Chúa Nhật II Thường Niên Năm B
 
 


Cuộc Hội Ngộ Thần Linh Sơ Khởi

Chúa Nhật tuần này, niên lịch phụng vụ của Giáo Hội bước vào tuần thứ hai của Mùa Thường Niên, một mùa phụng vụ được chia làm hai phần, phần sau Mùa Giáng Sinh và phần sau Mùa Phục Sinh. Chính vì theo ngay sau Mùa Giáng Sinh, ý nghĩa phụng vụ của mùa thường niên phần đầu này gắn liền với Mùa Giáng Sinh. Ở chỗ, Chúa Giêsu tiếp tục việc tỏ mình ra cho dân Do Thái. Đó là lý do chúng ta thấy, ngay sau biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa tuần trước mở màn cho Mùa Thường Niên, mở màn cho việc Chúa Giêsu bắt đầu công khai tỏ mình ra nơi dân Do Thái, Giáo Hội đã không đọc ngay đến bài Phúc Âm về biến cố Chúa Giêsu chay tịnh trong hoang địa 40 đêm ngày ở tuần này, một biến cố xẩy ra ngay sau khi Người Chịu Phép Rửa, như được bộ ba Phúc Âm Nhất Lãm ghi nhận, mà là một bài Phúc Âm khác, bài Phúc Âm của Thánh Gioan, bài Phúc Âm trình thuật về cuộc hội ngộ sơ khởi giữa Chúa Giêsu và những người đầu tiên muốn tìm đến với Người.

Một điểm khác cũng cần lưu ý về phụng vụ ở đây nữa là, Giáo Hội bao giờ cũng lấy bài Phúc Âm của Thánh Gioan cho tuần thứ hai của Mùa Thường Niên thay các bài Phúc Âm Nhất Lãm của từng chu kỳ A với Thánh Mathêu, B với Thánh Marcô và C với Thánh Luca. Và bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho Chúa Nhật Hai Thường Niên này mang một ý nghĩa chuyển tiếp liên quan đến biến cố Chúa Giêsu bắt đầu công khai tỏ mình ra. Thật vậy, theo tiến trình Phụng Vụ, một tiến trình cử hành trong một năm tất cả Mầu Nhiệm về Chúa Kitô, thì trước khi Chúa Giêsu bắt đầu công khai tự tỏ mình ra cho dân Do Thái đang trông đợi Đấng Thiên Sai, Người cần phải được giới thiệu với thành phần dân này.

Trước hết, qua biến cố Phép Rửa ở sông Dược-Đăng, Người đã được Chúa Cha giới thiệu đặc biệt với Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, vị sau đó đã chứng thực rằng: “Thực ra tôi không biết Người. Đấng sai tôi đến lấy nước mà làm phép rửa bảo tôi rằng ‘khi nào ngươi thấy Thần Linh xuống đậu trên ai thì đó là Đấng làm phép rửa bằng Thánh Thần’. Giờ đây chính mắt tôi đã thấy và chứng thực ‘Vị này là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn’” (Jn 1:33-34). Thế rồi, sau khi đã nhận diện thực sự ai là Đấng Đến Sau mình nơi biến cố làm phép rửa cho Người, “ngày hôm sau” Thánh Gioan liền giới thiệu Người với dân Do Thái nói chung, như bài Phúc Âm Thánh Gioan cho chu kỳ Năm A cho thấy, cũng như cho môn đệ của mình nói riêng, như bài Phúc Âm Thánh Gioan cho chu kỳ Năm B tuần này. (Còn chu kỳ Năm C của Chúa Nhật Hai Thường Niên, Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại biến cố tiệc cưới Cana, nơi các môn đệ đầu tiên được thấy vinh hiển của Thày mình lần đầu tiên tỏ ra qua việc can thiệp của Mẹ Maria, Vị ở trong trình thuật này như cũng đóng vai giới thiệu Con Mẹ cho các môn đệ của Người).

So sánh giữa bài Phúc Âm của Thánh Gioan cho chu kỳ Năm A và Năm B của Chúa Nhật Hai Thường Niên, chúng ta thấy có điểm giống nhau và điểm khác nhau ở ngay câu mở đầu của bài Phúc Âm. Nơi chu kỳ Năm A, Phúc Âm Thánh Gioan cho thấy Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu với dân Do Thái về Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” khi “Gioan thấy Chúa Giêsu tiến đến với mình”; còn nơi chu kỳ Năm B, bài Phúc Âm Thánh Gioan, bài Phúc Âm liên tục với bài Phúc Âm của chu kỳ Năm A, cho thấy Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu với hai môn đệ “đang ở Bêthany bên kia sông Dược-Đăng” về Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” khi “ông thấy Chúa Giêsu đi ngang qua”. Như thế, bối cảnh của việc Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu “Chiên Thiên Chúa” khác nhau, trước hết, khác nhau ở đối tượng được giới thiệu, lần đầu cho chung dân Do Thái và lần sau cho riêng hai môn đệ; sau nữa, khác nhau ở hành động của vị được giới thiệu, lần đầu khi Tiền Hô thấy “Chúa Giêsu tiến đến với mình”, lần sau khi Chúa Giêsu “đi ngang qua” chỗ của ông; còn nữa, khác nhau ở thời điểm giới thiệu, lần đầu xẩy ra trước khi Chúa Giêsu vào hoang địa chay tịnh, lần sau xẩy ra sau biến cố chay tịnh, vì Chúa Giêsu không chọn môn đệ trước biến cố này; sau hết khác nhau ở vị trí giới thiệu, lần đầu ở bên này sông Dược-Đăng, lần sau “ở Bêthania bên kia sông Dược-Đăng”. Nên lưu ý ở đây là không phải tự nhiên có chuyện ngẫu nhiên xẩy ra sự kiện vị trí giới thiệu khác nhau này đâu. Bởi vì, vị trí ban đầu này, tức ở “Bêthania” xứ Galiêa này, chính là vị trí Đấng Phục Sinh hẹn gặp “anh em” của Người (x Mt 28:10), để lập Bí Tích Rửa Tội cho các vị thi hành (x Mt 28:16-19) trước khi Người thăng thiên về trời (x Lk 24:50).

Vấn đề của bài Phúc Âm Thánh Gioan cho Chúa Nhật Hai Thường Niên Năm B hôm nay không dừng lại ở những chi tiết giống nhau hay khác nhau nơi việc Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu, mà là nhấn mạnh đến tác dụng của việc giới thiệu này. Thật ra, không biết Tiền Hô Gioan Tẩy Giả có ý giới thiệu Chúa Giêsu cho hai môn đệ của mình bấy giờ hay chăng, hoặc chỉ tự nhiên hô lên như thế khi thấy lại Đấng Thiên Sai vô cùng cao trọng hơn mình (x Jn 1:27), một phản ứng không thể nào cầm hãm của một con người cao trọng nhất trong thành phần được nữ giới sinh ra (x Mt 11:11). Và không biết có phải Chúa Giêsu cũng cố ý đi ngang qua chỗ của vị tiền hô này để âm thầm kêu gọi hai môn đệ này của thánh nhân hay chăng? Chỉ biết rằng, sau khi nghe thấy thày mình nói “Chiên Thiên Chúa kìa!”, hai môn đệ của thánh nhân liền, như Phúc Âm thuật lại, “đi theo Chúa Giêsu”. Tại sao lần đầu Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cũng giới thiệu Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” với chung dân Do Thái, hai môn đệ này không “đi theo” Người như lần này? Phải chăng vì lần đầu Chúa Giêsu mới có ý đến với chung dân Do Thái thôi, chưa có ý gọi họ nên họ chưa cảm nhận được tiếng Người gọi để đi theo Người, đúng như Người sau này đã khẳng định trong Bữa Tiệc Ly: “Không phải các con đã chọn Thày, mà là Thày đã chọn các con” (Jn 15:16).

Thật thế, chính vì Chúa Giêsu muốn gọi hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này mà lời Tiền Hô nói “Chiên Thiên Chúa kìa” đã đánh động họ. Tại sao hai môn đệ này lại bị tác động theo Chúa Giêsu qua danh xưng “Chiên Thiên Chúa” mà không phải với danh xưng “Đấng Thiên Sai” như một trong hai người họ sau này tuyên xưng trong cùng bài Phúc Âm hôm nay? Phải chăng lý do hai môn đệ này theo Chúa Giêsu là vì muốn biết xem vị được thày mình nói là “Chiên Thiên Chúa”, đến sau thày mình nhưng trổi vượt hơn thày mình, có thực sự là “Đấng Thiên Sai”?

Chỉ biết rằng, sau khi “họ đến nơi Người ở và ở với Người hôm đó”, thì cả hai người môn đệ này đã phải chứng thực là “Chúng tôi đã gặp Đấng Thiên Sai”, thậm chí một trong hai đã thúc giục anh em mình đến gặp Đấng Thiên Sai ấy nữa. Thế nhưng, Chúa Giêsu ở đâu và đã làm gì hay nói gì với hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này mà cả hai đã nhận thực “Chiên Thiên Chúa” là “Đấng Thiên Sai”? Phúc Âm không cho chúng ta biết thêm những chi tiết hy hữu và ly kỳ này, nhưng thái độ của Chúa Giêsu ngay từ ban đầu đã thu phục được lòng người thiện chí muốn tìm kiếm sự thật rồi vậy. Tức là, nếu cả hai tìm nhau thế nào cũng gặp nhau. Trước hết, hai môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả chẳng muốn tìm gặp Đấng Thiên Sai là gì, ở chỗ, đã bỏ thày mình để đi theo Chúa Giêsu, và sau nữa, Chúa Giêsu cũng đã không tìm kiếm những ai thành tâm thiện chí khao khát chân lý là gì, ở chỗ, đã tỏ ra cởi mở với họ, đúng hơn đã chủ động tìm họ trong chính lúc họ đang bối rối và âm thầm tìm kiếm Người, qua lời Người mời gọi họ, vừa khách quan “các người tìm kiếm gì đó?” vừa chủ quan “hãy đến mà xem”.

Một vấn đề nữa liên quan đến vấn đề đức tin nhận biết và mạc khải thần linh cần phải đặt ra ở đây nữa là, tại sao các hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả không căn cứ vào một dấu hiệu nào khác để xem “Chiên Thiên Chúa” như thày họ nói có phải là “Đấng Thiên Sai” hay chăng, mà lại căn cứ vào nơi Người ở? Khi được Chúa Giêsu hỏi “các người đang tìm kiếm gì đó?”, họ đồng thanh thưa bằng một vấn nạn: “Thưa Thày, Thày hiện đang ở đâu vậy?”. Cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và loài người được mở đầu bằng hai câu hỏi được hai bên đặt ra cho nhau, Thiên Chúa hỏi trước, con người hỏi sau.

Câu con người hỏi Thiên Chúa rất ư quan trọng, vì câu này, theo ý nghĩa sâu xa của nó, liên quan đến nguồn gốc thần linh của Đấng đến sau Tiền Hô Gioan Tẩy Giả. Hai môn đệ của vị Tiền Hô này không hỏi “tên Thày là gì?” hay “Thày là ai?”, mà là “Thày hiện đang ở đâu?”. Dĩ nhiên, câu con người hỏi Thiên Chúa mở đầu cho cuộc hội ngộ thần linh này có thể không sâu xa quá như vậy, mà chỉ liên quan đến nơi ở về không gian của “Con Chiên Thiên Chúa” này thôi. Tuy nhiên, câu hỏi này là tất cả vấn đề chủ yếu vô cùng quan trọng liên quan đến thân mệnh của Chúa Giêsu, một vấn đề Người đã phải giải đáp trong ba năm công khai của Người, bằng lời nói vô cùng khôn ngoan và việc làm vô cùng quyền năng, nhất là vào những ngày cuối đời, bằng cuộc Vượt Qua của Người, để chứng thực Người từ Cha mà đến, tức Cha đã sai Người, và Người phải trở về cùng Cha, tức Người làm trọn ý Cha (x Jn 17:8), nghĩa là để chứng thực rằng “Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày” (Jn 14:10).

Về phần mình, Thiên Chúa đã không trả lời con người một cách dứt khoát: “Ta là Đấng Thiên Sai đây”, “Ta là Thiên Chúa làm người đây”, mà là một cách thách thức, một cách khách quan, một cách mời gọi, hoàn toàn tôn trọng quyền tự do và sự chọn lựa của con người, tùy theo tầm nhận thức và lòng thành thực của họ: “Hãy đến mà xem”. Có thể Chúa Giêsu đã dẫn hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đến coi chỗ Người đã ăn chay 40 đêm ngày trong hoang địa chăng, một địa điểm giống như nơi ở của thày họ cũng trong hoang địa (x Mk 1:6; Mt 11:7-9, 3:1), một vị thày đã được dân Do Thái cho là Đấng Thiên Sai (x Jn 1:19-20)? Tuy nhiên, dù xem gì thì xem, thấy gì thì thấy, nếu con người thực sự khao khát thiện hảo và tha thiết tìm kiếm chân lý, chắc chắn họ sẽ gặp được những gì họ tìm kiếm và ước mong: “Ai khao khát nhân đức trọn lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no thỏa vậy” (Mt 5:6). Quả thế, chính vì “chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi” (Jn 10:27), mà hai người môn đệ thành tâm thiện chí hết sức mong đợi nhân vật được Thiên Chúa hứa sai ấy đã thực sự gặp Người: “Chúng tôi đã gặp được Đấng Thiên Sai”.

Như thế, chỉ cần con người chẳng những thành tâm thiện chí khao khát chân thiện mỹ, như một Samuel dù ngủ nhưng vẫn nghe được tiếng Chúa gọi trong đền thờ, một sự kiện được thuật lại trong bài đọc một hôm nay, mà còn dám dấn thân tìm kiếm khi thấy những dấu chỉ thời đại, như ba chiêm tinh vương Đông Phương trong Lễ Chúa Hiển Linh, hay như hai môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong bài Phúc Âm hôm nay, nhất là, sau đó, tức sau khi đã nhận ra dấu chỉ của Người, nhận ra “ngôi sao của Người” (Mt 2:2), còn dám đến tận nơi để triều bái Người, chứ không sợ Sự Thật như một quận vương “Hêrôđê tìm giết con trẻ” (Mt 2:13), hay như con người thời đại văn minh ngày nay đang sống theo chủ nghĩa luân lý tương đối, “vì những việc họ làm đều gian ác” (Jn 3:19), hoặc, sau khi đã được Chúa mở đường “hãy đến mà xem”, còn dám ở lại với Người, như trường hợp hai môn đệ trong bài Phúc Âm hôm nay, chứ không dập tắt sự thật như trường hợp tổng trấn Philatô muốn tránh né sự thật và hàng đầu trước cái hóc búa lẫn rùng rợn của vấn đề “chân lý là gì?” (Jn 18:38), chắc chắn họ sẽ gặp được Đấng hằng muốn tỏ mình cho chung loài người và cho riêng từng người.

Dầu sao, lời tuyên xưng “chúng tôi đã gặp được Đấng Thiên Sai” của hai môn đệ này cũng chỉ là cảm thức ban đầu của họ, một cảm thức tin tưởng, một Cảm Nghiệm Thần Linh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có nhiều cảm nghiệm thần linh, nhiều cảm thức tin tưởng, đã trở thành hão huyền, hoang tưởng, vì sự thật không phải như họ nghĩ. Đó là lý do, cảm thức đức tin này nơi con người tuyên xưng “Chúng tôi đã gặp Đấng Thiên Sai” còn cần phải được thử thách về tính cách chân thực của nó nữa mới được, mới xác thực, mới đúng như vậy. Bởi thế chúng ta không lạ gì với sự kiện hay hiện tượng, cho dù tuyên xưng như thế mà họ vẫn còn hay vẫn có thể chối bỏ sự thật, điển hình nhất là trường hợp của trưởng đoàn tông đồ Phêrô (x Mt 16:16; Mk 14:27-31). Đó cũng là lý do mạc khải là một tiến trình của sự thật, cho tới khi sự thật hoàn toàn chiếm hữu con người, đến nỗi khiến con người chẳng những không thể chối bỏ sự thật, mà còn rao giảng và sẵn sàng chết đi để làm chứng cho sự thật, như trường hợp của phó tế Stephanô, Vị Tử Đạo Tiên Khởi được Giáo Hội kính nhớ ngay sau Lễ Giáng Sinh hằng năm, hay của thành phần Kitô hữu tử đạo khắp nơi qua mọi thời đại.

Như thế, đời sống của một người Kitô hữu từ khi lãnh nhận Phép Rửa đến khi lìa đời là một cuộc Hành Trình Đức Tin, một cuộc Cảm Nghiệm Thần Linh cho tới khi họ trở thành chứng nhân đích thực và sống động của Chúa Kitô, tức là cho đến khi Chúa Kitô hoàn toàn chiếm đoạt và sống động trong họ, nhờ đó, thế gian có thể, qua bản thân họ và nhờ đời sống họ, nhận biết Sự Thật, nhận biết Đấng Cứu Thế duy nhất, Đấng “là đường, là sự thật và là sự sống” (Jn 14:6).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)