| |
Ngày vô tận: cửa không đóng - đêm không về
Phụng
niên của Giáo Hội bao giờ cũng được kết thúc với tuần lễ Chúa
Kitô Vua. Nếu Phụng Niên được
mở màn
với Mùa Vọng, thời điểm Giáo Hội trông đợi Chúa Kitô đến, không
phải đến lần thứ nhất, vì Người thực sự đã đến rồi, thì Lễ Chúa
Kitô Vua ở Chúa Nhật kết thúc Phụng Niên của Giáo Hội hằng năm
là mục tiêu ngưỡng vọng của Giáo Hội, là tột đỉnh của Mầu Nhiệm
Chúa Kitô, Đấng đã Nhập Thể, Vượt Qua, Thăng Thiên và chắc chắn
sẽ Tái Giáng. Nếu Chúa Kitô không phục sinh, đức tin Kitô giáo
là đồ bỏ, là mê tín dị đoan, là điên cuồng ngu xuẩn (x. 1Cor
15:13-15), thì nếu Chúa Kitô không tái giáng, việc Người phục
sinh quả thực, đúng như tin đồn trong dân Do Thái, chỉ là một
câu chuyện giả tạo do thành phần môn đệ của Người lấy xác của
Người đi vậy thôi, cho ứng nghiệm những gì Người phán khi còn
sống (x Mt 28:11-15). Tuy nhiên, biến cố Phục Sinh lịch sử của
Đấng Tử Giá còn có thể chứng minh bằng chứng từ là ngôi mồ trống
cộng với các lời tiên tri (nhất là của chính Đấng Phục Sinh),
còn biến cố Người tái giáng sẽ xẩy ra của Người, cũng trong lịch sử của loài người, lại hoàn toàn không có gì chứng
thực cả, chỉ hoàn toàn phát xuất từ lòng tin tưởng được căn cứ
vào mạc khải thần linh là những gì được ghi lại trong Phúc Âm
vậy thôi, như được thấy trong bài Phúc Âm của Thánh Ký Marcô
cho Chúa Nhật 33 tuần này, Chúa Nhật ngay trước Chúa Nhật Lễ
Chúa Kitô Vua kết phụng niên tuần tới.
Thật
vậy, bài Phúc Âm cho Chúa Nhật 33, dù ở chu kỳ phụng vụ nào,
bình thường cũng đều
là bài Phúc Âm nói
tới ngày tận thế hay tả cảnh tận thế, tức những gì xẩy ra trước
khi Con Người đến trong vinh quang, trừ chu kỳ năm A, vì chu
kỳ này có bài Phúc Âm thuật lại cảnh phán xét chung ở Chúa
Nhật Lễ Chúa Kitô Vua rồi. Tuy nhiên, nếu liên kết ba bài Phúc
Âm
của cả ba chu kỳ A, B, C cho Chúa Nhật 33 lại với nhau, chúng
ta thấy ý nghĩa về ngày thế mạt xẩy ra hay diễn tiến rất ăn
khớp với nhau như sau: Chúa Kitô sẽ trở lại sau một thời gian
vắng
bóng là để tính sổ với bày tôi của mình (Phúc Âm năm A), và
khi Người trở lại sẽ có những biến động trên không trung, những
gì
xẩy ra ngay trước khi Người xuất hiện (Phúc Âm năm B), cùng
với những biến loạn xẩy ra nơi xã hội loài người, nhất là cảnh
thành
phần môn đệ của Người bị thử thách về đức tin (Phúc Âm năm
C), thành phần phải thanh toán trách nhiệm với Người và trình
nộp
lợi nhuận cho Người khi Người đến (Phúc Âm năm A).
Riêng
về bài Phúc Âm của Thánh Ký Marcô cho Chúa Nhật 33 tuần này chúng
ta thấy có bốn điểm chính theo thứ
tự sau đây: Thứ nhất, hiện tượng biến động trên không trung
xẩy ra ngay trước khi Con Người đến; thứ hai, sự kiện Con Người
tái
xuất hiện là để triệu tập thành phần được tuyển chọn; thứ ba,
biến cố thế mạt được Người khẳng định là chắc chắn sẽ xẩy ra;
thứ bốn, biến cố này xẩy ra khi nào cũng được Người xác nhận
là chỉ có một mình Cha biết mà thôi.
Bài
suy niệm này vừa viết xong thì tin tức thiên văn cho biết Hiện
Tượng Nguyệt Thực, Sao
Băng và Nhật Thực
trong Tháng 11/2003 như sau. Mỹ Châu, Âu Châu và Phi Châu sẽ
được thấy vầng trăng rằm trở thành một bầu tối hồng vào cuối
tuần này Thứ Bảy ngày 8/11/2003, khi mặt trăng lướt qua vùng
tối của trái đất trong biến chuyển mới nhất của bầu trời năm
nay. Hiện tượng nguyệt thực này sẽ kéo dài trong vòng 24 phút
và lên tới hết cỡ của nó vào lúc 8 giờ 6 phút EST, lúc mặt trăng,
trái đất và mặt trời chập vào nhau và mặt trăng băng ngang qua
vùng tối nhất của Trái Đất. Hiện tượng nguyệt thực không gây
tác hại cho mắt trần của người coi, không giống như hiện tượng
nhật thực. Hiện tượng nguyệt thực diễn ra với nhiều mầu sắc,
từ nâu đậm và đỏ đến mầu cam sáng, vàng và nâu, tùy theo nhiều
ít mây và bụi trong không khí của trái đất lúc ấy. Vào cổ thời
hiện tượng nguyệt thực này được cho rằng bị gây ra bởi con quái
vật nào đó làm cho mặt trăng đẫm máu, dấu hiệu tai họa xẩy ra.
Nếu mây mù che khuất biến cố Thứ Bảy này, người ta sẽ không phải đợi chờ lâu để thấy được một trận mưa sao băng Leonid xẩy
ra hằng năm. Ở Tây Á, Nam Dương và Úc Đại Lợi sẽ thấy trận mưa
sao băng này vào sáng sớm ngày 14/11/2003. Còn ở vùng Tây Phi,
Tây Âu, Bắc Mỹ và những phần đất phía tây của Nam Mỹ sẽ được
thấy trận mưa sao băng này vào ngày 19/11/2003. Cảnh mưa sao
băng này xẩy ra rất ngoạn mục với cả hằng trăm ngôi sao chuyển
chỗ trên bầu trời trong một tiếng đồng hồ. Ngày 23/11 cũng sẽ
diễn ra hiện tượng nhật thực mà chỉ thấy được ở Nam Cực Cầu thôi.
Ở
đây chúng ta không bàn đến vấn đề thiên văn mà là suy nghĩ và
các vấn đề liên quan đến 4 câu của Lời
Chúa phán trong bài Phúc Âm như sau: “Bấy giờ (tức sau biến
động trên không trung), người ta sẽ thấy Con Người đầy quyền
uy và
vinh hiển đến trên mây trời”; “Người sẽ sai các sứ giả của
Người đi triệu tập thành phần Người tuyển chọn từ bốn phương
trời,
từ những nơi xa xôi nhất trên mặt đất và bầu trời”; “Thày nói
thật với các con biết thế hệ này sẽ không qua đi cho đến khi
những điều ấy xẩy ra. Trời đất sẽ qua đi nhưng những lời Thày
nói sẽ không qua đi”; và “về ngày giờ đích xác thì không ai
biết được, kể cả các thần trời lẫn Người Con ngoại trừ một mình
Cha
mà thôi”. Nói chung, nếu hai lời đầu liên quan đến chính ngày
tận thế thì hai lời sau liên quan đến đức tin đối với ngày
tận thế này. Vậy chúng ta cần phải hiểu thế nào về 4 lời chân
thật
“sẽ không qua đi” này của Chúa Giêsu về ngày thế mạt.
“Bấy
giờ, người ta sẽ thấy Con Người đầy quyền uy và vinh hiển
đến trên mây trời”:
Qua
câu lời Chúa này chúng ta biết được, trước hết, ngày tận thế
xẩy ra rồi Con Người mới đến, chứ không
phải
khi Người xuất hiện thì bấy giờ là ngày tận thế. Ngày tận thế
là ngày không trung xẩy ra biến động, ở chỗ “mặt trời sẽ trở
nên tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các tinh tú sẽ rơi
rụng, và các cơ ngũ trên trời bị rung chuyển”. Và những biến
động trên không trung đây, những biến động cuối cùng trong ngày
tận thế và vào chính ngày tận thế đây, chỉ xẩy ra sau những biến
loạn trên trái đất mà thôi: “Sau các cuộc thử thách đủ mọi thứ
xẩy ra vào giai đoạn đó”, như được Thánh Ký Marcô thuật lại ở
phần Phúc Âm, cùng đoạn 13, từ câu 5 đến câu 23 ngay trước bài
Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, giai đoạn biến loạn trên trái đất,
với hiện tượng tiên tri giả, chiến tranh loạn lạc, động đất đói
khát và bách hại sát đạo. Cũng qua câu lời Chúa trên, chúng ta
còn hiểu được rằng, sau ngày tận thế, thân xác con người ta sẽ
được phục sinh, và bấy giờ, với con mắt của thân xác phục sinh,
con người, dù lành hay dữ, mới có thể thấy được chính Đấng Phục Sinh đầy uy quyền và vinh hiển đến trên mây trời.
Vấn
đề được đặt ra ở đây là cái gì đã khiến cho không trung bị biến
loạn để thế gian phải đi đến ngày cùng
tháng tận của mình vô cùng kinh hoàng như thế? Chính không trung
chi phối trái đất, (trái đất xoay quanh mặt trời chứ không phải
mặt trời quay quanh trái đất), chẳng lẽ lại bị tình trạng biến
loạn trên trái đất xẩy ra trước đó chi phối đến bị biến động
gây ra thế mạt hay sao? Thật ra, nếu tất cả mọi sự trên thế gian
này được Thiên Chúa dựng nên vì loài người và cho loài người
thì mọi sự quả thực lệ thuộc vào loài người, đến nỗi, như Thánh
Phaolô nhận thức và diễn tả: “Tất cả mọi tạo vật ngong ngóng
trông đợi cuộc tỏ hiện của con cái Thiên Chúa. Tạo vật bị làm
tôi cho hư hoại, không phải tự chúng, mà là bởi Đấng bắt chúng
phải chịu như thế, song không phải là không có hy vọng, vì chính
thế gian sẽ được giải thoát khỏi cảnh làm tôi cho hư hoại hầu
được thông phần vào quyền tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa”
(Rm 8:19-21). Vậy có thể suy ra rằng, một khi lòng người hay
xã hội loài người hoàn toàn băng hoại hay băng hoại hết cỡ, đến nỗi, đối với văn minh vô thần duy vật của họ, mặt
trời công chính là Chúa Kitô đã trở nên tối tăm, mặt trăng Giáo
Hội không còn chiếu sáng được ảnh hưởng của mình nữa, các người
lành thánh như những vì tinh tú cũng sẽ rơi rụng vào thời kỳ
chưa từng có từ tạo thiên lập địa ấy, một thời kỳ nếu không được
rút vắn lại thì kẻ lành cũng sẽ bị hư đi (x Mk 13:19-20), và
các cơ ngũ trên trời là tất cả mọi thứ lề luật tự nhiên cùng
với các nguyên lý luân lý phổ quát bị rung chuyển, thì cũng là
ngày cùng tháng tận của thế gian này, hay nói theo đức tin Kitô
giáo, cũng là ngày thế gian cần phải được hay đến lúc được canh
tân biến đổi, để trở thành một trời đất mới, nơi công lý của
Thiên Chúa ngự trị (x 2Pt 3:13).
“Người
sẽ sai các sứ giả của Người đi triệu tập thành phần Người tuyển
chọn từ bốn phương
trời, từ những
nơi xa xôi nhất trên mặt đất và bầu trời”:
Câu
lời Chúa này cho chúng ta thấy lời Thánh Tông Đồ Phaolô khẳng
định quả là
chí lý: “Người sẽ xuất hiện
lần thứ hai không phải để xóa bỏ tội lỗi nữa mà là để mang
ơn cứu độ đến cho những ai thiết tha trông đợi Người” (Heb 9:28).
“Những ai thiết tha trông đợi Người” đây không phải chỉ là
những
ai sống vào ngày cùng tháng tận, những ai bền đỗ đến cùng trong
những ngày khủng khiếp vô tiền khoáng hậu ấy (x Mk 13:13),
bởi vì, như trên đã nhận định, tận thế rồi Chúa Kitô mới xuất
hiện,
tức mọi người chết hết rồi và sống lại rồi bấy giờ Người mới
tới, chứ không phải chỉ tới với những kẻ chưa chết nói chung,
nhất là những kẻ thiết tha trông đợi Người nói riêng. Dụ ngôn
10 cô phù dâu đều thiếp ngủ như nhau, nhưng Chúa Kitô chỉ mang
ơn cứu độ đến cho những ai thiết tha trông đợi Người là những
cô phù dâu khôn ngoan mang dầu hy vọng theo với cây đèn đức
tin để có thể thắp sáng đức mến để ra nghênh đón Đấng bất chợt
đến
vào lúc nửa đêm mà thôi (x Mt 25:1-13).
Đúng
thế, Chúa Kitô xuất hiện lần thứ hai là để cứu những ai thiết
tha trông đợi Người, thành phần được
Người cứu độ qua phép rửa, từ lúc Người thăng thiên (đi xa)
cho tới khi Người lại đến (trở về), như ý nghĩa của bài Phúc
Âm Chúa
Nhật 33 chu kỳ năm A cho thấy. Tuy nhiên, vì ơn cứu độ của
Người là một ơn cứu độ phổ quát, ơn cứu độ được Thiên Chúa Hóa
Công
hứa cho tất cả loài người ngay sau nguyên tội (x Gen 3:15),
mà tất cả những ai, dù sinh ra trước khi Lời hóa thành nhục thể,
hay sau khi Chúa Kitô Vượt Qua song chưa được tái sinh bởi
Giáo
Hội Người qua Phép Rửa cứu rỗi (x Mk 16:16), một khi biết thiết
tha trông đợi Người, được tỏ ra qua việc họ sống chân chính
hợp với lương tâm ngay lành và lề luật luân lý phổ quát, cũng
sẽ
được Người giải cứu (x Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium,
số 16). “Thành phần Người tuyển chọn từ bốn phương trời, từ
những nơi xa xôi nhất trên mặt đất và bầu trời” đây có thể được
hiểu
hay cần phải được hiểu theo nghĩa này.
“Thày
nói thật với các con biết thế hệ này sẽ không qua đi cho đến
khi những điều ấy xẩy ra. Trời đất sẽ
qua đi nhưng những lời Thày nói sẽ không qua đi”:
Như
trên vừa nhận định, chính vì Chúa Kitô xuất hiện lần thứ hai
là để
mang ơn cứu độ cho thành phần thiết
tha trông đợi Người, từ tạo thiên lập địa cho tới tận thế, mà
ba chữ “thế hệ này” ở đây không chỉ áp dụng cho những người đương
thời với Chúa Kitô, với các tông đồ, thành phần dân Do Thái bấy
giờ, mà là cho chung nhân loại. Qua lời Chúa Giêsu khẳng định
trên đây, chúng ta thấy rằng tận thế là một sự thật chứ không
phải chỉ là một lời đe dọa, một cái gì không thể nào xẩy ra hay
không bao giờ xẩy ra. Triết lý và khoa học cũng không thể chối
cãi được sự thật cùng tận này. Theo triết lý và luận lý, ai dám
cho rằng tất cả mọi sự hữu hình và vật chất này sẽ kéo dài đến
vô hạn, bằng không chính vật chất hữu hạn này là Thiên Chúa,
là Hóa Công, vô thủy vô chung, vô cùng bất tận. Theo khoa học,
ai có thể chứng minh được rằng mọi sự tự dưng mà có, hay chỉ
có thể biết được, qua các giả thuyết, rằng thiên nhiên vạn vật
ngay từ đầu từ từ được biến đổi mà thành hình; thế nhưng, không
ai dám cả quyết một cách chắc chắn 100% như chân lý rằng trời đất này sẽ không bao giờ hoàn toàn qua đi, sẽ luân
hồi không bao giờ cùng, tức sẽ muôn đời tồn tại thiên thu vạn
đại, tức không có vĩnh hằng, không có đời sau, không có thiên
đàng hỏa ngục…
Thực
tế cho thấy, con người luôn khao khát và tìm kiếm chân thiện,
tìm kiếm những gì vĩnh hằng bất biến.
Kẻ gian dối nhất, đánh lừa cả thiên hạ, cũng vẫn không muốn bị
đánh lừa, cũng vẫn muốn biết sự thật. Kẻ chán đời đến tự tử đi
nữa, cũng vẫn, qua chính quyết định tử tử và việc tử tự của họ,
cho thấy họ hết sức khao khát được sống hạnh phúc, một hạnh phúc
bất diệt, hạnh phúc thực sự, một thứ hạnh phúc họ không tìm được
ở đời này. Vậy nếu con người chân nhận là có sự thật, và sự thật
tối hậu là một thực tại bất biến, một thực tại toàn thiện, sự
thật làm thỏa mãn tất cả mọi khát vọng của loài “nhân linh ư
vạn vật”, một sự thật sẽ làm sáng tỏ tất cả mọi tranh chấp và
phải trái của loài người, thì quả thực là thế gian này, vũ trụ
này, lịch sử này sẽ có ngày cùng tháng tận, thời gian có thủy
có chung tự nó không phải là vĩnh hằng và sẽ đi đến ngày cùng
tháng tận. Chỉ có sự thật hay những gì là sự thật mới là thực
tại duy nhất vĩnh hằng. Nếu tất cả những gì Chúa Giêsu đã truyền
dạy về luân lý đều không bao giờ lỗi thời, đến nỗi những gì con người không làm theo như lời Người dạy sẽ không
bao giờ được bằng an và phúc thật, thì những gì Người nói về
ngày tận thế cũng là sự thật, chắc chắn sẽ xẩy ra. “Trời đất
sẽ qua đi nhưng những lời Thày nói sẽ không qua đi”, vì lời Thày
là sự thật, là thực tại, một sự thật bao gồm tất cả mọi sự, cho
thấy tất cả mọi sự; và mọi sự được tỏ hiện theo lời của Người
và như lời của Người, cho thấy rằng lời Người quả là sự thật,
vì mọi sự từ từ được hiện thực trong thời gian, được lịch sử
ghi nhận. Nếu thời gian là tiến trình sáng tỏ sự thật thì lịch
sử chính là chứng nhân cho sự thật. Vì thời gian là tiến trình
tỏ hiện sự thật mà một khi sự thật hoàn toàn được sáng tỏ thì
cũng là lúc năm cùng tháng tận. Vì lịch sử là chứng nhân ghi
nhận sự thật mà tận cùng thời gian phải là một cảnh chung thẩm
cho thấy tất cả sự thật.
“Về
ngày giờ đích xác thì không ai biết được, kể cả các thần trời
lẫn Người Con ngoại trừ một mình Cha mà thôi”: Nếu
thực sự có ngày tận thế thì những gì Chúa Giêsu tỏ cho chúng
ta biết, như
được các Phúc Âm Nhất Lãm ghi
lại, không phải phát xuất từ sự suy đoán của Người, như chúng
ta vừa suy diễn trên đây về vấn đề có ngày tận thế hay chăng.
Bởi vì, Chúa Giêsu chẳng những đã mạc khải cho chúng ta biết
có ngày tận thế, một sự thật hợp với lập luận của triết lý cũng
như khoa học, mà còn cho chúng ta biết ngày tận thế ấy sẽ xẩy
ra hay sẽ diễn tiến trước sau ra sao nữa. Như thế, chẳng lẽ chính
Người, như Người đã khẳng định ở cuối bài Phúc Âm Chúa Nhật 33
Thường Niên tuần này, cũng không biết rõ được ngày giờ dứt khoát
và nhất định xẩy ra sự thật về ngày cùng tháng tận này hay sao?
Nếu Cha đã ban cho Con tất cả mọi sự, kể cả sự sống là những
gì cao quí nhất (x Jn 3:35, 5:26), thì chẳng lẽ chi tiết về ngày
cùng tháng tận của thế gian này lại quan trọng đến nỗi giấu cả
Con của mình hay sao, Đấng phải biết trước ngày giờ Người sẽ
vinh hiển đến trên mây trời, chứ không phải tới ngày giờ mang
ơn cứu độ cho những ai thiết tha trông đợi Người rồi mà Người vẫn không biết, vẫn phải đợi cho đến khi Cha Người
công khai ra lệnh thì Người mới biết! Nếu Chúa Giêsu quả thực
biết đích xác ngày giờ như Cha Người biết thì chẳng lẽ lời Người
khẳng định ở cuối bài Phúc Âm về việc chính Người cũng không
biết là giả dối, đánh lừa thiên hạ sao, hay ít là Người cố ý
nói thế để tránh né những câu hỏi cặn kẽ đầy tò mò của các tông
đồ bấy giờ? Phải chăng Người biết hết mọi sự về ngày giờ thế
mạt như Cha, song không phải để tỏ lộ cho bất cứ con người nào
biết, nên những gì Người biết cũng kể như không biết? Tương tự
trường hợp tôi giữ một đồ vật của người khác, và khi có ai thấy
món đồ ấy thì xin tôi, tôi nói với họ rằng tôi không có vậy.
Tuy
nhiên, vấn đề ở đây, quan trọng không phải là biết được ngày
cùng tháng tận, mà là biết sẵn sàng đón chờ ngày đó, thì ngày
đó đến bất cứ lúc nào cũng được. Ngày đó ở ngay trong lòng
của con người khao khát Chúa, luôn sống trước nhan Chúa, phó
thác
mọi sự trong tay Chúa. Ngày đó là chính sự thật họ đang sống.
Những ai sống trong sự thật là sống một Ngày vô tận, cửa không
đóng, đêm không về (x Rev 21:25).
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|