Chúa Nhật II Mùa Vọng Năm B
 
 


Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay năm B 22/02/2015 

“Bên Em mỗi lúc trên đường cái”,

“Hóng mát cho lòng được thoả thuê.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mc 1: 12-15

“Sau khi Đức Giê-su chịu phép rửa Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.

Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” 

Vào chốn hoang vu/sa mạc, làm gì có chuyện “hóng mát, cho lòng được thoả thuê”! Thế nhưng, đi vào tuần đầu Mùa Chay, lại sẽ thấy thi-ca cũng như Phụng-vụ Đạo CHúa, vẫn cứ nhủ: “Bên Em, mỗi lúc trên đường cái”, còn có những cảnh tình, tựa như: “Anh thường gửi gắm mối tình quê.”

Tình quê ở nhà Đạo hôm nay, lại sẽ thấy ở nơi nơi, người người như đi vào chốn hoang vu/sa mạc này nọ, người người vẫn có sứ vụ rất khẩn cấp để có thể sống đời an vui, trầm lắng, chốn nợ đời.    

Trình thuật Tin Mừng Marcô, ta nghe kể là Yêsu Đức Chúa đã trầm mình trong chốn hoang vu xa vắng, những bốn mươi ngày. Cả vào năm cuối cuộc đời trần thế, khi chấp nhận xả thân chịu chết cho nhân lọai, Ngài đã bước ra khỏi chốn thị thành, để vào nơi gian khổ ở đó có cái chết trơ trọi đang đợi Ngài trên khổ giá, nơi đồi cao, chốn vắng, một Gôngôtha sừng sững, rất khô cằn đến tận cùng mặt đất. Và, ở cả hai nơi, Yêsu Đức Chúa đều bị thách thức, gạ gẫm nhưng đã trỗi dậy: dậy lên trong yêu thương; vùng lên với chiến thắng.

Với Tin Mừng thánh Mar-cô, ta không thấy tác giả đề cập đến những gạ gẫm của Satan nơi hoang vu xa vắng một cách đậm nét. Nhưng, với thánh sử Lu-ca và Mat-thêu, hố sâu thiếu xót và cách biệt ấy đã được khỏa lấp, bù trừ. Và, thánh Mar-cô kể rằng: quần chúng nhiễu nhương dám hỗn xược khích bác, gạ gẫm Đức Chúa, dụ Ngài hãy rời bỏ thập giá trèo xuống, tự cứu lấy mình khỏi thứ “diệu đế” cuối cùng, đày đọa.

            Nơi hoang địa đầu đời, Yêsu Đức Chúa được thần sứ phù trợ, đã ra khỏi tình huống suy sụp và Ngài đã trỗi dậy bằng câu tuyên sấm để đời rằng: “Nước Chúa đã gần kề”.  Tại đồi hoang vào phút cuối, Ngài đã được môn đệ, bạn hữu đỡ nâng để đi hết đọan đường gian khổ, hầu làm chứng cho Nước Trời mà Ngài hằng tuyên bố.

            Rõ ràng, trong các trình thuật vừa kể, đồng hoang cỏ cháy và cơn gạ gẫm, khuyến dụ vẫn cứ đuổi đeo Yêsu Đức Chúa dọc suốt hành trình ở với trần gian. Đây là điểm son then chốt đã ủi an đoàn con thân thương vốn đã khổ đau, sầu thảm. Phần đông chúng ta có lẽ chẳng cần ra ngoài, tìm nơi hoang vu địa đạo để cảm nghiệm tình huống sầu khổ, đớn đau có những khích bác, khuyến dụ. Càng sống trong tình huống cụ thể, ta càng gặp nhiều cơn khích bác, gạ gẫm dẫn đưa ta đến nơi đổ vỡ, thất vọng.

            Xét kỹ bản văn Kinh thánh, các truyện thần thoại, cũng như văn chương, nghệ thuật, phim ảnh trình chiếu, có hai yếu tố đã xuất hiện, thật rõ nét. Trước nhất, ai cũng thấy rằng: sa mạc hoang vắng có thể là nơi khuyến dụ điêu tàn, nhưng tiêu vong đã khiến nhiều đại anh hùng khi xưa cất bước lãng du mà không thấy có ngày trở về.

            Thứ đến, theo truyền thống thiết thực, hành trình vào chốn vẫy gọi của nơi quạnh hiu, sa vắng đầy cát nóng với những gian truân nhưng cũng đã tạo nhiều thoả thuê, thoải mái vì ở nơi đó ta vẫn đón nhận nhiều mặc khải cũng như cải biến hoặc vui sướng, giải khuây. Cả hai yếu tố trên không nhất thiết đối chọi, xung khắc tiêu diệt lẫn nhau; nhưng đã bổ túc nhau một cách hài hòa.

            Lấy trường hợp của Đức Chúa làm mẫu mực, ta thấy không nhất thiết phải buông xuôi, bỏ cuộc trước một gạ gẫm cho rằng chốn hoang vu sa mạc chỉ gồm những mất mát khổ đau, mà thôi. Mặc dầu là thế, ta vẫn cần tìm ra con đường thân thương đầy thuyết phục hầu có thể trỗi dậy, cất cao đầu lên mà thưởng ngọan những kinh nghiệm quý báu, tích tụ.

            Điều quan trọng, là: ở nơi sa mạc rất riêng của mỗi người, không phải mọi gạ gẫm, khuyến dụ đều mang sắc mầu tội lỗi. Khi bị gạ gẫm, khuyến dụ không có nghĩa là ta đang thực hiện điều xấu do người nào xúi giục, bảo ban. Gạ gẫm là những quyến rũ, được tô vẽ cho thêm mầu rực sáng nhằm thúc đẩy người bị dẫn dụ có những quyết định nghiêng hẳn về mặt xấu.

Trên thực tế, rất nhiều điểm đã phát giác ra trong đời sống tu đức của các thánh, là: các ngài càng gần gũi với Đức Chúa của tình yêu bao nhiêu, thì những gạ gẫm, khuyến dụ đủ mọi lọai hình càng gia tăng bấy nhiêu. Tuy nhiên, có điều may là chúng ta vẫn được giáo huấn để biết cách đối phó với những tình huống gay go.                           

            Cứ sự thường, gạ gẫm khuyến dụ thường có bối cảnh và huyền sử riêng. Các tình huống như thế chỉ xảy đến khi ta có cảm giác xa vắng, lạnh lẽo, dễ tổn thương. Và, các tình huống cám dỗ thường đánh mạnh vào yếu điểm của con người rất hay để lộ sơ hở trong cá tính rất thực của mình.

Muốn chống lại những tình huống như thế, cần đề cao cảnh giác về các mô hình kiểu mẫu của chúng, tức gạ gẫm, khuyến dụ thường dối gạt, đưa ta vào chốn mê hồn trận để ta tin tưởng rằng hành vi, thói tật mà ta say mê cũng “không đến nỗi quá tệ, chẳng tội lỗi gì đâu”, “chỉ một lần, thôi mà..”, hoặc “cũng chỉ là lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi”...

Mặt khác, gạ gẫm, dẫn dụ còn có khả năng nhận ra các hiểm nguy hiện có trong đời mình hầu đánh vào điểm yếu của mỗi người, khiến ta trở tay không kịp. Mệt mỏi, chán chường, giận dữ, rượu chè, ma túy, mất cảnh giác, thiếu khả năng đối thọai cảm thông và niềm tự tin quá thấp, vv.. đều là thực tế phũ phàng đưa ta đến tình trạng dễ phơi bày bộc lộ, hay bị tổn thương hơn lúc bình thường.

            Mùa chay năm nay, khi quyết tâm theo Chúa đi vào chốn hoang vu, xa vắng đầy ý nghĩa này, ta hãy làm những gì khả dĩ giúp mình trỗi dậy từ những tự ti, yếu mềm, thiếu trông cậy, thiếu tin tưởng... ngõ hầu ta có thể đối phó với cơn giận dữ, chán mệt. Hãy tự kiểm điểm xem, trong thời gian qua, ta có làm việc quá hăng say chẳng kể sống chết, hoặc có ăn uống quá độ chẳng hề cữ kiêng, tạo công ích. Hãy hạ quyết tâm sẽ bớt đi cho nhau những tình huống gây trầm tư, khổ não, hoặc cãi vã, đấu tranh, giành giựt.

Ngược lại, cương quyết thực hiện phương cách tốt đẹp nhất để đảm bảo rằng chúng ta sẽ trỗi dậy, rời khỏi chốn hoang vu, xa vắng hầu biến cải cuộc đời, cho tốt đẹp hơn. Ta sẽ không trầm mình trong chốn khổ đau, không tạo ra hoang địa, phân rẽ gửi đến cho nhau nữa.

            Vào nơi hoang vu, xa vắng không phải để lòng mình được chay kiêng, tâm được tịnh mà thôi; nhưng, còn để ta trỗi dậy hòa nhập với cộng đồng người thân cũng một tâm trạng. Cộng đoàn đang ngóng chờ ta quay lại từng giây từng phút. Và, đấy chính là ý nghĩa của mùa sám hối, phục thiện. Hối cải những gì đã sơ xuất. Hồi phục những gì rất thiện. Thiện đây là tình thân thương không chỉ với Chúa, với Mẹ mà cả với người anh em cùng nhà, xa ngõ.

Cầu Chúa cho ta thực hiện cuộc sống trỗi dậy và dâng trào. Mong an bình sẽ lại đến với ta, với muôn người. Và, mọi người.

Trong nguyện cầu Chúa giúp ta thực hiện cuộc sống như thế, ta hãy cùng nhau ngâm lại lời thơ, rằng:  

“Từ gió xuân đi, gió hạ về,

Anh thường gửi gắm mối tình quê.

Bên Em mỗi lúc trên đường cái”,

Hóng mát cho lòng được thoả thuê.”

(Hàn Mặc Tử - Âm Thầm) 

Vâng. Quả cò thế. Trong đời người, mỗi lần có gío xu6an đi, gió hạ về, thiết tưởng cũng cứ nên gửi gắm “mối tình quê” đến với mọi người, ở mọi nơi, dù nơi đó có là chốn hoang vu, sa mạc rất cuộc đời, ở mọi thời. 

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

 

 

 Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 1 mùa Chay năm B 22/02/2015

“Ta như sương cao mà người như hoa sâu.”


“Ta dối gian nhau, nên nát nụ hôn đầu.
Tình đi từng bước, đi từng bước trên đầu gió.
Gieo xuống lòng nhau, ôi từng hạt thương đau”.

(Phạm Duy - Tình Sầu Du Tử Lê)

(2Cor 9: 1, 2, 3) 

            Hôm nay, ngồi nặn óc tìm lời nhạc ở đây đó làm nguồn hứng viết “Phiếm”, bần đạo đây phải thú thật một điều, rằng: lời ca trên rất phù hợp với tâm trạng của bần đạo, vào lúc này, hơn bao giờ hết.

Này nhé, trong chuyến du-lịch nước Tây Tạng đầu năm nay 2015, bần đạo cũng “từng bước, đi từng bước” rất dọ dẫm ở độ cao lên đến 6,000m, chỉ để hướng về núi Everest chụp một tấm hình kỷ-niệm chứng tỏ mình đã có mặt ở nơi này. Nghĩ thế rồi, nay bần đạo lại nghe hát tiếp, những lời rằng:            

“Người một phương, ta cũng một phương.
Phố cao ngày thấp, nên nắng mưa trùng trùng.
Mắt có sâu, để nhốt trời giông tố.
Ta là hồn câm, cho mưa bão lên.
Người ở đây, ta cũng ở đây.
Lòng không như mặt, mà lòng lệ tràn đầy.
Chân đi theo gió, sầu ba hướng.
Tay với một trời, trời mưa bay.”
(Phạm Duy – bđd)

Quả thật là thế. Đứng ở độ cao 6,000m tại xứ miền được mệnh danh là “Nóc nhà của thế giới”, thì: lại thấy mây trời chậm trôi rất gần kề, ra như thể: chỉ cần với tay lên cao, là ta nắm được chúng ngay thôi.

Và, không chỉ thế. Bần đạo đây, lại dám lên cao/xuống thấp rất từng chập, để cảm-nhận được cái hay/cái đẹp nơi lập-trường của người Tạng, không chỉ mỗi chuyện hành-hương lòng vòng rất nhiều giờ quanh lâu đài Potolas, như thế thôi.

Người Tạng đi như thế, không chỉ mỗi nhà đạo đức hoặc các thày dạy gọi là “Rinpochê” hoặc Đức “Đạt Lai Lạt ma” mới biết làm, mà: tất cả quần chúng từ vua quan, lãnh chúa đến thứ dân, lớp du-mục ít khi học hoặc đám nông dân bình thường ít bày tỏ tư-tưởng này nọ, vẫn cứ làm.

Người Tạng hành-hương Kora, không chỉ để chứng-tỏ cho người khác biết: mình cũng hành-hương/hương hành nhiều tình tiết; nhưng, còn để tưởng nhớ đến bậc thày dạy dỗ, đồng hành với mình, trong cuộc sống.

Đồng hành đây, không mang nghĩa cùng tiếp bước “quân-hành/dân chạy” vào chốn mông lung, nguyện cầu, siêu thoát. Nhưng, là để tuyên dương/trân trọng bậc đàn anh đi trước vẫn làm gương cho mình về đường lối sống nhẹ nhàng, an vui, bình-dị.

Quả thật, người Tạng vẫn chấp-nhận làm dân “bị trị”, sống hiền-hoà tuân-giữ luật-pháp và “hoằng pháp” của nhà Phật theo kiểu Tây Tạng. Nhưng, nói chung thì: người Tạng đã làm gương cho nhiều sắc tộc và dân nước khác, bằng việc gìn-giữ môi-trường-sống ở nguồn nước sinh sống của thế-giới.

Họ làm thế, có thể, cũng vì cảm-kích với lời thơ/ý nhạc của nghệ sĩ “già” mà họ từng nghe như sau:

“Người đã vì ta, tan ước mơ.
Phấn son chưa ngát, thịt da ngà.
Môi non đã lỡ, tình đau đớn.
Mộng vữa theo trời, hoa phượng xưa.
Người chôn đời, mà ta đắng cay.
Cây im lá, và khói sương bay.
Chim treo mỏ, cóng trơ xuơng mục.
Sống đã chẳng cùng, chết sao hay.

Người ở đâu, ôi người ở đâu?
Cỏ xanh còn áp má, những đêm sầu.
Dế giun còn tiếc, mùa ân ái.
Từng phiến trời, mang bao vết thương ...”

(Phạm Duy – bđd) 

Tâm trạng người Tạng và của những người “bị trị” những 55 năm trời, vẫn bất khuất; và đó còn là tâm-trạng của người Do-thái khi xưa được kể ở Lời vàng nơi Kinh Sách, rất như sau:  

 “Về việc phục vụ các người trong dân thánh,

tôi có viết cho anh em thì kể cũng bằng thừa,

vì tôi biết lòng hăng hái của anh em…

(2Cor 9: 1-2a) 

Và: 

“Nhiệt tình của anh em đã khích lệ rất nhiều người”…

(2Cor 9: 3) 

Lời vàng ở trên, cốt minh-hoạ một điều là: niềm tin của con người vào thần thánh, và tình thương-yêu rất mực, vẫn là niềm tin và tình thương-yêu chính con người mình nữa. Hôm nay, lại có thêm câu hỏi đặt ra hôm trước, vẫn bảo rằng: niềm tin đây, có là niềm tin chân-phương bất chấp mọi hoàn-cảnh và sự đời hay không?

Bần đạo đây, mỗi khi lai rai viết phiếm, thường không dám đi thẳng vào câu trả lời, nhưng chỉ đưa ra một vài sự việc hoặc sự kiện liên-quan đến sinh-hoạt sống của mình và của người, mà thôi.

Về sinh-hoạt của bần đạo, thì: chỉ lai rai phiếm “loạn xạ” đôi ba kinh nghiệm ở đời, nhân chuyến du-lịch qua xứ Tạng đầu năm 2015 thôi. Khi về, cũng đã viết lên được đôi giòng tư-tưởng về chuyện hành-hương của người Tạng, miền cực Bắc xa xôi, chốn ấy.

Mới đây, trên đường về với cộng-đoàn họ đạo nhỏ ở Sydney, bần đạo lại bắt chụp một giòng chảy khác từ vị lãnh-đạo Tổng giáo phận Sydney, những bảo rằng: 

“Gm Anthony Fisher, OP đã từng nói sau ngày nhậm chức Tổng giám mục Sydney rằng: Hội-thánh ta sẽ không có chính-nghĩa, nếu cứ bai-bải chối cãi hoặc che-đậy mãi các  chuyện xấu của mình. Và, ai là nạn-nhân các vụ xách-nhiễu tình-dục phải đưa ra ánh-sáng, cách nào sớm nhất. Cụ thể là, hôm 18/9/2014 ở Sydney, Gm Anthony Fisher có nói: “Hội-thánh Chúa ở Úc phải tự-kiểm và để quần chúng phê-bình kiểm-điểm mình nữa. Bản thân tôi hy vọng rằng: bằng vào động-thái tách-bạch và khiêm-hạ như thế, Giáo-hội sẽ nảy-sinh ra tình-huống xót thương và ái-ngại đầy linh-đạo. Đặc biệt hơn, giới trẻ của ta, nay không chỉ là tương-lai Giáo-hội mà thôi, nhưng sẽ là và còn là thành-phần quan-trọng trong Giáo-hội, ngay lúc này.” (Gm Anthony Fisher, OP trả lời phóng viên AAP hôm 18/9/2014)

Trước đó 2 ngày, Đức Phanxicô cũng nhắc đến niềm hy-vọng của Giáo hội, bằng những lời lẽ rất thật như sau:   

“Khi Chúa ghé thăm dân Ngài, Chúa đã tạo hy-vọng cho con người. Vâng. Bao giờ cũng thế. Từ xưa đến nay, Giáo-hội vẫn có nhiều bậc thày giảng dạy suốt giòng-chảy lịch sử. Nhưng, nếu các bậc thày ấy lại không gieo vãi hạt-giống hy-vọng, thì lời rao giảng của các ngài cũng trở-thành hư-luống. Những lời như thế chỉ là hư ảo, thôi.” (trích chia-sẻ Tin Mừng của Đức Phanxicô tại thánh đường Santa Maria hôm 16/9/2014).     

Về với phiếm đạo lâu nay, bần đạo quyết tìm đến lời vàng của các bậc vĩ nhân hiển thánh ở đây đó, để tạo giòng chảy đầy những phiếm, mỗi khi cần. Bất chợt, bần đạo gặp được bài quan-điểm của một cây viết trẻ chuyên lo cho tờ The Australian Catholics rất hay như mọi ngày. Và, trong số báo The Australian Catholics mùa Giáng Sinh 2014 vừa rồi, khi bàn về “niềm tin và sự sống”, tác giả Michael McVeigh cũng đã viết:

Các bạn cũng như tôi, ta học được nhiều thứ từ các câu-lạc-bộ bóng bầu-dục luôn đấu-tranh giành lấy cho mình, nhiều thắng-lợi. Bạn cũng như tôi, ta đấu-tranh học đòi thưởng-thức mùi vị chiến-thắng dù nhỏ nhoi, còn hơn chỉ biết ghi những bàn thắng và thắng ở trận đấu.

Thêm vào đó, ta vẫn thầm-phục/cảm-kích những vị từng đấu-tranh giành lại cho mình động-thái lướt-thắng mọi hạn-chế, rất dễ nhận. Phần lớn thời-gian sống ở đời, ta học được cảm-giác khá lạ-kỳ khi nếm mùi thất bại, đó lại là hy-vọng cần có để tiến tới. Hy-vọng ấy, có  thể, sẽ hằn in trên giấy trắng mực đen và cả trên sân cỏ, hoặc có khi lại cũng bị quăng/ném đi nơi khác bằng những cú đá khởi đầu trận hoặc bằng bàn thắng vào phút cuối quyết tạo vinh-quang cho người chiến-thắng cả trận đấu. Và, ở các trận đấu tiếp theo đó, hoặc mùa bóng kéo dài ở năm sau, thì niềm hy-vọng sống động vẫn hiện-diện nơi mọi người, trong đời.

Điểm chính-yếu của niềm hy-vọng là ở chỗ: mức-độ tuyệt-vọng càng sâu, ta càng có nhiều sức để cảm-nhận và tùy thuộc vào nó, nhiều hơn nữa. Điều làm cho hy-vọng trở-thành quà-tặng lớn-lao từ Thiên-Chúa còn ở điểm: nó không nhắm vào người thắng trận cho bằng vào người thua cuộc, bại trận vẫn thấy đầy trên thế-giới.

Hy vọng rằng, là chủ-đề mà bạn và tôi thấy rõ ở trang kế-tiếp số báo này, kỳ thực là ‘điều tốt đẹp’ trong đời. Là, quà-tặng quí giá từ Chúa, gửi đến ta.” (x. Michael McVeigh, The Australian Catholics số Giáng Sinh 2014, tr. 5)

Người trẻ nào đó, nếu cậy nhờ bần-đạo diễn-tả thêm tư-tưởng của biên-tập-viên nói trên bằng lời-lẽ rất “tiếng Việt”, thì bần đạo đây xin diễn và tả bằng ý/lời của các cụ khi xưa vẫn cứ bảo: “Thất bại là mẹ thành công!” thôi.

Và, nếu có bạn trẻ nào khác lại cứ hỏi: chuyến tham-quan nước Tạng vừa qua, có đem lại cho bần đạo niềm hưng-phấn nào đó không? thì bần đạo đây lại xin nói theo và nói dựa một bạn viết khác cũng trên tờ The Australian Catholics số Giáng Sinh 2014 thêm một chuyện, theo dạng “Thư gửi diễn viên điện-ảnh Robin Williams” như sau:

 “Robin thân mến,

Tôi thật rất buồn, khi hay tin bạn qua đời cách đột ngột, vào tháng 8/2014 vừa qua. Nhiều năm về trước, khi suy tính nên mời ai gọi ai đến dự tiệc do mình tổ-chức, tôi thường nghĩ đến bạn và ghi tên bạn lên đầu danh-sách khách mời của tôi.

Tôi quen tưởng-tượng rằng: nhiều lần, bạn cũng có dịp ngồi cạnh thi-hào lừng-danh thế giới là William Shakespeare, đến độ hai người đều đã hiểu rõ tâm-trạng nhau khi diễn-xuất hoặc diễn-đạt tính hài-hước, lập-dị và chộn-rộn đầy tính người, như cuộc đời.   

Có lần, tôi còn tưởng tượng rằng: ngay tổng thống Nga Vladimir Putin cũng đã ngồi chung thân mật với bạn, tựa như thế. Tưởng tượng vậy, chỉ để xem bạn tuy kề-cận, nhưng chẳng ai biết là bạn có dám cười vào mặt ông ta không. Thật ra thì, theo kinh-nghiệm của riêng mình, tôi không thấy có gì lạ khi phải ngồi cạnh một người chẳng có tính hài-hước bao giờ hết.   

Lúc bạn sinh thì, người hâm-mộ tài-nghệ của bạn gia tăng cũng rất nhiều, lại đã tung lên mạng một chi-tiết về thời-gian mình phải giáp mặt bạn bè hoặc đồng-nghiệp sừng sỏ, cứ tìm mình để hỏi những câu đại để như: sao tôi chẳng bao giờ thấy bộ mặt nghiêm-nghị của bạn bao giờ thế? Thoạt khi ấy, tôi thấy bạn trả lời  rất rõ, không sai một chữ: “Tôi cũng tự-hỏi: ông cũng thế, sao ông chẳng bao giờ có tính hài-hước vậy thế?” Theo tôi thì, cả hai câu hỏi cũng đều quan-trọng như nhau. Bởi, tất cả có hỏi han gì cũng chỉ để mọi người hiểu được rằng: đời người, vẫn có nhiều kiểu vui tươi/hài hước được các nghệ-sĩ hài như bạn đây mang đến cho mọi người. Cuối cùng thì, ai cũng có cảm giác rất buồn khi thấy ít khi nào bạn mang lại niềm vui cho chính mình, hết.

Có lần bọn trẻ nhà tôi say mê xem phim truyện Peter Pan, nhưng cứ quên bẵng nhiều chuyện rồi buột miệng nói chữ “Hook” nổi tiếng do bạn đặt ra. Bạn cũng còn biến-đổi bản-tính ác độc, bẩn thỉu của con người thành chuyện cười để cho vui một cách rất thành công. Giả như ta có thể cười thầm trong bụng khi gặp tay côn-đồ nào đó rất hung-ác, thì thế giới này sẽ thôi không trở thành chốn sống đầy đe-doạ nữa. Và theo tôi, giới trẻ ngày nay vẫn cần đến thứ quà tặng trời cho mà bạn vẫn trao tặng mọi người.

Tôi rất thích xem các phim do bạn đóng vai chính mang tên là “Mrs Doubtfire”, từ năm 1993 cứ chiếu đi chiếu lại suốt trên truyền hình, ở đây. Phim này diễn tả tâm-trạng của một người cha thương-yêu con mình đến buồn cười. Và, khi nhân vật chính trong phim là Daniel quyết ly-dị vợ để xem sự-thể trong nhà mình sẽ ra sao, anh bạn bèn trá-hình làm chị giúp trong nhà, để mỗi ngày còn được nhìn lũ con trong căn nhà mình từng sống. Ý của anh bạn, là cố tránh không cho người nào trong nhà biết chuyện mình giả-dạng làm chị giúp việc, để làm trò cười mua vui cho thiên hạ, mà thôi. Nhưng, bên cạnh đó, lại có yếu-tố rất cảm-động. Và, đó cũng là chủ-đích đóng giả vai người nào đó, cốt đánh bật tâm-tính tốt đẹp của người cha trong nhà tên Daniel, trong truyện. Truyện phim, đã gửi đi khắp thế-giới một thông-điệp mang ý-nghĩa thật rõ nét. Thông-điệp đó có nói: đôi lúc sống ở đời, người người cũng nên thay-đổi tận gốc rễ, nếu quả tình mình muốn duy-trì những gì cần thấy rõ nguyên hình, ngọn ngành như thế. Và, Daniel có lần nói: chìa khoá giúp cho hôn-nhân gia-đình được vui tươi, tốt-đẹp, chính là nụ cười…

Robin thân mến,

Tôi đây vẫn muốn sẻ san với bạn một yếu-tố từng cho thấy rõ rằng: niềm tin nơi Thiên Chúa cũng từng làm nhiều điều cho riêng tôi, giống như thế. Niềm tin vào Chúa, đã giúp tôi thấy được một thế-giới theo đường-lối ít rõ ràng như thể nó vẫn đem tôi ra khỏi con đường mòn trở thành ngõ hẻm rất chật hẹp do tầm nhìn của mình về sự sống. Tôi vẫn thường tin tưởng rằng: cuộc sống của mọi người là câu chuyện hài-hước rất buổn cười do Thiên Chúa kể để gia-đình nhân-loại được vui, mà thôi. Điều này đâu có nghĩa là ta phải đối xử với nhau sao cho nhẹ nhàng, êm ái. Ngược lại, cũng như bạn từng cố gắng diễn-hài theo mức độ tuyệt-hảo nhất, cuộc sống của ta luôn phải là chuổi ngày ta sống quyết giúp mọi người tìm được sự khôn ngoan hiểu đời, cho thấu. Mỗi thế thôi.

Chào bạn,

Michael McGirr

Viết tứ Úc.   

Cũng thế, trong khi “nhoài người” trên bàn phím ví-tính để kiếm tìm giòng tư-tưởng hay-ho và kỳ lạ có mang ý-nghĩa của niềm hy-vọng cần có trong đời mình, bần đạo đây bắt gặp đôi tâm-tình đầy cảm tính của Anthony Trần viết về một cảm-nghiệm còn rớt lại đến bây giờ khi xem phim “Doctor Zhivago” vào dạo đó.

Nói khác đi, thì: vào lúc trích dẫn bài ‘Đi Tây - du ký viết cho riêng mình”, Anthony Trần cũng nhớ đến tâm-tình tràn ngập khi lưu lại ở nhà khách Château Richeux vùng Cancale, nước Pháp năm 2010. Và dư-âm của bài hát “Hỡi Người Tình Lara” cất lên trong đêm nhạc “Hát Cho Nhau Nghe” hôm 17/11/2014 vẫn còn đọng lắng nơi tâm-tưởng mãi đến hôm nay, như sau:

“Riêng tôi, lúc lên phòng nghỉ ngơi thì lòng lại không khỏi nhớ đến bộ nến thắp soi trên bàn ăn của nhà hàng.  Nằm trằn trọc giữa canh khuya trong căn phòng tịch mịch, soi lại những thước phim từ quá khứ chầm chậm quay về, tôi bồi hồi nhớ lại hình ảnh những cây đèn cầy trong phim Bác sĩ Zhivago tôi đã xem từ thuở hoa niên, hàng mấy chục năm về trước.  

Trước khi bộ phim kết thúc, tôi không bao giờ quên được cảnh bác sĩ Zhivago thắp lên hàng bạch lạp trong gian phòng lạnh lẽo cho người tình Lara kiều diễm, để rồi hai người sẽ mãi mãi cách xa nhau từ đó.  Nhìn những ngọn nến vẫn cháy như nhau, nhưng tâm sự người thắp nến biến đổi theo từng ánh nến.  Lúc thì muốn 'thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt', lúc thì muốn 'le lói suốt trăm năm'.  

Sự dằn vặt lựa chọn giữa cái 'phút chốc' và cái 'trăm năm' ấy chính là tấn bi kịch của một cuộc tình, và của cả một đời người.  Lúc ấy, nhạc phim “Hỡi người tình Lara” đột nhiên trỗi lên ray rứt trên màn ảnh, chiếu cảnh tuyết rơi phủ đầy chiếc xe ngựa đưa người yêu Lara xa khuất dần giữa trời đông bão tuyết.  Hình ảnh cuối cùng còn lưu lại là những ngọn nến cháy trên bàn, tàn tạ với thời gian.

Bộ phim đã khiến tôi tìm đọc cuốn tiểu thuyết của nhà văn Boris Pasternak đã được Nguyễn Hữu Hiệu chuyển dịch ra tiếng Việt vào năm 1973 với nhan đề “Vĩnh biệt tình em”.  So sánh tiểu thuyết với bộ phim, tôi vẫn thích bộ phim hơn, chỉ vì dịch giả đã bỏ hẳn những đoạn miêu tả ngọn nến đẹp não nùng như trong phim.  Có lẽ nhờ vào tài diễn xuất của tài tử Omar Sharif trong vai bác sĩ Zhivago, Julie Christie trong vai nàng Lara, và nhất là nhạc nền của Maurice Jarra.  Xem đi xem lại nhiều lần, tôi cố đoán xem ngọn nến cháy ấy tượng trưng cho điều gì.  Tình yêu vĩnh cửu?  Niềm hy vọng tràn trề?  Hay đấy chỉ là đôi mắt ráo hoảnh của Thượng Ðế?  Có phải Ngài thấy hết, biết hết nhưng Ngài vẫn im lặng, vô cảm như ngọn nến cháy trên bàn kia chăng? 

Cuối cùng, tôi đã hiểu ra rằng tại sao vị bác sĩ đa tình và nàng Lara xinh đẹp kia, tuy chia tay nhau mà họ vẫn còn yêu nhau thắm thiết.  Ðó là nhờ họ đã biết thắp cho nhau những ngọn nến cháy mãi trong tim, để giúp nhau vượt qua những đêm đông của một đời người.  Với mỗi người chúng ta, dù cho cuộc sống có đầy chông gai khó khăn đi nữa, vẫn phải cố gắng phấn đấu vươn lên.  Vẫn phải sống vì chính bản thân mình, vì gia đình và vì xã hội loài người.  Hình ảnh ngọn nến bé nhỏ cháy trên bàn giữa cơn bão tuyết, chính là ngọn nến hy-vọng khích lệ cho chúng ta hãy sống cho có ích, dẫu kiếp đời còn lắm gian truân, thử thách.”    

            Phiếm Đạo hôm nay, lại có truyện kể để đọc cho vui và cũng để minh-hoạ cho những điều mình viết về hy-vọng cần có trong đời, bần đạo lại bắt gặp thêm một truyện kể lại để san sẻ với bạn đọc, cho hết ý.

Thật ra thì, phiếm-Đạo-giữa-đời không chỉ là tìm về với những lý-luận cứng ngắc về thần-học hay tu-đức, mà còn để phiếm lai rai hầu chuyện mọi người bằng truyện kể nhẹ như sau:   

“Một nghệ sĩ xiếc tài danh đã tham gia một cuộc biểu diễn khó khăn nguy hiểm chưa từng thấy. Anh là nghệ sĩ thăng bằng chuyên đi trên dây.

Lần này, người ta căng ngang hai sườn núi đá một sợi giây thép. Phía dưới là vực thẳm. Lòng vực lởm chởm những đá tai mèo nhọn hoắt như cắm chông. Người biểu diễn phải đi từ sườn núi bên này sang sườn núi bên kia trên sợi dây thép.

Nghệ sĩ đã bước tới một đầu dây, ngước mắt nhìn sang phía đầu giây bên kia, chừng như ước lượng mục tiêu. Sau đó, anh giơ ngang hai cánh tay để lấy thăng bằng. Bàn chân đã đặt trên dây. Và rồi từng bước ngắn, từng bước ngắn một, anh đi trên dây, dần dần cách xa bờ núi.

- Tôi xin biểu diễn một lần nữa. Lần này tôi sẽ trói chặt hai tay lại và đi trên dây!

Nghệ sĩ tuyên bố cách thức đi trên dây với tòan thể khán giả. Thật lạ kỳ, chúng ta ai cũng hiểu rằng, đi trên dây cần phải dang hai tay để lấy thăng bằng, nhưng nghệ sĩ đã tuyên bố trói tay lại để không cần giữ thăng bằng bởi hai tay. Dây căng cao nhường kia. Vực thẳm với những mũi đá tai mèo nhọn hoắt đâm lên tua tủa. Trói tay lại, không cần lấy thăng bằng đi qua dây thì ai tin được! Nhưng vì nóng lòng muốn biết kết quả, cho nên khán giả đã đồng thanh gào lên:

-Hoan hô! Chúng tôi tin nghệ sĩ! Anh là người đại tài!

Chờ tiếng reo hò lắng xuống, nghệ sĩ dùng một sợi dây, nhờ người buộc chặt hai tay quặt ra sau lưng. Anh bước tới đầu dây, lặp lại những bước đi thận trọng như lần trước. Cuối cùng anh đã bước qua vực thẳm với hai tay trói chặt. Anh đã biểu diễn lần thứ hai thành công một cách không ai có thể ngờ được. Tiếng trầm trồ thán phục, tiếng vỗ tay cổ vũ lại vang lên.

Chợt tiếng loa lại vang lên và tiếng vỗ tay im bặt. Mọi người chú ý nghe nghệ sĩ nói:

-Tôi xin biểu diễn lần thứ ba. Lần này tôi cũng trói chặt hai tay, nhưng dùng vải đen bịt mắt và đi qua dây vượt sang sườn núi bên kia. Xin hỏi mọi người có tin tưởng rằng tôi sẽ làm được hay không?

Một rừng cánh tay giơ lên và tiếng trả lời:

-Chúng tôi tin anh! Chúng tôi tin anh! Anh là người đại tài. Nhất định anh sẽ làm được!
Sau những câu trả lời như hô khẩu hiệu của khán giả ở hai bên sườn núi là tiếng vỗ tay như pháo nổ.

Nghệ sĩ rút trong người một tấm khăn đen, nhờ người trói tay, bít mắt mình và dẫn tới đầu dây.

Cả không gian như lắng xuống. Không một tiếng động, không một tiếng nói. Mọi người như nín thở dõi theo từng bước chân nghệ sĩ đặt trên dây. Một bước, hai bước,… thận trọng và ổn định, cuối cùng anh cũng bước sang tới sườn núi bên kia. Anh đã thành công vượt trên mọi sự tưởng tượng của mọi người, không còn một lời nào đủ sức ngợi ca khả năng tài tình của người nghệ sĩ.

Cuộc biểu diễn có vẻ như còn chưa kết thúc. Người ta thấy nghệ sĩ chen lẫn vào đám đông, rồi trở ra với một chú bé con chừng năm tuổi đang chễm chệ trên vai. Chú bé xinh xắn bụ bẫm, một bàn tay xinh xắn ôm lấy trán nghệ sĩ, một tay giơ cao vẫy vẫy, miệng nở nụ cười tươi như hoa. Có vẻ như chú bé đã quen tiếp xúc với đám đông và muốn cùng mọi người chia sẻ những niềm vui. Tiếng hoan hô lại vang dậy. Rồi tiếng loa lại vang lên:

-Thưa quý vị! Đây là con trai yêu quý của tôi. Tôi sẽ kiệu con trai tôi trên vai để hai cha con cùng biểu diễn đi trên dây. Lần này tôi cũng trói chặt hai tay không cần giữ thăng bằng. Cũng dùng vải đen bịt mắt. Quý vị có tin rằng chúng tôi sẽ thành công hay không ?

-Tin tưởng! Tin tưởng!

Mọi người lại hô vang và cùng vỗ tay rầm rộ.

-Có tin tưởng thật không?

-Tin tưởng! Anh là một người đại tài! Nhất định anh sẽ thành công! – Mọi người đồng thanh trả lời.

-Xin hỏi lại một lần nữa. Mọi người có thật sự tin tưởng hay không?

-Thật sự tin tưởng! Chúng tôi tuyệt đối tin tưởng vào anh! Anh là một người đại tài.

Chúng tôi thực sự tin chắc anh sẽ thành công.

Tất cả mọi người đều đồng thanh trả lời và rồi tiếng vỗ tay lại vang lên hai bên sườn núi. Tiếng reo hò, cổ vũ, tiếng vỗ tay vang lên cùng với tiếng vọng của vách núi tưởng chừng không dứt, đến nỗi những đàn chim trong rừng cây trên hai dãy núi đều vụt bay lên, tán loạn như muốn trốn chạy. 

Cuộc biểu diễn có một không hai trên đời còn chưa bắt đầu thì tiếng vỗ tay, tiếng reo hò cổ vũ lại nổi lên tưởng chừng như không dứt.

Tiếng loa lại vang lên làm cho mọi tiếng reo hò ngừng bặt:

-Tốt lắm! Mọi người đều đã thực sự tin tưởng tôi. Xin chân thành cám ơn.

Nghệ sĩ đặt chú bé xuống đất và nói tiếp:

-Bây giờ xin đổi một cháu bé khác, con của một ai đó trong các quý vị. Vậy ai bằng lòng cho tôi mượn một cháu bé, trai hay gái cũng được. Chúng tôi xin hứa nhất định sẽ thành công. Xin hỏi ai bằng lòng cho tôi mượn một cháu bé?

Lúc này cả núi rừng đều im bặt, chẳng thấy một ai dám hô lên lời tin tưởng nữa.” (Theo Triết Lý Cuộc Đời của Nguyễn Đình Cửu)

Thành ra, triết-lý đời người vẫn cứ lặp đi lặp lại niềm hy-vọng cần thiết để người người sống vui, sống khoẻ, sống thoải mái hầu tiến về phía trước, rất hăng say. 

Cũng tựa như người nghệ sĩ hôm nào vẫn hát những ca-từ sau đây: 

“Ta như sương cao mà người như hoa sâu.
Ta dối gian nhau, nên nát nụ hôn đầu.
Tình đi từng bước, đi từng bước trên đầu gió.
Gieo xuống lòng nhau, ôi từng hạt thương đau”.

(Phạm Duy - bđd

Ca-từ đây, tuy mang chút “thương đau” của nghệ-sĩ nào đó từng cảm-nghiệm, nhưng cũng là giòng chảy dấy lên niềm hy-vọng gửi đến cho đời. Và cho người. 

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng từng thấm đậm

Hạt thương đau như thế

Nhưng vẫn thấy đời mình và đời người

đầy niềm vui hy vọng gửi đến với mọi người.

 

dongcong.net February 18, 2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)