LÀM CHỨNG CHO CHÚA PHỤC SINH

CN 3 PHỤC SINH năm B

CV 3: 13-15, 17-19; Tv 3; 1 Gioan 2: 1-5a; Luca 20: 24: 35-48

đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

Có thể nói, Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật III Phục Sinh vẫn có ý nghĩa và tính chất Lòng Thương Xót Chúa như Chúa Nhật II Phục Sinh, Lễ Lòng Thương Xót Chúa. Ở chỗ, ngay trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca, bài Phúc Âm có nhiều tình tiết hơn của bài Phúc Âm Thánh ký Gioan, (vì cả hai vị cùng thuật lại sự kiện Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ lần thứ nhất và tối ngày thứ nhất trong tuần), những tình tiết nhiều hơn được Thánh ký Luca thuật lại liên quan đến tiến trình tỏ mình ra của Chúa Kitô tùy theo trình độ tin tưởng của các tông đồ bấy giờ:

"Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: 'Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây'. Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: 'Ở đây các con có gì ăn không?' Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: 'Ðúng như lời Thầy đã nói với các con, khi Thầy còn ở với các con, là cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh'. Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh".

Ở phần thứ hai của Phúc Âm Thánh Luca cũng thế, cũng được ngài nói rõ hơn về nội dung của Sứ Điệp Phục Sinh cần phải loan truyền và Sứ Vụ Chứng Nhân các tông đồ cần phải thực hiện, liên quan đến cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô Phục Sinh: 

"Người lại nói: 'Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy'".

Trong khi đó, Thánh ký Gioan (20:19-23) chỉ vắn gọn về lần hiện ra đầu tiên này như sau (có thể là vì ngài đã biết Thánh Luca đã thuật lại các chi tiết khác rồi, ngài không cần phải lập lại nữa, mà chỉ thêm 2 chi tiết chưa được Thánh ký Luca đề cập tới, liên quan đến Thánh Linh, cho trọn vẹn đầy đủ chi tiết cho lần hiện ra đầu tiên này của Chúa Kitô Phục Sinh với các tông đồ, ngoài ra, ngài muốn nhấn mạnh đến lần hiện ra thứ hai sau đó 8 ngày, đoạn Phúc Âm dài hơn đoạn về lần hiện ra thứ nhất):

"Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: 'Bình an cho các con'. Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: 'Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con'. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: 'Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại'". 

Tuy nhiên, cả hai bài Phúc Âm, dù vắn hay dài, cũng chỉ qui tụ lại một điểm giống nhau duy nhất đó là Lòng Thương Xót Chúa. Bởi vì, Lòng Thương Xót Chúa liên quan đến tội lỗi của con người, mà tội lỗi thì cần được thứ tha. Do đó, ở cả 2 bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đều nói đến ơn tha thứ tội lỗi: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại" (Phúc Âm Thánh Gioan) - "phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân" (Phúc Âm Thánh Luca).

Thế nhưng, ơn tha thứ được ban cho nhân loại ra sao từ Lòng Thương Xót Chúa, nếu không phải nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Người Con mà "Thiên Chúa đã không dung tha, một phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), Đấng được Bài Đọc II hôm nay khẳng định là "Ðấng công chính, làm trạng sư nơi Ðức Chúa Cha. Chính Người là của lễ đền tội chúng ta; không nguyên đền tội chúng ta mà thôi, nhưng còn đền tội cho cả thế gian". Và đó cũng là lý do ngay trước Sứ Điệp Phục Sinh về ơn tha thứ ở Phúc Âm Thánh Luca hôm nay, Chúa Giêsu đã nhắc đến lời Thánh Kinh về bản thân Người: "Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại". 

Và chính vì thế mà mở đầu Sứ Điệp Phục Sinh là 3 chứ "nhân danh Người" làm gì: "rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem". Và chính Chúa Kitô Phục Sinh sau khi từ trong kẻ chết sống lại và tỏ mình ra cho các môn đệ tông đồ thì ủy thác cho các vị Sứ Vụ Minh Chứng về Người: "các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy". "Điều ấy" là điều nào? Nếu không phải trước hết là sự kiện Vượt Qua của Chúa Kitô mà chính các vị đã thấy rõ ràng là Thày của các vị đã chết mà nay đã sống lại thật, nhưng trên hết và thực ra, "điều ấy" là chính Lòng Thương Xót Chúa mà nếu không có Lòng Thương Xót Chúa thì cũng chẳng có vấn đề Vượt Qua. 

Chính các vị đã cảm nghiệm thấy Lòng Thương Xót Chúa Vượt Qua ngay nơi bản thân của từng vị. Ở chỗ, chính các vị đã được Người tha tội cho, tội bỏ Thày mà thoát thân của tất cả mọi tông đồ, nhất là tội trắng trọn phản bội chối bỏ Thày v.v., khi Người thông ban Thánh Linh từ Thánh Thể đã chịu khổ nạn và tử giá sống lại của Người cho các vị, không phải chỉ để các vị có thẩm quyền và năng quyền thay Người tha tội cho thành phần hối nhân như các vị, mà còn cho chính các vị trước hết và trên hết. 

Bởi đó, không lạ gì, chính vị lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô, sau khi cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, ngài đã thương cảm chính thành phần lãnh đạo Do Thái giáo nói riêng và thành phần dân chúng nói chung về những lỗi lầm họ vấp phạm trong việc nhúng tay tàn bạo đầy lòng hận thù ghen ghét của họ sát hạt Con Thiên Chúa, với câu nói hoàn toàn phản ảnh Lòng Thương Xót Chúa, như chính Chúa Kitô đã tỏ hiện trên thập giá lúc Người xin Cha của Người tha cho thành phần làm khốn và sát hại Người chỉ vì "lầm, không biết việc mình làm" (Luca 23:34). Câu của Thánh Phêrô trong bài giảng thứ hai hậu Hiện Xuống của ngài như sau:

"Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, Thiên Chúa Giacóp, Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta đã làm vinh danh Chúa Giêsu, Con của Ngài, Ðấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô, trong khi Philatô xét là phải tha cho Người. Anh em đã chối bỏ Ðấng Thánh, Ðấng Công Chính, và xin tha tên sát nhân cho anh em, còn Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại, điều đó chúng tôi xin làm chứng. Hỡi anh em, thế nhưng tôi biết rằng anh em đã hành động vì không biết, như các thủ lãnh anh em đã làm. Thiên Chúa đã hoàn tất việc Người dùng miệng các tiên tri mà báo trước. Ðức Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy ăn năn hối cải, ngõ hầu tội lỗi anh em được xoá bỏ".

 

Dấu Chứng Thần Linh

Tiến Trình Mạc Khải

Hôm nay là Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Phục Sinh chu kỳ năm B. Trong hai Chúa Nhật đầu của Mùa Phục Sinh, Giáo Hội chọn bài Phúc Âm của Thánh Ký Gioan giống nhau cho cả ba chu kỳ này, bài Phúc Âm Chúa Nhật Phục Sinh về việc hai tông đồ Phêrô và Gioan được Mai Đệ Liên báo tin không thấy xác Thày đã chạy ra thăm mộ, và bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh về việc Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ vào ngày thứ nhất trong tuần thiếu tông đồ Tôma và tám ngày sau đó có cả tông đồ Tôma. Vào Chúa Nhật Thứ Ba Phục Sinh này, Giáo Hội cố ý chọn các bài Phúc Âm có ý nghĩa thứ tự theo chu kỳ A, B và C. Bài Phúc Âm năm A thường theo Thánh Mathêu thì Giáo Hội lại cho bài Phúc Âm của Thánh Luca trình thuật về đoạn hai môn đệ đi Emmau được Chúa Giêsu hiện ra; bài Phúc Âm năm B thường theo Thánh Marcô cũng được Giáo Hội chọn bài Phúc Âm Thánh Luca, tiếp bài Phúc Âm của chu kỳ năm A, bài Phúc Âm thuật lại hai môn đệ đi Emmau chạy về thuật lại cho các tông đồ nghe sau khi được Chúa Giêsu tỏ mình ra cho họ; còn năm C vốn đọc bài Phúc Âm Thánh Luca thì Giáo Hội lại chọn đọc bài Phúc Âm của Thánh Ký Gioan, bài Phúc Âm Chúa Giêsu hiện ra với 7 tông đồ ở bờ biển Tibêria, chứ không cho đọc một trong hai bài Phúc Âm của chính Thánh Luca Giáo Hội đã cho đọc ở chu kỳ A và B. Tại sao Giáo Hội lại làm như thế?

Nếu không phải, trong ba tuần đầu của Mùa Phục Sinh, Giáo Hội cố ý nhấn mạnh đến chủ đề “Thày là sự sống lại”, và bốn tuần còn lại của Mùa Phục Sinh Giáo Hội nhấn mạnh đến chủ đề “Thày là sự sống”. Đó là lý do tuần tới, Chúa Nhật Thứ Bốn Phục Sinh, chúng ta thấy Giáo Hội chọn những bài Phúc Âm của Thánh Gioan nói về vị chủ chiên đến cho chiên được sự sống, và về Chúa Thánh Thần, vì sự sống phát xuất từ Chúa Kitô Phục Sinh được thông ban bởi quyền phép Chúa Thánh Thần, Đấng hiện xuống vào Ngày Lễ Ngũ Tuần mở màn cho Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh. Chính vì bốn tuần lễ Phục Sinh cuối nhấn mạnh đến chủ đề “Thày là sự sống”, một sự sống được chủ chiên ban cho đàn chiên, mà phần cuối bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Ba cho chu kỳ năm C mới đề cập đến việc Chúa Giêsu kêu gọi vị trưởng đoàn tông đồ Phêrô theo Người, chẳng những ở việc chăn dắt các con chiên lớn bé của Người mà còn ở chỗ được nên giống Người trong việc thí mạng sống mình vì chiên nữa. Thế nhưng, để có thể hiến mạng sống mình cho chiên được sự sống như thế, tông đồ Phêrô cũng như các tông đồ khác phải là những chứng nhân đích thực của Chúa Kitô và cho Chúa Kitô Phục Sinh. Đó là lý do cuối bài Phúc Âm Thánh Luca của Chúa Nhật Ba năm B tuần này, Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ rằng: “Các con là những nhân chứng về điều này”. “Điều này” đây là điều nào để các tông đồ có thể làm chứng và cần phải làm chứng, nếu không phải là sự kiện về việc Chúa Kitô Phục Sinh.

Dấu Chứng Thần Linh

Đúng thế, nếu các vị tông đồ không tin Chúa Kitô Sống Lại các vị làm sao có thể làm chứng cho Người được! Tuy nhiên, để các vị có thể tin, như bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, Chúa Kitô đã phải dùng mọi cách thích hợp với bản chất hữu hình và trình độ (Thánh Kinh) của các vị. Trước hết, Người đã dùng những dấu hiệu bề ngoài để chứng thực Người đã sống lại. Đầu tiên Người nói với các vị là Người có xác thịt như các vị chứ không phải là ma quái hiện hình, nhưng là một xác thịt thực sự, ăn uống được đàng hoàng ngay trước mắt các vị, chứ không phải hình bóng giả tạo. Tuy nhiên, dấu hiệu bề ngoài mà thôi chưa đủ, bởi thế, sau đó, Người còn mở trí mở lòng cho các vị để các vị hiểu lời Thánh Kinh nói về Người đã được ứng nghiệm nữa.

Kinh nghiệm sống đạo cũng cho thấy đúng như thế, dù thấy được điềm lạ, thậm chí phép lạ ngay trước mắt, nghĩa là thấy được những dấu hiệu bề ngoài, con người vẫn khó có thể tin tưởng, chấp nhận sự thật siêu nhiên, nếu không có ơn soi động hay tác động bề trong. Trường hợp của thành phần Pharisiêu và Hội Đồng Lãnh Đạo Do Thái đủ rõ. Khi thấy những việc lạ lùng Chúa Giêsu làm, họ chẳng những không tin mà còn tìm cách sát hại Người nữa (x Jn 11:45-54). Sau khi Chúa Thánh Thần Hiện Xuống cũng đã xẩy ra cho các vị tông đồ như vậy, những vị đã làm phép lạ và thành phần lãnh đạo Do Thái bấy giờ không thể phủ nhận được nhưng vẫn không chịu tin lại còn cấm cách nữa (x Acts 4:13-18). Hiện tượng vô thần của thời đại văn minh chúng ta đang sống đây cũng thế thôi. Phép lạ ở Lộ Đức rành rành ra đó, đến nỗi khoa học không thể nói năng gì được, thế mà chính những vị bác sĩ liên hệ vẫn không chịu tin tưởng và nhận biết Thiên Chúa.

Ngược lại, có những trường hợp biết được mạc khải của Thiên Chúa, chẳng hạn triường hợp của Quận Vương Hêrôđê và thành phần thông thuộc Thánh Kinh của ông đã cho ông biết Chúa Kitô sinh ra ở Bêlem xứ Giuđa để trả lời cho ba vương gia chiêm tinh từ Đông Phương tới, nhưng chính những người thông biết Thánh Kinh này lại không chịu đến bái thờ Người như ba con người dân ngoại chỉ thấy dấu hiệu bề ngoài kia (x Mt 2:1-12). Như thế, vấn đề ở đây là chính con người cần phải thành tâm thiện chí con người mới có thể nhận ra chân lý khi được chân lý tỏ mình ra cho. Đó là lý do, lời rao giảng tiên khởi của cả Tiền Hô Gioan Tẩy Giả lẫn Chúa Kitô đều nhắm vào việc kêu gọi con người ăn năn thống hối để có thể tin vào Phúc Âm (x Mt 3:2; Mk 1:15). Tin Mừng Phục Sinh, theo bài Phúc Âm hôm nay, cũng là lời kêu gọi thống hối để được ơn tha thứ. Chúa Kitô đã khẳng định với tổng quyền Philatô đang bối rối không biết “chân lý là gì” rằng: “Ai tìm kiếm chân lý thì nghe thấy tiếng của Tôi” (Jn 18:37).

Thật ra, bài Phúc Âm theo Thánh Ký Luca cho chu kỳ năm B của Chúa Nhật Thứ Ba Phục Sinh tuần này, theo thời điểm cùng xẩy ra vào tối ngày thứ nhất trong tuần, cũng có nội dung giống như bài Phúc Âm theo Thánh Ký Gioan, đúng hơn như phần đầu của bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh tuần trước. Phần đầu bài Phúc Âm Thánh Gioan tuần trước Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, thở hơi Thánh Thần trên các vị và ban cho các vị quyền tha tội trên thế gian, còn bài Phúc Âm Thánh Luca cho chu kỳ năm B tuần này, Chúa Giêsu truyền cho các vị đi rao giảng thống hối để được ơn tha tội.

Tuy nhiên, về cách thức chứng minh Người đã sống lại, phần đầu (và cả phần hai) của Phúc Âm Thánh Gioan cho Chúa Nhật tuần trước cho thấy Chúa Giêsu dùng chính những dấu vết tử giá của Người để chứng thực Người đã sống lại, còn bài Phúc Âm Thánh Luca của chu kỳ năm B Chúa Nhật tuần này lại cho thấy Người chứng thực bằng cả dấu hiệu bề ngoài lẫn ơn soi sáng bề trong cho các tông đồ. Thế nhưng, dấu hiệu chính yếu làm cho các tông đồ nhận ra Thày mình thực sự đã phục sinh chính là những dấu vết tử giá nơi thân xác của Thày. Trước mắt các vị bấy giờ Chúa Kitô Phục Sinh chính là Chúa Kitô Tử Giá, hay ngược lại, Chúa Kitô Tử Giá đó chính là Chúa Kitô Phục Sinh. Thật vậy, tông đồ Tôma, tám ngày trước, dù không được thấy Thày ăn uống trước mắt và được Thày mở lòng mở trí cho, song tám ngày sau, chỉ cần thấy những dấu vết tử giá của Người là nhận ra Thày mình liền. Trong tiến trình tu đức cũng thế, Chúa Kitô Phục Sinh, hay quyền lực của Chúa Kitô Phục Sinh, tỏ ra nơi các linh hồn bằng những thánh giá đau khổ, bởi thế, linh hồn cũng chỉ nhận ra Người, nhận ra sự hiện diện sống động của Người, nhận ra quyền lực Thần Linh của Người, qua những dấu hiệu tử giá mà thôi. Vì Chúa Kitô Phục Sinh chính là Chúa Kitô Tử Giá mà Tin Mừng Phục Sinh cũng chính là Tin Mừng của Lòng Thương Xót Chúa, là Tin Mừng Thứ Tha. Như thế, nhận biết Chúa Kitô Phục Sinh tức là nhận biết Đấng đã tử giá, là chấp nhận Đấng đã hiến mình làm giá chuộc muôn dân (x Mt 20:28), là tin theo Đấng đã tự hiến để Giáo Hội được thánh hóa trong chân lý (x Jn 17:19).

Tiến Trình Mạc Khải

Còn một vấn đề nữa liên quan đến bài Phúc Âm Chúa Nhật III Phục Sinh Năm B tuần này, đó là vấn đề tại sao Chúa Giêsu không hiện ra với các tông đồ ngay đi, mà còn phải hiện ra với những người khác trước, như với Mai Đệ Liên (x Jn 20:14-18), hay như hai môn đệ đi Emmau sau khi nhận ra Đấng Phục Sinh trong cuộc hành trình đã chạy vội về báo tin cho nhóm các tông đồ, như đầu bài Phúc Âm Chúa Nhật này cho thấy? Chẳng lẽ các tông đồ lại dễ tin các sứ giả chứng nhân gián tiếp ấy hơn là trực tiếp tin vào chính bản thân của Thày họ hay sao?? Đây là một vấn đề cũng xẩy ra trong lịch sử Giáo Hội nữa. Theo các mạc khải tư, hình như chưa bao giờ có chuyện chính Chúa Kitô hay Mẹ Maria trực tiếp hiện ra với những vị thuộc hàng giáo phẩm, như Giáo Hoàng hay Giám Mục, mà chỉ hiện ra với thành phần giáo dân, tu sĩ, nhất là trẻ em. Tuy nhiên, những gì Chúa Kitô hay Mẹ Maria mạc khải tư cho thành phần thị kiến không thuộc hàng giáo phẩm này biết, nhất là những gì Các Đấng yêu cầu, đều phải được trình lên hàng giáo phẩm.

Chẳng hạn điều Chúa Giêsu xin chị Thánh Faustina trình Giáo Hội để xin Giáo Hội lập Thánh Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa vào Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, đã được chị nỗ lực làm, cuối cùng, Thánh Lễ này đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chấp thuận và phát động qua văn thư của Thánh Bộ Phụng Tự Và Bí Tích ngày 5/5/2000. Hay chẳng hạn điều Mẹ Maria cho 3 Thiếu Nhi Fatima biết Thiên Chúa muốn Đức Thánh Cha hợp cùng với hàng giáo phẩm thế giới hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ để nhờ đó Thiên Chúa sẽ làm cho Nước Nga trở lại và ban hòa bình cho thế giới, cũng đã được chị Lucia hết sức chu toàn, cuối cùng cũng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thực hiện ngày 25/3/1984, một biến cố đã xẩy ra đúng một năm trước khi xuất hiện vị lãnh đạo cuối cùng của Khối Cộng Sản Liên Sô Gorbachev, sau đó là Biến Cố Đông Âu xẩy ra vào cuối năm 1989, và Nước Nga trở lại vào ngày Lễ Giáng Sinh 25/12/1991 với việc từ chức của nhà lãnh tụ ấy.

Qua tiến trình tỏ mình ra trong Lịch Sử Cứu Độ cho đến khi Mạc Khải Thần Linh được hoàn toàn nên trọn nơi Chúa Giêsu Kitô Tử Giá và Phục Sinh, chúng ta có thể nói mạc khải là một mầu nhiệm, hay mầu nhiệm mạc khải. Theo những gì được ghi lại trong Thánh Kinh, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, thì Đấng Mạc Khải Thần Linh đã thực hiện mầu nhiệm mạc khải này theo một tiến trình từ từ và nhẹ nhàng, chứ không đột ngột đùng một cái cho xong. Bởi vì, trước hết, tự bản chất, những gì Thiên Chúa muốn mạc khải cho con người biết, như về Mầu Nhiệm Nước Trời là “những sự thuộc về trời” (Jn 3:12) và đường lối để có thể vào Nước Trời là “những sự ở dưới đất” (Jn 3:12) thì vô cùng mầu nhiệm, cũng như bởi vì, sau nữa, con người hữu hình và hữu hạn không thể nào tự mình có thể thấu triệt được cả những gì được Thiên Chúa tỏ ra cho biết ấy. Đó là lý do Chúa Kitô đã phải nói với ông Nicôđêmô rằng: “Ông giữ vai trò làm thày thiên hạ Do Thái mà vẫn không hiểu những điều này hay sao?... Nếu ông không tin khi Tôi nói với ông về những sự trần thế thì làm sao ông có thể tin được khi Tôi nói với ông về những sự trên trời chứ?” (Jn 3:10,12). Đó cũng là lý do chúng ta còn thấy Chúa Kitô phải cắt nghĩa thêm cho các vị tông đồ hiểu hơn về Mầu Nhiệm Nước Trời Người rao giảng cho dân chúng (x Mt 13:36-37).

Riêng về Mầu Nhiệm Vượt Qua của chính bản thân Người, Người đã phải nói trước cho các tông đồ biết ba lần trước khi các vị có thể chứng kiến thấy mầu nhiệm ấy xẩy ra. Thế mà, các tông đồ vẫn vấp ngã trước Mầu Nhiệm Vượt Qua, đặc biệt là trường hợp của vị trưởng tông đồ đoàn Phêrô hăng máu nhất, bạo miệng thế thốt nhất. Thậm chí, ngay trước khi Chúa Kitô về trời, thành phần môn đệ của Người hình như vẫn chưa hoàn toàn thấu triệt được “tất cả sự thật” (Jn 16:13) Thần Linh, qua câu hỏi còn sặc mùi chính trị trần gian của các vị, đó là: “Lạy Chúa, giờ đây hẳn là Chúa sắp phục hồi quyền cai trị cho dân Do Thái?” (Acts 1:6). Còn Mầu Nhiệm Phục Sinh, theo các Phúc Âm thuật lại, cho dù đã có các sứ giả phục sinh về thông báo trước cho các tông đồ, như Mai Đệ Liên và hai môn đệ đi Emmau, mà các tông đồ còn sững sờ hoảng sợ khi Đấng Phục Sinh xuất hiện trước mắt, như đầu bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, thì thử hỏi nếu không được dọn đường sửa soạn trước về tin Người đã sống lại, đùng một cái cả đám được thấy Người ngay khi Người sống lại vào nửa đêm về sáng Ngày Chúa Nhật tại nhà Tiệc Ly khi các ông còn đang mơ ngủ, các tông đồ còn bấn loạn kinh hoàng tới đâu!

Kể cả trường hợp hiện ra với các sứ giả phục sinh cũng thế, Đấng Phục Sinh cũng không làm cho họ bị hoảng sợ, bằng không họ sẽ chẳng thể nhận ra Người để về loan tin rằng Người đã sống lại, sửa soạn tinh thần cho các tông đồ cho biến cố Người chính thức trự ctiếp hiện ra với các vị. Chẳng hạn khi hiện ra với Mai Đệ Liên, con người nhậy cảm nhất này vẫn không nhận ra dung nhan và tiếng gọi của Người sau khi phục sinh, cho tới khi Người nhẹ nhàng gọi đích danh tên của chị (x Jn 20:14-16). Hay khi hiện ra với hai môn đệ đi Emmau, Người cũng ẩn thân trong hình dáng và bộ điệu của một người lữ khách cho tới khi lòng họ nóng lên để có thể nhận ra Người vào lúc Người bẻ bánh (x Lk 24:15-32). Trong tiến trình tu đức sống đạo cũng thế, Thiên Chúa không tỏ mình cho linh hồn một lần là xong, nhưng Ngài tỏ mình cho họ từ từ, qua các dấu chỉ thời đại, qua những hoàn cảnh của cuộc đời họ, nhất là bằng những thánh giá đau khổ, để họ có thể Cảm Nghiệm Thần Linh được Ngài cho tới khi Chúa Kitô là tất cả Mạc Khải Thần Linh hoàn toàn tỏ hiện nơi họ, đạt đến mức độ thành toàn nơi họ (x Eph 4:13,15), lúc linh hồn đạt tới chỗ thần hiệp với Thiên Chúa, Đấng sống trong họ (x Jn 14:23; Gal 2:20), một con người bé nhỏ đơn sơ dễ dạy (x Mt 18:4) luôn chiều theo chiền Gió Thần Linh muốn thổi đâu thì thổi (x Jn 3:8).

Như thế, trước khi chính thức tỏ mình ra cho con người, Thiên Chúa cần phải làm cho con người trở nên như trẻ nhỏ trước đã để con người có thể chấp nhận Ngài. Ở chỗ, Ngài thanh tẩy họ, tước lột họ khỏi tất cả những gì là bất xứng với Ngài, khỏi tất cả những gì cản trở Tác Động Thần Linh của Ngài nơi họ, đến nỗi làm cho họ phải chân nhận rằng ngoài Ngài ra họ chỉ là hư không và chẳng làm được gì cả. Đó là lý do linh hồn luôn phải tỉnh thức để nhận ra tác động của Thiên Chúa và kịp thời đáp ứng tác động của Ngài. Có thể nói và phải nói rằng chính khi Thiên Chúa “ra tay uy quyền” (Lk 1:51) thanh tẩy linh hồn cũng là lúc Thiên Chúa tỏ mình cho linh hồn, vì sau mỗi một Tác Động Thần Linh của Ngài, linh hồn hiểu Ngài hơn và gắn bó với Ngài hơn, như chính Ngài muốn thanh tẩy họ để kéo họ đến với Ngài và nên một với Ngài. Như thế, khi sai sứ giả phục sinh đến với các tông đồ là Chúa Kitô Phục Sinh đã gián tiếp tỏ mình cho các vị rồi vậy. Tóm lại, nếu Thiên Chúa là Sự Hữu (x Ex 3:14) thì con người vốn từ hư không mà có phải làm sao để trở nên hoàn toàn trống rỗng và bần cùng hết cỡ. Ở chỗ, họ không còn quyến luyến bất cứ một sự gì khác ngoài Chúa, trái lại, lúc nào họ cũng hết mình khao khát một mình Ngài, và tin tưởng đợi trông tất cả mọi sự nơi Ngài, họ mới có tư cách Hiệp Thông Thần Linh cùng với Khả Năng Thần Linh để có thể chất chứa trọn vẹn Đấng “là tất cả trong mọi sự” (1Cor 15:28).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

Đức Thánh Cha Phanxicô

Huấn Từ Lạy Nữ Vương Thiên Đàng Chúa Nhật III Phục Sinh ngày 19/4/2015

Xin chào anh chị em thân mến!

Trong các bài đọc phụng vụ hôm nay, chữ "chứng nhân" được âm vang 2 lần. Lần thứ nhất ở trên môi miệng của Thánh Phêrô: sau khi chữa lành cho một người bất toại ở cửa đền thờ Giêrusalem, ngài đã kêu lên rằng: "Anh em đã giết chết tác giả sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ trong kẻ chết; chúng tôi là những chứng nhân về điều ấy" (Tông Vụ 3:15). Lần thứ hai trên môi miệng của Chúa Giêsu Phục Sinh: Vào tối ngày Vượt Qua, Người đã mở tâm trí của các môn đệ về mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Người mà nói cùng các vị rằng: "Các con là chứng nhân về những điều ấy" (Luca 24:48). 

Các Tông Đồ, những vị đã tận mắt thấy Chúa Kitô Phục Sinh, không thể nào giữ thinh lặng về cảm nghiệm phi thường này của các vị. Người đã tỏ mình ra cho các vị để sự thật về cuộc phục sinh của Người có thể vươn tới hết mọi người nhờ chứng từ của các vị. Và Giáo Hội có nhiệm vụ phải kéo dài sứ vụ này, hết mọi người đã lãnh nhận Phép Rửa được kêu gọi để làm chứng nhân, bằng lời nói và bằng đời sống của mình rằng Chúa Giêsu đã sống lại, Người đang sống động và hiện diện giữa chúng ta. Tất cả chúng ta được kêu gọi làm chứng rằng Chúa Giêsu đang sống đây! 

Chúng ta có thể tự hỏi mình rằng: ai là chứng nhân? Chứng nhân là người đã thấy, là người tưởng nhớ và là người tường trình. Thấy, nhớ và nói là 3 động từ diễn tả căn tính và sứ vụ này. 

Chứng nhân là người đã thấy bằng con mắt khách quan, là người đã thấy được một thực tại, nhưng không phải bằng con mắt dửng dưng lạnh lùng; họ đã thấy và đích thân tham dự vào biến cố ấy. Đó là lý do tại sao họ nhớ tưởng, chẳng những vì họ làm sao để có thể diễn lại các biến cố ấy một cách chính xác, mà còn vì những sự kiện ấy đã nói và họ đã nắm bắt được ý nghĩa sâu xa của chúng. 

Thế nhưng, ở đây là một sứ điệp cứu độ, một biến cố cụ thể, thật sự là một Con Người, đó là Chúa Kitô Phục Sinh, Vị Cứu Tinh duy nhất sống động của tất cả mọi người. Người có thể được chứng kiến thấy bởi những ai có được một cảm nghiệm riêng về Người, trong nguyện cầu và trong Giáo Hội, bằng một đường lối được bắt nguồn nơi Bí Tích Rửa Tội, được nuôi dưỡng bằng Bí Tích Thánh Thể, được niêm ấn với Bí Tích Thêm Sức, được tiếp tục hoán cải nhờ Bí Tích Thống Hối.

Nhờ đường lối ấy, một đường lối luôn được Lời Chúa hướng dẫn, hết mọi Kitô hữu có thể trở nên chứng nhân của Chúa Giêsu phục sinh. Và chứng từ của họ càng khả tín nó càng tỏ hiện ở nơi lối sống có tính cách phúc âm, hân hoan, can trường, hiền lành, bình an, nhân hậu. Trái lại, nếu Kitô hữu sống thoải mái, sống hoang tưởng, sống vị kỷ, họ sẽ trở thành điếc lác và mù lòa trước vấn đề "phục sinh" của rất nhiều anh chị em. Làm sao họ có thể truyền đạt một Chúa Giêsu sống động, làm sao họ có thể truyền đạt quyền năng giải phóng của Chúa Giêsu Kitô, những gì vô cùng dịu dàng êm ái của Người chứ?

Xin Mẹ Maria, Người Mẹ của chúng ta, nâng đỡ chúng ta bằng lời chuyển cầu của Mẹ, để chúng ta, bất chấp những hạn hữu của chúng ta nhưng với ân sủng đức tin, có thể trở nên chứng nhân của Vị Chúa Phục Sinh, mang đến cho những ai chúng ta gặp gỡ các tặng ân niềm vui và an bình của Lễ Phục Sinh. 

Sau Kinh Lạy Nữ Vương hôm nay, ĐTC kêu gọi cầu nguyện cho các nạn nhân bị chìm đắm ở biển Địa Trung Hải và kêu gọi sự trợ giúp quốc tế để tránh tái diễn những thảm kịch tương tự. Tất cả đều im lặng trong giây lát để tưởng niệm các nạn nhân sau đó cùng nhau đọc 1 Kinh Kính Mừng. Tiếp theo ngài ngỏ lời chào đến các phái đoàn hành hương từ khắp nơi trên thế giới hiện diện, với một danh sách khá dài hiếm thấy. Cuối cùng ngài nhắc đến sự kiện hôm nay là ngày bắt đầu 61 ngày (cho tới 24/6/2015) trưng bày Tấm Khăn Liệm ở Thành Turin Ý quốc mà ngài sẽ đến kính viếng vào ngày 21/6/2015, nguyên văn như sau:)

Hôm nay ở Turin bắt đầu việc long trọng trưng bày Tấm Khăn Liệm này. Nếu Chúa muốn, tôi cũng sẽ đến kính viếng vào ngày 21/6. Tôi hy vọng rằng hành động này của việc tôn kính giúp cho tất cả chúng ta tìm thấy nơi Chúa Giêsu Kitô Dung Nhan Nhân Hậu của Thiên Chúa, đồng thời cũng nhận ra dung nhan này ở nơi gương mặt của anh chị em chúng ta, đặc biệt là ở nơi những người anh chị em đau khổ nhất. Xin đừng quên cầu cho tôi. Chúc anh chị em một Chúa Nhật tốt đẹp và một bữa trưa ngon lành!. 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

dongcong.net

April 14, 2018