Chúa Nhật IV Thường Niên Năm B
 
 


Suy nghiệm Lời Chúa 

ĐỨC KITÔ - THẦN HIỂN 

Mới đọc Bài Đọc I cho Chúa Nhật Thứ IV Thường Niên Năm B hôm nay, nếu lưu ý tới tâm thức của dân Do Thái qua giòng lịch sử, sẽ thấy có một sự mâu thuẫn thật là mâu thuẫn ở nơi họ. Đó là, trong khi họ sợ Thiên Chúa, nhất là mỗi khi Ngài tỏ mình ra cho họ, nghĩa là qua sự kiện thần hiển của Ngài (theophany), một cuộc thần hiển bao gồm những hiện tượng sấm xét, mây mù, khói tỏa, động đất v.v. như trong biến cố ở Núi Sinai, được thuật lại trong Sách Xuất Hành (19:16-20) như sau: 

"Ðến ngày thứ ba, ngay từ sáng, có sấm chớp, mây mù dày đặc trên núi, và có tiếng tù và thổi rất mạnh. Toàn dân trong trại đều run sợ.Ông Mô-sê đưa dân ra khỏi trại để nghênh đón Thiên Chúa; họ đứng dưới chân núi.Cả núi Xi-nai nghi ngút khói, vì Ðức Chúa ngự trong đám lửa mà xuống; khói bốc lên như khói lò lửa và cả núi rung chuyển mạnh.Tiếng tù và mỗi lúc một tăng lên rất mạnh. Ông Mô-sê nói, và Thiên Chúa trả lời trong tiếng sấm.Ðức Chúa ngự xuống trên núi Xi-nai, trên đỉnh núi. Người gọi ông Mô-sê lên đỉnh núi, và ông đi lên". 

Đó là lý do họ đã không muốn thấy những cuộc thần hiện kinh thiên động địa, đầy tính cách rùng rợn kinh hoàng như thế nữa, và họ đã nhận được lời hứa đáp ứng thỏa đáng lời yêu cầu chính đáng của họ, như những gì Moisen nói với dân chúng trong Sách Đệ Nhị Luật ở Bài Đọc I hôm nay: 

"Chúa là Thiên Chúa các ngươi, sẽ gầy dựng giữa các ngươi và giữa những anh em các ngươi, một tiên tri như ta: các ngươi sẽ nghe lời người, như các nguơi đã xin cùng Chúa là Thiên Chúa các ngươi ở Horeb khi có cuộc đại hội, và các ngươi nói rằng: Tôi không muốn nghe tiếng Chúa là Thiên Chúa tôi nữa, tôi không muốn thấy ngọn lửa vĩ đại này nữa, kẻo tôi phải chết. Và Chúa phán cùng tôi: sự họ đã nói, là tốt. Ta sẽ gầy dựng giữa anh em của họ một tiên tri như ngươi; Ta sẽ đặt vào miệng người những lời của Ta, người sẽ nói cho họ biết tất cả những điều Ta sẽ truyền cho người. Và nếu kẻ nào không nghe lời của Ta mà người sẽ nói nhân danh Ta, chính Ta sẽ xét xử nó". 

Ở đây, qua lời hứa với dân Do Thái về một "một tiên tri như ta" (tức như Moisen) như thế Thiên Chúa như muốn lập lại lời Ngài đã hứa với hai nguyên tổ ngay sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:15) về Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần - Redemptor Hominis, Đấng thuộc "giòng dõi người nữ". Và lời Ngài hứa ngay từ ban đầu với chung loài người và lời Ngài hứa với dân Do Thái qua Moisen trong Bài Đọc I hôm nay đã trở thành hiện thực "vào lúc thời điểm viên mãn" (Galata 4:4), tức "vào thời kỳ sau hết, Thiên Chúa đã nói với chúng ta nơi Người Con của Ngài" (Do Thái 1:1), chứ không phải "bằng nhiều thể nhiều cách khác nhau trong những thời gian đã qua" (Do Thái 1:1), và Người Con của Ngài "đã được hạ sinh bởi một người nữ, được sinh hạ dưới lề luật để cứu những ai bị lệ thuộc lề luật, hầu chúng ta được nhận lãnh thân phận làm dưỡng tử" (Galata 4:4-5). 

Tuy nhiên, cho đến khi Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần này xuất hiện, nơi Nhân Vật Lịch Sử Giêsu Nazarét, đóng vai "một tiên tri như (Moisen)", trong việc "nói cho họ biết tất cả những điều Ta sẽ truyền cho người", như Moisen lập lại lời Thiên Chúa về sứ vụ của vị tiên tri tương lai đầy hứa hẹn ấy với dân Do Thái trong bài Đọc I hôm nay, nhất là khi Vị Đại Tiên Tri Thiên Sai này nói cho họ biết tất cả sự thật về bản thân Người, thì dân Do Thái lại không chịu tin, trái lại, còn lên án Người, ném đá Người và tìm cách sát hại Người nữa: "Ông chỉ là một con người mà cho mình là Thiên Chúa" (Gioan 10:33), và chính vì thế cuối cùng Người đã bị Hội Đồng Đầu Mục Do Thái, sau khi nhân danh Thiên Chúa hỏi Người và được Người trả lời thì đã vì Người mà vấp phạm: "Hắn lộng ngôn phạm thượng... Hắn đáng chết" (Mathêu 26:65-66). 

Dân Do Thái mâu thuẫn và thật là mâu thuẫn ở chổ đó. Nói đúng ra dân nào cũng vậy, cũng là người, cũng mang nhân tính nhiễm lây nguyên tội đầy mù quáng. Ở chỗ, họ chẳng những không chấp nhận Vị Thiên Chúa vô hình thần hiển đáng sợ, mà cũng chẳng chấp nhận Thiên Chúa hiện thân hữu hình như họ, sống gần gũi với họ. Đó là lý do câu xướng trước Bài Phúc Âm hôm nay mới được Giáo Hội chọn câu Phúc Âm của Thánh ký Gioan, liên quan đến cả mầu nhiệm nhập thể về phía Thiên Chúa lẫn điều kiện cứu độ bất khả thiếu về phía con người (ở những chi tiết được người viết gạch dưới): "Alleluia, alleluia! - Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta; những ai đón nhận Người, Người sẽ ban cho quyền làm con cái Thiên Chúa. - Alleluia" (xem Gioan 1:14 và 12). 

Và đó cũng là lý do, về phía con người, Giáo Hội đã chọn những câu trong Thánh Vịnh 94 (1-2. 6-7. 8-9) để khuyên dân Chúa "đừng cứng lòng" khi "các bạn nghe tiếng Người" như sau: 

1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người.

2) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người.

3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Ðừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta". 

Thế nhưng, nếu vị Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm naytỏ lòng mong muốn "ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: các bạn đừng cứng lòng", thì Thánh Phaolô, Vị Tông Đồ Dân Ngoại, trong Thư Thứ Nhất gửi giáo đoàn Corintô ở Bài Đọc II hôm nay nêu lên cho Kitô hữu một lối sống bình an tự tại, không bị chi phối bởi những lo lắng trần gian, nhờ đó mới có thể gắn bó với Chúa, một lối sống có thể nói là trinh khiết, hay của thành phần trinh nữ, như sau (người viết cố ý nhấn mạnh đến những chi tiết được gạch dưới): 

"Anh em thân mến, tôi ước mong anh em khỏi phải lo lắng. Người không có vợ thì lo lắng việc Chúa, và tìm cách làm đẹp lòng Chúa. Nhưng người đã có vợ thì lo lắng việc đời này, và tìm cách làm đẹp lòng vợ mình, và họ bị chia xẻ. Cũng thế, người phụ nữ không có chồng và đồng trinh thì lo lắng việc Chúa, để nên thánh phần xác và phần hồn. Còn người phụ nữ đã có chồng thì lo lắng việc đời này, và tìm cách làm đẹp lòng chồng mình. Tôi nói thế vì ích lợi cho anh em, chứ không phải để gài bẫy anh em đâu, nhưng là để hướng dẫn anh em đến đời sống đoan chính và hoàn toàn khắng khít với Chúa". 

Chính vì Chúa Giêsu Kitô chẳng những là "một triên tri như (Moisen)" mà còn là chính "Lời đã có ngay từ ban đầu, Lời hằng ở nơi Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa" (Gioan 1:1), "Lời (ấy)đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), nên khi "Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường. Người ta (mới) kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ". 

Cái "uy quyền" xuất phát từ Người qua lời "giảng dạy" của Người là do ba yếu tố bất khả thiếu sau đây: trước hết, xuất phát từ chính bản thân của Người là một Ngôi Vị Thần Linh, một Ngôi Vị đầy Thánh Linh, đầy sự sống, được tỏa ra từng lời nói, cử chỉ, tác hành và phản ứng của Người; sau nữa, xuất phát từ chính lời của Người, một lời chất chứa chính chân lý và là một chân lý có tác dụng "giải phóng" (Gioan 8:32) những tâm hồn nào khao khát chân lý, cởi mở và biết lắng nghe; sau hết, xuất phát từ chính các việc quyền năng Người làm, chẳng hạn như việc Người chữa lành và trừ quĩ, những việc đầy quyền năng có tác dụng tất yếu trong việc làm gia tăng thần lực cho lời giảng dạy của Người. 

Phải chăng, chính vì thế mà trong Bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Marcô, ngay sau khi nhận định "người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ", liền thuật lại việc Người cứu chữa một người bị thần ô uế ám như sau: "Ðang lúc đó, trong hội đường có một người bị thần ô uế ám, nên thét lên rằng: 'Hỡi ông Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai, là Ðấng Thánh của Thiên Chúa'. Chúa Giêsu quát bảo nó rằng: 'Hãy im đi và ra khỏi người này!' Thần ô uế liền dằn vặt người ấy, thét một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy". 

Đúng vậy, nếu Thánh ký không cố ý sử dụng việc trừ thần ô uế ám của Chúa Giêsu để chứng tỏ cái "uy quyền" của Người nói chung và của lời Người nói riêng thì tại sao, ngay sau sự kiện trừ tà này của Chúa Giêsu, Thánh ký Marco cho biết thêm một chi tiết là lạ liên hệ tới lời giảng dạy của Người hơn là tới chính việc Người làm: "Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: 'Cái gì vậy? Ðấy là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả thần ô uế và chúng vâng lệnh Người'. Danh tiếng Người liền đồn ra khắp mọi nơi, và lan tràn khắp vùng lân cận xứ Galilêa". 

"Ðấy là một giáo lý mới ư?", dân chúng chứng kiến thấy việc Chúa Giêsu trừ tà nói như vậy, nói về "giáo lý", tức về những gì liên quan đến lời nói, đến lời giảng dạy của Người, chứ không phải họ nói rằng: Ðấy là một quyền năng mới ư? Bởi vì thứ "giáo lý" mới này, đối với dân chúng, ở nơi việc trừ tà của Chúa Giêsu, là những gì liên quan đến lệnh truyền của Người: "Hãy im đi và ra khỏi người này!" đúng như họ đã cảm nhận: "Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả thần ô uế và chúng vâng lệnh Người"

Thật thế, chính nhờ quyền lực vô song của "giáo lý mới" là lời Thiên Chúa mà nạn nhân bất hạnh trong Bài Phúc Âm hôm nay mới được trừ cho khỏi thần ô uế, ám chỉ các khuynh hướng trần tục đầy tính chất xấu xa hèn hạ nhơ nhớp, nhờ đó, họ mới có thể trở nên tinh tuyền, mới có được một tấm lòng gắn bó với Chúa, không còn bận bịu lo toan trần tục, theo tinh thần  của Bài Đọc II hôm nay, để rồi, nhờ tấm lòng gắn bó với Chúa, theo chiều hướng của câu xướng trước Bài Phúc Âm hôm nay, họ mới dễ "đón nhận Người", nhờ đó, "Người sẽ ban cho họ quyền làm con cái Thiên Chúa", nghĩa là được hiệp thông thần linh với "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14) - Alleluia".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

Quyền Lực Của Bóng Dáng Thần Linh

Theo Phúc Âm của Thánh Ký Marcô cho Chúa Nhật Thứ Ba tuần trước, Chúa Giêsu bắt đầu chủ động thi hành sứ vụ thiên sai của mình bằng hai việc, công bố sứ điệp và tuyển gọi môn đệ. Tuần này, cũng Phúc Âm Thánh Marcô cho chúng ta thấy việc Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân Do Thái chẳng những bằng lời giảng dạy làm cho họ kinh ngạc, mà còn bằng việc làm khiến họ phải sửng sốt vì chưa bao giờ thấy nữa. Thật vậy, nếu việc tỏ mình ra lần đầu tiên theo Phúc Âm Thánh Gioan là phép lạ Người làm ở tiệc cưới Cana (x Jn 2:1-11), theo Phúc Âm Thánh Luca là lời tự chứng của Người ở Hội Đường Nazarét về bản thân Người đúng như lời Thánh Kinh của tiên tri Isaia (x Lk 4:14-30), thì theo Phúc Âm Thánh Marcô là việc Người trừ một thần ô uế trong một hội đường ở Caparnaum. Ở Phúc Âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ đầu tiên. Ở Phúc Âm Thánh Luca, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân làng của Người (toàn tòng Do Thái) đầu tiên. Ở Phúc Âm Thánh Marcô, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân chúng nói chung (đa số là Dân Ngoại) ở thành Caphanaum. Sự kiện thành Caphanaum (ngày nay được gọi là Tell Hum, nằm ở bắc ngạn Biển Hồ Galilêa, phía đông của Nước Jordan, và cách Nazarét 23 dặm) thật sự là nơi có đa số Dân Ngoại sinh sống đã được Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 8:5-13 cho thấy rõ ràng qua chuyện Chúa khen đức tin mãnh liệt của viên đại đội trưởng người Rôma ở đây; nhất là ở đoạn 4:12-17, Phúc Âm Thánh Mathêu còn cho biết Capanaum, miền đất Dân Ngoại “còn ngồi trong tối tăm” như lời của tiên tri Isaia là địa điểm Chúa Giêsu bắt đầu xuất hiện như “ánh sáng bừng lên” để công bố lời loan báo tiên khởi và tuyển chọn các tông đồ đầu tiên.

Việc Chúa Giêsu lần đầu tiên tỏ mình ra bằng việc ra tay trừ thần ô uế ở một nơi phố hội của Dân Ngoại này là một việc làm rất hợp tình hợp lý. Hợp tình ở chỗ Dân Ngoại vì ngồi trong tối tăm nên dễ bị thần dữ sai khiến, làm chủ, và hợp lý ở chỗ ánh sáng cần phải chiếu soi để xua tan bóng tối thế nào, Chúa Giêsu cũng trừ thần ô uế ở đây như vậy. Thực ra Phúc Âm Thánh Marcô không cho chúng ta biết chính xác người bị thần ô uế ám đây là người Do Thái hay Dân Ngoại. Tuy nhiên, căn cứ vào bối cảnh của bài Phúc Âm, chúng ta có thể khẳng định người bị thần ô uế ám đây là một người Do Thái, vì sự kiện trừ tà này của Chúa Giêsu xẩy ra bấy giờ trong một hội đường của người Do Thái. Như thế, không phải chỉ có Dân Ngoại không biết Thiên Chúa, tức không được ánh sáng Mạc Khải Thần Linh tỏ ra cho qua Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái, mới là thành phần duy nhất dễ bị quỉ ám, mà cả thành phần dân Do Thái nữa.

Chúng ta cũng không biết đích xác lý do tại sao hay vào trường hợp nào người Do Thái này bị thần ô uế nhập và ám, nhưng chúng ta có thể suy ra là nạn nhân đáng thương ấy bị ảnh hưởng bởi môi trường, môi trường Dân Ngoại, một môi trường đầy những ngẫu tượng và tà thần, một môi trường Thiên Chúa, qua Moisen, đã cảnh giác dân Do Thái trước khi vào chiếm mảnh đất Ngài đã hứa với cha ông tổ phụ họ, một môi trường mà vì là dân thánh thuộc về Thiên Chúa, qua phép cắt bì, họ chẳng những cần phải xa lánh mà còn phải diệt trừ nữa (x Deut 7:1-6). Đối với dân Do Thái, Dân Ngoại quả thực là thành phần ô uế, như được thấy rõ ràng qua những gì Tông Đồ Phêrô bộc lộ trong thị kiến về dân ngoại của ngài, một thị kiến ngài thấy toàn là thú vật và được lệnh phải giết đi để ăn nhưng ngài nhất định không chịu (x Acts 10:11-14). Chính vì thành phần Dân Ngoại ô uế mà, cho dù theo Tân Ước, họ không cần phải chịu phép cắt bì như dân Do Thái mới được cứu độ, song, theo Công Đồng Chung Giêrusalem, họ vẫn buộc phải kiêng lánh những gì là ô uế liên quan đến ngẫu tượng, hoang dâm và ăn nhậu huyết nhục (x Acts 15:20).

Nếu trong lời loan báo ban đầu của Chúa Giêsu, Người đã công bố “Triều Đại Thiên Chúa đã đến”, thì tất cả những việc Người làm đều cho thấy sự thật “Triều Đại Thiên Chúa đã đến”. Nhưng, có lẽ đối với dân Do Thái nói chung, (vẫn biết sau này thành phần Do Thái thông luật Pharisiêu tỏ ra nghi ngờ và không thán phục việc Người trừ quỉ như ở Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 12:24), việc Người trừ quỉ hay trừ thần ô uế vẫn là một cái gì đặc biệt nhất. Tại sao? Bởi vì trong Lịch Sử Cứu Độ của họ, chưa hề xẩy ra như vậy, kể cả trong thành phần các tiên tri, danh tiếng như Êlia chẳng hạn, vị tiên tri cho dù có thể hồi sinh đứa con trai của bà góa ở Zarephath như Sách Chư Vương 1 thuật lại trong đoạn 17:17-24, được cũng chẳng làm được điều này. Tất nhiên, với quyền năng của Thiên Chúa, vị tiên tri nào hay bất cứ người nào được Thiên Chúa dùng cũng có thể làm được những gì Ngài muốn, kể cả việc trừ quỉ hay trừ thần ô uế như Chúa Giêsu làm trong bài Phúc Âm hôm nay. Thế nhưng, thực tế cho thấy Thiên Chúa đã không dùng ai khác ngoài chính Con Một của Người, Lời Nhập Thể, Thiên Chúa Làm Người, để ra tay thực hiện việc đặc biệt này. Tại sao? Nếu không phải tại vì việc trừ quỉ hay trừ thần ô uế này là biểu hiệu đích thực nhất và sống động nhất cho dự án và công cuộc Thiên Chúa muốn cứu chuộc nhân loại cho khỏi tội lỗi và sự chết là những gì do tên sát nhân ngay từ ban đầu là ma qủi gây nên (x Jn 8:44; Gen 3:15). Đó là lý do Thánh Gioan Tông Đồ, trong thư Thứ Nhất của mình đã xác quyết: “Ai phạm tội thì thuộc về ma quỉ, vì ma quỉ phạm tội ngay từ ban đầu. Chính vì để hủy diệt các công việc của ma quỉ mà Con Thiên Chúa đã tỏ mình ra” (1Jn 3:8).

Tuy nhiên, nếu việc cứu chuộc của Thiên Chúa, về phần tiêu cực, trước hết là việc Ngài, qua Chúa Giêsu Con Ngài, cứu con người khỏi tội lỗi và sự chết, tức khỏi quyền lực của Satan, của ma qủi, được biểu hiệu qua việc Người Con này ra tay trừ ma quỉ, trừ tà thần, nhất là được hiện thực qua Cuộc Tử Giá của Người, thì vấn đề được đặt ra ở đây không phải là việc con người được cứu nữa, mà là việc ma quỉ nhận biết Chúa Giêsu là ai và đến để làm gì, như hắn đã tuyên xưng trước mặt mọi người có mặt bấy giờ là: “Hỡi Giêsu Nazarét, Người muốn gì nơi chúng tôi đây? Chẳng lẽ Người đến hủy diệt chúng tôi hay sao? Tôi biết rằng Người là ai rồi, Người là Đấng Thánh của Thiên Chúa!” Qua câu nói này của thần ô uế, chúng ta thấy rằng ma quỉ vẫn không bao giờ quên được bản án nguyên tội của loài người, một bản án có liên quan đến số phận của hắn, số phận bị giòng dõi người nữ đạp dập đầu (x Gen 3:15). Và sự kiện hắn đến cám dỗ Chúa Giêsu trong hoang địa (x Mk 1:12; Mt 4:1-11; Lk 4:1-13) phải chăng đã hiển nhiên cho thấy hắn lúc nào cũng để ý và truy lùng trong loài người xem ai là “giòng dõi người nữ”, vị sẽ đạp dập đầu hắn, để tấn công trước, để ra tay trước, kẻo hắn sẽ bị hạ, và vương quốc của hắn trên thế gian cũng theo đó bị tiêu tan. Phải chăng, qua lời rao giảng làm cho dân chúng thán phục của Người, như phần đầu của bài Phúc Âm hôm nay nói tới, nhất là qua việc ăn chay 40 đêm ngày trong hoang địa của Chúa Giêsu, một việc vô tiền khoáng hậu chưa hề xẩy ra trong loài người là loài vốn mang “bản chất yếu nhược” (Mt 26:41), mà thần ô uế trong bài Phúc Âm hôm nay phải thốt lên rằng “Người là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”.

Xin lưu ý ở đây là, Chúa Giêsu chưa kịp lên tiếng gì, chưa kịp tỏ thái độ nào, trái lại, mới chỉ thấy bóng của Người, sự hiện diện của Người trong thành phần dân Do Thái tham dự ở hội đường, mà thần ô uế đã hoảng sợ đến nỗi không thể cầm mình và phải la lên rồi. Cái sợ của hắn ở đây, trước hết, liên quan đến bản thân của Người, tức là hắn không biết có phải chính Người là Đấng sẽ đạp dập đầu hắn là Satan, là tên quỉ cả của hắn chăng, mà nếu quả thực như thế thì cả hắn cũng sẽ bị tiêu diệt nữa, do đó, hắn mới sử dụng đại danh từ “chúng tôi” ở phần thứ hai của câu hắn nói. Cái sợ của thần ô uế trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, sau nữa, liên quan đến công việc của Người, tức là hắn không biết Người đến để làm gì, có phải để “hủy diệt chúng tôi hay sao?”. Cái sợ của hắn ở đây, sau hết, liên quan đến tư cách và phẩm tính của Người, ở chỗ, vì hắn “ô uế” nên sợ “Đấng Thánh”, vì hắn ở trong tối tăm nên sợ ánh sáng. Như thế, trong khi dân chúng bấy giờ chưa ai nhận ra Chúa Giêsu thì ma quỉ đã nhận ra Người, và Người nhờ đó cũng tỏ mình ra Người quả thật là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” và sứ vụ của Người là đến cứu chuộc con người khỏi quyền lực chết chóc và tinh thần ô uế của thần dữ.

Đó là lý do, được chứng kiến việc Chúa Giêsu trừ thần ô uế này, tức được thấy Người tỏ mình ra như vậy, nếu người Do Thái nhận biết Người là Đấng Thiên Sai và người Dân Ngoại tin phục Người là Đấng Cứu Thế thì không phải là họ đã thực sự “cải thiện đời sống và tin vào Phúc Âm” rồi hay sao? Việc trừ tà thần của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này quả thực là Phúc Âm sống động, do đó, sau khi được chứng kiến tỏ tường sự lạ về một con người lại có quyền năng trừ tà thần, dân chúng mới nói: “Như thế nghĩa là gì đây? Một giáo thuyết hoàn toàn mới mẻ đầy quyền linh! Người truyền lệnh cho thần ô uế và hắn đã tuân lệnh Người!” Dân chúng không nói “một việc làm hoàn toàn mới mẻ đầy quyền linh”, mà là “một giáo thuyết hoàn toàn mới mẻ đầy quyền linh”. Bởi vì, theo Thánh Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, chính Phúc Âm có một sức mạnh, một quyền linh giải cứu con người thành tâm tin tưởng: “Việc rao giảng phúc âm của chúng tôi đã chứng tỏ cho anh em thấy đó không phải chỉ là vấn đề thuần ngôn từ mà là vấn đề quyền năng…” (1Thes 1:5).

Và Phúc Âm đây là gì, nếu không phải cũng là chính Chúa Giêsu, vì Phúc Âm nói về Người (x Rm 1:3), Phúc Âm là tất cả Mạc Khải Thần Linh, là “tất cả sự thật” (Jn 16:13) được Người tỏ ra cho riêng dân Do Thái cũng như cho chung nhân loại. Mà Người cũng chính là tất cả Mạc Khải Thần Linh, chính là Tất Cả Sự Thật, chính “là Sự Thật” (Jn 14:6). Bởi vậy, “tin vào Phúc Âm” chính là tin vào Chúa Giêsu. Nhưng muốn tin vào Chúa Giêsu con người cần phải “cải thiện đời sống”, tức cần phải chẳng những “khao khát nhân đức trọn lành” (Mt 5:6), ở chỗ luôn mở lòng mình ra trước Mạc Khải Thần Linh, mà còn cần phải “có lòng thanh sạch” (Mt 5:8) nữa. Như thế, việc trừ tà thần của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này chẳng những là việc nói lên cho thấy dấu hiệu “Triều Đại Thiên Chúa đã đến”, mà còn có một tác dụng thanh tẩy con người, làm cho con người nhờ đó có thể tin tưởng chấp nhận những gì được Thiên Chúa mạc khải qua Con của Ngài, hay chấp nhận chính Con Ngài là Chúa Giêsu, Mạc Khải Thần Linh, Phúc Âm Cứu Độ.

Kitô hữu đã được Quyền Năng Phục Sinh của Chúa Kitô, qua phép rửa, trừ tà thần cho. Thế nhưng, thực tế cho thấy Kitô hữu sống trên trần gian như thể vẫn bị tà thần làm chủ và hắc ám, được thể hiện rõ ràng nhất qua những hành động gian dối và tội lỗi đủ thứ của họ. Tại sao? Nếu không phải bởi vì phép rửa chỉ tha tội (nguyên tội cũng như tư tội) và hình phạt bởi tội mà thôi, song không tiêu diệt hết mọi căn gốc của tội là đam mê nhục dục, tính mê nết xấu, xu hướng đê hèn v.v. Như thế không phải vì Quyền Năng Phục Sinh bất lực trước sự dữ hay mầm mống tội lỗi, mà là muốn cho con người cảm nghiệm được Người, Cảm Nghiệm Thần Linh qua những yếu hèn của họ và từ những sa ngã của họ, nói cách khác, Thiên Chúa muốn tỏ mình ra qua những yếu hèn và sa ngã của họ (x 2Cor 12:9). Đó là lý do Ơn Cứu Độ nói chung và Phép Rửa nói riêng không phải chỉ có tác dụng tiêu cực là cứu con người khỏi tội lỗi và sự chết, mà còn có một tác dụng tích cực nữa, đó là ban cho con người Sự Sống Thần Linh và Khả Năng Thần Linh (Tin, Cậy, Mến), khi tái sinh họ trong Thánh Thần (x Jn 3:5, 1:33, 20:22), để Sự Sống Thần Linh như ánh sáng đánh tan bóng tối tội lỗi và quyền lực sự chết nơi họ, bằng chính Khả Năng Thần Linh Tin Cậy Mến của họ, một khả năng làm cho họ tránh được mọi độc dữ trên thế gian (x Mk 16:17-18; Mt 6:13), tức làm họ sống ở thế gian chẳng những không thuộc về thế gian (x Jn 17:14,16), mà còn như men trong ba đấu bột (x Mt 13:33) bản thân, gia đình và xã hội, cho đến khi cả ba đấu bột thế gian này dậy men Phúc Âm! Như thế, đời sống Kitô hữu là một cuộc truyền bá phúc âm hóa trần gian vậy.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

kinh truyền tin của ĐTC chúa nhật 4 thường niên, năm B

"'Có thẩm quyền' đây nghĩa là gì? Nghĩa là nơi ngôn ngữ loài người của Chúa Giêsu người ta cảm thấy được quyền lực của Lời Chúa, cảm thấy chính thẩm quyền của Thiên Chúa, Đấng linh ứng Thánh Kinh". 

Đức Thánh Cha Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin Chúa Nhật IV Thường Niên 1/2/2015

Anh chị em thân mến, xin chào anh chị em buổi sáng!

Bài Phúc Âm Chúa Nhật này (Marco 1:21-28) cho thấy Chúa Giêsu, Đấng, cùng với cộng đoàn môn đệ nhỏ bé của mình, tiến vào Capenaum là thành phố Thánh Phêrô sinh sống và là thành phố vào thời ấy lớn nhất Galilêa. Người đã đến thành ấy.

Thánh ký Marcô nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu, hôm ấy là ngày Hưu lễ, đã mau chóng đến hội đường và Người đã bắt đầu giảng dạy (câu 21). Điều này khiến chúng ta nghĩ đến tính chất chính yếu của Lời Chúa, một lời cần phải được lắng nghe, nhận lãnh và loan truyền. 

Khi đến Capernaum, Chúa Giêsu không tung ra những lời loan báo về Phúc Âm, Người không nghĩ đến dự tính cần yểm trợ, cho dù thật sự là cần thiết, từ cộng đoàn nhỏ bé của Người. Người không lãng phí thời gian cho việc tổ chức. Quan tâm chính yếu của Người đó là mối quan tâm truyền đạt Lời Chúa bằng sức mạnh của Thánh Linh. Dân chúng trong hội đường đã tỏ ra ngỡ ngàng sửng sốt vì Chúa Giêsu "đã dạy họ như một đấng có thẩm quyền chứ không như các luật sĩ" (câu 22). 

"Có thẩm quyền" đây nghĩa là gì? Nghĩa là nơi ngôn ngữ loài người của Chúa Giêsu người ta cảm thấy được quyền lực của Lời Chúa, cảm thấy chính thẩm quyền của Thiên Chúa, Đấng linh ứng Thánh Kinh. Một trong những đặc tính của Lời Chúa đó là nói sao nên vậy. Vì Lời Chúa tương hợp với ý muốn của Ngài. Trái lại, chúng ta thường nói những lời rỗng không, chẳng sâu xa hay là những lời hời hợt nông nổi, không tương hợp với chân lý. Còn Lời Chúa tương hợp với chân lý và liên kết với ý muốn của Ngài cùng thực hiện những gì Ngài nói. Thật vậy, sau khi giảng dạy, Chúa Giêsu đã mau chóng chứng tỏ thẩm quyền của mình bằng việc giải thoát một người đang có mặt trong hội đường bị quỉ ám (câu 23-26). Chính thẩm quyền thần linh của Chúa Kitô đã làm cho Satan đang ẩn nấp trong con người ấy đã phải tỏ phản ứng; về phần mình, Chúa Giêsu liền nhận ra ngay tiếng của sự dữ và "khiển trách hắn rằng: 'Hãy im đi! Xuất ngay ra khỏi người này!'" (câu 25). Chỉ bằng quyền năng lời của mình, Chúa Giêsu đã giải thoát con người ấy khỏi sự dữ. Những ai có mặt lại bàng hoàng sửng sốt một lần nữa. "Nhưng con người này, Người từ đâu mà đến vậy? Người ra lệnh một cái đến cả các thần ô uế cũng phải tuân phục Người". Lời Chúa mãnh liệt khiến chúng ta bàng hoàng. Lời Chúa gây cho chúng ta sửng sốt.  

Phúc Âm là lời sự sống: Phúc Âm không áp đảo con người, trái lại, Phúc Âm giải thoát những ai bị rất nhiều thần dữ trong thế giới này cầm buộc, giải thoát họ khỏi lòng dính bén với tiền bạc, với kiêu kỳ, với cảm giác... Phúc Âm làm thay đổi tâm can, Phúc Âm khiến tâm can thay đổi! Phúc Âm làm thay đổi cuộc đời; Phúc Âm biến xu hướng làm dữ thành những quyết định làm lành. Phúc Âm có khả năng biến đổi lòng người. Vì thế, phận vụ của Kitô hữu là lan truyền khắp nơi quyền năng cứu chuộc này, trở thành các nhà truyền giáo và những người rao giảng tin mừng Lời Chúa. Chính đoạn văn của bài đọc hôm nay được kết thúc bằng một hé mở truyền giáo đã cho thấy điều ấy: "Danh tiếng của Người - danh tiếng của Chúa Giêsu - lan ra khắp cả miền Galilêa" (câu 28). 

Giáo huấn mới được Chúa Giêsu giảng dạy đầy thẩm quyền này là những gì Giáo Hội mang đến cho thế giới, cùng với những dấu hiệu thực sự về sự hiện diện của Người, ở chỗ giáo huấn có thẩm quyền và hành động giải thoát của Con Thiên Chúa trở thành ngôn từ cứu độ và tác động yêu thương của Giáo Hội thừa sai. Hãy luôn nhớ rằng Phúc Âm có quyền lực làm thay đổi cuộc sống! Đừng quền điều này! Đó là tin mừng biến đổi chúng ta chỉ khi nào chúng ta để mình được nó biến đổi. Và đó là lý do tại sao tôi xin anh chị em luôn phải hằng ngày giao tiếp với Phúc Âm. Hãy đọc Phúc Âm hằng ngày; một đoạn thôi. Hãy suy niệm Phúc Âm và cũng hãy mang Phúc Âm theo anh chị em đi khắp nơi, ở trong túi của anh chị em, ở trong xách tay của anh chị em. Tức là hãy nuôi dưỡng mình hằng ngày từ nguồn mạch cứu độ bất tận này. Đừng quên đọc một đoạn Phúc Âm hằng ngày. Phúc Âm là quyền năng thay đổi chúng ta, là quyền lực biến đổi chúng ta, Phúc Âm thay đổi cuộc đời, Phúc Âm thay đổi tâm can. 

Chúng ta hãy xin lời chuyển cầu từ mẫu của Trinh Nữ Maria là vị đã lãnh nhận lời Chúa và sinh sản Lời Chúa cho thế giới, cho toàn thể nhân loại. Chớ gì Mẹ dạy chúng ta biết trở thành những người chuyên chú lắng nghe và là thành phần uy tín loan truyền Phúc Âm của Thiên Chúa. 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

*Phụ thêm: Sau khi Nguyện Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha loan báo một dự định mới của ngài vốn chưa có trong lịch trình sinh hoạt năm 2015 của ngài, đó là chuyến tông du của ngài đến Sarajevo là thủ đô của Bosnia Herzegovina vào ngày mùng 6 tháng 6 năm nay. Ngài xin cầu nguyện cho chuyến tông du này của ngài. Thế rồi sau khi chào hỏi các phái đoàn hành hương có mặt tại Quảng Trường Thánh Phêrô bấy giờ, ngài bao giờ cũng kết thúc buổi nguyện Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật bằng việc chúc mọi người một Chúa Nhật tốt đẹp, rồi xin cầu nguyện cho ngài cùng chúc họ một bữa trưa ngon.

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)