Suy Tư Tin Mừng trong tuần 28 thường niên năm B 11/10/2015

Tin Mừng (Mc 10: 17-30)

Một hôm, Đức Giêsu vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?" Đức Giêsu đáp:"Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ." Anh ta nói:"Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ." Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta:"Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi." Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

Đức Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: "Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!" Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: "Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa." Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau:"Thế thì ai có thể được cứu?" Đức Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói:"Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được."

Ông Phêrô lên tiếng thưa Người:"Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!" Đức Giêsu đáp:"Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.” 

“Rao rao gió thổi phương xa lại”,
 Buồn đâu say ngấm áo xuân ai.
Lay bay lời hát, ơ buồn lạ.
E buồn trong mỗng có đêm nay.
(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Đêm nay hay mai ngày, nhiều người vẫn buồn như thế. Nỗi buồn, như của người giàu có ở trình-thuật thánh Mác-cô hôm nay. Trình-thuật ở ngoài đời, lại cũng có những nỗi buồn ở đâu đó, cả trong Đạo lẫn ngoài đời, rất hôm nay.
John Calvin, người đầu sáng lập phong trào Thệ Phản, từng chống đối lập trường của Hội thánh Công giáo chủ trương coi luật lệ của Bí tích như phương cách cứu chuộc loài người: “Nếu anh biết giữ gìn luật pháp, thì pháp luật sẽ gìn giữ anh”.Ông có lý để phản bác đường lối rao giảng của một số linh mục, ngày hôm nay.
Ông chủ trương rằng Thiên Chúa định trước mọi việc. Ngài trao ban niềm tin cho ai thì kẻ ấy được cứu rỗi. Calvin biện luận rằng ai không được thế, sẽ bị thua. Chính vì thế, thật khó biết rằng ai là người nào. Chuyện này thật cũng khó.
Tuy thế, chỉ trong vòng vài năm sau đó, cộng đoàn kẻ tin theo ông ở Genève muốn biết làm thế nào để chắc chắn được rằng mình đi đúng đường. Để được rỗi. Và, đồ đệ của ông bèn phải giải thích là có hành xử cho đúng, cho phải lẽ mới hy vọng mình thuộc lớp người được Chúa thương cứu.
Hành xử cho phải, tức không say sưa, vui chơi cờ bạc, đàng điếm. Nhưng, biết làm việc cật lực, tiết kiệm tiền bạc và nhất mực tuân giữ mười điều giới lệnh, có thế mới được xếp vào hàng những người được tuyển chọn. Chẳng thế mà, sau khi Calvin qua đời, giới Thệ Phản đã tuân thủ luật đạo về luân lý rất nghiêm nhặt, thay cho 7 phép Bí tích, để nắm chắc con đường dẫn về Thiên quốc.                           
Người thanh niên trong Tin Mừng cũng nắm phần chắc là mình đi đúng đường, để được rỗi. Anh hiền lành. Là, dân con Do Thái tuân giữ mọi luật. Và, là người Chúa chỉ nhìn thấy đã chạnh lòng thương. Anh hy vọng luật lệ sẽ cứu rỗi anh. Bởi thế nên, anh vẫn chọn đường đến thiên đường bằng cách thức đúng nhất. Đúng thời. Đúng nơi. Nhưng Chúa đâu chối bỏ bất cứ một ai chỉ muốn sống đàng hoàng. Tử tế. Ngài hiến tặng thanh niên hiền phương cách hay hơn cả, là: chọn lựa tương quan đến với Chúa. Theo chân Chúa.
Bởi, nếu không quan hệ mật thiết với Ngài, thì lề luật và đạo đức chỉ là hình thức của bạo quyền. Không nên tin tưởng vào một Thần Linh đầy bạo quyền. Trái lại, chỉ nên tin Đấng từng đòi hỏi, thử thách mọi người ở những nơi mà người người dễ bị tổn thương nhất. Với người thanh niên trong truyện, của cải là chướng ngại lớn ngăn cản anh đến với Chúa. Khi quan hệ với Chúa, của cải tiền bạc và cuộc sống dễ dãi sẽ bị đặt vào tình thế có nguy cơ. Cần rời bỏ.
Với tín hữu thời tiên khởi, Tin Mừng nhấn mạnh vấn đề nghiêm trọng mà người người vẫn ưu tư khắc khoải: là: luật theo Chúa, phân chia giàu/nghèo, cộng đoàn quyết đi theo Ngài. So với tổ tiên, chúng ta cũng đã và đang thuần hoá tính triệt để của Tin Mừng hôm nay. Thuần hoá, vì thích thú nghĩ rằng luật lệ sẽ cứu được ta.
Trong khi Chúa lại bảo ơn cứu độ chỉ có được nếu ta biết quan hệ mật thiết với Chúa. Mật thiết, trong hy sinh suốt cuộc đời. Luật lệ chỉ hữu ích, tồn tại nếu chúng giúp ta đào sâu tương quan với Chúa, rồi từ đó biết phục vụ người anh em.
Cả luật đạo lẫn luật đời, nếu thực thi cho đúng cách, sẽ đem lại nhiều vấn nạn cùng thử thách có liên quan đến tính cách đạo đức của luật. Với thế giới, mà phần lớn tài nguyên phong phú đang nằm trong tay một số người da trắng trí thức, khuynh loát và, có đạo.
Thì, đòi hỏi của Tin Mừng nay sẽ trực chỉ và thử thách, như từng thử và thách người thanh niên giàu có nọ. Lời của Chúa còn đó, vẫn làm anh rất buồn:” Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi.” (Mc 10: 21)
Lời Ngài, nay khuyên dạy ta hãy bỏ mọi sự giàu sang phú quý, để lại đó. Mà theo Ngài. Luật lệ và tiền của, tự thân, vẫn chỉ là những sự vật lưng chừng ở giữa. Cũng tốt. Cũng xấu. Đủ cả. Nhìn mặt xấu, cả hai khuyến dụ ta vào với kiêu căng, quyền lực nhiều ham hố. Về mặt tốt, chúng nâng đỡ phục vụ việc giải thoát hết mọi người. Giúp người người giải và thoát thế giới để họ trở thành nơi chốn phản ánh Vương quốc của nhân cách. Của công lý. Của đồng đều, Chúa vẫn dạy
Quan niệm rằng, mọi sự sẽ thành hiện thực, nếu có Chúa, với Chúa, ta hãy cầu và mong sao cho Tiệc Thánh hôm nay ta cử hành, sẽ giúp ta ngưng lại, không còn tìm cách thuần hoá Tin Mừng Chúa dạy ban nữa. Nhưng, ta sẽ để cho Tin Mừng Lời Chúa dẫn dắt ta đi sâu vào với tương quan mật thiết Chúa. Ngài vẫn đoái nhìn chúng ta, từng người một.
Ngài nhìn, mà chạnh lòng thương. Nhìn và mời ta cùng mọi người trong chúng ta hãy viết lên luật yêu đương. Viết sâu luật đó trong tâm can đọng lắng, theo qui cách nào đó để người người sẽ bày tỏ cho nhau công lý và hoà bình. Ở mọi thời. Mọi nơi. Trong cuộc sống.                                   
Trong cảm-nghiệm cuộc sống có vui có buồn, ta lại ngâm lên lời thơ buồn từng bảo rằng:

“Nắng sao nắng đời xưa ấy.
Nắng vàng con mắt thấy duyên đâu.
Muốn gởi thương về người cổ độ.
Mà sao tình chẳng nói cho đau.”
(Hàn Mặc Tử - Buồn Ở Đây)

Buồn ở đây hay ở đó, vẫn là nỗi buồn da diết, sầu thảm hoặc cay đắng khiến con người vẫn muốn vất bỏ, cả đêm ngày. Cầu mong sao, nỗi buồn người giàu kẻ nghèo sẽ không làm ta day dứt quên mất cốt lõi Tin Mừng muốn nói là: chỉ mỗi tình thương-yêu người đồng-loại mới là điều cần thiết hơn tất cả. Cả tiền bạc, của cải vật chất khiến thêm âu sầu nhiều ray rứt cả một đời. 

             Lm Richard Leonard sj biên soạn  -
Mai Tá lược dịch

 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 28 thường niên Năm B 11/10/2015

“Lời nào muốn nói nhưng chuốc sầu thêm thôi,”
Tình nào buông trôi, như nắng chiều lưng đồi!
Một ngày nắng ấm, xin chấp cánh bay cao
Ðể rồi mai sau, còn ai nói yêu nhau,
Nhạc tình phôi pha, còn ai thấy xót xa
Người về nơi đâu, thung lũng sầu thêm sâu.
(Nguyễn Trung Cang – Lời Nào Muốn Nói)
(Thư Phillíphê 2: 1-5)             

Ấy đấy! Có những sự và những việc ở đời với con người, đều như thế.
Đúng vậy! Có nhiều điều, người đời lại những nói cho lung, cho lắm cũng chỉ “chuốc sầu thêm thôi”. Lại cũng có nhiều điều và nhiều sự trên đời, người đời đều nói hôm nay, có thể không chỉ là “nhạc tình phôi-pha”, cuộc đời “thấy xót xa”, mà vẫn cứ là “thung-lũng sầu, thêm sâu”.
Thế đó, là tâm-tình của nhiều người, trong đời. Còn đây, có lẽ cũng là tình-tự của nhiều người ở Nước Trời Hội-thánh, rất hôm nay?
Câu hỏi ở đây, đã và đang là vấn-nạn “khủng-khiếp” được đưa ra nhân có sự-kiện xảy đến ở khung trời biền-biệt bên ấy, rất trời Tây. Ở đây, là khung trời hăng say, nhộn-nhịp một tình-huống có đấng bậc chủ-quản có rất nhiều quyền-uy, quyết ra tay thực-hiện động-tác này nọ để đổi-mới Nước Trời trần-gian, chưa chấp cánh.
Vậy thì, chuyện phiếm hôm nay lại đã thấy ca-từ người nghệ-sĩ trẻ khi xưa, cứ hát rằng:

             “Tình nào chấp cánh trên ngõ buồn mong manh?
Tình nào bay cao cho tủi hờn tuôn trào,
Ngại ngùng muốn nói thương nhau quá ai ơi.
Dù đời chia phôi yêu nhau mãi không thôi!
Ngàn trùng xa xôi thương nhau mãi không nguôi,
Trọn đời chưa vơi trong kiếp sầu buông lơi.
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Thế mới biết, hôm nay, ở trong Đạo hay ngoài đời, lại có những tình-huống khiến việc sống Đạo thêm khúc-mắc với hỏi-han, quyết tìm cho ra một đích-điểm khả dĩ khiến lòng người đi Đạo, sống hăng say, êm ả suốt một đời.
Thế mới hay, tâm-tư nhà Đạo nay vẫn “ngổn-ngang trăm mối” như đấng bậc chủ-quản Sydney hôm nào từng nhận ra nhiều điều, như trích-đoạn bên dưới đã bàn về Thượng Hội-Đồng Giám-mục Rôma 2015 đề cập đến “Hôn nhân”, “Gia đình”, cùng chuyện “Đồng tính luyến ái” như sau

“Có lẽ, sẽ không có gì thay đổi nơi giáo-huấn của Hội-thánh Công-giáo về chuyện đồng-tính-luyến-ái, chút nào hết; phi trừ và cho đến khi, ta có thay-đổi trước mắt nơi giáo-huấn về luật-lệ và luyến-ái giữa người khác phái.

Lâu nay, nhiều cuộc bàn-cãi/tranh-luận vẫn lập đi lập lại rất nhiều lần trong phạm-vi Hội-thánh Công-giáo cứ bảo rằng: Thiên-Chúa tạo-dựng giới-tính con người vì hai lý-do: thứ nhất, mọi người coi đó như phương-tiện để Ngài đem sự sống mới-mẻ của con người đi vào hiện-thực (tức: việc sinh-sản/cùng Ngài tạo-dựng). Và, lý-do thứ hai, là: phương-cách để ta diễn-tả và bảo-đảm việc dung-dưỡng tình thương-yêu giữa các cặp phối-ngẫu (tức: việc thông-đồng/hiệp-nhất trong tạo-dựng).

Từ đó các cuộc bàn-cãi/tranh-luận lại vẫn bảo, rằng: việc sử-dụng tình-dục là ‘thuận theo thiên-nhiên’ chỉ khi nào việc ấy là để phục-vụ cả hai mục-đích do Chúa ban. Và, cả hai mục-đích ấy thực sự chỉ có thật trong hôn-nhân mà thôi; và chỉ vào lúc ấy mà thôi, khi việc trao thân cho nhau là để mở ra sự sống mới mẻ. Thế nên, tất cả người nào khác nếu lại dễ-dãi trong ăn nằm xác thịt thì đó là điều sai trái về mặt luân-lý đạo-đức.

Ngay từ đầu, ai cũng đều thấy: bất cứ hành động tình-dục xác thịt đơn-thuần thôi cũng phải mang nghĩa hoà hợp và sinh con đẻ cái, thì khó có thể là Hội-thánh Công-giáo sẽ chấp-thuận hành-động tình-dục xác thịt của người đồng phái-tính. Sách Giáo Hội-thánh Công giáo đề-cập đến vấn-đề này một cách vắn gọn lạ thường, khi bảo rằng: “Hành-động tình-dục giữa người cùng phái-tính đi ngược lại luật tự-nhiên. Nó đóng chặt hành-động tình-dục không còn nhận được quà tặng sự sống nữa. Hành-động ấy, không diễn-tiến từ sự tán-thành/đồng-thuận chân-phương về cảm-tính và dục-tình.

Giả như đây là điểm khởi-đầu, thì sẽ có rất ít điều để nói. Thành ra, không gì có thể hiểu là sẽ có chuyện đổi-thay liên-quan đến các hành-động ăn nằm dục-tình giữa người cùng phái tính trong giáo-huấn này hết. Và, sẽ là chuyện phù-phiếm/vô bổ để mọi người tìm biết chuyện ấy. Bởi lẽ, chuyện ăn-nằm xác thịt giữa người đồng tính không có yếu-tố sinh-sản ở trong đó như Hội-thánh muốn. Và, nếu giáo-huấn về chuyện ăn nằm xác thịt giữa người đồng tính không bao giờ thay đổi, thì nền-tảng của giáo-huấn về tất cả các sự việc ăn nằm xác thịt phải thay-đổi trước nhất.” (Xem Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Sydnod – The Crucial Questions: Divorce and Homosexuality, ATF Press 2015, tr. 11-12)

Nghe đấng bậc chủ-quản kể về câu chuyện đã và đang xảy ra nơi Hội-thánh Công-giáo rất nhiều lần, thế mà đấng bậc lại bảo, sẽ chẳng có sự gì xảy ra, sau các buổi bàn cãi với tranh luận. Nghe thế rồi, bọn tôi lại liên-tưởng đến câu truyện tiếu lâm chay/mặn về chữ “hỷ” được treo trong ngày cưới, tưởng chừng dễ hiểu, nhưng không phải. Truyện về chữ “Hỷ” hay yếu-tố đầu ở câu nói về mối thất tình những “Hỷ, nộ, ái, ố, ai, hoan, lạc”, rất như sau:

“Chú rể ngắm nghía phòng cưới xong xuôi, bèn có một nhận-định cũng khá là vội vã với anh bạn thân đang đứng gần rằng:
-Chữ “Hỷ” sao rắc rối thế nhỉ, trông cứ như trận đồ bát quái vậy!
-Rắc rối thế nào cơ chứ? người bạn ngạc-nhiên đáp.
-Thì…có nhiều đường ngang, ngõ dọc nhưng lại toàn là đường cụt không à!
-Cậu đây, đúng là người nhạy cảm. Thôi thì, để sau tuần trăng mật rồi, cậu sẽ thấy nhận xét đó rất đúng thật!”

Nếu là người đời, để diễn-tả tình-huống sống trong đời hoặc tình đời xảy đến sau ngày vui, người người sẽ bảo: mọi chuyện trong đời đều mang tên của hai anh bạn: một là Vũ Như Cẫn, và người kia là: Nguyễn Y Vân, mà thôi.
Ở nhà Đạo cũng thế, nghĩa là: cũng có tình-huống rất tương-tự bánh xe lịch-sử. Thế nghĩa là, bánh xe cứ quay nhanh cho đến lúc quay về điểm cũ, rất giống hệt vòng đòi quay nhanh quay đều và quay mãi, mỗi thế thôi.
Giòng đời quay nhanh hay chậm, vui hay buồn, lại cũng có những tâm-tình như câu truyện kể rất đáng nể để rồi lại sẽ giúp bạn và tôi, ta suy nghĩ cho lung rồi sẽ thấy đúng. Truyện kể, đơn giản chỉ như sau:

Gurdjieff rất nhớ ông bố của ông. Bố ông chết khi Gurdjieff mới chín tuổi, và là người thân duy nhất của ông. Ông kể bố ông gọi ông lại gần và nói:

-Bố sắp chết, và bố không có gì để lại cho con. Bố bỏ lại con trong nghèo nàn và côi cút.  Chỉ có một lời khuyên bố muốn cho con - đó là lời khuyên mà bố của bố đã trao cho bố. Bố đã thấy rằng lời khuyên đó là tài sản giầu có nhất mà bất kì người bố nào cũng có thể cho con trai của mình. Con còn trẻ, có thể chưa có khả năng hiểu được lời khuyên này nhưng hãy cứ nhớ nó đi; rồi con sẽ hiểu nó. Và dù con có hiểu nó hay không, hãy bắt đầu cư xử như thế. Con hãy chăm chú nghe và nhắc lại điều bố nói.

Đó là lời khuyên rất đơn giản. Lời khuyên là: "Nếu ai đó xúc phạm con, làm bẽ mặt con, làm tổn thương con, con không nên phản ứng lại ngay lập tức. Con phải nói với người đó rằng: "Ông hãy đợi hai mươi bốn giờ, và tôi sẽ tới trả lời ông. Đây là chuyện thiêng liêng với tôi mà tôi đã hứa với người bố sắp chết của tôi." Con hãy đợi  hai mươi bốn giờ rồi mới đi tới người đó. Trong hai mươi bốn giờ đó con có thể thấy rằng người đó là phải, hay người đó không phải, nhưng điều ngu xuẩn nhất là lâm vào vòng cãi cọ. Hai mươi bốn giờ đó sẽ cho con cơ hội để mà tỉnh táo hơn. Mọi người phản ứng ngay lập tức sẽ không có đủ thời gian để nhận biết. Họ phản ứng chỉ như máy. Nếu con thấy rằng người đó là đúng, thì hãy đi và cám ơn người đó. Nếu con thấy người đó là sai, thì chẳng cần đi, hoặc nếu muốn đi, con có thể đi và nói : 'Ông dường như hiểu lầm.'

Và Gurdjieff thường nói: "Lời khuyên đơn giản đó của người bố sắp chết của tôi đã làm biến đổi toàn thể cuộc đời tôi vì nó đã cho tôi  sự nhận biết nào đó, một thức tỉnh nào đó. Thế nên tôi đã không thể phản ứng bất kì gì ngay lập tức. Tôi phải đợi hai mươi bốn giờ. Và kết quả là bạn không thể nào vẫn còn giận-dữ trong hai mươi bốn giờ được." (trích truyện kể chuyển ở trên mạng, cho mọi người).

             Thế đó, là truyện kể ở ngoài đời, có vui có buồn lẫn lộn. Truyện kể ở nhà Đạo, nhiều lúc và nhiều người không kể cho nhau bằng dụ-ngôn, tâm-tình viết thành thư tín, như bức thư của bậc thày ở trường nọ gửi cho đấng bậc vị vọng rày quá cố, như sau:

             “Ngài Thomas Merton thân mến,

Tôi không rõ, mọi người trên ấy có tổ-chức cắt bánh sinh-nhật thiên-quốc hay không. Nhưng, hôm nay, tôi chúc ngài có được thật nhiều hạnh phúc đến với ngài nhất là vào ngày sinh thứ 100, trong năm nay. Tôi không nghĩ là năm tháng ngày giờ lại có nghĩa cũng khá nhiều ở nơi ngài đang hiện-diện như mọi người vẫn làm cho chúng tôi ở nơi đây, tức là nơi ngài cũng như tôi, ta bỏ ra chỉ mỗi 54 năm trời để sống trước khi quá vãng trong một tại nạn lạ kỳ, năm 1968.

Trên thiệp cảm cảm ơn tôi gửi ngài không có chỗ cho tất những thứ ngài đem vào đời tôi. Tôi biết là mình đang nói thay cho cả ngàn người ở đây.

Là thánh-nhân theo cách nào đó, cuộc sống của ngài rơi vào hai phân nửa đời người rất tuyệt-vời. Mãi đến tuổi 27, ngài lại đã tham-vọng và chộn-rộn. Sinh tại Pháp, tuy mồ-côi nhưng rồi học-hành tại Anh và sau đó ngài dạy văn-chương tại đại-học-đường Columbia ở New York. Chính ở nơi đó, ngài được mọi người coi là cây viết đầy hứa-hẹn.

Nhiều lúc, ngài cũng tỏ ra không có trách-nhiệm, để rồi trở thành một người cha của đứa bé còn nhỏ mà lại không được ngài chăm sóc cho tử-tế để rồi lại đã bị giết chết trong lần máy bay oanh-kích hồi Thế chiến thứ hai. Ngài từng quen với sống phá-tán qua hành-xử. Kết-cuộc là, ngài lại rơi vào vòng tay yêu-thương Đức Chúa.

Ở tuổi 27, ngài đã dấn thân vào đời sống khắc-khổ theo huôn thước của hội dòng Xitô ở đan-viện gọi là Gethsêmani ở bang Kentucky và trở thày dòng Lu-y. Ngài không chạy trốn đi nơi khác như nhiều người xem ra vẫn nghĩ thế. Thực tế, hành-trình đời tu của ngài lại khác hẳn. Linh-đạo của dòng Xitô thật rất đẹp dù khắc-khổ. Nó như thể ăn rau sống mà không trộn nước xốt: toàn cộng-đoàn dòng đều sống trong thinh-lặng triệt-để và tuân-thủ Luật Dòng do thánh Biển-Đức lập ra, là bộ luật tạo thế quân-bình nồng-nhiệt giữa việc nguyện cầu và lao-động. Và sau đó, ngài cảm thấy có tiếng mời gọi tiến xa hơn thế để đi vào đời sống chuyên-tu ở rừng-sâu như một ẩn-sĩ.

Từ nơi ẩn-náu trong rừng sâu, ngài đã viết với giòng chảy sâu-sắc can-dự vào một số cuộc đấu-tranh cho công-bình hồi thập niên 1960 kể cả phong-trào đòi-hỏi dân-quyền, cùng trào-lưu chống chiến-tranh và đường-lối bất-bạo-động. Có lần ngài viết: “Thay vì ghét bỏ chúng-dân, quí vị lại nghĩ mình là người gây chiến, ghét bỏ những người đói ăn có xáo-trộn trong tâm-thân của quí vị, chính đó mới là nguyên-do tạo nên chinh-chiến. Giả như quí vị yêu hoà-bình, hẳn là quí vị sẽ ghét bất-công, hận chuyên-chế và chán-oán tham-lam, nhưng lại cứ oán-ghét những thứ và những sự tồn-tại trong chính mình, chứ không phải ai khác.

Tôi đây gặp-gỡ rất nhiều người từng coi việc đấu-tranh cho công-bằng trở-thành công việc thay thế cho niềm tin, tức thứ gì đó họ rất tin-tưởng trong cùng một lúc vẫn rụt-rè xa lánh mọi quan-hệ với Thiên-Chúa. Ngài đã nhắc nhở chúng tôi rằng: đói công-bằng còn thực-tế hơn mọi thứ so-sánh nào khác; và, là việc bày-tỏ lòng tin chứ không phải là sự thay thế.

Vào thời-điểm tôi đây vẫn kiếm tìm cuộc sống đơn-độc, có vị linh-mục trọng tuổi từng hối thúc tôi đọc cuốn sách thứ hai do ngài viết, tức cuốn “Dấu Chỉ của Giôna”, là sách dựa trên cuốn nhật-ký mà ngài gìn giữ trong cuộc sống ở Gétsêmani từ năm 1946 đến 1952. Theo tôi nghĩ, cuốn này trở-thành cuốn sách tôi vẫn đọc mỗi năm trong đời trong suốt 30 năm vừa qua. Với riêng tôi, đây là chốt-điểm của đời mình. Tôi ưa-thích cung-cách qua đó ngài phấn-đấu tìm cho ra đặc-trưng xác-thực của chính ngài.

“Dấu Chỉ của Giôna” kết-thúc bằng một lời bạt có tên gọi là “Canh Lửa, hôm 4 tháng 9 năm 1952”. Vào một tối nóng-nực ngày hè năm ấy, ngài phải đi bộ vòng quanh khuôn viên căn nhà ván lá của tu-viện từ trên xuống dưới, xem có dấu-hiệu nào báo trước có cháy rừng thiêu-huỷ khu vục không.                           

Và, khi ngào đi rà-soát một vòng như thế, mọi ngõ ngách của vườn dòng Gétsêmani lại là cơ-hội để ngài tưởng nhớ, nguyện cầu. Mỗi khi có thày dòng nào đi ngủ, đó là dịp thuận đầy ân-huệ, là việc diệu-kỳ cùng mê say, diệu cảm nữa. Có lần ngài từng thưa với Chúa: “Lạy Chúa, đêm về là thời-khắc đểcon được tu-do tiếp xúc với Chúa. Theo tôi thì, ở đây, ngài muốn nói đến thời-khắc có được viễn-tượng được thấy các sự việc mà người bình-thường không thể thấy mắt thịt của mình.

Và lần ấy, ngài lại tiếp-tục thưa cùng Chúa: “Chúa là Đấng ngủ say trong tâm can con, nên con không thể gặp Chúa qua lời nguyện-cầu, nhưng chỉ bằng sức sống trỗi dậy trong cuộc đời và cũng là sự khôn-ngoan bên trong mọi khéo léo, ngoan hiền. Con gặp Chúa trong hiệp-thông: Chúa ở trong con và con ở trong Chúa. Và Chúa ở trong họ cũng như họ đang ở trong con.”

Ngài Thomas Merton thân thương,

Ngài từng dạy cho tôi biết: nhiều cơ-hội trong đó cần động-thái kiên-trì/bền đỗ hầu tạo được sự đổi-thay rất đích-thực. Và, ngài cũng đã khuyên tôi, rằng: công-bằng không thể do hoạt-động đơn-thuần mà ra dù vẫn xúc tiến không ngừng nghỉ. Những gì ta làm ra, lại ít quan-trọng bằng những gì Chúa cho phép ta làm. Chính đó, là điều tôi đây hằng tâm-nguyện.

Cảm ơn ngài, hỡi đấng thánh Thomas Merton rất thân thương của tôi.
Michael McGirr” 

(X. Michael McGirr, A Letter to Thomas Merton, The Australian Catholics Winter 2015 tr. 8)

Lời của dân con bình thường gửi đấng thánh ở trên lại vẫn nhắn nhủ bạn bè, như bạn và tôi, cũng để đưa dẫn chính tôi và bạn đi vào vườn hoa Lời Vàng có những dặn dò từ bậc thánh-hiền khi xưa vẫn nhắc-nhở và nhủ-khuyên như sau:

Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô
đem lại cho chúng ta một niềm an ủi,
nếu tình bác ái khích lệ chúng ta,
nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí,
nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau,
thì xin anh chị em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn,
là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn,
cùng một ý hướng như nhau.
Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh,
nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.
Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình,
nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.
Giữa anh em với nhau,
anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu.”
(Phillíphê 2: 1-5)

Khi xưa, đấng thánh-hiền trong Đạo lại vẫn bảo ban mọi người trong/ngoài đời lời lẽ ân-tình, thật như thế. Và, người nghệ-sĩ ở đời lại cũng dùng lời ca/ý-nhạc khá đánh động, như sau: 

“Lời nào muốn nói nhưng chuốc sầu thêm thôi,”
Tình nào buông trôi, như nắng chiều lưng đồi!
Một ngày nắng ấm, xin chấp cánh bay cao
Ðể rồi mai sau, còn ai nói yêu nhau,
Nhạc tình phôi pha, còn ai thấy xót xa
Người về nơi đâu, thung lũng sầu thêm sâu.

Người xưa có quên chăng hay dỗi hờn ?
Người xưa vẫn tung tăng hay đã chợt sang ngang ??
Tình xưa đã chôn sâu trên lối sầu
Thời gian có bao lâu xin hãy đợi mưa ngâu

Còn ai trong gió chiều?
còn ai thương nhớ nhiều?
Tình yêu cao ngất trời.
cho suốt đời đếm bước chơi vơi.
Còn đâu giây phút đầu?
còn ai nâng chén sầu?
Ðể ai quay bước về
cho ước thề buốt giá cơn mơ.
(Nguyễn Trung Cang – bđd)

Cũng hệt thế, trong gió chiều, “tình yêu cao ngất trời cho suốt đời đếm bước chơi vơi”.  Cũng như vậy, lời thơ hay ý nhạc của nghệ-sĩ sẽ cùng với lời khuyên của bậc thánh-hiền đưa người đọc và người nghe đi mãi vào chốn êm đềm của tình “ngất trời”, vời vợi. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai
Và những ý-tưởng
Tuy còn hời hợt, như cơn mơ
Những vẫn là những lời phiếm
Cũng rất chân tình
và thành thật
đến suốt đời.

October 2, 2015