| |
Bánh
Sự Sống phải chăng là Lương Thực Hằng Ngày?
Như
bài chia sẻ tuần trước đã nhận định, chu kỳ Phụng Vụ Năm B theo
Phúc Âm Thánh Marcô, sẽ được chuyển sang Thánh Gioan 5 tuần liền,
kể từ tuần vừa rồi. Và trong bài Phúc Âm tuần trước, Thánh Ký
Gioan cho chúng ta thấy Chúa Giêsu chẳng những lo phần hồn cho
con người mà cả phần xác của họ nữa, bằng cách hóa nhiều 5 ổ bánh
lúa mạch và 2 con cá khô. Tuần này, cũng qua Thánh Ký Gioan, Chúa
Giêsu bắt đầu tỏ cho chúng ta biết ý nghĩa siêu nhiên thực sự
của bánh ăn cũng như của việc ăn bánh. Theo ý của Chúa Giêsu thì
bánh ăn đây là gì và việc ăn bánh là chi? Nếu Bánh hằng sống đây
là chính bản thân Chúa Kitô thì việc ăn bánh đây còn gì khác ngoài
việc tin vào Người, và Thiên Chúa ban Bánh bởi trời là Chúa Kitô
cho con người còn muốn gì hơn là muốn cho con người tin vào Con
của Ngài mà được sự sống. Câu cuối cùng của bài Phúc Âm hôm nay
đã chứng thực nhận định trên đây: “Chính Tôi là Bánh Sự Sống.
Không ai đến cùng Tôi lại bị đói, không ai tin vào Tôi lại phải
khát”. Bởi thế, trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu chẳng những
tỏ mình ra là Bánh Sự Sống được Thiên Chúa ban cho thế gian, mà
còn kêu gọi con người hãy ăn Người, tức hãy tin nhận Người.
Thật
vậy, tất cả mọi sự “Thiên Chúa là Thần Linh” (Jn 4:24) làm trên
thế gian này, bắt đầu là việc tạo dựng trời đất muôn vật, hay
trong lịch sử loài người, điển hình nhất là lịch sử Do Thái thời
Cựu Ước cũng được gọi là lịch sử cứu độ, đều có một mục đích duy
nhất, đó là làm cho con người tạo vật nhận biết Ngài. Vẫn biết,
theo chương trình tạo dựng thì Thiên Chúa nghỉ ngơi trong ngày
Thứ Bảy (x Gen 2:2). Thế nhưng, theo Mạc Khải được Sách Khởi Nguyên
ghi nhận, thì Thiên Chúa Hóa Công chỉ “nghỉ ngơi không làm tất
cả những gì Ngài đã làm vào ngày thứ bảy” (ibid) mà thôi, nghĩa
là Ngài không tạo dựng nên thêm một sự gì nữa, việc tạo dựng của
Ngài kể như đã hoàn toàn kết thúc sau thời gian sáu ngày, nhưng
Ngài vẫn tiếp tục thực hiện việc bảo tồn chúng, nhất là việc thánh
hoá con người, bằng không, công cuộc tạo dựng của Ngài không trọn,
hay nói cách khác, bằng không, việc tạo dựng của Ngài chỉ là việc
để Ngài tỏ quyền toàn năng của Ngài ra thôi, chứ không phải là
việc tỏ chính bản thân là tình yêu của Ngài ra. Đó là lý do, ngay
sau câu Thánh Kinh trên, Sách Khởi Nguyên viết tiếp: “Vậy Thiên
Chúa chúc lành cho ngày thứ bảy và làm cho ngày này là một ngày
thánh, vì Ngài nghỉ ngơi sau khi hoàn tất hết mọi việc tạo dựng
Ngài làm” (Gen 2:3). Đó cũng là lý do Chúa Giêsu đã khẳng định
về Cha của Người cũng như về chính Người với thành phần Do Thái
bách hại Người về việc Người chữa lành trong ngày thứ bảy rằng:
“Cha Tôi hằng làm việc cho tới nay, Tôi cũng đang làm việc như
vậy nữa” (Jn 5:17).
Tóm
lại, Thiên Chúa đã giành ra sáu ngày để tạo dựng nên trời đất,
nên tất cả mọi sự hữu hình và vô hình, nhưng Ngài dùng một ngày
thứ bảy duy nhất để thánh hóa con người nói riêng và tạo vật của
Ngài nói chung (x Rm 8:21). Vậy Thiên Chúa làm việc trong ngày
thứ bảy là ngày thánh của Ngài như thế nào, nếu không phải là
Ngài tỏ chính bản thân của Ngài ra cho con người, một Mạc Khải
Thần Linh được nên trọn và lên đến tuyệt đỉnh khi Ngài tỏ mình
ra nơi chính “Lời đã hóa thành nhục thể” (Jn 1:14), để làm cho
con người tin vào Ngài khi họ chấp nhận Con Ngài, “hiện thân đích
thực bản thể Cha” (Heb 1:3). Đó là lý do Chúa Giêsu đã tỏ ý định
sâu xa về các hoạt động thánh hóa của Cha Người làm từ sau khi
hoàn tất công cuộc tạo dựng cho đám dân Do Thái theo đuổi Người,
đám dân được Người làm phép lạ cho ăn bánh no nê, cũng là đám
dân đã hỏi Người “chúng tôi phải làm những gì để thực hiện những
việc của Thiên Chúa”, rằng: “Đây là công việc của Thiên Chúa,
đó là hãy tin vào Đấng Ngài đã sai”.
Đúng
thế, vì con người là loài hữu hình và hữu hạn, không thể tự mình
biết được Đấng Hóa Công của mình thực sự là Đấng nào, nếu không
được chính Ngài tỏ mình ra cho, bằng không, con người chỉ tôn
thờ ngẫu tượng theo ý nghĩ của mình mà thôi. Hiện tượng đa thần
ngày xưa của con người không thể nào không có tín ngưỡng, của
loài tâm linh hữu thần, không chứng thực sự thật hiển nhiên này
hay sao? Điển hình nhất là trường hợp Dân Do Thái trong sa mạc,
dù đã được chứng kiến tận mắt quyền năng vô cùng của Thiên Chúa
giải thoát họ khỏi Ai Cập, họ vẫn đúc bò bằng vàng để tôn thờ
như đấng cứu tinh của họ (x Ex 32:1,4). Tuy nhiên, qua các cuộc
thần hiển (theophany) trong Cựu Ước, dù có tỏ mình ra thế nào
đi nữa, tất cả những dấu chỉ điềm lạ và nhân vật sống động (x
Heb 1:2) đều không phải là chính bản thân Ngài, không thể nào
diễn tả được thực sự Ngài là Đấng nào, bản tính của Ngài ra sao,
cho đến khi Con Ngài xuất hiện, một Ngôi Vị duy nhất có hai bản
tính, là Con Người thật sự đồng thời cũng chính là Thiên Chúa
thật sự, đến nỗi, “ai thấy Thày là thấy Cha” (Jn 14:9).
Khi
tỏ mình ra cho loài người qua Người Con là Lời của mình như thế,
chẳng khác gì Thiên Chúa ban cho con người trần gian một thứ bánh
bởi trời, như Chúa Giêsu đã cho những người xin xem dấu lạ của
Người để có thể tin vào Người, như cha ông tổ phụ của họ đã được
thấy dấu lạ manna trong sa mạc xưa do Moisen làm, biết trong bài
Phúc Âm Chúa Nhật tuần này rằng: “Tôi nói thật cho quí vị biết,
không phải là Moisen đã ban cho quí vị bánh bởi trời; chính Cha
của Tôi đã ban cho quí vị bánh bởi trời thực sự. Bánh của Thiên
Chúa từ trời xuống ban sự sống cho thế gian”. Ở đây, Chúa Giêsu
chẳng những đính chính quan niệm lầm lẫn của người Do Thái về
nguồn gốc của manna, một nguồn gốc thần linh chứ không phải nhân
loại, mà còn xác định ý nghĩa đích thực của “bánh bởi trời thực
sự”, một thứ bánh được tiên báo qua hình ảnh manna, một thứ bánh
“ban sự sống cho thế gian”, một sự sống đời đời chỉ tìm thấy duy
nơi bánh bởi trời duy nhất này thôi, một thứ lương thực không
hư hoại song tồn tại cho sự sống trường sinh, như Chúa Giêsu đã
khuyên người Do Thái trong bài Phúc Âm Chúa Nhật này cần phải
tìm kiếm. Thứ bánh bởi trời ban sự sống cho thế gian này là gì,
một thứ bánh sau khi nghe Chúa Giêsu nói thế những người Do Thái
bấy giờ liền lên tiếng “Thưa Ngài, xin ban cho chúng tôi thứ bánh
này luôn mãi”, đã được Người khẳng định ở câu kết bài Phúc Âm:
“Chính Tôi là Bánh Sự Sống. Không ai đến cùng Tôi lại bị đói,
không ai tin vào Tôi lại phải khát”. Nghĩa là Chúa Giêsu đã kêu
gọi dân Do Thái hãy tin vào Người, Đấng Cha sai, vì tin vào Ngài
là tin vào Thiên Chúa, là gặp được Thiên Chúa, là không còn khắc
khoải không biết Thiên Chúa là ai và ra sao nữa, không còn đói
khát thần linh nữa.
Nếu
Chúa Giêsu Kitô, Lời Nhập Thể là Bánh Sự Sống, là lương thực tồn
tại cho sự sống đời đời thì điều Người dạy trong Kinh Lạy Cha:
“xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”, trước hết và
trên hết, là xin ban cho chúng con Lời Nhập Thể, mà Lời Nhập Thể
đã thực sự ban cho con người rồi, nên lời cầu này còn được hiểu
là xin Cha hãy tiếp tục tỏ chính bản thân của Cha là Chúa Kitô
ra cho chúng con, tức làm cho chúng con có thể “nhận biết Cha
là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Chúa Giêsu
Kitô” (Jn 17:3), tóm lại, xin Cha ban cho chúng con được sự sống
đời đời là nhận biết Cha và Đấng Cha sai, một sự sống đời đời
được thể hiện nơi “lương thực hằng ngày”.
Nếu
“lương thực hằng ngày” đây là việc Thiên Chúa luôn tỏ mình ra
cho con người, chẳng khác gì như manna hằng ngày nuôi dân Do Thái
xưa trong cuộc hành trình sa mạc của họ tiến về Đất Hứa, một ân
huệ Thiên Chúa ban cho thành phần tuyển chọn, ban cho con cái
của Ngài, thì việc tỏ ra nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật
duy nhất và Đấng Cha sai là Chúa Giêsu Kitô, chính là thái độ
đáp ứng của con người trước Mạc Khải Thần Linh, là hành vi đáp
lại tình yêu của Thiên Chúa. Thế nhưng, làm sao con người nhiễm
mắc nguyên tội đầy yếu hèn và mù tối có thể hoàn toàn và tuyệt
đối đáp ứng Mạc Khải Thần Linh, có thể như Mẹ Maria đầy ơn phúc
không hề làm mất đi một mảy may nào ân sủng Chúa ban.
Bởi
thế, lời cầu tiếp theo là “xin Cha tha nợ chúng con”, tức tha
cho chúng con những lần không đáp ứng tác động thần linh. Đó là
lý do ngay sau khi “xin Cha thợ nợ chúng con”, Kitô hữu liền “xin
chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, nghĩa là xin chớ để chúng con
theo khuynh hướng tự nhiên chỉ muốn làm theo ý nghĩ vị kỷ và ý
muốn tự do của mình, dù phản lại với ý Chúa. Việc coi trọng ý
nghĩ và ý muốn của mình hơn ý muốn vô cùng khôn ngoan và toàn
năng của Thiên Chúa đã là một hành động lộng ngôn phạm thượng,
như hai nguyên tổ đã làm trong vườn địa đường thuở sơ khai, là
một sự dữ kinh hoàng rùng rợn mà Chúa Kitô dạy con người khi kết
thúc Kinh Lạy Cha phải “xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Vấn
đề then chốt ở đây là, một khi linh hồn biết khao khát “lương
thực hằng ngày” là Mạc Khải Thần Linh, bằng việc Đáp Ứng Đức Tin,
thì họ sẽ được “sự sống và là một sự sống viên trọn”, đủ (nếu
không muốn nói là dư) sinh lực thần linh để chẳng những chế ngự
những “chước cám dỗ” mà còn tiêu diệt cả “sự dữ” là tội lỗi và
sự chết nữa.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|