con đang hòai nghi bất tín, xin hãy tiếp tục kiên nhẫn và khoan dung với chúng con, như Chúa đã tỏ lòng khoan dung với sự cứng lòng của Tôma.

Khi chúng con gặp thất bại trong cuộc sống, xin hãy đến nâng đỡ ủi an chúng con, như Chúa đã đến phục vụ bánh và cá cho bảy môn đệ trên bờ biển hồ Galilê xưa.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin hãy tỏ mình ra cho chúng con thấy Chúa đang hiện thân nơi những người đau khổ cả về thể xác cũng như tâm hồn, để chúng con quảng đại chia sẻ cơm bánh vật chất và nhiệt tình phục vụ họ như phục vụ chính Chúa, hầu sau này chúng con sẽ được Chúa liệt vào hàng các chiên ngoan trong đàn chiên Chúa. Amen

LM ĐAN VINH
www.hiephoithanhmau.com

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH A.B.C
Cv 4.32-35 ; 1 Ga 5,1-6 ; Ga 20,19-31
VÀO TRONG VINH QUANG NGANG QUA THẬP GIÁ
1. LỜI CHÚA: Rồi Người bảo Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin”. Ông Tô-ma thưa Người: “”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,27-28). 

2. CÂU CHUYỆN: ĐỨC KI-TÔ PHỤC SINH PHẢI TRẢI QUA ĐAU KHỔ THẬP GIÁ
Một hôm do muốn cám dỗ thánh Martinô phạm tội, nên quỷ đã hiện hình thành một ông vua oai phong và phán rằng “Hỡi Martinô, Ta cám ơn con đã tin vào Ta, và Ta mong rằng từ nay con sẽ luôn ở bên Ta và vâng nghe lời Ta truyền dạy”.
Martinô chăm chú nhìn ông vua giàu sang kia và hỏi: “Nhưng thưa ngài, ngài là ai vậy?”. Vua liền trà lời: “Ta là Vua Kitô đây !”
Martinô lại hỏi:  “Vậy những vết thương ở tay chân của Đức Kitô đã biến đi đâu cả rồi ?” Vua liền đáp “Ta từ trời xuống, nên không cần đến các vết thương đó nữa !”
Bấy giờ Martinô nói: “Tôi sẽ không bao giờ tin vào một Đức Kitô không chịu khổ nạn và tay chân không mang thương tích!” Tên vua quỷ nghe vậy liền biến mất.
3. SUY NIỆM:
1) Từ thái độ bán tín bán nghi đến đức tin vững chắc vào mầu nhiệm Phục Sinh:
Các môn đệ của Chúa Giê-su không phải là những con người dễ tin. Đức tin của các ông đã trải qua một quá trình được các sách Tin Mừng ghi nhận như sau:
- Vào sáng ngày Thứ Nhất trong tuần, khi nghe bà Ma-ri-a báo tin xác Thầy biến mất, hai môn đệ Phê-rô và Gio-an đã chạy đến mộ để xác định thực hư. Gio-an đã đạt tới đức tin trước các anh em nhờ nhìn thấy những khăn liệm xác và các dây băng được xếp gọn để lại trong mộ và nhất là nhờ lòng mến đặc biệt dành cho Thầy Giê-su. Như vậy Gio-an “đã thấy và đã tin” nhờ đã quan sát những sự kiện thực tế và nhờ sự trực giác do lòng mến Chúa (x Ga 20,1-8).
- Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đã gặp Chúa phục sinh nhưng không nhận ra Người mà bà nghĩ là ông giữ vườn. Bà chỉ tin nhận Chúa Phục Sinh khi nghe Người gọi đích danh tên của bà: “Ma-ri-a !” (Ga 20,16). Như vậy một người sẽ chỉ đạt tới đức tin sau khi đã cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương qua lời nói việc làm yêu thương phục vụ của các tín hữu.
- Hai môn đệ làng Em-mau đã được gặp Chúa phục sinh và đã nghe Người nói chuyện suốt cuộc hành trình, nhưng các ông vẫn nghĩ Người là một người dân ở Giê-ru-sa-lem. Các ông chỉ nhận ra Chúa khi lòng các ông đã nóng lên lòng mến khi nghe Người giải thích Kinh Thánh. Nhất là khi được tham dự lễ nghi Bẻ Bánh mà Đức Giê-su đã từng làm trước đó (x Lc 24,13-31). Như vậy đức tin chỉ có được qua một tiến trình như sau: Một là phải nghe Lời Chúa giáo huấn qua Hội Thánh để thêm lòng tin yêu và hai là phải năng dự thánh lễ với cộng đoàn.
- Bảy môn đệ cùng đi đánh cá tại biển hồ Ga-li-lê cũng chỉ tin Chúa Phục Sinh sau khi đã vâng lời Chúa “thả lưới bên phải mạn thuyền” và đã bắt được mẻ cá lạ lùng (x Ga 21,1-14). Như vậy các dấu lạ bắt nguồn từ việc thực thi Lời Chúa cũng giúp người ta nhận biết Chúa.
-Tuy nhiên đức tin của các môn đệ nói trên cũng chỉ ở một mức độ giới hạn. Các ông chỉ đạt tới một đức tin trọn vẹn sau khi đã tĩnh tâm cầu nguyện kết hiệp với Đức Ma-ri-a và các anh em Chúa trong Nhà Tiệc Ly suốt 10 ngày, và đã đón nhận được đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần trong lễ Ngũ Tuần (x Cv 2,1-12); Nhờ đó, các ông đã hăng say chu toàn lệnh truyền loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Chúa: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19-20) và “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
2) Về đức tin thực nghiệm của ông Tô-ma (x Ga 20,19-29):
Tin Mừng Gio-an hôm nay tường thuật hai lần Đức Giê-su hiện ra với các Tông đồ sau khi Người từ cõi chết sống lại. Cả hai lần Chúa đều hiện ra vào buổi chiều Ngày Thứ Nhất trong tuần nhưng cách nhau một tuần lễ. Lần thứ nhất khi Chúa đến thì Tô-ma vắng mặt. Khi nghe anh em thuật lại sự kiện Thầy đã phục sinh và hiện ra, ông Tô-ma đã khẳng định lập trường mang tính khoa học thực nghiệm là: ông chỉ tin Thầy thực sự sống lại khi được “mắt thấy tay sờ”. Do đó, trong lần hiện ra lần thứ hai sau một tuần lễ, Chúa Phục Sinh đã thỏa mãn đòi hỏi của Tôma bằng việc chỉ cho ông xem các lỗ đinh ở hai bàn tay và vết sẹo do lưỡi đòng đâm thâu ở cạnh sườn Người. Bấy giờ Tôma đã đạt tới đức tin trọn vẹn khi miệng ông thốt ra lời cầu với Chúa như sau: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28).
Trước đây người ta thường coi Tô-ma tượng trưng cho những người cứng lòng tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa. Nhưng hiện nay người ta lại nhìn thái độ ấy với con mắt cảm thông và theo hướng tích cực. Vì nhờ không vội tin của Tô-ma, mà các tín hữu hôm nay mới có thêm những bằng chứng cụ thể chứng minh mầu nhiệm phục sinh của Chúa. Cũng vì các môn đệ Chúa không dễ tin mà đòi hỏi phải dựa trên cơ sở vững chắc, nên một khi các ngài đã tin thì niềm tin ấy sẽ có giá trị trở thành chỗ dựa vững chắc cho niềm tin của chúng ta hôm nay.

3) Phúc thay những người không thấy mà tin:
Điều Chúa muốn nói với chúng ta hôm nay là: Chúa đã chọn đi con đường theo thánh ý Chúa Cha là: “Phải qua đau khổ để vào trong vinh quang”, thể hiện qua việc Người đã thỏa mãn đòi hỏi của Tô-ma khi cho ông được nhìn xem những lỗ đinh ở bàn tay và kiểm tra vết thương ở cạnh sườn Người. Qua đó Người đã nhắn nhủ Tô-ma và qua ông nhắn nhủ các tín hữu chúng ta hôm nay: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20,29).
Ngày nay để tin Chúa phục sinh, chắc chắn chúng ta sẽ không có cơ hội “mắt thấy tay sờ” như ông Tô-ma xưa, nhưng chúng ta vẫn cần chấp nhận đi con đường của Chúa Giê-su đã chọn theo ý Chúa Cha là: “Qua đau khổ để vào vinh quang”, phải cùng chịu chết và được an táng với Chúa Giê-su để cùng được sống lại với Người. Mỗi ngày chúng ta phải biết “bỏ mình đi”, nghĩa là loại bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa qua lề luật và các lời giáo huấn của Hội Thánh. Mỗi ngày các  tín hữu chúng ta phải quyết tâm loại trừ mối tội đầu của mình bằng việc tập luyện nhân đức đối lập như trong kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức” đã dạy. Mỗi ngày chúng ta còn phải chấp nhận vác thập giá là vui lòng chịu đựng các tai ương bệnh tật và những điều trái ý cực lòng do hoàn cảnh hay do người chung quanh gây ra để bước theo chân Chúa trên đường thánh giá.

4) Loan báo Tin Mừng hôm nay là thể hiện Lòng Chúa Thương Xót:
Giống như Tôma xưa, con người ngày nay cũng không dễ tin: họ luôn đòi phải được “mắt thấy tay sờ”, phải thấy được bằng chứng đáng tin. Do đó, các tín hữu cần trình bày khuôn mặt của Chúa Phục Sinh cho người khác thấy và tin.
Thực vậy: Làm sao họ có thể tin vào Chúa Phục Sinh, nếu không được xem những vết chai cứng nơi bàn tay lao động, những khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi vì phục vụ những người nghèo khổ của các tín hữu chúng ta?
Làm sao họ tin Chúa đã yêu thương chịu chết đền tội thay và sống lại để ban sự sống đời đời cho loài người, nếu họ không nhìn thấy những dấu chỉ yêu thương quên mình phục vụ trong cộng đòan tín hữu hay các hội đòan công giáo tiến hành gần nhà…
Chúng ta phải noi gương yêu thương hiệp thông và bác ái chia sẻ của cộng đòan thời Hội Thánh sơ khai tại Giêrusalem đã được sách Công vụ Tông đồ ghi nhận như sau: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ Bẻ Bánh và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kính sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải , lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ Bẻ Bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ,. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được tòan dân thương mến. Và Chúa cho cộng đòan mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,42-47). Có thể nói cộng đoàn Hội Thánh Sơ Khai đã trở thành dấu hiệu đích thực của người môn đệ Đức Giê-su như Người đã dạy: “Ở điểm này , mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng yệu thương nhau” (Ga 13,35).
Cũng vậy, con người ngày nay luôn đòi phải thấy những chứng tích tình yêu như thế nơi các tín hữu. Do đó, Hội Thánh đã chọn Chúa Nhật II Phục Sinh làm ngày kính nhớ Lòng Chúa Thương Xót, để mời gọi mọi người chúng ta quan tâm tới tha nhân bên cạnh và thể hiện tình thương của Chúa cho họ. Cần tránh những lời nói, thái độ vụ luật bất nhân của bọn Biệt Phái và Kinh Sư Do thái khi xưa đã bị Chúa nặng lời quở trách, nhờ đó anh em lương dân mới dễ dàng đón nhận đức tin vào Chúa.

4. LỜI CẦU:
Lạy Chúa Giê-su Phục Sinh.
Khi chúng con đi tìm kiếm Chúa trong nước mắt đau thương, xin hãy âu yếm gọi tên chúng con, như Chúa đã gọi tên bà Ma-ri-a đang khóc bên mộ Chúa khi xưa.
Khi chúng con chán nản muốn bỏ Chúa,  xin hãy đi với chúng con trên những đọan đường dài, như Chúa đã đồng hành với hai môn đệ trên đường về làng Em-mau.
Khi chúng con đang đóng cửa lòng không muốn giao tiếp vì sợ hãi, xin hãy ban bình an cho chúng con, như Chúa đã đến ban bình an cho các môn đệ vào chiều ngày phục sinh.
Khi chúng con đang hòai nghi bất tín, xin hãy tỏ lòng thương xót và khoan dung tha thứ tội lỗi chúng con, như Chúa đã tỏ lòng thương xót khoan dung trước sự cứng lòng của Tôma.
Khi chúng con gặp phải thất bại trong cuộc sống, xin hãy đến nâng đỡ ủi an chúng con, như Chúa đã đến trao ban và phục vụ bữa sáng gồm bánh và cá nướng cho bảy môn đệ trên bờ biển hồ Ga-li-lê xưa.
Lạy Chúa Giê-su Phục Sinh, xin hãy tỏ mình ra cho chúng con thấy Chúa đang hiện thân nơi những người đau khổ cả về thể xác cũng như tâm hồn, để mời gọi chúng con hãy thể hiện lòng thương xót bằng viẹc quảng đại chia sẻ cơm bánh vật chất và nhiệt tình phục vụ họ như phục vụ chính Chúa, hầu sau này chúng con sẽ được Chúa liệt vào hàng các chiên ngoan trong đàn chiên Chúa.- Amen.

LM ĐAN VINH - HHTM

Lm. Đan Vinh -
dongcong.net April 10, 2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)