dongcong.net
 
 


Suy niệm : Trầm Thiên Thu

 

Danh lợi
(Chúa nhật XXV TN, năm B)

Cái vòng danh lợi cong cong
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào

Đó là cái vòng luẩn quẩn cuộc đời. Với bản chất con người, ai cũng “máu” lắm (nhiều loại máu), thả ra cũng chẳng ai vừa: “Kẻ tám lạng, người nửa cân”. Thật vậy, ai cũng thích được khen chứ chẳng ai thích bị chê. Nghĩa là con người rất thích có DANH, gọi là “háo danh”, như Nguyễn Công Trứ (*) xác định: “Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”. Chữ DANH với nam giới lại càng “to” hơn nhiều.

DANH và LỢI có quan hệ “thân thiết” với nhau. Chưa có cái “danh” thì tìm cách có, có “danh” rồi thì tìm cái “lợi”. Có những người mê “danh” đến nỗi sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để “chạy” bằng cấp, chức tước, địa vị,… Thậm chí có người còn dám bán rẻ lương tâm để mua lấy cái “danh”, ngay cả tình nghĩa trong các mối quan hệ cũng chỉ là “chuyện nhỏ”, như người ta “đùa mà thật” khi nói: “Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười”. Đó là điều tất yếu? Vì “con gà còn tức nhau tiếng gáy” kia mà! Có lẽ dày dạn kinh nghiệm nên hiền sĩ Nguyễn Công Trứ mới chua chát nhận định: “Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”, hoặc: “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược, Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”.

Tiền chẳng là gì, chỉ là những tờ giấy có cấp độ giá trị khác nhau theo những con số mà con người quy ước. Nhưng người ta coi “tiền là tiên, là Phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý” thế nên nó có thể thay trắng đổi đen mọi thứ. Kinh khủng quá! Chiến tranh tàn khốc xảy ra cũng vì cái “danh” và “lợi”. Cái lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo, thế nên: Thật thà bị ghét bỏ, nghèo khó bị rẻ khinh, thông minh bị trù dập. Đời là thế! It’s life! C’est la vie! Ôi, chuyện đời cười ra nước mắt!

Những người dã tâm hùa nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Họ ranh mãnh và mỉa mai: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào” (Kn 2:17). Người chính trực luôn bị ghét, người theo Chúa cũng bị “dè chừng”, thậm chí còn bị sát hại. Kẻ xấu toan tính: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào” (Kn 2:18-19). Cuối cùng họ quyết định: “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:20a). Nhưng đó chỉ là “sai lầm của phường vô đạo” (Kn 2:20b).

Người công minh chính trực thì chẳng sợ gì. Cây ngay không sợ chết đứng như Từ Hải, và luôn vững tin vào Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi” (Tv 54:3-4). Phường kiêu ngạo có nổi lên chống đối, hay bọn hung tàn tìm hại mạng sống người công chính, dù chúng không kể gì đến Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn độ trì và nâng đỡ những tôi trung và hiền tử của Ngài, vì Ngài là Thiên Chúa đời đời thành tín.

Dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ, dù hạnh phúc hay bất hạnh, người thật lòng theo Chúa vẫn một lòng một dạ chân thành thân thưa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo” (Tv 54:8). Đó là cách sống của những người thực sự trưởng thành tâm linh. Ước gì mọi người đều biết sống như vậy!

Thánh Giacôbê phân tích: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3:6). Một cách suy luận lô-gích và minh nhiên. Thánh nhân kết luận: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bisinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:17-18). Phàm nhân chúng ta gọi đó là “luật nhân quả”, gieo gì gặt nấy: Tư tưởng à ước muốn à hành động à thói quen à tính cách à số phận.

Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao?” (Gc 4:1). Và rồi thánh nhân đúc kết một cách vô cùng thẳng thắn: “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:2-3).

Nhận xét của Thánh Giacôbê “chạm” đến bất kỳ ai, đến bất kỳ cương vị nào, đến tận mọi ngõ ngách sâu thẳm nhất của lòng dạ và tư tưởng con người. Thật vậy, đôi khi chúng ta ích kỷ ngay trong lời cầu nguyện của mình, thậm chí còn dám “ngã giá” và “ra điều kiện” với chính Thiên Chúa mà cứ tưởng là mình… đạo đức và thánh thiện. Nguy hiểm quá!

Một lần nọ, Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê, nhưng Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết chết, Ngài sẽ sống lại” (Mc 9:31). Nhưng các ông không hiểu lời đó, vả lại các ông sợ nên không dám hỏi lại Ngài. Theo Thầy đi khắp mọi nơi, tới từng hang cùng ngõ hẻm, ăn dầm nằm dề với Thầy, thế mà các môn đệ vẫn “như người trên cung trăng”, lơ ngơ mà chẳng hiểu Sư phụ nói gì. Không hiểu mà lại không dám hỏi. Lạ thật! Nhưng phàm phu tục tử là thế, chúng ta cũng vậy, chẳng hơn gì ai! Chúa biết thừa, nhưng Ngài vẫn thông cảm và lại càng thương các “ngu đệ” hơn.

Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9:33). Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để các môn đệ bớt… run. Chứ Ngài biết tỏng, biết rõ mười mươi như “đi guốc trong bụng” từng người! Nhưng các ông nín thinh như ngậm tăm, vì Thầy nói trúng phoóc tim đen. Rõ ràng khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Tranh giành địa vị, tranh chấp ngôi thứ, tranh nhau cái DANH cốt để mong có cái LỢI. Không thể nào biện hộ, dù chỉ nửa lời!

Biết các môn đệ chưa thể “thoát tục”, Đức Giêsu ngồi xuống và gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người (Mc 9:35). Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37). Một cách so sánh đầy triết lý và thần học. Tiếp nhận trẻ nhỏ à tiếp nhận Chúa Giêsu à tiếp nhận Chúa Cha. Hay quá! Nhưng có lẽ chúng ta chưa thể hiểu đúng, hoặc không dám hiểu, thậm chí không muốn hiểu. Nhưng nên nhớ rằng Chúa Giêsu luôn thực tế, mạch lạc, rất hiếm khi bóng gió xa xôi. Và vì thế mà chúng ta khó lĩnh hội thấu đáo để có thể thực hành bài học “đơn giản” của Ngài là sống Yêu thương và Phục vụ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28).

Muốn thoát vòng danh lợi và vòng kiềm tỏa của nó, chúng ta phải theo “mẹo” của Chúa Giêsu: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18:3). Danh lợi chỉ là thứ tạm bợ, chóng qua, thế mà người ta vẫn tìm mọi thủ đoạn để giành giật bằng mọi giá. Đó là loại “giàu” khiến người ta khó vào Nước Trời nhất. Cụ Nguyễn Công Trứ nhận định: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”. Chí lý lắm thay!

Lạy Chúa, xin biến đổi tâm hồn chúng con từng giây phút, để chúng con đừng giành nhau những thứ không phù hợp với Luật Chúa, trái ngược với Nước Trời. Xin giúp chúng con không ngừng biết YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ đúng như Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Nguyễn Công Trứ (chữ Hán: 阮公著1778 – 1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại.

Nhân Danh
(Chúa Nhật XXV TN, năm B)
Hằng ngày, các tín hữu Công giáo làm dấu Thánh Giá nhiều lần: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Một tín hữu bình thường thì người ta làm dấu khi thức dậy, khi tham dự Thánh Lễ, khi cầu nguyện, khi đọc kinh, khi ăn (cơm, phở, bánh,…), khi đi ngủ. Một tín hữu biết mình yếu đuối thì họ còn làm dấu khi uống nước, khi ăn vặt, khi chạy xe, khi làm thơ, khi viết nhạc, khi viết bài, khi dịch thuật,… Nói chung, bất cứ làm gì, chúng ta đều làm nhân danh Thiên Chúa chứ không nhân danh bất cứ ai hoặc thứ gì khác, như Thánh Phaolô khuyên: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31), và “Hãy làm mọi sự vì đức ái” (1 Cr 16:14).
Khi nói đến “nhân danh”, chúng ta nhớ tới Tổng lãnh Thiên thần Micae – một đại anh hùng chiến đấu để bênh vực Chân Lý và Công Lý, nhân danh Thiên Chúa. Ngài là người thách đố: “Ai bằng Thiên Chúa?”.
Khi nhân danh người nào hoặc điều gì, cũng có những người “mạo danh” để làm điều sai trái, thay vì làm điều nhân nghĩa. Đó là “nhân danh” cái ác, một dạng giả hình mà chúng ta cần cảnh giác cao độ – cảnh giác với người khác và với chính mình. Thực tế đã và đang cho chúng ta thấy có những kẻ “mạo danh” để trục lợi cá nhân – ngoài đời cũng có đầy mà trong tôn giáo cũng chẳng thiếu.
Thời Cựu Ước, những kẻ xấu đã “nhân danh” sự ác mà vào hùa với nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Khi nhân danh điều gì, đôi khi người ta cũng dễ bị ảo tưởng hoặc suy nghĩ lệch lạc. Gọi là nhân danh điều tốt này hoặc sự thiện kia, nhưng thực chất có thể chỉ là nhân danh mình – tức là muốn chứng tỏ “bản lĩnh” của mình mà thôi. Dạng này rất tinh vi, chúng ta phải thực sự cảnh giác kẻo “sập bẫy” mưu ma chước quỷ!
Tư tưởng xấu sinh ra ước muốn xấu, ước muốn xấu sinh ra hành động xấu, hành động xấu là nhân danh cái ác. Những kẻ xấu cũng tưởng người khác cũng xấu như mình nên họ nghi ngờ người khác. Họ lý luận: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào. Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:17-20). Chính Chúa Giêsu cũng đã bị những kẻ xấu thách thức tương tự!
Những người công chính, tâm địa ngay thẳng, nhưng đôi khi vẫn gặp tai ương. Không phải là Thiên Chúa không biết hoặc làm ngơ, nhưng Ngài tôn trọng luật tự nhiên. Khi thực sự cần thiết thì Ngài mới ra tay. Những người tín thác vào Thiên Chúa thì luôn chân thành khấn cầu: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi. Phường kiêu ngạo nổi lên chống đối, bọn hung tàn tìm hại mạng sống con, chúng không kể gì đến Thiên Chúa. Nhưng này có Thiên Chúa phù trì, thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ” (Tv 54:3-6).
Quả thật như vậy, vì Ngài biết rõ ai như thế nào, mạnh hay yếu, và Ngài không bắt chúng ta chịu đựng quá sức mình. Vấn đề quan trọng là chúng ta phải biết nhận ra ơn độ trì của Thiên Chúa, như tác giả Thánh Vịnh thầm hứa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo!” (Tv 54:8).
Ai tin tưởng và hành động nhân danh Thiên Chúa thì chắc chắn sẽ không lầm đường lạc lối, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8:12).
Cụ thi hào Nguyễn Du đã nhận định và so sánh: “Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI” (Truyện Kiều). Cái “tâm” vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Ai cũng có lương tâm, nhưng vấn đề là lương tâm đó đúng đắn hay lệch lạc. Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:16-18).
Chắc chắn ai cũng biết lợi ích của cái tâm chân chính, nhưng biết là biết vậy, cố gắng áp dụng hay không lại là chuyện khác. Cổ nhân nói: “Tâm phẫn xí tắc bất đắc kỳ chính”. Từ cái tâm sẽ sinh ra nhiều hệ lụy khác, thậm chí ảnh hưởng cả sức khỏe thể lý.
Thánh Giacôbê tiếp tục phân tích: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:1-3). Hệ lụy rạch ròi, tất yếu. Đúng là “lỗi tại tôi mọi đàng” chứ chẳng lỗi tại ai ráo trọi!
Cái thiện ý hoặc thiện tâm rất quan trọng, ngược lại thì rất nguy hiểm với ác ý hoặc dã tâm: “Thiện ý một câu ấm ba đông, lời ác lạnh người sáu tháng ròng”. Trong đêm Con Thiên Chúa giáng sinh, đạo binh chư thần đã đồng ca: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 1:14). Điều đó cho thấy sự thiện tâm là điều kiện tất yếu để được Thiên Chúa yêu thương, nhờ đó mà quyết tâm chỉ nhân danh sự thiện mà thôi.
Trình thuật Mc 9:30-36 cho chúng ta biết về hai vấn đề quan yếu mà chính Chúa Giêsu muốn giáo huấn mỗi chúng ta: Lớn – nhỏ, và thuận – nghịch.
Một lần nọ, Chúa Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê. Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang “bật mí” cho các môn đệ biết chuyện hệ trọng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”. Tuy nhiên, các ông y như vịt nghe sấm, chẳng hiểu gì cả. Vả lại, các ông vừa sợ vừa ngại nên không dám hỏi lại Sư Phụ.
Sau đó, Thầy và trò cùng đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Ngài hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?”. Ui da! Rỉ tai nhau thế mà Thầy cũng cũng biết. Chết thật! Vì thế, các ông nhìn nhau nhưng im thin thít, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Thánh sử Mác-cô cho biết rõ là các môn đệ “cãi nhau”, chứng tỏ vấn đề nghiêm trọng chứ không đơn giản. Họ tranh giành về chuyện “cao – thấp”, về chức quyền. Vấn đề này cũng vẫn thường xảy ra trong chúng ta ngày nay.
Ngài ngồi xuống, có lẽ Ngài rất buồn khi thấy các đệ tử vẫn tục lụy, vẫn hám danh và mê lợi như vậy, rồi Ngài gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Đó là đức khiêm nhường. Ý tưởng của Ngài hoàn toàn trái ngược với chúng ta. Kế đó, Ngài đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Một chuỗi hệ lụy kỳ diệu quá!
Đó là vấn đề thứ nhất: Vấn đề lớn – nhỏ, cao – thấp. Vấn đề thứ nhì là thuận – nghịch. Khi đó, ông Gioan nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Nghe vậy, Ngài liền khoát tay và nói ngay: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”.
Động thái của Chàng trai trẻ Gioan nhắc nhở chúng ta một điều: Đừng tưởng mình ngon người khác, đừng tưởng mình có quyền hơn người khác. Vì thế mà coi thường người khác, khinh miệt hoặc ghét bỏ người khác. Từ hệ lụy này sinh ra hệ lụy khác. Cứ “tưởng rằng” như vậy là mạo nhận, là ảo tưởng, là kiêu ngạo! Tương tự, TIN mình được Chúa yêu thì không là kiêu ngạo, nhưng TƯỞNG mình được Chúa yêu thì lại là kiêu ngạo. Cái “khoảng cách” giữa TIN và TƯỞNG rất mong manh.
Kiêu ngạo là đối lập với Đức Kitô, vì Ngài là Đấng có “lòng hiều hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29). Đồng thời hãy nhớ lại lời Kinh Ngợi Khen (Magnificat) của Đức Maria: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1:52).
Ước gì mỗi khi gặp nhau, dù là bất kỳ ai, chúng ta có thể chân thành nói với nhau: “Chúng tôi chúc lành cho anh em nhân danh Chúa” (Tv 129:8).
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con luôn biết nhân danh Ngài mà thực hiện bất cứ điều gì, từ suy nghĩ tới hành động, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn. Vâng, lạy Thiên Chúa, con thật lòng ước muốn và cố gắng thực hiện như vậy. Xin Ngài hướng dẫn con mọi nơi và mọi lúc. Xin Tổng lãnh Thiên thần Micae nguyện giúp cầu thay. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

Vấn Đề Môi Trường

BaoVeMoiTruongNgày 5 tháng 6 là ngày Môi trường Thế giới, được quy đinh từ năm 1972. Và từ ngày năm 2015, theo lời kêu gọi của ĐGH Phanxicô, ngày 1 tháng 9 là ngày Cầu nguyện cho Môi trường.
Trước đó, trung tuần tháng 6-2015, ĐGH Phanxicô đã ban hành Thông điệp “Laudato sí” (Laudato sí, mí Signore – Xin chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con), được coi như “bản đồ môi trường”, ĐGH Phanxicô đặt vấn đề: “Loại thế giới nào chúng ta muốn chuyển lại cho những người đến sau chúng ta, cho các trẻ em đang lớn lên? Câu hỏi này không phải chỉ liên quan riêng đến môi trường mà thôi, vì chúng ta không thể đặt câu hỏi một phần, và điều này khiến chúng ta tự hỏi về ý nghĩa cuộc sống và những giá trị làm căn bản cho đời sống xã hội: ‘Chúng ta đến trần thế này để làm gì? Chúng ta hoạt động và tranh đấu với mục đích nào? Tại sao trái đất lại cần chúng ta?’. Nếu chúng ta không đặt những câu hỏi căn bản ấy, tôi không tin rằng các mối quan tâm của chúng ta về môi trường có thể đạt hiệu quả quan trọng”.
Hành tinh mà chúng ta sinh sống được mệnh danh là “hành tinh xanh”, thế nhưng nó dần dần mất “sạch và xanh”, nó đang từng ngày biến đổi một cách tiêu cực. Độ nóng cứ nóng dần toàn cầu, khí thải tăng dần, phá rừng quá nhiều, những vết dầu loang, môi sinh bị hủy hoại, không chỉ môi trường bị ô nhiễm mà cả âm thanh cũng bị ô nhiễm. Thiên nhiên không còn thân thiện như xưa, mưa nắng thất thường, tai họa rình rập, phần lớn là lỗi của chúng ta. Nhân tai chứ chẳng phải thiên tai, vì vô ý thức mà chúng ta đang tự hủy hoại “ngôi nhà” của mình, tức là tự hủy hoại mình, đặc biệt là tàn phá công trình sáng tạo của Thiên Chúa!
Sai lầm chưa đáng sợ, mà không biết mình sai lầm mới thực sự đáng sợ. Đối mặt với những cái tiêu cực hằng ngày ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, chúng ta càng ngày càng quan ngại về môi trường, nhưng hầu như chúng ta cảm thấy vô vọng, lúng túng không biết làm sao để bảo vệ “ngôi nhà xanh” của mình. Trách nhiệm này không của riêng ai. Một người ý thức mà mười người vô ý thức thì cũng như “muối bỏ biển”. Không thể chỉ lo sạch nhà mình, còn nhà hàng xóm dơ bẩn thì mặc họ. Tất cả đều có hệ lụy với nhau. Rất cần giáo dục về môi trường và phải áp dụng nghiêm luật!
Không đâu xa, ngay tại Việt Nam, chúng ta luôn kêu gọi “giữ gìn thành phố sạch đẹp” – nói chung là “giữ gìn môi trường sạch và xanh”. Hết “tuần lễ hành động” này sang “tháng hành động” nọ, hoặc “năm hành động” khác. Thế nhưng vẫn có điều gì đó bất cập.
VẤN NẠN CẦN KHẮC PHỤC
     1. Quảng cáo: Hầu như hằng ngày tại nhiều giao lộ trong nội ô TPHCM có những “nhân viên” đi phát các tờ bướm, tờ rơi quảng cáo, thậm chí còn tới “cài” vào cửa từng gia đình. Thật ra bản chất quảng cáo không xấu, nhưng quảng cáo kiểu phát các tờ bướm, tờ rơi ở khắp các ngã tư đường phố như vậy là tiêu cực, vì gián tiếp làm bẩn đường phố, làm hại môi trường, đơn giản nhất là không đẹp mắt. Nhìn những ai được phát thì thấy rõ, có người lắc đầu từ chối thì đã đành, nhưng có người nhận xong rồi vứt ngay xuống đường. Nhìn giấy bay tả tơi, bẩn cả một cung đường, vô cùng mất thẩm mỹ và phi văn hóa!
Nói chung, không ai “mặn mòi” với việc nhận các tờ bướm kia. Vả lại, những tờ quảng cáo đó chưa chắc đã đáng tin cậy. Tiền nhân nói: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Cứ hô hào cho có phong trào thì chỉ vô ích!
     2. Đám tang: Nghĩa tử là nghĩa tận, buồn thương chất đầy, nỗi niềm khó tả khi mất đi một người thân. Tuy nhiên, từ những “chuyến xe cuối đời” đó, người ta thấy bay bay xuống đường những tờ tiền âm phủ. Điều này không chỉ là dị đoan mà còn làm bẩn đường phố. Quan trọng hơn là lãng phí. Tại sao? Vì người ta phải bỏ ra một số “tiền thật” để mua những tờ “tiền giả”. Thật là nghịch lý! Tiền giả gọi là tiền âm phủ. Người chết ở thế giới vô hình, làm gì có sinh hoạt như trần gian này mà cần xài tiền hoặc các phương tiện như chúng ta hiện nay? Thật phi lý!
Bạn thử “lưu ý” mà coi, những giao lộ nào có người phát các tờ bướm hoặc các cung đường vừa có xe tang đi qua thì bạn thấy gì? Đầy… rác! Chỉ khổ cho người phu quét đường, vì họ phải chất chồng thêm gánh nặng, tăng thêm sự mệt mỏi, họ không dừng chổi đứng nghedừng chổi đứng nhìn và rồi lắc đầu ngán ngẩm “cái sự đời”!
Hô hào hết chiến dịch này đến chiến dịch nọ nhưng rồi đâu lại vào đấy, không khác kiểu “đánh trống bỏ dùi”. Cứ “bình thường hóa” như vậy thì làm sao môi trường có thể sạch và đẹp?
THAY ĐỔI NHỎ, HIỆU QUẢ TO
Ai cũng có trách nhiệm với cuộc sống, muốn sống khỏe và sống tốt thì phải có môi trường tốt, vì đó là trách nhiệm chung. Nhưng trước tiên phải thay đổi “nếp nghĩ” thì mới mong thay đổi cách sinh hoạt. Đây là vài gợi ý:
     1. Nhặt rác. Hãy bỏ rác đúng nơi quy định, không tiện đâu vứt đó. Phân loại rác nào bỏ và rác nào có thể tái chế. Một mảnh giấy kẹo hoặc một cây tăm cũng phải được bỏ đúng nơi, đúng chỗ.
     2. Trồng cây. Cây cối lọc không khí chúng ta hít thở, cây luôn cần cho cuộc sống. Cây có thể cải thiện đất, và cây còn làm đẹp thiên nhiên. Tiếc thay có những vùng đất bị bỏ hoang, nhất là người ta còn làm hại hệ sinh thái. Trồng cây cũng tương tự trồng người. Rất cần!
     3. Đổi bóng điện. Bóng đèn cũ hoặc hư, nên thay bằng loại tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là loại bóng điện huỳnh quang (CFL – compact fluorescent light), loại này chỉ tốn ¼ điện năng và tuổi thọ gấp 10 lần, đồng thời cũng là tiết kiệm tiền bạc. Lưu ý: Khi không sử dụng các thiết bị điện nữa, hãy tắt đi!
     4. Dùng giấy. Hãy dùng giấy thay cho ni-lông. Dùng túi giấy để đựng hoặc dùng giấy để gói vừa đẹp vừa có lợi cho môi trường. Giấy luôn thân thiện với con người.
     5. Tiết kiệm nước. Nước rất cần cho con người, nhất là nước sạch. Hãy tắm rửa hoặc giặt giũ hợp lý, đừng lãng phí nước. Hãy sửa ngay những vòi nước rò rỉ. Tiết kiệm nước là bảo vệ cuộc sống cho chính mình.
Và còn nhiều thứ khác mà chúng ta cần tập cho quen dần. Có hệ lụy này: Lặp lại nhiều lần sẽ thành thói quen, thói quen sẽ tạo tính cách, và tính cách có thể tạo số phận!
Chúng ta không chỉ cố gắng cải thiện sai lầm vì đã làm hại thiên nhiên quá nhiều, mà chúng ta còn phải tích cực bảo vệ môi trường. Vì đó là cách chúng ta tự bảo vệ chính mình.
Nước rất mềm, lửa rất yếu, nhưng khi nước và lửa “nổi điên” thì không ai có thể cưỡng lại. Chúng ta đã “chọc giận” thiên nhiên nên thiên nhiên đang “trừng phạt” chúng ta. Hãy tạ tội với thiên nhiên bằng cách cố gắng tích cực bảo vệ môi trường!
Môi trường liên quan sự sống không chỉ của con người mà còn liên quan sự sống của mọi sinh vật – dù con người và sinh vật đó TỐT hay XẤU, LÀNH hay DỮ. Cuốn “Tóm lược Học thuyết Xã hội Công giáo” (còn gọi là Giáo huấn Xã hội Công giáo) đã dành hẳn chương X (số 451-487) để bàn luận về vấn đề bảo vệ môi trường. Điều đó chứng tỏ Giáo hội Công giáo rất quan tâm vấn đề môi trường.
Giáo hội nhắc nhở chúng ta nên nhìn về tương lai một cách hy vọng, dựa vào giao ước mà Chúa liên tục lặp lại. Trong Cựu ước, dân Israel sống niềm tin trong một môi trường được xem là tặng phẩm của Thiên Chúa. Chính thiên nhiên là công trình sáng tạo của Thiên Chúa, vì thế thiên nhiên không phải là ác thù. Ngài đặt con người lên đỉnh công trình sáng tạo và giao cho con người chịu trách nhiệm về toàn thể thụ tạo, nghĩa là phải quản lýchăm sóc thụ tạo. Thế mà con người lại làm ngược lại thiên lệnh, cứ tàn phá thiên nhiên không hề nương tay!
Trong Tân ước, Đức Giêsu đến khai mở một tân thế giới, trong đó mọi sự đều phục tùng Ngài. Chính Ngài tái tạo, đem lại sự hài hòa cho những mối quan hệ, và lập lại trật tự đã bị tội phá vỡ. Công đồng Vatican II cũng khẳng định: “Con người có lý khi nhận định rằng nhờ trí khôn của mình, con người vượt lên trên vũ trụ vật chất, vì được chia sẻ ánh sáng của trí khôn của Thiên Chúa”. Nhờ khoa học phát triển và công nghệ tiên tiến, con người càng ngày càng làm chủ, hầu như trên cả thiên nhiên, và chắc hẳn còn tiến bộ thêm nữa. Chuyện lên mặt trăng là bất khả thi và hão huyền đối với ngày xưa, nhưng ngày nay chỉ là “chuyện nhỏ”, và người ta còn muốn khám phá Hỏa tinh nữa. Trí thông minh đó của con người chắc chắn do Thiên Chúa ban cho.
Con người có thể khai thác các tài nguyên thiên nhiên để phát triển sự sống, nhưng không được thái quá một cách vô tội vạ. Nếu không, con người tự chuốc họa vào thân. Rõ ràng là con người đang lãnh hậu quả: Động đất, sóng thần, thủng tầng ô-dôn, bệnh tật tràn lan,…
Bảo vệ môi trường là bảo vệ Ngôi Nhà Chung của nhân loại, ngôi nhà của chính mình; bảo vệ môi trường là duy trì công trình sáng tạo của Thiên Chúa, không bảo vệ môi trường là phá hoại công trình sáng tạo của Thiên Chúa, phá hoại thiên nhiên, hủy hoại sự sống của nhân loại, mà hủy hoại sự sống là trọng tội!
Lạy Chúa, chúng con thành tâm xin lỗi Chúa, xin biến đổi chúng con từ trong tư tưởng, xin tạo cho chúng con trái tim trong sạch và ban lại cho chúng con niềm vui Ơn Cứu Độ. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

Tản mạn về… Thằng Cuội

Mỗi dịp Trung Thu về, gọi là Tết Nhi Đồng, chắc hẳn rất ít người không biết ca khúc “Thằng Cuội” của cố NS Lê Thương (*): Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ. Cuội ơi! Ta nói Cuội nghe, ở cung trăng mãi làm chi?

Bài này khá xưa (không biết “xưa” là bao nhiêu năm), tôi đã biết và hát khi tôi còn nhỏ, nhưng ngày nay vẫn phổ biến. Giai điệu nhẹ nhàng, ý tưởng ngộ nghĩnh, rất thích hợp với nhi đồng. Ngày xưa, dù còn nhỏ (dĩ nhiên chưa hiểu hết) nhưng tôi cũng đã rất “ấn tượng” (theo nghĩa bình thường của một thiếu nhi) với ca khúc này. Lý do là tôi cứ cố gắng hiểu mà không thể hiểu thấu. Phải nói rằng tôi cảm thấy đó là ý tưởng thật “độc đáo” – với thâm ý khâm phục thực sự, mà chỉ ráng hiểu mà không hiểu, vậy mới “độc đáo”!

Tôi không biết rõ NS Lê Thương – cả thân thế và sự nghiệp, mà chỉ biết danh tiếng của ông. Thời đó mà ông viết được một ca khúc như vậy thì quả là biệt tài và hiếm thấy. Không biết ông sáng tác ca khúc này lúc ông bao nhiêu tuổi, nhưng với ông chắc hẳn không có “ẩn ý” gì. Và cách nói thời đó tất nhiên còn “thô thiển”, vì quá chân thật (đúng ý nghĩa “chân thật” của sự chân thật). Ít nhiều ông cũng ảnh hưởng “chế độ quân chủ”, đó là lẽ tất nhiên. Tuy nhiên, nếu công tâm so sánh với cách nói ngày nay thì thực sự có “khác” hơn nhiều – thậm chí là “không thể chấp nhận”.

“Khác” gì? Chúng ta thử nghĩ xem, cách gọi “thằng Cuội già” nghe có ổn không? Đã gọi là “thằng” mà lại “già”, rồi lại xưng mình là “ta”. Một em bé tuổi nhi đồng mà gọi “người lớn” là “thằng” và xưng “ta” thì đứa bé đó sẽ bị coi là thế nào? Việt ngữ có một số từ “không đẹp” dành cho một đứa trẻ như vậy: Hư hỏng, hỗn láo, đổ đốn, vô giáo dục, mất dạy,… Và tại sao gọi “thằng Cuội” mà lại gọi “chị Hằng”? Đại từ “thằng” và “chị” không tương xứng với nhau! Tất nhiên tôi không dám “phê bình” NS Lê Thương hoặc “lạm bàn” điều gì mà chỉ muốn nêu lên “thắc mắc” hoàn toàn mang tính văn hóa và theo ngu ý cá nhân mà thôi. Rất mong các minh ý của chư huynh!

Nếu sống và sáng tác ca khúc “Thằng Cuội” ở thế kỷ này, thiết tưởng NS Lê Thương có thể sẽ “sửa” lại là: Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có chàng Cuội già, ôm một mối mơ. Cuội ơi! Em nói Cuội nghe, ở cung trăng mãi làm chi?.

Quả thật, cũng nên “thay đổi” lắm, chí ít là theo phép lịch sự tối thiểu, vì chúng ta vẫn muốn trẻ em ngoan ngoãn và lễ phép kia mà! Chúng ta giáo dục trẻ em sống ngoan ngoãn, lễ phép với mọi người, thế mà lại “dạy” chúng gọi người lớn là “thằng” và xưng mình là “ta” thì thật là quá bất ổn! Các bạn nghĩ sao?

TRẦM THIÊN THU

(*) NS Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8-1-1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng ông sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Theo hồi ký của NS Phạm Duy, NS Lê Thương sinh năm 1913 và là thầy tu xuất.
Năm 1935, NS Lê Thương hành nghề dạy học ở Hà Nội, sau đó ông chuyển về dạy ở Hải Phòng. Ông cùng các nhạc sĩ Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng, hay theo ban kịch đi hát tại Hà Nội, Vĩnh Yên. Họ cũng là những hướng đạo sinh và hay tổ chức đi cắm trại hay đi hát tại các tỉnh lân cận bằng xe đạp.
Năm 1941, ông vào miền Nam. Ban đầu ông ở An Hóa, tỉnh Bến Tre, sau đó ông chuyển về sống tại Saigon. Tuy là một nhạc sĩ tài danh, nhưng nghề chính của ông là dạy học. Ông từng là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng từng là giáo sư Pháp ngữ tại trường trung học Pétrus Ký vào thập niên 1960. Ông cũng từng làm công chức ở Trung tâm Học liệu, bộ Quốc Gia Giáo Dục trước năm 1975. Ông mất năm 1996 tại Saigon.

 

DongCongNet 22-9-2012+ 2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)