Tác Giả : Trầm Thiên Thu

 

ĐỆ NHẤT KHOÁI

(Chúa nhật XVII TN, năm B-2018)

Ăn uống là chuyện rất ư bình thường hàng ngày nhưng cũng rất cần thiết, thậm chí điều bình thường đó còn là “đệ nhất khoái” trong “tứ khoái” của con người. Chiến tranh xảy ra cũng chỉ vì miếng cơm, manh áo. Miếng ăn bình thường mà vô thường, bởi vì miếng ăn có thể là niềm vinh dự mà cũng có thể là nỗi ô nhục! 

Cuộc sống là thực tế, không trừu tượng hoặc mơ hồ. Chúa Giêsu đã sống rất thực tế, do đó Đạo Yêu Thương của Ngài cũng thực tế, không thực tế thì chỉ là nói dối (1 Ga 4:20). Thánh Phaolô cũng dành cả chương 13 (13 câu)trong thư I gởi giáo đoàn Côrintô để đề cập đức ái. Thánh Phaolô không sử dụng từ “nói dối” mà ví những người không yêu thương thì “cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng” (1 Cr 13:1). Ngày nay người ta gọi đó là dạng “chảnh”, “nổ”, chỉ khoác lác mà thôi. 

Giáo Hội cũng rất thực tế:Trong kinh “Thương Người Có 14 Mối”, mối thứ nhất của phần “Thương Xác 7 Mối” là “cho kẻ đói ăn”. Giáo hội không thể nói suông, vì Giáo hội theo đúng cách thức của Đức Kitô. Tuy nhiên, có lẽ Kitô hữu (nói chung) và người Công giáo chúng ta (nói riêng) vẫn chỉ yêu người bằng lý thuyết, qua sách báo, qua những bài “thuyết pháp” hùng hồn, thậm chí là yêu người “online” mà thôi. Chúa Giêsu chưa một lần nói suông. Nếu can đảm mà nghiêm túc xét mình, liệu chúng ta đã theo Chúa đúng ý Ngài? Chắc hẳn chúng ta phải đấm ngực vô số lần! Thật vậy, danh nhân Mahātmā Gāndhī (1869-1948, được dân Ấn Độ coi là Quốc phụ) đã nói thẳng: “Tôi sẵn sàng trở thành Kitô hữu nếu tôi tìm được các Kitô hữu thực thi Bài Giảng Trên Núi” – tức là Bát Phúc, là Tám Mối Phúc Thật. Chắc chắn chúng ta phải “giật mình” mà xét lại cách sống của chính mình ngay thôi, kẻo tự chuốc khốn cho chính mình! 

Nói là làm, làm ngay, làm thật. Thấy thương dân chúng theo mình suốt ngày, Chúa Giêsu đã thực tế bằng cách hóa bánh ra nhiều hai lần: Lần một với 5 chiếc bánh và 2 con cá mà đủ cho khoảng 5.000 người ăn, chưa kể phụ nữ và trẻ em, lại còn dư 12 giỏ đầy (Mt 14:17-21; Mc 6:30-44; Lc 9:10-17; Ga 6:1-14); lần hai với 7 cái bánh và một ít cá nhỏ mà đủ cho khoảng 4.000 người ăn, cũng không kể phụ nữ và trẻ em (Mt 15:34-38; Mc 8:1-10). Quả thật, Chúa Giêsu vô cùng thực tế. Và Ngài cũng rất muốn chúng ta làm như vậy, nghĩa là PHẢI BIẾN LỜI NÓI THÀNH HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ. Người Công giáo cũng thường nói: “Có thực mới vực được đạo”. Thực tế thôi! 

Như chúng ta đã biết, ăn uống là điều cần thiết nhất để duy trì sự sống. Ăn uống không chỉ là cái thú đầu tiên trong tứ khoái của con người, mà còn là bài học đầu tiên chúng ta phải học: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Còn nhiều thứ khác cũng phải học hỏi, đặc biệt là học hỏi về tinh thần, tâm linh: “Hãy học cho biết đâu là khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là thông hiểu, đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng soi con mắt, và đâu là bình an” (Br 3:14). 

Kinh Thánh cho biết: Một người trong nhóm các ngôn sứ ra đồng hái rau, tìm thấy một thứ cây giống như nho dại, họ hái trái dưa đắng ấy, đầy một vạt áo, rồi về nhà, thái nhỏ ra, bỏ vào nồi nấu cháo, vì họ không biết đó là thứ gì. Sau đó, họ múc ra cho mọi người ăn. Vừa ăn chút cháo, họ kêu lên: “Người của Thiên Chúa ơi, thần chết ở trong nồi!” (2 V 4:40), nghĩa là nồi cháo đó có độc tố vì được nấu bằng những loại trái độc. Và họ không thể ăn được. Nhưng ông Ê-li-sa điềm nhiên nói: “Đem bột đến đây!”. Ông “vô tư” bỏ bột vào nồi rồi bảo: “Múc ra cho người ta ăn”. Lạ lùng thay, trong nồi liền hết chất độc.Ôi chao, không biết ông Ê-li-sa có nghiên cứu y dược hay không mà kết hợp thực phẩm khéo léo quá chừng! 

Sau đó, có một người từ Ba-an Sa-li-sa đến, đem bánh đầu mùa biếu người của Chúa, đó là 20 chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị. Ông Ê-li-sa không giữ riêng cho mình và những người trong nhóm, mà ông nói: “Phát cho người ta ăn” (2 V 4:42). Nhưng tiểu đồng hỏi ông: “Có bằng này, sao con có thể phát cho cả trăm người ăn được?”(2 V 4:43a). Ông cương quyết nói: “Cứ phát cho người ta ăn! Vì Đức Chúa phán thế này: Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư” (2 V 4:43b).Và quả đúng như vậy, phép lạ đã xảy ra nhãn tiền. Sau khi tiểu đồng phát cho người ta ăn xong, vẫn còn dư như lời Thiên Chúa đã phán truyền. Mọi sự đều có thể xảy ra (x. Gv 9:1), bởi vì Thiên Chúa quyền linh, điều không thể trở thành có thể (x. Mt 19:26; Mc 10:27; Lc 18:27; Lc 1:37). 

Vì vậy, “muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, và nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng” (Tv 145:10-11a). Trong “muôn loài” đó có mỗi chúng ta, nghĩa là chúng ta phải biết tạ ơn Chúa. Bất cứ ai tin tưởng và ngước mắt trông lên Chúa, Ngài đều chạnh lòng thươngvà “chính Ngài đúng bữa cho ăn” (Tv 145:11b). Sự quan phòng của Thiên Chúa thật là mầu nhiệm, chúng ta không thể hiểu thấu. Thiên Chúa thấu suốt mọi sự, biết rõ chúng ta cần gì, và “khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê” (Tv 145:16). Không chỉ vậy,Ngàicòn “công minh trong mọi đường lối, đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm, gần gũi tất cả những ai thành tâm cầu khẩn Ngài” (Tv 145:17-18). 

Ôi, tình yêu Thiên Chúa quá bao la, lòng thương xót của Ngài quá hải hà, bởi vì Ngài luôn “chạnh lòng thương” những con người sầu khổ, thiếu thốn về vật chất hoặc tinh thần. Vâng, Thiên Chúa của chúng ta rất thực tế! Không chỉ vậy, Ngài còn ưu ái chấp nhận chúng ta là con cái, là thân hữu của Ngài (Ga 15:15b) mặc dù chúng ta chỉ là phàm nhân,là tội nhân, hoàn toàn bất xứng. Vì thế, chúng ta cần phải khiêm nhường mà nhận diện chính mình để không ảo tưởng. 

Con người luôn cần được nhắc nhở và động viên. Mặc dù đang bị tù đày vì Chúa, Thánh Phaolô vẫn không ngần ngại bày tỏ: “Tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em” (Ep 4:1).Theo Thánh Phaolô, cách “sống xứng đáng” đó là:Ăn ở thật KHIÊM TỐN, HIỀN TỪ và NHẪN NẠI; lấy tình bác ái mà CHỊU ĐỰNG lẫn nhau; thiết tha duy trì sự HIỆP NHẤT mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở THUẬN HOÀ gắn bó với nhau (Ep 4:2-3). 

Tại sao vậy? Thánh Phaolô giải thích: “Chỉ có MỘT thân thể, MỘT Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có MỘT Chúa, MỘT niềm tin, MỘT phép rửa. Chỉ có MỘT Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4:4-6). Tất cả đều là MỘT trong Thiên Chúa thì không có lý do gì mà tách rời. Có ai lại tự cắt lìa một phần thân thể của mình chứ? Mà đã là MỘT thì phải yêu thương, quan tâm, nâng niu và chia sẻ mọi thứ với nhau. Vâng, đó là vấn đề rất thực tế, nhưng con người vẫn chia ba bè bảy nhóm, nên Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho mọi người “nên một” (Ga 17:21-23). 

Rất chi tiết, Thánh sử Gioan kể: Hôm đó, Đức Giêsu sang bên kia Biển Hồ Galilê, cũng gọi là Biển Hồ Tibêria,có đông đảo dân chúng đi theo Ngài, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Ngài đã làm cho các bệnh nhân. Ngài lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do Thái. Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Ngài hỏi ông Philípphê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”(Ga 6:5).Thực ra Ngài nói thế là để thử ông thôi, chứ Ngài biết mình sắp sửa làm gì rồi. 

Lúc đó, có lẽ ông Philípphê gãi đầu vì ngạc nhiên và nói: “Thầy ơi là Thầy, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” (Ga 6:7).Ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, thưa với Ngài: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!” (Ga 6:9). Đức Giêsu mỉm cười và ôn tồn nói: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi” (Ga 6:10). Rồi mọi người ngồi xuống trên cỏ, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. Có lẽ lúc đó các tông đồ lắc đầu ngán ngẩm vì đông quá, có sẵn đủ thực phẩm mà phục vụ họ cũng mệt đứ đừ chứ chẳng giỡn chơi. Chỉ tính 5.000 người thì mỗi ông phải phục vụ khoảng 500 thực khách. Ui da, “căng” dữ nghen! 

Khi đó, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Ngài cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý chứ không “chia khẩu phần”. Khi họ đã no nê rồi, Ngài bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi” (Ga 6:12).Các môn đệ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng.Thật là trên cả tuyệt vời. Kỳ diệu! 

Mọi người chứng kiến dấu lạ Đức Giêsu làm,họ nói với nhau: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!”(Ga 6:14). Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Ngài lại lánh mặt và đi lên núi một mình. Ngài “thực tế” với người khác nhưng lại không “thực tế” với chính mình. Ngài không muốn được “tôn làm vua” mà lại “lánh mặt” và “đi lên núi”, đáng lưu ý là Ngài đi lên núi MỘT MÌNH mà thôi. Thầy Giêsu tỏ ra không thực tế mà lại rất thực tế. Hay quá chừng luôn! 

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xingiúp chúng con luôn sống “thực tế” như Đại Sư Giêsu là biết “chạnh lòng thương” tha nhân, dù họ là ai, đồng thời cũngsẵn sàng cầm lấy chiếc-bánh-cuộc-đời của chính mình,chân thành dâng lời tạ ơn, rồi vui vẻ bẻ ra và chia sẻ với bất kỳ ai. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen. 

TRẦM THIÊN THU

 

 

CHUYỆN ĂN UỐNG
(Chúa Nhật XVII TN, năm B)

“Xin Cha cho chúng con hôm nay LƯƠNG THỰC hằng ngày…”. Đó là một trong những điều thiết yếu trong lời cầu nguyện mà chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta qua Kinh Lạy Cha (Mt 6:9-13; Lc 11:2-4).

Người ta thường nói: “Có thực mới vực được đạo”. Điều đó cho thấy chuyện ăn uống là điều cần thiết và cơ bản nhất để con người khả dĩ duy trì sự sống. Trước tiên, người ta cần ăn no và mặc ấm; sau đó mới có thể phấn đấu để ăn ngon và mặc đẹp. Vả lại, chuyện ăn uống được người ta coi là “đệ nhất khoái” trong “tứ khoái” của một con người bình thường. Trong bốn thứ cần học khi vào đời, ăn uống là thứ cần phải học đầu tiên: Học ăn, học nói, học gói, học mở.

Ăn uống cũng được chú ý khi người ta có “văn hóa ẩm thực”. Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt, như con dao hai lưỡi vậy. Miếng ăn thực sự cần thiết nhưng cũng có thể là vinh hoặc nhục: “Người trí quý cái sức, kẻ dại quý cái ăn”. Ăn không lượng thì hại sức khỏe, ngủ không cân thì hại trí tuệ. Tục ngữ có câu: “Ăn được, ngủ được là tiên; không ăn, không ngủ, mất tiền, đâm lo!”. Ăn để có sức khỏe, có sức khỏe thì an tâm sống: “Sức khỏe là vàng”.

Chúa Giêsu cũng rất thực tế. Ngài chăm lo những gì cần thiết và cơ bản nhất: Ăn uống. Ngài luôn quan tâm người nghèo, tại nhà ông Si-môn Cùi ở Bêtania, khi có một phụ nữ xức dầu chân Ngài bằng dầu thơm cam tùng hảo hạng, Chúa Giêsu đã xác định: “Người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có” (Ga 12:8; Mt 26:11; Mc 14:7). Và rồi Thánh Giacôbê cũng khuyên chúng ta “phải kính trọng người nghèo” (Thư Thánh Giacôbê, chương 2).

Người khổ chưa chắc là người nghèo. Nhưng người nghèo thì chắc chắn là người khổ – thậm chí còn hóa khốn, vì luôn bị người đời khinh miệt, nhìn bằng nửa con mắt, bị xa lánh vì sợ “hãm tài”. Vả lại, đáng quan ngại là vì “lý lẽ của người nghèo không được ai nghe thấy” (Sử gia Thomas Fuller, 1608-1661). Có lẽ vì vậy mà người Việt thường “ghép đôi” hai tình trạng này thành một: Nghèo khổ. Quả thật, “sự nghèo đói là hình thức bạo lực tồi tệ nhất” (Mahatma Gandhi, 1869-1948).

Tuy nhiên, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi người nghèo, vì thế họ luôn tin tưởng và nhủ thầm: “Có Thiên Chúa phù trì, thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ” (Tv 54:6). Đồng thời họ luôn tâm niệm: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo, vì Chúa giải thoát con khỏi mọi gian nguy, và con đã dám nghênh bọn địch thù” (Tv 54:8-9).

Chuyện ăn uống rất bình thường mà lại quan trọng. Thật vậy, chuyện ăn uống còn liên quan vấn đề kinh tế và chính trị, đồng thời cũng là vấn đề cơ bản trong Giáo huấn Xã hội của Giáo hội Công giáo.

Hiền triết Trang Tử (Zhuang Zhou hoặc Zhuangzi, 365-290 trước công nguyên) đã nhận định: “Cản trở con người sống vui vẻ, tước đoạt khả năng dệt vải, may mặc, cày cấy, ăn uống, mà lại tô vẽ nó như là nhân nghĩa, đó là tội ác của thánh nhân. Đó là một dạng giả nhân giả nghĩa, Chúa Giêsu rất ghét loại người này và Ngài đã 8 lần nguyền rủa họ là “đồ khốn” (Mt 23:13-29) và còn gọi họ là “đồ ngu si mù quáng”. Nhức óc quá chừng!

Trình thuật 2 V 4:42-44 đề cập chuyện ăn uống. Đó là chuyện về “nồi cháo độc”. Đã đói meo mà lại gặp loại chao này thì… chết sớm! Kinh Thánh cho biết: Khi ông Ê-li-sa trở về Ghin-gan, nạn đói đang xảy ra trong xứ. Lúc anh em ngôn sứ đang ngồi trước mặt ông, ông nói với tiểu đồng bắc nồi lớn lên bếp và nấu cháo cho anh em ngôn sứ. Một người trong nhóm ra đồng hái rau, tìm thấy một thứ cây giống như nho dại thì hái trái dưa đắng ấy đầy một vạt áo, rồi về nhà, thái nhỏ ra, bỏ vào nồi nấu cháo, vì họ không biết đó là thứ gì. Sau đó, họ múc ra cho mọi người ăn. Vừa ăn chút cháo, họ kêu lên: “Người của Thiên Chúa ơi, thần chết ở trong nồi!”. Thế là họ không thể ăn được nữa. Nhưng ông Ê-li-sa bảo cứ đem bột đến cho ông. Ông bỏ bột vào và bảo múc ra cho mọi người ăn. Lạ thay, trong nồi không còn chất độc nữa. Phép lạ nhãn tiền!

Tiếp theo là “phép lạ hoá bánh ra nhiều”. Kinh Thánh kể rằng có một người từ Ba-an Sa-li-sa đến, đem bánh đầu mùa biếu người của Thiên Chúa. Đó là 20 chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị. Ông Ê-li-sa bảo đem phát cho người ta ăn. Tiểu đồng nói chỉ có chừng nấy thì không thể đủ cho cả trăm người ăn được. Nhưng ông bảo cứ phát cho người ta ăn, vì Đức Chúa đã phán: “Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư”. Tiểu đồng vâng lời đem phát cho người ta. Họ đã ăn mà vẫn còn dư, đúng như lời Đức Chúa đã tuyên phán. Lại một phép lạ nhãn tiền nữa. Kỳ diệu quá!

Đối với Thiên Chúa, “không có gì là không thể làm được” (Lc 1:37), Ngài có thể làm cho những hòn đá trở nên con cháu ông Áp-ra-ham kia mà (Mt 3:9). Vâng, với Thiên Chúa, tất cả chỉ là “chuyện nhỏ”. Tác giả Thánh Vịnh đã tin nhận như vậy nên đã dâng lời xưng tụng: “Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng” (Tv 145:10-11).

Thiên Chúa biết rõ phàm nhân cần có cái ăn để duy trì sự sống, thế nên Ngài luôn tạo cơ hội làm việc để con người mưu sinh. Không có Ngài thì chúng ta chẳng làm được gì, chắc chắn như vậy. Với kinh nghiệm sống, tác giả Thánh Vịnh chia sẻ với chúng ta qua lời cầu nguyện chân thành: “Lạy Chúa, muôn loài ngước mắt trông lên Chúa, và chính Ngài đúng bữa cho ăn. Khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê. Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm. Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người” (Tv 145:15-18). Thiên Chúa chẳng chấp lách gì đối với những cái đầu nhỏ mọn, thiển cận và nông cạn của phàm nhân chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta biết khiêm nhường và chân thành cầu xin thì mọi sự đều đâu vào đó. Mà có làm vậy cũng chỉ lợi ích cho chúng ta mà thôi, chứ điều đó cũng chẳng thêm gì cho Ngài.

Với kinh nghiệm đầy mình, nhưng là kinh nghiệm “xương máu”, Thánh Phaolô chia sẻ: “Tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từnhẫn nại; hãy lấy tình bác áichịu đựng lẫn nhau” (Ep 4:1-2). Những lời lẽ rất chân thành, nhưng NGHE là một chuyện, BIẾT là một chuyện, LÀM lại là chuyện khác. Những khoảng cách rất gần mà cũng rất xa!

Thánh Phaolô động viên thêm: “Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. Chỉ có MỘT thân thể, MỘT Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có MỘT Chúa, MỘT niềm tin, MỘT phép rửa. Chỉ có MỘT Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4:3-6). Những cái “một” rất kỳ diệu, đòi buộc chúng ta phải NÊN MỘT, vì thế mà không thể ba bè, năm nhóm hoặc bảy phe, không thể tiêu cực như chúng ta vẫn có “xu hướng” ngay trong các gia đình, các hội đoàn, các cộng đoàn, các giáo xứ,… Chắc chắn kiểu phe nhóm như vậy là đối lập với Thiên Chúa! Tại sao? Vì chúng ta cùng ĂN MỘT TẤM BÁNH – Thánh Thể của Đức Kitô.
Trình thuật Ga 6:1-15 nói về phép lạ hoá bánh ra nhiều mà Đức Giêsu đã làm (Mt 14:13-21; Mc 6:30-44; Lc 9:10-17). Trong phép lạ này có sự hiệp nhất: Đủ loại người đồng tâm nhất trí tụ họp nhau theo Chúa để cùng NÊN MỘT và được nghe lời khôn ngoan của Ngài. Thế nên Ngài thương họ lắm, thương biết sao cho vừa!

Địa danh là bên Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Hôm đó có đông đảo dân chúng đi theo Chúa Giêsu, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Ngài đã làm cho những kẻ đau ốm. Ngài lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Thời gian đó sắp đến lễ Vượt Qua, đại lễ của người Do-thái. Ngước mắt lên, Ngài nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Ngài không bất ngờ mà Ngài thấy thương họ. Ngài hỏi ông Phi-líp-phê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”. Ngài nói thế là để thử ông, chứ Ngài đã biết mình sắp làm gì rồi.

Nghe vậy, ông Phi-líp-phê đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Các ông vừa gãi đầu vừa nghĩ bụng: “Mèn ơi! Phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh cho họ ăn sao? Tiền đâu mà mua chứ!”. Hai trăm quan tiền là số tiền lớn, dù chưa bằng số tiền giá chiếc bình dầu thơm mà người phụ nữ tội lỗi xức chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simôn Cùi ở làng Bêtania: Ba trăm quan tiền (Mt 26:6-13; Mc 14:3-9; Ga 12:1-8), nhưng lại gấp nhiều lần số tiền ông Giuđa đã bán Thầy trong đêm định mệnh năm xưa: Ba mươi đồng (Mt 26:15).

Lúc đó, không biết ông Phêrô nhanh tay lẹ mắt thế nào mà ông liền thưa: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”. Đức Giêsu cười: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi”. Chả biết Thầy tính mần chi, nhưng các ông cũng vâng lời Thầy, bảo người ta ngồi xuống cỏ, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. Tính cả phụ nữ và trẻ em có thể lên tới cả chục ngàn người.

Mọi người đã yên vị, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho họ. Cá nhỏ, Ngài cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. Khi họ đã no nê rồi, Ngài bảo các môn đệthu lại những miếng thừa kẻo phí. Chúa Giêsu rất tiết kiệm, không hề lãng phí, điều này nhắc chúng ta phải biết quý miếng ăn, biết nghĩ đến những người đang đói khổ.

Các môn đệ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. Phần dư còn nhiều hơn phần gốc. Quá đỗi kỳ diệu! Thế nên mọi người rỉ tai nhau: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!”. Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Ngài lại lánh mặt, đi lên núi một mình. Lại một bài học đắt giá nữa: Đừng coi trọng danh vọng, đừng tự tôn, đừng thấy người ta khen mà tưởng mình “ngon” hơn hoặc tài giỏi hơn người khác. Quan nhất thời, dân vạn đại. Tất cả sẽ qua đi, ngay cả những gì mình sở hữu cũng không thuộc về mình. Cuộc đời cũng chỉ còn lại tình yêu thương nhờ biết thương xót, ba nhân đức đối thần cũng “cô đọng” chỉ còn Đức Mến (Đức Ái) mà thôi.

Việc Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều là “dấu chỉ” báo trước về Bí tích Thánh Thể, đồng thời cho chúng ta biết rằng nhu cầu ăn uống liên quan chuyện sinh tồn – cả thể lý và tâm linh. Biết chăm lo cho mình thì cũng phải biết chăm lo cho người khác: Yêu người như yêu mình. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải biết chạnh lòng thương mà quan tâm nhu cầu thiết yếu của người khác. Vâng, quả thật là “có thực mới vực được đạo”. Thể lý yếu đuối có thể ảnh hưởng tinh thần, trí tuệ và tâm linh. Thể xác cần ăn uống để sống khỏe mạnh thì linh hồn cũng cần nuôi dưỡng để sinh tồn.

Lạy Thiên Chúa chí minh và chí thiện, con không dám xin Ngài ban cho con những điều con muốn, mà con xin được can đảm chấp nhận và mau mắn thay đổi theo đúng Thánh Ý Ngài. Xin ban cho mọi người có đủ lương thực hàng ngày, để nhờ đó mà họ có thể sống xứng đáng kiếp làm người, đồng thời họ có thể an tâm phụng sự Ngài hết linh hồn và hết sức lực. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU


THỎA THUÊ
(CN XVII TN-B – Tv 145:15-18; Ep 4:1-6; Ga 6:1-15)

Muôn loài ngước mắt trông lên
Chúa thương lo liệu cho ăn đúng giờ
Khi Ngài rộng lượng ban cho
Mọi sinh vật được thoả thuê muôn vàn
Lối đường Thiên Chúa chí nhân
Mọi việc Người làm đầy ắp yêu thương
Những ai đau khổ đoạn trường
Chúa luôn gần gũi đỡ nâng đêm ngày
Kiên tâm cầu khẩn Chúa hoài
Ngài không nỡ để lạc loài mãi đâu
Hãy luôn khiêm tốn trước, sau
Hiền từ, nhẫn nại, thương yêu hết lòng
Quyết tâm chịu đựng, chờ mong
Sẽ được no lòng, thỏa khát tâm linh
Hằng ngày có Bánh Ân Tình
Thánh Thể tốt lành, đừng có quên ăn!
Chúa Giêsu vẫn ân cần
Muốn cho ai cũng được luôn no lòng
TRẦM THIÊN THU


Hôn Nhân Liên Tôn

Hôn nhân liên tôn là gì? Nói cho văn hoa vậy thôi, chứ thật ra chỉ là hôn nhân khác đạo. Cái gì khác nhau cũng có thể gây phiền toái, nhất là cái khác đó liên quan vấn đề tôn giáo.

Hôn nhân khác đạo có thể là một thách đố, luôn cần nhiều tình yêu và khéo léo giao tiếp. Tuy nhiên, hôn nhân khác đạo cũng có thể là đại phúc giúp vợ chồng lớn mạnh trong niềm tin của nhau.

Đây là các gợi ý dành cho những người Công giáo kết hôn với người khác tôn giáo:

1. ĐỪNG “HOÁN CẢI” NHAU

Bạn có thể chia sẻ sự nhiệt thành đối với niềm tin của mình và thật lòng trả lời các câu hỏi, nhưng đừng thúc ép người bạn đời phải gia nhập Công giáo. Giáo Hội khuyên: “…Các cặp vợ chồng khác đạo có thể sống trong hoàn cảnh đặc biệt theo ánh sáng của Đức Tin, vượt qua mọi sự căng thẳng giữa trách nhiệm đối với nhau và cộng đoàn, khuyến khích phát triển các điểm chung về niềm tin và tôn trọng các điểm khác nhau” (GLCG số 1636).

2. CẦU NGUYỆN CÙNG NHAU
Hằng ngày nên dành thời gian cầu nguyện với nhau. Mới đầu có thể khó, nhưng hãy kiên trì để có thể đạt được cách cầu nguyện chung và có lợi cho cả hai về tâm linh. Một cách hay là cùng đọc Kinh Thánh hoặc tìm hiểu về Kinh Thánh.

3. DUY TRÌ ĐỨC TIN
Người Công giáo có thể dễ xa rời Đức Tin vì cảm thấy khó hòa hợp trong hôn nhân khác đạo. Vấn đề quan trọng là phải biết tôn trong niềm tin của người bạn đời, nhưng đừng thỏa hiệp. Nếu không thể tham dự Thánh Lễ hằng ngày thì hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật, hãy đề nghị người bạn đời cùng đi. Hãy xưng tội vào những dịp lễ, tết, và các dịp đặc biệt. Bí tích Hòa Giải tạo cơ hội tốt để thảo luận về mọi điều khó khăn của cuộc sống hôn nhân khác đạo. Bạn có thể đề nghị người bạn đời cùng nhau gặp linh mục và thảo luận về bất kỳ vấn đề gì.

4. GIÁO DỤC CON CÁI
Theo Giáo Luật, người không Công giáo phải đồng ý cho con cái gia nhập Công giáo và giáo dục chúng theo cách của Công giáo. Hãy bảo đảm cho chúng nền tảng Đức Tin vững chắc và được lãnh nhận các bí tích. Điều này rất “nhạy cảm” đới với người bạn đời khác đạo. Hãy dạy con cái tôn trọng niềm tin của cha hoặc mẹ của chúng, và hãy khuyến khích chúng đặt ra các câu hỏi.

5. CHIA SẺ ĐỨC TIN
Hãy lưu ý các điểm chung về tâm linh và hỗ trợ nhau trên hành trình tâm linh, nhưng hãy tôn trọng các điểm khác nhau. Tránh chỉ trích hoặc chê bai niềm tin của nhau. Nếu không thể trả lời câu hỏi về Đức Tin, hãy tìm câu trả lời ở sách báo hoặc nhờ người có uy tín. Hãy tìm hiểu Công giáo và chia sẻ với người bạn đời. Hãy cầu xin Chúa giúp hiểu nhau và tôn trọng nhau.

6. VĨ NGÔN
Bạn phải hy sinh và hành động khéo léo trong hôn nhân khác đạo, cố gắng để có lợi ích cho gia đình và xã hội. Thánh GH Gioan Phaolô II nói: “Hôn nhân giữa người Công giáo và người khác đạo có bản chất riêng, nhưng có nhiều yếu tố có thể tốt và phát triển, cả về giá trị thực chất và về sự đóng góp mà họ có thể tạo sự đại kết. Điều này rất thật khi hai người trung thành với nhiệm vụ tôn giáo của mình. Phép Rửa và động lực của ân sủng cung cấp cho họ nền tảng và sự thúc đẩy để diễn tả sự kết hợp trong lĩnh vực luân lý và tâm linh” (Tông huấn Familiaris Consortio).

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

 

Bẩn !

Bẩn là dơ, là không sạch, là mất vệ sinh. Bẩn cũng có nhiều dạng và nhiều mức độ: Ô nhiễm môi trường là bẩn, ô nhiễm không khí là bẩn, ô nhiễm thực phẩm là bẩn, ô nhiễm nguồn nước là bẩn, ô nhiễm quản lý là bẩn, ô nhiễm tư tưởng là bẩn, ô nhiễm ánh mắt là bẩn, ô nhiễm lương tâm là bẩn, ô nhiễm giáo dục là bẩn, ô nhiễm âm nhạc là bẩn, ô nhiễm văn chương là bẩn,… Ô nhiễm nào cũng bẩn, cũng xấu, cũng có hại!

Các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày đưa tin về các loại bẩn. Nào là thịt thối, heo siêu nạc; nào là thuốc tăng trọng, cà-phê là đậu nành trộn với hàng chục loại hóa chất; nào là giá làm bằng đậu bẩn, trái cây được kích thích bằng hóa chất; nào là phở chứa phoóc-môn, nước tương (xì dầu) chứa chất 3-MCPD, sữa chứa melamine,… Cơ man nào mà kể. Đó là dạng bẩn thực phẩm gây hại cho cơ thể, có thể sinh ung thư, dẫn đến cái chết!

Chỉ nói riêng về thực phẩm thôi cũng đã thấy có nhiều mối nguy hiểm đe dọa tính mạng con người hằng ngày, tính đến mức từng giây. Dạng bẩn nào cũng nguy hiểm, nhưng dạng bẩn nguy hiểm và độc hại nhất là “lòng người bẩn”, là “lương tâm bẩn”. Tất cả sẽ không bẩn nếu lòng người không nhiễm bẩn, nếu lương tâm trong sạch. Có thể nói rằng mọi thứ bẩn đều bắt nguồn từ “lương tâm bẩn”, vì từ đó dẫn tới nhiều hệ lụy khác!

Lương tâm còn gọi là lương tri. Lương tâm bẩn cũng có nhiều mức độ, từ nhẹ đến nặng: Nói dối, gian lận, tham lam, lừa đảo, hối lộ, tham nhũng, nhiễu nhương, hiếu chiến, bịp bợm, trục lợi, thực dụng, độc ác,... Vĩ nhân Mahatma Gandhi (Ấn Độ) nói: “Với lương tâm, quy luật của số đông không có tác dụng. Có tòa án còn cao hơn tòa án công lý, và đó là tòa án của lương tâm. Nó thay thế cho mọi tòa án khác”.

Aleksandr Solzhenitsyn so sánh: “Công lý là lương tâm, không phải lương tâm cá nhân mà là lương tâm của toàn bộ nhân loại. Những ai nhận thức rõ ràng giọng nói của lương tâm chính mình thường cũng nhận ra giọng nói của công lý”. Còn Jean Jacques Rousseau định nghĩa: “Lương tâm là tiếng nói của linh hồn; dục vọng là tiếng nói của cơ thể”.

Như vậy, vấn đề lương tâm rất quan trọng, vì Voltaire đã nhận định: “Con đường an toàn nhất là không làm gì trái với lương tâm. Với bí mật này, chúng ta có thể hưởng thụ cuộc sống và không sợ chết”.

Walter Lippmann lý giải: “Lương tâm của chúng ta không phải là vật chứa chân lý vĩnh cửu. Nó phát triển cùng với đời sống xã hội của chúng ta, và điều kiện xã hội thay đổi cũng dẫn tới sự thay đổi triệt để về lương tâm”.

Phàm cái gì từ con người xuất ra mới là cái làm cho người ta ra ô uế. Có thể hiểu “cái từ con người xuất ra” theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Chính Chúa Giêsu xác định: “Những cái gì từ miệng xuất ra, là phát xuất tự lòng, chính những cái ấy mới làm cho con người ra ô uế. Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế; còn ăn mà không rửa tay thì không làm cho con người ra ô uế” (Mt 20:18-20).

Hãy cẩn trọng, vì có thể Chúa Giêsu đang lên án chính mỗi chúng ta: “Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!” (Mt 23:27-28).

Ngoại tại và nội tại đều cần thiết một môi trường trong sạch, không bị ô uế. Văn hào Victor Hugo nói: “Lương tâm là Thiên Chúa hiện diện trong con người”.

Ước gì mỗi chúng ta có thể nói được như văn sĩ trào phúng Mark Twain đã xác định: “Nhờ ơn Chúa mà ở đất nước chúng tôi có ba thứ quý giá không tả nổi: tự do ngôn luận, tự do lương tâm, và sự khôn ngoan để không bao giờ dùng đến cả hai thứ kia”. Ông Mark Twain là văn sĩ trào phúng, khôi hài, nhưng lại rất thật. Nghe ông Mark Twain nói mà phát thèm!

Thánh Phaolô nói về cái bẩn tâm linh: “Anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ sự công chính. Ấy là tôi nói theo kiểu người phàm, hợp với tầm hiểu biết yếu kém của anh em. Trước đây, anh em đã dùng chi thể của mình mà làm những điều ô uế và sự vô luân, để trở thành vô luân thì nay anh em cũng hãy dùng chi thể làm nô lệ sự công chính để trở nên thánh thiện” (Rm 6:18-19). Dạng bẩn tâm linh còn độc hại hơn mọi dạng bẩn khác, dẫn đến cái chết đời đời. Khủng khiếp quá!

TRẦM THIÊN THU

 

Kỳ Thị

Kỳ thị có nhiều cấp độ, đôi khi rất khó có thể nhận ra vì quá tinh vi. Kỳ thị trong xã hội thì đã rõ, nhưng người ta còn kỳ thị vì khác tôn giáo, thậm chí người ta vẫn tỏ ra quan liêu và kỳ thị ngay trong những người cùng tôn giáo vì cho rằng chức vụ này “cao” hoặc “thấp” hơn chức vụ nọ. “Cao” hơn thì có “quyền” hơn. Việt ngữ gọi là “quyền hành”. Hay thật! Cũng chỉ vì có “quyền” nên người ta cậy “thế”, rồi ngang nhiên “hành” người khác!

Kỳ thị là gì?
Kỳ thị là phân biệt cái này với cái khác, nhưng “phân biệt” ở đây thường mang nghĩa tiêu cực, nghĩa xấu, nhất là khi nói về việc phân biệt giới tính, phân biệt người khuyết tật, phân biệt giai cấp, hoặc phân biệt chủng tộc.

Kỳ thị chủng tộc là phân biệt người miền này với người miền khác, dân tộc này với dân tộc khác. Kỳ thị chủng tộc là khi bạn bị coi thường hoặc khinh miệt vì bạn là người thuộc dân tộc nào đó. Đôi khi, sự đối xử bất công này có thể trái ngược với pháp luật, tức là phạm pháp.

Không ai có quyền khinh miệt ai vì ai cũng giống nhau về nhân vị, nhân phẩm, và nhân quyền – nghĩa là hoàn toàn bình đẳng. Vì vậy, trước mặt Thiên Chúa thì ai cũng như ai, mọi người đều là những tội nhân mà thôi, chẳng ai hơn hoặc kém ai, thế nên chẳng ai có lý do gì mà kỳ thị người khác!

Bạn có thể bị kỳ thị nếu bạn không được nhận vào làm việc ở một nơi nào đó vì người ta nói bạn “không thích hợp” chỉ vì lý do nào đó, thậm chí chỉ là lý do “ngoại hình”. Nếu bạn là nạn nhân của việc kỳ thị chủng tộc, bạn có thể đệ đơn lên Ủy ban Chống Kỳ thị Chủng tộc Queensland (Anti-Discrimination Commission Queensland, gọi tắt là ADCQ, đạo luật này có từ năm 1991, có các văn phòng tại Brisbane, Rockhampton, Townsville và Cairns).


Kỳ thị là phạm pháp

Luật ADCQ nói rằng đối xử bất công là phạm pháp. Đôi khi kỳ thị (nói chung) xảy ra không rõ ràng, nghĩa là chỉ gián tiếp. Đồng ý là có người “hợp” với mình, có người không “hợp”, nhưng “không hợp” không có nghĩa là chúng ta có thể đối xử bất công với người đó. Cùng làm một công việc, nếu bạn được trả lương ít hơn người khác, đó là bạn bị kỳ thị.

Gièm pha, nói xấu, nói hành người khác là ghét người khác, tức là kỳ thị. Kỳ thị có thể là lời nói, cử chỉ, thái độ, hành động, ánh mắt,… thậm chí có thể là “ngòi bút” khi viết ra những điều nguyền rủa hoặc phỉ báng để làm mất phẩm giá của người khác. Thiếu công tâm trong khi nhận xét người khác cũng là kỳ thị, quấy nhiễu người khác cũng là kỳ thị, coi thường người khác cũng là kỳ thị. Nói chung, kỳ thị có thiên hình vạn trạng.


Kỳ thị là phạm tội

Bất cứ ai cũng có thể là người kỳ thị hoặc bị kỳ thị. Muốn tránh kỳ thị thì phải có lòng yêu thương thực sự.

Trong Mười Điều Răn mà Thiên Chúa truyền tuân giữ, điều răn thứ Năm (chớ giết người) và điều răn thứ Tám (chớ làm chứng dối) có liên quan động thái kỳ thị: Vì thiếu lòng yêu thương nên người ta mới kỳ thị, và vì kỳ thị nên người ta mới “giết người” hoặc “làm chứng dối”. Đó là vi phạm Thánh Luật của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 18:10).

Đức Giêsu còn kể một dụ ngôn rất điển hình và khá phổ biến trong chúng ta, nhất là với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:

Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18:11-12). Đó là lời cầu nguyện kiêu căng, ngạo mạn, và ích kỷ!

Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Đó là lời cầu nguyện khiêm nhường.

Hai con người với hai động thái trái ngược. Nhưng hai dạng này luôn tồn tại trong thế giới loài người xưa nay.

Chúa Giêsu quả quyết: “Tôi nói cho các ông biết: người này (người thu thuế), khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia (người Pharisêu, người giả hình) thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14).

Chúng ta đừng tưởng Chúa Giêsu nói tới người Pharisêu chứ không hề nói mình, vì chúng ta vẫn làm những việc đạo đức như đi đọc kinh, tham dự Thánh lễ, tham dự các giờ phụng vụ, đi làm từ thiện,… thế nhưng liệu những việc đó có thực sự vì mến Chúa và yêu người hay không mới là điều quan trọng. Hãy cảnh giác, vì đôi khi chúng ta có thể kỳ thị nhau ngay trong lời cầu nguyện hoặc trong những việc đạo đức!

Khiêm nhường là nền tảng của mọi nhân đức. Nhưng RẤT KHÓ SỐNG KHIÊM NHƯỜNG. Thế nên Thánh Giacôbê nhắc nhở: “Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên” (Gc 4:10). Thánh Phaolô xác định: “Chỉ có MỘT Chúa, MỘT niềm tin, MỘT phép rửa” (Ep 4:5), thế thì không ai có thể viện bất kỳ lý do nào để mà kỳ thị người khác.

Có gì sai trái khi người này không thích người khác?

Có thể bạn đã nghe câu châm ngôn này: “Tôi không phải ưa thích bạn, nhưng tôi phải yêu thương bạn”. Các Kitô hữu không có quyền chọn lựa trong hoạt động yêu thương. Chúng ta phải yêu thương mọi người, kể cả những người khác mình, thậm chí còn phải yêu thương kẻ thù.

“Ưa thích” phải xử lý với sự quý mến ưu tiên, chúng ta thu hút vào một điều, một hoạt động hoặc người này hơn người kia. Thân quen là điều bình thường và tự nhiên của con người. Tuy nhiên, hãy cẩn trọng khi chúng ta cảm thấy KHÔNG THÍCH một người nào đó.

Một người Mỹ gốc Phi đã nhận xét: “Nếu bạn không thích tôi vì tôi ngu dốt, cũng tốt thôi. Tôi có thể đi học. Nếu bạn không thích tôi vì tôi dơ bẩn, cũng chẳng sao. Tôi có thể tắm rửa cho sạch sẽ. Nhưng nếu bạn không thích tôi vì màu da của tôi, thế thì bạn có vấn đề. Vấn đề của bạn là đối với Thiên Chúa, vì Ngài dựng nên tôi như vậy”.

Bạn cần tự hỏi mình: “Tại sao tôi không thích những người khác tôi? Có phải vì tôi có thành kiến? Có phải vì tôi kỳ thị?”. Kỳ thị chủng tộc (racism) là tin tưởng sai lầm rằng một số người vốn dĩ cao cấp và một số người vốn dĩ hạ cấp chỉ vì dân tộc của họ. Đó là một dạng thành kiến (preduce, bias), còn gọi là định kiến hoặc thiên kiến, có tác dụng tiêu cực và nguy hiểm – dùng lời nói hoặc động thái nhằm hạ thấp hoặc kinh miệt người khác, hãy tránh xa những người có óc kỳ thị hoặc dính líu tới bạo lực. Phân biệt đối xử (discrimination) là không chấp nhận các quyền cơ bản của người khác, đó là một hệ lụy khủng khiếp khác của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Tội diệt chủng (genocide) là dạng tồi tệ nhất của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Từ thế kỷ XX, loại tội phạm này len lỏi vào cộng đồng một cách tinh vi hơn.

Kỳ thị chủng tộc là tội trọng. Đó là tội không yêu thương và bất công. Giáo Hội “mạnh mẽ lên án mọi dạng phân biệt đối xử đối với người khác vì sắc tộc, màu da, điều kiện sống hoặc tôn giáo” (Tuyên ngôn về Mối Quan Hệ của Giáo Hội đối với các Tôn Giáo khác, số 5).

Ambrose Bierce, văn sĩ Hoa Kỳ, định nghĩa thành kiến là “ý kiến vớ vẩn không có ý nghĩa rõ ràng về sự ủng hộ”. Hãy kiểm tra xem tại sao bạn không thích người nào đó. Nếu đó là vấn đề của óc thiển cận, bạn có thể thay đổi. Hãy nỗ lực tìm hiểu để nhận biết và hòa đồng với mọi người, nhất là những người không cùng chủng tộc, không cùng tôn giáo, không cùng quan điểm, không cùng trình độ,… Hãy nhớ rõ ràng rằng CHỈ CÓ MỘT CHỦNG TỘC, đó là NHÂN LOẠI, là LOÀI NGƯỜI, là con cái của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con sống hòa đồng với nhau trong tình huynh đệ hiệp nhất với Chúa Ba Ngôi, như Chúa Giêsu mong ước cho mọi người hoàn toàn “nên một” (Ga 17:21-23). Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

July 24, 2018