dongcong.net
 
 


Lễ Giáng Sinh B : Trầm Thiên Thu

 

Câu chuyện giáng sinh
(Lễ Giáng Sinh, lễ đêm)

Hơn hai ngàn năm qua, câu chuyện Chúa giáng sinh vẫn luôn là đề tài nóng hổi đối với mọi người – dù lương hay giáo, kể cả người vô thần. Câu chuyện Chúa giáng sinh không còn là chuyện riêng của Công giáo hoặc Kitô giáo, mà là câu chuyện mang tính quốc tế, toàn cầu. Lễ Giáng Sinh có điều gì đó kỳ diệu, khó tả, ai cũng phải công nhận điều này.

Thật vậy, trong cái se lạnh hoặc giá lạnh (tùy vùng hoặc quốc gia), lòng người chợt lắng đọng, và có cái gì đó chộn rộn theo ánh đèn chớp nháy trên cửa các nhà dọc theo đường đi, từ thành thị tới thôn làng. Tiếng nhạc chuông leng keng khiến người ta không thể bình lặng như những ngày thường khác. Những bài nhạc đời liên quan Chúa giáng sinh vang lên khắp nơi. Nào là thánh ca: “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” (Hang Belem – cố NS Hải Linh), nào là nhạc đời: “Một mùa sao sáng, đêm Noel Chúa sinh ra đời…” (Mùa Sao Sáng – cố NS Nguyễn Văn Đông). Tất cả đều hướng về Con Thiên Chúa nhập thể và nhập thế.

Và tất cả như hợp lời với các thiên thần trong đêm xưa: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14). Đêm Con Thiên Chúa giáng sinh là đêm thánh, đêm hồng phúc, đêm an bình, đêm giao hòa đất trời.

Vương Nhi Giêsu là Đấng bảo vệ Chân Lý và Công Lý, Ngài đến để giải thoát những người thấp cổ, bé miệng, bị áp bức, kêu chẳng ai thèm nghe. Kinh Thánh đã xác định: “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm. Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an. Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa” (Is 9:2-4).
Con người luôn có “máu yêng hùng”, muốn chứng tỏ bản lĩnh của mình, khởi đi từ Lòng Tự Ái. Cái Tôi lớn lắm, nên trong Anh ngữ, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít luôn Viết HOA là I [ai]. Ghê thật! Đáng sợ thật! Vì thế mà người ta luôn muốn đè bẹp người khác bằng nhiều cách, với những kiểu rất tinh vi, khó có thể nhận ra. Đè bẹp nhau, trù giập nhau là áp bức nhau.

Cái thói kiêu ngạo đã ăn sâu vào máu thịt con người từ khi Ông Bà Nguyên Tổ phạm tội, và chúng ta “được” di truyền cái “tố chất” đó. Khó nhất là “từ bỏ mình”. Từ đó, nhân loại trở nên bất an, bất bình, bất công, không còn hòa bình vì không tôn trọng công lý, do đó Thiên Chúa Cha phải sai chính Con Một Ngài đến giải thoát những người bị áp bức: “Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó. Chúa Thượng đã gửi một lời đến Gia-cóp, lời ấy rơi xuống Ít-ra-en” (Is 9:6-7).

Liên quan tội lỗi và thói kiêu ngạo, đại nhân Khổng Tử phân tích thật chí lý: “Đạo làm quân tử có bốn điều đúng: [1] Mạnh dạn khi làm điều nghĩa, [2] Nhũn nhặn khi nghe lời can gián, [3] Lo nghĩ khi nhận bổng lộc, [4] Cẩn thận đối với việc sửa mình”. Làm người cho đúng danh nghĩa thật là khó, càng làm lớn càng khó “nên người”. Đừng ảo tưởng!
Con Thiên Chúa đến thế gian, chia vui sẻ buồn với chúng ta, niềm hạnh phúc quá lớn lao đối với phàm nhân chúng ta! Vâng, chắc chắn không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng như vậy, nên tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu! Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người” (Tv 96:1-3).

Không chỉ con người mới là thụ tạo, các loài khác cũng là thụ tạo của Thiên Chúa, vì thế chúng cũng có trách nhiệm phải tôn vinh Ngài: “Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng, biển gầm vang cùng muôn hải vật, ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ. Hỡi cây cối rừng xanh, hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa, vì Người ngự đến, Người ngự đến xét xử trần gian. Người xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo chân lý của Người” (Tv 96:11-13).

Chỉ có Đấng chí minh và chí thiện mới có quyền xét xử, Đấng đó là Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng Cứu Tinh.

Tất cả là hồng ân, chúng ta được lãnh nhận “miễn phí” thì chúng ta cũng phải trao tặng cho tha nhân như vậy. Chúng ta cũng không có quyền đòi hỏi hoặc áp đặt Thiên Chúa theo ý mình. Ơn Cứu Độ là do Lòng Thương Xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa được ứng nghiệm tỏ tường từ đêm Con Thiên Chúa giáng sinh – đêm hồng phúc kỳ diệu.

Thánh Phaolô nói: “Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2:11-12). Thiên Chúa đã ban Ơn Cứu Độ, chúng ta có được cứu độ hay không là tùy thuộc chính chúng ta, vì Thiên Chúa cho chúng ta quyền tự do. Thánh Phaolô giải thích: “Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang. Vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện” (Tt 2:13-14). Quả thật, theo Chúa không thể cứ tà tà mà đi, cứ ung dung mà sống, chắc chắn không thể cứ thoải mái vô tư được. GIỮ ĐẠO quá dễ, SỐNG ĐẠO khó lắm!

Tác giả đã dày dạn kinh nghiệm nên luôn cầu xin: “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con. Sớm hôm con những cậy trông Ngài, bởi vì Ngài nhân ái” (Tv 25:4-5). Dĩ nhiên chúng ta cũng không thể làm gì khác hơn!

Trình thuật Lc 2:1-14 quá quen thuộc, chí ít thì mỗi năm chúng ta cũng được nghe một lần. Càng nhiều tuổi thì càng nghe nhiều. Trình thuật ngắn gọn nhưng hàm chứa cả câu chuyện giáng sinh.

Thánh sử Luca cho biết: Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đa-vít tức là Belem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đa-vít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.

Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. Các mục đồng thật diễm phúc và họ là các chứng nhân đầu tiên về việc Con Chúa giáng sinh làm người. Họ diễm phúc vì họ đơn sơ, thật thà, hèn mọn,…

Và rồi bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14). Để đúng luật thơ lục bát, người Việt có cách nói: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Cũng cùng ý nghĩa của Kinh Thánh. Nhưng câu này khiến chúng ta suy tư: Tôi có xứng đáng được Chúa thương? Tôi đã thiện tâm chưa mà đòi Chúa thương?

Đêm nay, nhìn vào hang đá, chúng ta thấy Thiên Chúa cao sang bậc nhất, thế mà Ngài chấp nhận sinh ra trong cảnh nghèo hèn tới mức không thể nghèo hèn hơn. Bài học nghèo thật khó học! Một phần khó học thuộc “bài học nghèo” vì cách làm hang đá ngày nay sang trọng quá, nhìn vào cứ ngỡ là khách sạn cao cấp. Do đó, ý tưởng về sự nghèo khó dần dần trở nên lỗi thời, nhất là trong xã hội ngày nay, người ta coi trọng vật chất và đánh giá con người qua hình thức bề ngoài. Đệ Nhất Hàn Vương Giêsu dạy chúng ta bài học nghèo, nhân đức nghèo khó, nhưng người ta lại “ngại” học bài học này!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết chấn chỉnh tâm hồn thành thiện tâm để xứng đáng được Ơn Bình An của Chúa Hài Đồng. Xin giúp chúng con sống nhân đức khó nghèo đúng Tôn Ý Ngài. Xin thương ban phúc lành cho nước Việt Nam nhỏ bé của chúng con vẫn còn chịu nhiều bất công xã hội. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Nhi Giêsu, Đấng Kitô cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Ánh Sáng Giáng Sinh
(Lễ Giáng Sinh, lễ rạng đông)

Bóng tối không thể ở nơi nào có ánh sáng. Đêm đen phải lùi xa khi ánh bình minh sáng ngời. Bóng đen tội lỗi phải biến mất khi Ánh Sáng Giáng Sinh xuất hiện. Vâng, thật hạnh phúc vì hôm nay sự sáng chiếu giãi trên chúng ta, và Chúa đã giáng sinh cho chúng ta.
Ngày xưa, giữa đêm đen thăm thẳm, trong hơi sương giá rét, Ánh Sao Lạ đã xuất hiện làm dấu chứng để các mục đồng nhận biết nơi sinh của Đấng Cứu Độ. Ngày nay, chúng ta cũng thực sự hạnh phúc vì có Ánh Sao Lạ dẫn đường: Ánh Sáng Đức Tin. Nhờ đó, chúng ta nhận biết Hài Nhi Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng hóa thành nhục thể để cứu độ chúng ta. Chính Ngài là Ánh Sáng Cứu Độ dẫn chúng ta về với Thiên Chúa Cha.
Hôm nay, niềm hạnh phúc đó đang tràn đầy thế giới, từ đất tới trời, và ngập cõi lòng những người thành tâm thiện chí. Niềm vui cứ ngồn ngộn!
Niềm vui sướng vỡ òa khắp nơi, như ngôn sứ Isaia đã nói: “Đây là lời Đức Chúa loan truyền cho khắp cùng cõi đất: Hãy nói với thiếu nữ Sion: Kìa ơn cứu độ ngươi đang tới. Kìa phần thưởng của Người theo sát một bên, và thành tích đi ngay trước mặt. Chúng sẽ được gọi là dân-thánh, là những-người-được-Đức-Chúa-cứu-chuộc. Còn ngươi sẽ được gọi là cô-gái-đắt-chồng, là thành-không-bị-bỏ” (Is 62:11-12). Những người hạnh phúc đó chẳng ai xa lạ, đó cũng là chính chúng ta ngày nay. Thế thì làm sao chúng ta lại không vui sướng cho được!
Hài Nhi Giêsu nơi hang đá Belem là Con Thiên Chúa, là Đấng Emmanuel, Đấng ở cùng chúng ta. Hãy chứng tỏ niềm vui đó và mời gọi muôn vật cùng đồng thanh tán dương: “Chúa là Vua hiển trị, hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên, vui đi nào, ngàn muôn hải đảo!” (Tv 97:1). Chứng cớ không mơ hồ, vừa mặc nhiên vừa minh nhiên: “Trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực, hết mọi dân được thấy vinh quang Người” (Tv 97:6). Không nhận ra Thiên Chúa qua vạn vật chỉ vì người ta cố chấp hoặc cố ý nhắm mắt làm ngơ mà thôi.
Niềm vui tăng dần, hạnh phúc trào dâng như triều cường: “Ánh sáng bừng lên chiếu rọi người công chính, niềm vui làm rạng rỡ kẻ lòng ngay. Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng tưởng nhớ Thánh Danh mà dâng lời cảm tạ” (Tv 97:11-12). Vui mừng rồi phải biết tạ ơn. Rõ ràng tâm tình tạ ơn rất quan trọng, nhưng chúng ta lại thường quên điều này. Niềm vui đó rõ nét cả ở những người không tin Hài Nhi Giêsu là Con Thiên Chúa. Điều này thấy rõ ngay ở đời thường này.
Nhờ Ánh Sáng Đức Tin sáng soi từ khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, chúng ta trở thành tín hữu – những người “có niềm tin”. Là tín hữu thì cũng có những bổn phận chung và riêng, đơn giản nhất là sống đức tin. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậulòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới. Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3:4-6).
Dù trước mặt người đời, chúng ta có làm được những việc mà người ta cho là tài giỏi, nhưng cũng chẳng là gì đối với Thiên Chúa. Do đó, chúng ta không có lý do gì để mà vênh vang tự đắc hoặc kiêu ngạo. Nếu chúng ta có làm được điều gì hơn người khác thì cũng là nhờ ơn Chúa, có tài năng gì thì cũng là để phục vụ tha nhân, và luôn phải nhớ kỹ rằng “được nhiều thì bị đòi lại nhiều” (x. Mt 25:14-30; Lc 19:12-27). Đừng tưởng được nhiều thì sướng đâu đấy! Thánh Phaolô kết luận: “Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Kitô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời, như chúng ta vẫn hy vọng” (Tt 3:7).
Trình thuật Lc 2:15-20 là đoạn Kinh Thánh tiếp theo Tin Mừng lễ đêm Giáng Sinh. Trình thuật sáng nay đề cập các nhân chứng sống đầu tiên đối với việc Con Thiên Chúa giáng sinh làm người: Các mục đồng – những người nghèo khổ và hèn mọn trong xã hội.
Nửa đêm giá lạnh, chắc chắn con nhà nghèo thì quần áo không đủ ấm, thậm chí có thể cũng chẳng đủ no bụng chứ nói chi đồ ăn ngon, nhưng các mục đồng vẫn ngủ say sau một ngày chịu mệt mỏi vì phải chăn chiên, đường xa lại đồi núi hiểm trở, họ phải ngủ lại nơi hang động. Các mục đồng đang ngon giấc thì chợt tỉnh giấc vì đất trời khác thường, tiếng động và ánh sáng bao trùm, lại có các thiên thần xuất hiện, ngạc nhiên hơn là có tin lạ. Các mục đồng đơn sơ và thật thà nên dễ tin, nhưng không phải họ tin vô cớ.
Sau khi các thiên thần từ biệt họ để về trời, họ liền bảo nhau: “Nào chúng ta sang Belem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (Lc 2:15). Họ liền hối hả ra đi. Kinh Thánh dùng trạng từ “hối hả”, chứng tỏ họ đã tin nên mới đi ngay giữa đêm khuya, không so đo, không tính toán, không cần ngủ thêm nữa dù họ đang ngái ngủ vì dở giấc. Một bài học sống động về đức tin của các mục đồng khiến chúng ta phải tự xem lại đức tin của chính mình.
Khi đến nơi có Ánh Sao Lạ tỏa sáng trên cao, các mục đồng trực tiếp gặp Cô Maria, Chú Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Một gia đình quá nghèo, nói theo ngôn ngữ ngày nay là “nghèo rớt mồng tơi”. Te tua tơi tả thật! Nhưng họ vẫn tin, tin ngay, không một chút do dự. Thế mới lạ! Nếu là chúng ta, liệu chúng ta có đủ tin? Chưa chắc. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta yêu tha nhân, yêu cả kẻ thù, và làm điều gì cũng là làm cho Chúa, thế nhưng mấy ai thực sự nhìn thấy Chúa nơi những người nghèo khổ và hèn mọn mà hằng ngày chúng ta gặp? Đôi mắt Đức Tin của CP Mẹ Teresa Calcutta thật “sáng” khi Mẹ dặn các nữ tu: “Hãy phục vụ những người nghèo như phục vụ Đức Giêsu Kitô”. Còn chúng ta?
Các mục đồng không chỉ là chứng nhân về Con Thiên Chúa giáng sinh, là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo, mà có thể nói rằng họ là những “thầy dạy” về Đức Tin đối với chúng ta. Họ nhãn tiền thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Biết Chúa rồi, họ không giữ cho riêng mình, mà họ chia sẻ Chúa với người khác. Mà cũng thật lạ là khi nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên, nhưng họ tin. Những người này cũng có con mắt Đức Tin kỳ diệu, họ tin lời các mục đồng thuật lại chứ không cho rằng các mục đồng thế này hoặc thế nọ, họ không cần phải cân nhắc chi cả. Cả các mục đồng và những người nghe kể lại đều thấy lạ theo con mắt Đức Tin chứ không vì hiếu kỳ hoặc tò mò. Những bài học về Đức Tin thật đắt giá!
Thánh sử Luca cho biết thêm “sự lạ” khác: “Còn Cô Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Ghi nhớ và suy tư là hai động thái cần thiết, nhưng người ta lại thích hành động ngược lại. Im lặng và lắng nghe để Chúa Thánh Thần hành động, chứ không ba hoa chích chòe, nhiều chuyện như “bà Tám”.
Sự thật tỏ tường, các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ. Cuộc đời nghèo khổ của họ đã khiến Thiên Chúa động lòng trắc ẩn mà ban cho họ niềm hạnh phúc khôn tả, những người khác không thể có được. Nghèo khó là nhân đức, là con đường dẫn tới Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót.
Ánh Sáng Giáng Sinh đang chiếu tỏa khắp thế gian. Noel – Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, xin giúp chúng con biết sống đúng tinh thần nghèo khó, xin giúp chúng con nhận ra Chúa nơi những người bé mọn trong cuộc sống đời thường, đồng thời xin giúp chúng con biết mở rộng con tim và đôi tay đối với họ. Người là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Thiên Chúa Ngôi Ba, đến thiên thu vạn đại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

CÁC THÁNH ANH HÀI

Bạo chúa Hê-rô-đê

Nghe thấy tin đồn lạ

Về hài nhi bé nhỏ

Vừa mới được sinh ra

            Ông tá hỏa khi nghe

            Đó là Thiên vương lạ

            Ông vội lập mưu kế

            Để bảo vê ngai vàng

Lệnh thâm độc được ban

Vì đại vương nhỏ mọn:

“Trai hai tuổi trở xuống

Phải giết sạch, cấm tha”

            Vô tội bao hài nhi

            Bị giết chết oan nghiệt

            Bao người mẹ than khóc

            Vì oan ức, thương con

Ngày nay vẫn vô vàn

Ác tâm trong xã hội

Biết bao trẻ vô tội

Chết vì ý tiểu nhân

            Lạy Giêsu, Ngôi Con

            Ngài sinh trong nghèo khổ

            Đời con đầy nỗi sợ

            Xin cứu độ, Chúa ơi!

TRẦM THIÊN THU

Giáng sinh – 2011

HANG ĐÁ
Những hang đá lấp lánh
Những máng cỏ lung linh
Kỳ diệu đêm linh thánh
Con Thiên Chúa giáng sinh
Con như kẻ hành khất
Không hề có bạc vàng
Con chẳng có mộc dược
Cũng chẳng có nhũ hương
Biết lấy gì dâng Chúa
Bày tỏ niềm tri ân
Lấy gì làm bằng chứng
Tin kính Chúa chí nhân?
Con xin dệt khúc hát
Con xin kết lời thơ
Yêu thương và tha thứ
Xin dâng Chúa Hài Nhi
Dẫu là nơi chật hẹp
Đây hang đá tâm hồn
Con tin Chúa vui thích
Giáng sinh vào lòng con
Con vô vàn hạnh phúc
Được rước Chúa uy linh
Trong đêm lành thánh đức
Rộn rã niềm an bình
TRẦM THIÊN THU

ÁNH SAO LẠ
Từ hàng ngàn năm trước
Khi Chúa chưa giáng trần
Trời đất buồn hiu hắt
Con người sống lầm than
Ngày đêm hằng khao khát
Trong suốt mấy ngàn năm
Và vì Lòng Thương Xót
Nên Con Chúa giáng trần
Ô kìa, ánh sao lạ
Xuất hiện để dẫn đường
Mọi người nhận biết rõ
Chúa Giêsu Hài Đồng
Chúa dạy con nghèo khó
Yêu thương và đơn sơ
Phải tỏa ánh sáng lạ
Đến mọi người gần, xa
Xin cảm tạ Thiên Chúa
Đã ban tặng Ngôi Hai
Đến giao hòa, cứu độ
Nhan loại được sống vui
TRẦM THIÊN THU
Đêm Hồng Ân – 2011

HANG ĐÁ
Con lặng lẽ say ngắm nhìn Hang Đá
Một gia đình có Con và Mẹ Cha
Dù nghèo khó nhưng hạnh phúc chan hòa
Những ánh mắt nhìn nhau đầy tình cảm
       Mẹ lặng lẽ ôm Con và trìu mến
       Cha âm thầm, dáng nghiêm nghị, trầm tư
       Những mục đồng lăng xăng rất đơn sơ
       Đàn súc vật nhìn đáng yêu biết mấy!
Những ánh sao lấp lánh trong đêm tối
Tuyết phủ đầy, lạnh giá cả đất trời
Nhưng chan hòa bình an khắp nơi nơi
Vì đêm nay Con Chúa Trời giáng thế
       Phàm nhân ơi, thật là hạnh phúc quá!
       Chính Ngôi Lời đã đến với loài người
       Dù loài người hoàn toàn bất xứng thôi
       Không thể đủ từ ngữ mà diễn tả
Tâm hồn con xin được làm hang đá
Đón Giêsu Hài Đồng lúc hạ sinh
Lòng hôi tanh nhưng Chúa vẫn thương tình
Con vững tin Ngài đến để cứu độ
       Linh hồn con nhỏ nhoi một hang đá
       Nhân đức ít mà tội lỗi quá nhiều
       Nhưng khao khát trọn vẹn niềm tin yêu
       Xin Giêsu ở hang-đá-con mãi!
TRẦM THIÊN THU


KIẾP NGHÈO
Giêsu sinh ở ngoài đồng
Nghèo khó vô thường, chẳng thể nghèo hơn
Không nhà cửa, chẳng thân nhân
Không giường chiếu, chẳng chăn êm, quá nghèo!
Từng cơn gió lạnh đêm thâu
Tuyết sương giá buốt, gieo neo kiếp người
Ngài là Vua cả Đất Trời
Mà đơn nghèo thế, còn tôi thế nào?
Dám cầu xin Chúa cho giàu
Ăn sung mặc sướng, sớm chiều ung dung
Thấy ai lâm cảnh khốn cùng
Làm ngơ, quay gót, chẳng thương xót gì
Miệng leo lẻo bảo từ bi
Giả hình rõ nét, lấy gì biện minh?
Nhìn hang đã bỗng giật mình
Khốn thay một kiếp tội tình tôi đây
Xin thương, lạy Chúa muôn loài
Giúp con biến đổi từ nay thật lòng
Đừng ảo tưởng, chớ hoang đường
Hãy hành động, chớ nói suông bao giờ!
Lạy Ngài, xin cứu nguy mau
Con giàu tội lỗi mà nghèo nghĩa nhân!
TRẦM THIÊN THU
Giáng Sinh – 2014

 

TÂM SỰ VỚI ANH HAI GIÊSU

Anh Hai Giêsu ơi!

Sao Anh “ngược đời” quá

Không giống ai chi cả

Ai chịu nổi hả Anh?

            Em thương Anh đã đành

            Vì em là em út

            Cùng một cha mẹ thật

            Tình máu mủ, Anh ơi!

Nói thật, không nói chơi

Ai dám thương Anh chứ?

Vì Anh “ngược đời” quá

Và vì Anh quá nghèo

            Đêm tối không trăng, sao

            Cha Mẹ tìm chỗ trú

            Bị người ta đuổi cổ

            Khi Mẹ sắp sinh Anh

Khi đó em chưa sinh

Nghe kể mà em… tức

Sao người ta quá ác

Anh thành người đẻ rơi

            Nhà mình nghèo, chịu thôi

            Em biết Anh không giận

            Nói chi chuyện thù oán

            Nên em càng thương Anh

Thương Anh là thương mình

Đó là quà sinh nhật

Tặng Anh hòa hạnh phúc

Em mừng lắm, Anh ơi!

            Anh hóa thân làm người

            Chia sẻ nỗi nghèo khổ

            Em thương Anh thật đó

            Vì đời em giống Anh

Xin Anh ban an bình

Cho những người nghèo khổ

Em không xin phép lạ

Miễn Anh thương em thôi

TRẦM THIÊN THU

Viết khi Anh Hai sắp làm người – 20011

Chúa Nhật VUI
Các Chúa Nhật trong Năm Phụng Vụ đều có tên gọi bằng La ngữ theo Ca Nhập Lễ. Chúa Nhật Gaudete [phát âm là ɡaʊˈdeɪteɪ] là Chúa Nhật Vui, Chúa Nhật III Mùa Vọng.
Câu Pl 4:4-6 và Tv 85[84]:1 dùng trong Ca Nhập Lễ của Chúa Nhật III Mùa Vọng, mở đầu là chữ Gaudete – Hãy vui lên:

Gaudete in Domino semper:  iterum dico, gaudete. Modestia vestra nota sit omnibus hominibus: Dominus enim prope est. Nihil solliciti sitis: sed in omni oratione petitiones vestræ innotescant apud Deum. Benedixisti Domine terram tuam: avertisti captivitatem Jacob”Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: Vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Lạy Chúa, Ngài đã tỏ lòng thương thánh địa, tù nhân nhà Gia-cóp, Ngài dẫn đưa về”.
Chúa Nhật III Mùa Vọng là Chúa Nhật Vui vì chúng ta đã đi được nửa chu kỳ Mùa Vọng, ngày Đức Kitô đến gần rồi. Chúa Nhật này khuyến khích chúng ta tiếp tục canh tân tâm hồn, dọn “đường lòng” cho Chúa đến, đó là phải chân thành chay tịnh và cầu nguyện.
Trong Mùa Vọng, ngọn nến thứ ba của Vòng Lá Mùa Vọng được thắp sáng vào Chúa Nhật Vui. Theo truyền thống, ngọn nến này có màu hồng.
Chúa Nhật Vui (Gaudete) của Mùa Vọng, còn Mùa Chay có Chúa Nhật Mừng (Laetare – với câu Is 66:10-11). Lễ phục của hai Chúa Nhật này đều là màu Hồng, màu của sự Vui Mừng.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Catholicism.about.com)

 

Bạn biết gì về Chúa giáng sinh?
ROB KERBY

1. Không có phòng trọ? Đức Thánh Giuse và Đức Maria bị chủ nhà trọ nhẫn tâm từ chối vì thấy Đức Maria sắp lâm bồn, thế nên Thánh Gia phải lặn lội ra chốn đồng hoang? Câu “hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2:7) thường được hiểu theo nghĩa là Đức Thánh Giuse và Đức Maria không thể tìm được khách sạn hoặc nhà nghỉ tròng thành phố. Nhưng điều này rất khả nghi. Belem là một ngôi làng nhỏ không có những con đường lớn. Do đó nhà nghỉ của du khách chắc là không có.

2. Sinh nơi máng cỏ? Frank Viola và Leonard Sweet, đồng tác giả cuốn “Jesus: A Theography” (Chúa Giêsu: Sự Tôn Thờ Thần Thánh), cho biết: “Thánh Luca không dùng từ phổ thông dành cho lữ quán hoặc khách sạn nhỏ [hotel inn, pandeion] mà dùng bất cứ nơi nào. Thay vì vậy, ngài dùng từ có nghĩa là nhà khách [guest room, kataluma]. Ngài cũng dùng từ đó để diễn tả nơi Chúa Giêsu ăn Bữa Tiệc Ly. Rất có thể vì Belem là quê hương của Đức Thánh Giuse và có thân nhân ở đó. Vì cuộc điều tra dân số xảy ra vào thời gian đó, không thân nhân nào của ngài có phòng cho khách. Phòng khách chủ yếu ở trước nhà và chuồng súc vật ở sau nhà hoặc ở dưới nhà (như hang động)”.

3. Súc vật ở dưới thấp? Frank Viola và Leonard Sweet cho biết: “Trong gia đình, vào ban đêm, súc vật được nuôi và bảo vệ khỏi lạnh, kẻ trộm và thú dữ. Do đó, có thể Đức Thánh Giuse và Đức Maria ở khu dưới nhà hoặc sau nhà – nơi súc vật ở. Rất có thể súc vật được di dời khi Thánh Gia ở đó. Kinh Thánh không nói tới súc vật khi Chúa giáng sinh. Thánh Phanxicô được coi là người đầu tiên làm cảnh hang đá có những con vật”.

4. Ba vua? Chúng ta nghe nói tới Ba Vua – với tên của họ là Melchoir, Balthazar và Gaspar. Trong bộ sách bán chạy là “Jesus Manifesto, From Eternity to Here, Revise Us Again, and Reimagining Church” (Tuyên ngôn của Chúa Giêsu, từ Muôn thuở tới Ngày nay, Xem xét lại và Tái mô tả Giáo hội), Frank Viola viết: “Không có vua nào trong câu chuyện Chúa giáng sinh”. Từ ngữ “magi” (đạo sĩ, pháp sư) KHÔNG xuất hiện trong Kinh Thánh, và cũng KHÔNG là tên gọi của các vị khách. Hơn nữa, chúng ta không biết chắc có bao nhiêu người – chỉ là họ đem theo ba thứ: vàng, hương trầm (nhũ hương) và mộc dược. Họ không là những ông vua như người ta tưởng. Họ là các tư tế Đông phương chuyên về nghệ thuật bí truyền (esoteric arts), giải mộng, chiêm tinh, nhìn súc vật mà đoán tương lai, v.v... Họ là các nhà tư vấn hoặc cố vấn cho hoàng gia. Có thể do nghiên cứu Chúa Giêsu mà họ tới Giêrusalem. Họ cần sự mặc khải đưa họ tới Belem. Các “đạo sĩ” tới triều kiến Tân Vương Nhi có thể thấy ngạc nhiên khi họ phát hiện Ngài sinh ra ở nơi nhốt súc vật. Chúng ta cũng không chắc có bao nhiêu “đạo sĩ” tới Belem để thờ lạy Chúa Giêsu, chỉ nói ở “số nhiều” (các, những, họ). Bản văn chỉ nói rằng họ đem theo ba lễ vật. Ngoài ra, Thánh sử Matthêu cho chúng ta biết rằng họ chỉ đến sau khi Chúa Giêsu giáng sinh. Có thể họ đến và ở lại vì vua Hêrôđê “quan ngại” về các trẻ nam từ sơ sinh tới hai tuổi, nên ông ra lệnh giết hết.

5. Kẻ giết các hài nhi? Frank Viola nói rằng khi vua Hêrôđê ra ác lệnh, hằng ngàn người mẹ Do Thái đã than khóc vì bị mất con. Nhưng cũng chưa chắc. Vì Belem rất nhỏ bé, số trẻ em tới hai tuổi rất ít – có thể chỉ khoảng 10 trẻ. Sau cuộc tổng điều tra, có thể Thánh Gia rời chỗ súc vật và ở trong phòng dành cho khách cùng với các thân nhân khi các “đạo sĩ” tới. Thánh sử Matthêu cho biết: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2:11).

6. Thiên thần đồng ca? Trình thuật Lc 2:13-14 cho biết: “Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Bản văn không nói các thiên thần hát vang. Không chắc họ có hát như vậy hay không. Hánh Luca nói rằng “thiên sứ hiện ra với các mục đồng”. Có thể các thiên thần hiện ra trên cánh đồng với các mục đồng, rồi “bất ngờ thiên binh xuất hiện hợp với các thiên thần ca tụng Thiên Chúa...”. Có thể cả cánh đồng đầy các thiên thần vây quanh các mục đồng và hợp lời ca tụng Thiên Chúa. Một cảnh thật ngoạn mục!

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Hang đá giáng sinh đầu tiên
Giáng Sinh về, người ta trang trí nhiều thứ, nhưng đặc biệt nhất vẫn là Hang Đá. Hang đá không chỉ là vật trang trí để gợi nhớ cảnh giáng sinh nghèo khó của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, mà còn ngụ ý dạy chúng ta phải khiêm nhường, sống nghèo khó và bác ái với những người có cuộc sống thiếu thốn hơn mình.
Dịp lễ Giáng Sinh, khách hành hương nườm nượp tới Greccio (Ý), nơi Thánh Phanxicô Assisi đã làm máng cỏ đầu tiên vào năm 1223. Thánh Phanxicô Assisi là người sống nghèo khó đúng theo nghĩa đen chứ không chỉ “tinh thần” mà thôi. Khi qua đời, ngài yêu cầu các tu sĩ Dòng Phanxicô cởi bỏ hết trang phục để ngài được hoàn toàn nên giống Chúa Giêsu.
Khi đó, Thánh Phanxicô nhớ lại cuộc viếng thăm Belem những năm trước, nên ngài quyết định làm hang đá như ngài đã thấy. Có là một cái hang ở Greccio, vào dịp lễ Giáng Sinh, ngài tìm một em bé đặt vào máng cỏ, có cả bò và lừa đứng bên máng cỏ. Người ta đồn tin này khắp vùng lân cận. Họ cùng nhau đem đuốc và nến tới để được thấy hang đá như thật. Từ đó, người ta có truyền thống làm hang đáng mừng Chúa giáng sinh hằng năm.
Khi một tu sĩ linh mục dâng lễ, Thánh Phanxicô giảng lễ. Tác giả Thomas ở Celano, người viết tiểu sử Thánh Phanxicô, nói rằng lúc đó Thánh Phanxicô “đứng trước máng cỏ, cúi mình trước Hài Nhi với lòng yêu mến và hạnh phúc lắm”. Đối với ngài, cử hành nghi thức giản dị để nhớ và học bài học nghèo mà Chúa Giêsu đã cam chịu vì yêu thương chúng ta. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, thế mà Ngài sinh ra trong cảnh nghèo khó, tự hạ đến tận cùng. Ngài là Thiên Vương mà chấp nhận mặc xác phàm, sinh ra là một Hài Nhi như chúng ta.
Thế nhưng, ngày nay người ta đua nhau làm hang đá đồ sộ và sang trọng quá, nhìn như “khách sạn” vậy, mất hẳn ý nghĩa nghèo khó của tinh thần lễ Giáng Sinh. Tại Saigon, đã từng có giáo xứ chi phí vài chục triệu đồng làm hang đá, thậm chí có nơi chỉ dựng một cây thông mà tốn cả trăm triệu đồng! Chúa có vui không khi xung quanh chúng ta còn biết bao người nghèo, chịu cảnh sống mỏi mòn từng ngày? Đó không là lãng phí sao? Người ta vẫn biện hộ là “làm vinh danh Chúa”, có thật như vậy hay là “vinh danh” chính mình?
Nhưng có giáo xứ không quan trọng bề ngoài, họ tổ chức Tiệc Giáng Sinh cho những người cơ nhỡ. Gọi là “tiệc” cho sang chứ chỉ là tô bún bò hoặc phần ăn gì đó, loại cơm bánh để ăn cho no chứ không là bánh kẹo ăn cho “vui miệng”. Thực tế như vậy thì chắc hẳn Chúa Hài Đồng vui lắm, và Ngài sẽ chúc lành. Thật đáng khâm phục những “đầu óc” biết nghĩ như vậy!
Khi phán xét, Chúa không nhắc tới chuyện này hoặc chuyện nọ, thậm chí cả tội lỗi tày trời của chúng ta mà Chúa cũng “làm ngơ”. Nhưng Ngài rất nghiêm khác về việc bác ái. Chúa khen những người ở bên phải: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25:35-36). Với những người đứng bên trái, Ngài cũng nói tương tự, nhưng “nổi bật” là có chữ KHÔNG.
Liên quan vấn đề bác ái, một lần khác Chúa Giêsu nói: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mt 10:42). Những việc rất nhỏ mọn mà lại quan trọng. Người phàm cũng có câu nói rất hay: “Của cho không bằng cách cho”.
Giáng Sinh lại về, bạn cảm nhận gì về chuyện hang đá?
Đêm Giáng Sinh, bạn có cùng các con quây quần bên hang đá để học bài học khiêm nhường của Thiên Chúa, cùng đón nhận Hài Nhi Giêsu ngự vào “máng cỏ” tâm hồn của mỗi thành viên trong gia đình, và lãnh nhận phúc lành bình an của Ngài? Bạn thích diện đẹp và đi chơi vi vút, tiệc tùng linh đình, hay bạn làm gì? Bạn có đủ can đảm nên giống Hài Nhi Giêsu? Nếu còn trẻ, bạn có thấy thương cha mẹ nhịn mọi thứ để bạn bằng anh, bằng chị, “đẹp mặt” với bạn bè, với xã hội?
Từ trên cao, ca đoàn Thiên Thần hợp xướng bản Đại Hợp Xướng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14). Hạnh phúc lan tỏa, lan tỏa tới mọi người…

TRẦM THIÊN THU
Mùa Giáng Sinh 2014

MỪNG GIÁNG SINH
Mừng sinh nhật của Vua Nghèo
Chợt thương những kẻ khổ đau, bần hàn
Ngôi Hai Thiên Chúa từ nhân
Hóa thành Nhục thể chung phần đau thương
Giêsu là Vị Thiên Vương
Đích thân Ngài đã nêu gương sáng ngời
Xót thương thân phận nhân loài
Giáng thế làm người cứu độ chúng ta
Mừng sinh nhật Chúa Giêsu
Là noi gương Chúa thương yêu người nghèo
TRẦM THIÊN THU

BÀI THƠ GIÁNG SINH
Giáng sinh hạnh phúc bao la
Tâm hồn rạo rực chan ḥòa niềm vui
Vui vì Con Chúa ra đời
Ban Ơn Cứu Độ những ai ngay lành
Tình Ngài cao cả vô ngần
Hồn say Ơn Thánh tinh thần thái an
Thiên thu bền vững mùa xuân
Hết rồi kiếp sống trầm luân hôm nào
Bây giờ đã thấy ánh sao
Đưa đường tìm Đấng Tối Cao muôn đời
Con quỳ lạy Chúa Ngôi Lời
Cho con biết sống trọn đời “xin vâng”
Tình Ngài cao cả muôn trùng
Sinh nơi hang đá vì thương nhân loài
Con quỳ lạy Chúa Ngôi Hai
Cho con biết sống trọn đời yêu thương
TRẦM THIÊN THU

CHIẾC BÓNG TRONG ĐÊM
Mùa Đông về trắng hơi sương
Lạnh không em bé bên đường trú đêm?
Tuổi xanh mà quá hom hem
Bóng in nhòa nhạt trên thềm phố khuya
Bước chân lạc lõng không nhà
Cuộc đời sao vẫn xa hoa vô tình!
Thương ai nên Chúa giáng sinh
Hai ngàn năm trước thiên tình Ngài trao
Là đây những kẻ khổ đau
Là kia người khoác áo sầu sờn vai
Xin đời mở rộng vòng tay
Giúp ai phải sống tháng ngày lang thang
TRẦM THIÊN THU

ĐÊM YÊU THƯƠNG
Đêm nay Con Chúa ra đời
Chấp nhận làm người vì quá thương yêu
Ngài sinh trong cảnh đơn nghèo
Ngài sinh giữa chốn hang sâu lạnh lùng
Ngài sinh trong khoảng mịt mùng
Giữa đêm thanh vắng điệp trùng mờ sương
Chỉ vì hai tiếng yêu thương
Thế nên Con Chúa trọn lòng xin vâng
Đất trời se kết chữ đồng
Dâng lời cảm tạ hòa chung tâm tình
Vinh danh Thiên Chúa thiên đình
Nhân loại an bình được Chúa yêu thương
TRẦM THIÊN THU

GIAO HÒA
Thánh Tử Giêsu đã giáng sinh
Mang thân bé nhỏ một sinh linh
Hang lừa máng cỏ nôi hèn hạ
Ngai báu Thiên Vương thắm nghĩa tình
Thiên Chúa Ngôi Hai thương cứu độ
Nhân gian tục lụy hưởng an bình
Giao hòa trời đất nhờ Ơn Chúa
Dâng trọn cuộc đời để đáp tình
TRẦM THIÊN THU

GIÁNG SINH
Thiên Tử giáng trần thương cứu độ
Thế nhân hạnh phúc đón hồng ân
Giêsu dẫu chính là Đức Chúa
Nhưng vẫn vui mang kiếp phàm nhân
TRẦM THIÊN THU

GIAO HÒA
Thánh Tử Giêsu đã giáng sinh
Mang thân bé nhỏ một sinh linh
Hang lừa máng cỏ nôi hèn hạ
Ngai báu Thiên Vương thắm nghĩa tình
Thiên Chúa Ngôi Hai thương cứu độ
Nhân gian tục lụy hưởng an bình
Giao hòa trời đất nhờ Ơn Chúa
Dâng trọn cuộc đời để đáp tình
TRẦM THIÊN THU

MỪNG SINH NHẬT ANH GIÊSU
Anh Giêsu dấu yêu
Cả đất trời nô nức
Mọi người đều hạnh phúc
Chờ đợi Anh hạ sinh
Dù Anh là Thiên Chúa
Nhưng Anh vẫn là Anh
Em ngỗ nghịch, lầm lỗi
Mà Anh luôn nhân lành
Làm Anh đâu phải dễ
Phải không Anh Giêsu?
Có người chê, kẻ ghét
Nhưng Anh vẫn bỏ qua
Vì cùng Cha, cùng Mẹ
Nên Anh thương em nhiều
Anh lại là Anh Cả
Chẳng chấp lách gì đâu
Chúc mừng Anh tuổi mới
Thêm nhiều người mến tin
Nay hơn hai ngàn tuổi
Những ngọn nến lung linh
Anh ơi! Em mong ước
Cả thế giới cùng nhau
Không phân biệt chi hết
Chỉ chung một tình yêu
Còn bao người đói khát
Được no ấm bình an
Nơi chiến tranh, hoạn nạn
Được thoát cảnh lầm than
Trần gian bao cảnh khổ
Đâu kể hết, Anh ơi!
Mong Anh thương cứu độ
Để em cũng thơm lây
Chúc mừng Anh sinh nhật
Em ước muốn… linh tinh
Chắc Anh cũng thông cảm
Vì em rất yêu Anh
Em chưa về Nhà được
Cho em gởi lời thăm
Chúc mừng Cha và Mẹ
Ngày hạnh phúc sinh Anh
Gởi thư qua mây gió
Vì Anh không dùng “meo”
Em đành “bó tay” vậy
Hẹn gặp Anh mai sau
TRẦM THIÊN THU

LỜI NGUYỆN ĐÊM GIÁNG SINH
Đêm nay Con Thiên Chúa
Giáng thế mặc xác phàm
Đem Hồng ân Cứu độ
Trao ban cho nhân trần
Đêm giao hòa trời đất
Nối kết sợi yêu thương
Cho muôn lòng bừng nở
Tươi rạng rỡ đóa hồng
Xin cho người lữ khách
Về kịp chuyến quê nhà
Tâm hồn ai cô độc
Gặp được bến mong chờ
Xin cho bao trẻ nhỏ
Lang thang sớm vào đời
Kiếp khổ được nâng đỡ
Cho hết nỗi chơi vơi
Xin rộng tay bác ái
Mở thoáng lối trái tim
Cho tình người thắm lại
Không nhìn nhau vô tình
Dẫu mối thù truyền kiếp
Cũng hóa thành tình yêu
Niềm tin và tha thứ
Như Thánh ca vút cao
TRẦM THIÊN THU

LỜI NGUYỆN MÙA ĐÔNG
Lạy Thiên Chúa, Đấng muôn trùng cao cả
Ngài vĩnh viễn chí thiện và chí minh
Suốt thiên thu vẫn nhất mực công bình
Và thấu suốt nỗi lòng con trăn trở
Ngài nghèo khó để con được giàu có
Ngài lạnh lẽo để con được ấm lòng
Con hạnh phúc chan hoà giữa đêm đông
Dù đường đời vẫn còn nhiều gian khó
Những nỗi lo cứ đè nặng tim nhỏ
Lời hoàng hôn sao buồn quá, Chúa ơi!
Bình minh qua, đời con xế chiều rồi
Nặng hai vai : bên thơ và bên nhạc
Nửa đời qua là những bước lưu lạc
Nửa còn lại là hoài vọng thiên thu
Con dõi tìm chỉ một lối đi về
Nhưng, Chúa ơi, con tìm mà chưa gặp
Xin dẫn con đi về hướng sự thật
Gặp được Ngài là gặp được chính con
Để đời con : một viên-đá-cuội-mòn
Được nghỉ ngơi sau khi lăn nhiều dốc
TRẦM THIÊN THU

Đừng ngại!
(Lễ Giáng Sinh, lễ vọng)

“Đừng ngại” là lời động viên cần thiết khi có điều gì đó quan trọng mà chúng ta cảm thấy e ngại, thiếu tự tin, hoặc tình ngay mà lý gian. Đó là lời động viên về lòng can đảm. Giờ đây, chúng ta đang ở vào những giây phút cuối cùng của Mùa Vọng, chúng ta cần duy trì lòng can đảm để sống cho trọn nỗi mong chờ trong niềm hy vọng, vì Con Thiên Chúa sắp giáng sinh cho chúng ta và ở với chúng ta để chia vui sẻ buồn của kiếp người với chúng ta.
Kinh Thánh cho biết đã có những nhân vật quan trọng là các mẫu gương điển hình cho chúng ta về cách sống Mùa Vọng. Đó là ngôn sứ Isaia, người “mở đường” Gioan Tẩy Giả, ông già Simêon, bà tiên tri Anna,… và đặc biệt là Đức Maria. Các vị này đã can đảm sống trọn Mùa Vọng và đã được mãn nguyện. Hãy cố gắng tỉnh thức mà sống trọn Mùa Vọng này, kể cả Mùa Vọng của cuộc đời riêng và Mùa Vọng của ngày Chúa Giêsu quang lâm.
Ngôn sứ Isaia xác định: “Vì lòng mến Sion, tôi sẽ không nín lặng, vì lòng mến Giêrusalem, tôi nghỉ yên sao đành, tới ngày đức công chính xuất hiện tựa hừng đông, ơn cứu độ của thành rực lên như ngọn đuốc. Rồi muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi, mọi đế vương sẽ được ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng. Người ta sẽ gọi ngươi bằng tên mới, chính là tên miệng Đức Chúa đặt cho. Ngươi sẽ là ngọc miện huy hoàng trong lòng bàn tay Đức Chúa, sẽ là mũ triều thiên vương giả Thiên Chúa ngươi cầm ở tay” (Is 62:1-3). Các điều đó chắc chắn xảy ra ngay khi Con Thiên Chúa giáng sinh. Đó là hồng ân vô cùng lớn lao bởi lòng thương xót của Thiên Chúa, chứ không phải vì công trạng của chúng ta.
Con Thiên Chúa là Vua Chân Lý, Vua Công Lý, chính Ngài đích thân đến cứu thoát chúng ta. Khi đó, chúng ta sẽ được phóng thích, thoát mọi nỗi sầu khổ đúng theo giao ước: “Chẳng ai còn réo tên ngươi là đồ-bị-ruồng-bỏ!, xứ sở ngươi hết bị tiếng là phận-bạc-duyên-đơn, nhưng ngươi được gọi là ái-khanh-lòng-Ta, xứ sở ngươi nức tiếng là duyên-thắm-chỉ-hồng. Vì ngươi sẽ được Đức Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62:4-5). Kinh Thánh có cách ví von rất thực tế để chúng ta dễ hiểu theo trí tuệ phàm nhân.
Ngày xưa, Thiên Chúa đã phán: “Ta đã giao ước với người Ta tuyển chọn, đã thề cùng Đa-vít, nghĩa bộc Ta, rằng: Dòng dõi ngươi, Ta thiết lập cho đến ngàn đời, ngai vàng ngươi, Ta xây dựng qua muôn thế hệ” (Tv 89:4-5). Vì yêu thương, Thiên Chúa luôn muốn mọi điều tốt lành cho những ai tin kính Ngài, và điều gì được Ngài hứa thì sẽ trở thành hiện thực. Chắc chắn như vậy. Do đó, niềm tin và lòng trung thành rất quan trọng trong cuộc đời mỗi chúng ta!
Tác giả Thánh Vịnh cho biết: “Hạnh phúc thay dân nào biết ca ngợi tung hô; nhờ Thánh Nhan soi tỏ, họ tiến lên, lạy Chúa. Nhờ được nghe danh Ngài, họ suốt ngày hớn hở; bởi vì Ngài công chính, nên họ được hiên ngang” (Tv 89:16-17). Thật hạnh phúc khi chúng ta có Thiên Chúa luôn ở với chúng ta. Điều này càng rõ ràng hơn khi chúng ta biết chắc rằng đêm nay chúng ta sẽ được đón tiếp Con Thiên Chúa trở nên giống chúng ta về mọi lĩnh vực, chỉ trừ tội lỗi. Ngài yêu thương chúng ta quá đỗi, đến nỗi muốn nên giống chúng ta để chia sẻ mọi thứ với chúng ta.
Quả thật là niềm hạnh phúc quá lớn, niềm vui cứ nhân lên, vì chúng ta được làm con cái của Thiên Chúa: “Ngài chính là Thân Phụ, là Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con được cứu độ!” (Tv 89:27). Đó là sự thật, đừng ngại khi chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, là Thân Phụ: Abba! Tuy nhiên, được lãnh nhận bao điều tốt lành rồi, chúng ta không thể vô ơn, mà phải có nghĩa vụ đối với Thiên Chúa, nghĩa là chúng ta phải quyết tâm “yêu thương Người đến muôn thuở và thành tín giữ giao ước với Người” (Tv 89:29). Đó là điều hoàn toàn hợp lý! Người Việt chúng ta cũng nói rằng “ăn cây nào, rào cây nấy”, hoặc “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
Thánh Phaolô cũng đã xin mọi người lưu ý: “Thiên Chúa của dân Ít-ra-en đã chọn cha ông chúng ta, đã làm cho dân này thành một dân lớn trong thời họ cư ngụ ở đất Ai-cập, và đã giơ cánh tay mạnh mẽ của Người mà đem họ ra khỏi đó” (Cv 13:16-17). Chúng ta là con cháu, là hậu duệ, chúng ta cũng được thừa kế gia nghiệp của tiền nhân trong hồng ân Thiên Chúa, đặc biệt là mầu nhiệm cứu độ, khởi đầu từ mầu nhiệm giáng sinh. Điều đó sắp được ứng nghiệm, vì không lâu nữa, ngay đêm nay Đấng Em-ma-nu-en sẽ hóa thành nhục thể.
Hành trình Mùa Vọng của chúng ta sắp hoàn thành, hãy cố gắng thêm chút nữa thôi. Thánh Phaolô dẫn chứng: “Sau khi truất phế vua Sa-un, Người đã cho ông Đa-vít xuất hiện làm vua cai trị họ. Người đã làm chứng về ông rằng: Ta đã tìm được Đa-vít, con của Gie-sê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta. Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Ít-ra-en một Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu. Để dọn đường cho Đức Giêsu, ông Gioan đã rao giảng kêu gọi toàn dân Ít-ra-en chịu phép rửa tỏ lòng sám hối” (Cv 13:22-24). Điều đáng lưu ý là khi sắp hoàn thành sứ mệnh, ông Gioan đã tuyên bố: “Tôi không phải là Đấng mà anh em tưởng đâu, nhưng kìa Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người” (Cv 13:25). Sự khiêm nhường của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả quá tuyệt vời. Ước gì mỗi chúng ta cũng biết tự hạ như vậy, trước Thiên Chúa và trước mọi người.
Trình thuật Mt 1:18-25 nói về cuộc truyền tin cho Người Công Chính Giuse (tương tự Lc 2:1-7). Thánh sử Mát-thêu cho biết gốc tích của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa: Đức Maria, mẹ Người, đã thành hôn với Đức Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, Đức Maria đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.
Quả là tiếng sét đánh mang tai, một tin động trời quá đỗi. Chắc chắn Đức Giuse cũng cảm thấy bối rối và khó xử, khổ tâm lắm, bỏ thì thương mà vương thì tội! Vả lại, “người công chính” Giuse không muốn tố giác Nàng, vẫn tin Nàng là một phụ nữ thánh thiện, thế nên mới định tâm bỏ Nàng cách kín đáo, an toàn cho cả hai. Nhưng khi Đức Giuse đang toan tính thì ngủ thiếp đi. Bỗng có sứ thần Chúa hiện đến báo mộng: “Này Anh Giuse, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón Chị Maria về, vì người con Chị cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Chị sẽ sinh con trai và Anh phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”.
Kinh Thánh cho biết rằng tất cả sự việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Khi tỉnh giấc, Đức Giuse đã làm như sứ thần Chúa dạy và vui vẻ đón vợ về nhà. Tuy là vợ chồng nhưng họ không ăn ở với nhau. Khi Đức Maria sinh một con trai, Đức Giuse đặt tên cho con trẻ là Giêsu, đúng như lời sứ thần báo mộng chín tháng trước.
Khi được truyền tin, Đức Maria đã cảm thấy ngại, nhưng sứ thần Gáp-ri-en động viên: “Đừng sợ!”. Và Đức Maria đã mau mắn vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa. Tương tự, khi biết “hung tin” là Nàng Maria có thai, Đức Giuse đã tá hỏa tam tinh và sợ, nhưng sứ thần lại động viên: “Đừng ngại!”. Và Đức Giuse cũng đã mau mắn vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa.
Cuối cùng, hai Đấng đã hoàn tất Mùa Vọng khi Hài Nhi Giêsu sinh ra tại hang đá Belem trong một đêm khuya giá lạnh, giữa tiéng ca mừng của chư thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời – Gloria in Excelsis Deo” (Lc 2:14).
Lạy Thiên Chúa, xin ban thêm lòng can đảm cho chúng con, giúp chúng con biết mau mắn vâng phục Thánh Ý Ngài trong mọi hoàn cảnh, nhất là những lúc không như ý riêng của chúng con. Xin Đức Maria và Đức Giuse nâng đỡ chúng con khi chúng con bị hàm oan, bị mọi người xa lánh, và xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con luôn luôn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Nhi Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU


ĐÊM BÌNH AN
Đêm nay trời đất giao hòa
Ngôi Hai giáng thế bao la ân tình
Muôn đời Thiên Chúa vinh danh
Ai sống ngay lành được phúc bình an
            Muôn lòng hòa khúc hân hoan
            Vui mừng khôn tả phá tan u buồn
            Biết dâng lên Chúa gì hơn
            Là thơ, là nhạc, dẫu sai vần, lạc cung
Đất trời xe kết chữ đồng
Hồng ân chan chứa cõi lòng bình an
Lời cầu đêm thánh thành tâm
Cho người biết sống chân thành với nhau
TRM THIÊN THU

ĐÊM YÊU THƯƠNG
Đêm nay Con Chúa ra đời
Chấp nhận làm người vì quá thương yêu
Ngài sinh trong cảnh đơn nghèo
Ngài sinh giữa chốn hang sâu lạnh lùng
Ngài sinh trong khoảng mịt mùng
Giữa đêm thanh vắng điệp trùng mờ sương
Chỉ vì hai tiếng yêu thương
Thế nên Con Chúa trọn lòng xin vâng
Đất trời xe kết chữ đồng
Dâng lời cảm tạ hòa chung tâm tình
Vinh danh Thiên Chúa thiên đình
Nhân loại an bình được Chúa yêu thương
TRM THIÊN THU

 

Sự phi thường của Chúa Giáng Sinh

Tác giả Tiến sĩ JEFFREY MIRUS
Việc sinh sản của Đức Mẹ bảo đảm thiên tính của Chúa Con nhắc nhớ tôi các sự kiện mà các khoa học gia mô tả bằng thuật ngữ “sự phi thường”. Vì “sự sinh sản đồng trinh” không thể giải thích bằng bất kỳ cách tự nhiên, người Công giáo gọi đó là mầu nhiệm; nhưng các khoa học gia, theo sát “nghề” của mình, gọi đó là “sự kỳ quặc”.

Đây là cách mà các nhà vật lỳ gọi là Big Bang (vụ nổ lớn), vụ nổ nguyên thủy từ hư vô, như chúng ta biết ngày nay, đã tạo nên vũ trụ kỳ diệu. Theo bản chất, Big Bang không thể xảy ra theo một quá trình tự nhiên. Một số khoa học gia, không đi con đường trừu tượng đúng thời gian của họ, cố che giấu sự lầm lẫn trong sự từ chối, tạo nên nhiều câu chuyện ấu trĩ để giải thích hiện tượng Big Bang, như truyện ngụ ngôn về “vũ trụ sung sức”. Nhưng đối với nhiều người khác, Big Bang là một trong các lý thuyết khoa học rất sát với bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Dĩ nhiên bất cứ bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa dựa trên lý thuyết khoa học đều thất bại nếu lý thuyết đó bị biến đổi theo cách quan trọng vì nghiên cứu thêm, cũng như bất cứ bằng chứng nào dựa trên lịch sử cũng thất bại nếu các nhân chứng có thể bị chứng minh là sai lầm. Nhưng tính phi thường vẫn có giá trị là phương tiện đánh dấu giới hạn của thiên nhiên và cần cái gì đó vượt ngoài tầm tự nhiên.

Không thể chứng minh việc Đức Mẹ sinh sản mà vẫn đồng trinh, ngay cả bằng chứng của những người có sự tin tưởng tuyệt đối về Đức Maria, không ai có thể theo dõi chính khoảnh khắc đó. Nhưng đó là cách giải thích lôgic đối với các sự kiện sau đó mà nhiều người trực tiếp là nhân chứng – nghĩa là các phép lạ của Người Con của Đức Mẹ, cái chết chắc chắn và thảm khốc của Chúa Giêsu, và sự phục sinh của Ngài ngay sau đó. Vô nhiễm Nguyên tội là một phạm trù khó hiểu hơn, vì điều đó không thể được chứng minh bằng bất cứ số đông nhân chứng nào đã từng ở bên thánh Anna và người con gái lừng lẫy của bà ngay lúc họ hiện hữu. Nhưng điều đó dùng để giải thích – và được giải thích – công việc khác thường của Con Một của Đức Mẹ.

Cách nói Con Thiên Chúa “hóa thành nhục thể” chính xác hơn cách nói “sinh bởi Trinh nữ Maria”, không như nguyên ngữ Latin diễn tả. Hóa thành nhục thể là khoảnh khắc thụ thai chứ không là sinh ra. Việc Đức Mẹ sinh sản mà vẫn đồng trinh là hệ quả của việc “hóa thành nhục thể”, cũng như Vô nhiễm Nguyên tội là sự chuẩn bị thích hợp cho điều đó. Chính sự kiện “hóa thành nhục thể” giải thích về Người Con của Đức Mẹ. Hóa ra Ngài cũng là Con Thiên Chúa.

Chúa Giêsu Kitô là Đấng phi thường không thể được hiểu là kết quả của bất kỳ quá trình tự nhiên nào trước đó. Hằng hà sa số những sự phi thường nhỏ hơn – các lời tiên tri, các lời giáo huấn, các phép lạ, Giáo hội, các bí tích, các vị tử đạo, các thánh – chỉ là để đưa sự phi thường chủ yếu vào chính sự nổi bật sắc nét hơn. Ở đây chúng ta có trời và đất trong Con Một Yêu Dấu của Thiên Chúa, Chúa của các chúa và Nguyên Nhân Không Được Tạo Ra (Uncaused Cause) – và cũng là cách giải thích về Big Bang.

Điều này thật khó hiểu, nhưng chúng ta được có cơ hội khác. Ngài lại đến, Ngài là Đứa Trẻ mà chúng ta không bao giờ có thể dạy cản trở tình yêu của Đứa Trẻ đó.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ CatholicCulture.org)

 

Mùa Sao Sáng

Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm

Đó là lời hát của Ca đoàn Thiên thần vang vọng từ chốn cửu trùng trong Đêm Hồng Ân, khi Vương Nhi Giêsu mặc xác phàm và hạ sinh nơi hèn hạ nhất. Một Vua Nghèo nhưng lại đầy quyền lực và giàu có nhất. Ngài muốn dạy chúng ta bài học sống khó nghèo, sống khiêm nhường, sống yêu thương, thực sự quan tâm chăm sóc và chia sẻ với những người nghèo hèn nhất trong xã hội. Chính Ngài là Vua Nghèo, nói theo “văn chương” thì Ngài là “Đệ nhất Hàn vương”.

Lời ca của ca đoàn thiên thần có một triết lý. Vế thứ nhất “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời” là điều tất nhiên, nhưng vế thứ nhì là điều chúng ta cần suy nghĩ: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Ai thiện tâm thì mới được Chúa thương, tức là được bình an tâm hồn. Bình an tâm hồn và bình an thể lý khác nhau. Có bình an thẩ lý chưa chắc có bình an tâm hồn. Có thể cuộc sống của bạn bị bắt bớ, bị tù đày, bị phiền phức nhiều thứ,… nhưng có điều chắc chắn là tâm hồn bạn được bình an. Đó mới là bình an đích thực cần thiết. Bằng chứng: Các vị tử đạo không hề bình an về thể lý vì họ bị voi giày, ngựa xéo, lăng trì, xử trảm,… và chết thê thảm, nhưng tâm hồn họ luôn bình an – vì họ làm đúng lương tâm, đúng đường lối Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng đã bị khinh miệt và chết thảm thương bằng hình phạt tồi tệ nhất là chết nhục nhã trên thập giá.

ÁNH SÁNG ĐỨC TIN
Chắc hẳn nhiều người đã quen thuộc ca khúc Mùa Sao Sáng của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, một ca khúc thường được nghe vang lên trong mùa Giáng sinh, ca khúc này có lời thoại mở đầu: “Lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao”.
Ca khúc Mùa Sao Sáng có giai điệu vừa đẹp vừa nhẹ nhàng, nghe như thánh ca, và ca từ cũng đẹp: “Một mùa sao sáng, đêm Noel Chúa sinh ra đời. Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui. Quỳ lạy Mẹ Maria, lòng Mẹ từ bi bao la, tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam. Từ mùa Đông trước qua mùa Đông tiếp theo sau này, người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi… Lớp lớp đoàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao… Lạy Mẹ đồng trinh ban ơn, người Việt cùng thương nhau hơn, đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”.
Không biết ông có niềm tin Kitô giáo hay không, nhưng các ca từ ông viết nghe đầy “chất” Công giáo. Phải chăng ông là người ngoại đạo nhưng luôn hướng về Chúa, luôn tin rằng “lớp lớp đoàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao” và “đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”?
Đó là Ánh Sáng Đức Tin soi đường dẫn lối và đó cũng là một cách rao truyền Ơn Cứu Độ, thật là “đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị” (Is 52:7). Chúng ta luôn sống “đời vọng” vì vững lòng tin tưởng: “Trước mặt muôn dân, Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người: ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta, người bốn bể rồi ra nhìn thấy” (Is 52:10).
Trong niềm tin tưởng, tác giả Tv 98 đã cất cao lời tuyên xưng: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công. Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Người. Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ, mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân; Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en. Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, mừng vui lên, reo hò đàn hát. Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt, nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca. Kèn thổi vang xen tiếng tù và, tung hô mừng Chúa, vị Quân Vương!” (Tv 98:1-6).
Thật hạnh phúc khi chúng ta được kế thừa đức tin Công giáo! Ánh sáng đức tin đã, đang và sẽ chiếu sáng dẫn đường cho chúng ta suốt cuộc lữ hành trần thế.

ÁNH SÁNG YÊU THƯƠNG
Giáng sinh là Mùa Sao Sáng vì là Mùa Bình An, Mùa Yêu Thương, Mùa Hồng Ân Cứu Độ, đồng thời là Lễ Hội không chỉ riêng ai – cả Kitô giáo và không Kitô giáo. Nhịp điệu Giáng sinh có gì đó rất độc đáo, khiến lòng người vừa lắng đọng vừa chộn rộn. Nỗi mong chờ càng rút ngắn, lòng người càng nôn nao, vì không ai lại không hạnh phúc khi được gặp “người mình yêu quý nhất”, huống chi được gặp chính Đấng Cứu Độ, vị đại ân nhân của mình.
“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1:1). Thánh Tử là Chúa Giêsu, là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng Yêu Thương (1 Ga 4:8). Thánh Phaolô nói rằng Ngài phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật Ngài là Đấng tẩy trừ tội lỗi, Ngài ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời, Danh hiệu Ngài được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu thì Ngài lại trổi hơn họ bấy nhiêu (Dt 1:3-4).
Thiên Chúa chưa hề nói cùng vị thiên thần nào như đã nói với Đức Giêsu: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. Ta sẽ là Cha Người, và chính Người sẽ là Con Ta” (Dt 1:5). Khi đưa Trưởng Tử Giêsu vào thế giới loài người, chính Thiên Chúa cũng đã xác định: “Mọi thiên thần của Thiên Chúa phải thờ lạy Người” (Dt 1:6).
Chúa Giêsu là Trưởng tử, là Huynh trưởng, là “Đại ca”, là Sư phụ, là Mặt Trời Công Chính. Huấn giáo của Ngài giản dị mà thâm thúy: Yêu thương. Tất cả chỉ tóm gọn là mến Chúa và yêu người. Nghĩa là yêu thật, phải chứng tỏ bằng hành động chứ không nói suông. Thánh Giacôbê xác định: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:17 & 26). Lời nói gió bay, làm mới tin! Người ta rất sợ những người mang họ “hứa”. Dụ ngôn Phú hộ và Ladarô (x. Lc 16:19-31), nghe riết có thể hóa… nhàm, nhưng đó là chuyện có thật chứ không là tiểu thuyết hoặc viễn tưởng. Chúa rất thực tế khi thể hiện yêu thương, vì Ngài bảo không thể cho hòn đá khi người ta cần bánh hoặc cho con rắn khi người ta cần cá (Mt 7:9).
Thấy dân chúng lầm than vất vưởng, Ngài đã chạnh lòng thương (x. Mt 9:35-37), và rồi Ngài đã thể hiện tình thương ấy rất nhiều lần và rất cụ thể. Ngài đã tỏa Ánh sáng Yêu thương ở bất cứ nơi nào Ngài tới, chúng ta là môn đệ của Ngài thì cũng phải chiếu Ánh sáng ấy cho hết mọi người. Thời kỳ cuối này, Chúa không sai ai mà đích thân Ngài đến để minh chứng tình yêu, để ban phát Lòng Thương Xót, đồng thời Ngài cũng thúc giục mọi người noi gương thực hiện Lòng Thương Xót với tha nhân như Ngài vậy.

ÁNH SÁNG CỨU ĐỘ
Thánh Gioan viết: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1:1-3). Ngôi Lời đó đã hóa thành nhục thể, mặc xác phàm, trở nên hoàn toàn giống phàm nhân – trừ tội lỗi. Thật vậy, “điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:4-5). Chính Ngôi Lời Nhập Thể là Ánh sáng muôn dân, là Ánh sáng Cứu độ.
Trước 6 tháng, Thiên Chúa đã sai Gioan đến để làm chứng về Ánh sáng, dù ông không là ánh sáng, mà chỉ để mọi người nhờ ông mà tin (x. Ga 1:6-8). Thánh Gioan là VIP vì ông là người tiền phong mở đường cho Chúa Giêsu, là ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước, và là nhịp cầu nối kết Cựu ước với Tân ước. Trọng trách của ông đặc biệt, nhưng ông biết có một “siêu VIP” là Đức Kitô, như ông giải thích: “Người đến sau tôi nhưng trổi hơn tôi, vì Người có trước tôi” (Ga 1:15).
Phúc âm hôm nay nhắc đi nhắc lại 5 lần danh từ “Ngôi Lời” và 8 lần danh từ “ánh sáng”. Thánh Gioan biết rõ Ngôi Lời cực kỳ quan trọng, vì “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (x. Ga 1:9).
Tuy nhiên, 9 người 10 ý, Phúc âm gọi là “lúa và cỏ lùng”, người đời gọi là “vàng thau lẫn lộn”. Thế nên, “Ngài ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Ngài mà có, nhưng lại không nhận biết Ngài. Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1:10-11). Đó là lời cảnh báo!
Vì vậy, những ai có Ánh sáng Đức tin và Ánh sáng Yêu thương thì mới xứng đáng lãnh nhận Ánh sáng Cứu độ. Chính Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng ta đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Đồng thời tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Và nếu chúng ta đã “được cho không thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10:8). Tất cả là Hồng ân (Rm 4:16) nên tất cả phải “miễn phí” theo Tôn Ý Chúa Giêsu.
Thánh Phaolô nói: “Ai giữ lời Ngài dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:5). Quả thật, “bạn rất khôn ngoan vì bạn mang Chúa Giêsu đến cho những tâm hồn chưa nhận biết Ngài” (Cn 11:30). Giáng sinh là Nhập thể, là lên đường, là vào đời, là ra khơi…

Lạy Chúa, xin thương xót chúng con là những tội đồ (Lc 18:9-14) vì lâu nay còn câu nệ đủ thứ, chưa thực sự thể hiện Ánh sáng Yêu thương như Ngài dạy. Xin giúp chúng con mạnh dạn dấn thân thực sự vì sáng Danh Chúa chứ không vì ý đồ riêng tư nào khác, để chúng con khả dĩ tận hưởng bình an đích thực. Chúng con cầu xin nhân Danh Chúa Hài Đồng. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Giáng sinh – 2011

Merry Christmas – Chúc mừng Giáng sinh

MÙA SAO SÁNG
Chúa Giêsu giáng thế
Tự nguyện mặc xác phàm
Ngài là Con Thiên Chúa
Đến để cứu muôn dân
          Chúa bảo vệ công lý
          Và duy trì hòa bình
          Muốn mọi người triệt để
          Yêu thương nhau chân thành
Chúa sinh ra nghèo khó
Là “Đệ nhất Hàn vương”
Ngài dạy bài học lạ
Hãy yêu nhau nguyên thường
          Giêsu là Nguồn Sáng
          Chiếu Ánh sáng Yêu thương
          Chiếu Ánh sáng Cứu độ
          Ánh sáng Đức tin luôn
Giáng sinh – Mùa Sao Sáng
Sáng Tình Chúa, tình người
Giáng sinh – Mùa Ân Thánh
Nhân phẩm được lên ngôi
TRẦM THIÊN THU
Trung Tâm Mục Vụ TGP Saigon, 14-12-2011

Đêm Thánh
Một chút hương thơm luôn còn phảng phất ở bàn tay người tặng hoa hồng (Ngạn ngữ Trung quốc).
Đôi khi điều kỳ diệu và phép lạ Giáng sinh đến với chúng ta rất bất ngờ. Nhiều năm trước, khi chồng tôi là Larry và tôi mới kết hôn, chúng tôi dành hai năm đi Á châu. Chúng tôi rời xa gia đình, bạn bè và công việc để làm từ thiện ở Hong Kong.
Hai tháng sau khi chúng tôi chuyển đến căn nhà mới vào mùa Giáng sinh. Nhưng ở Hong Kong không có màn che cửa sổ hoặc tuần lộc kéo xe trên tuyết. Tôi chưa bao giờ đón mừng lễ Giáng sinh xa nhà thế này, tôi thấy rất nhớ nhà và cách mừng lễ truyền thống với bạn bè vào đêm vọng Giáng sinh, hát nhạc Giáng sinh bên đàn dương cầm, nhiều người đi lại, và cây Giáng sinh lớn treo đầy quà.
Chúng tôi sống tại một căn hộ nhỏ trên tầng ba. Chúng tôi cố gắng trang trí phòng. Cây Giáng sinh của chúng tôi nhìn rất tệ mà chúng tôi được thừa kế: bằng plastic màu xanh lá, cao chưa đầy 1m với các món quà nhỏ màu trắng được gắn keo dính trên cành. Chúng tôi không có 2 xu mà cọ xát vào nhau để có điều gì đó tốt hơn, cho nên chúng tôi treo những dây bắp nổ và xoắn chúng lại với nhau. Dưới cây có vài món quà nhỏ.
Khi lễ Giáng sinh đến gần, tôi cảm thấy sẵn sàng với tư tưởng này về việc làm từ thiện. Chúng tôi đã dành hai năm để làm thay đổi thế giới nhưng không gì hiệu quả.
Rồi một gia đình người Anh mời chúng tôi đến nhà họ, tôi nghĩ chúng tôi đã có phần chung góp. Nhưng niềm phấn khởi của chúng tôi mau biến mất khi Larry đề nghị chúng tôi từ chối lời mời. Anh nói: “Chúng ta gặp rất nhiều người ở đây không có nơi mừng lễ Giáng sinh. Tôi nghĩ chúng ta cần nấu gà tây và mở rộng cửa tiếp đón những ai muốn đến”. Chúng tôi đồng ý và mời tất cả những người bạn mới: "Chúng tôi đang nấu gà tây. Nếu bạn cần một nơi để mừng lễ Giáng sinh, hãy đến với chúng tôi".
Dĩ nhiên, bây giờ chúng tôi biết rõ các quy luật giải trí lễ Giáng sinh. Nếu bạn có khách đến nhà, cây Giáng sinh nên được trang trí đẹp, bàn nên cắm nến và dùng đồ sứ, nên có ánh lửa bập bùng trong lò sưởi và có vòng hoa lớn trước cửa. Nhưng lúc đó, chúng tôi chẳng biết gì hơn. Chúng tôi không biết rằng các đĩa bằng giấy là chưa đủ, một cây Giáng sinh bằng plastic không đủ tạo sự chú ý, và phòng khách nhỏ không đủ chỗ cho nhiều khách đến nhà chơi.
Trong những ngày trước lễ Giáng sinh, số khách tăng dần. Ngay buổi sáng lễ Giáng sinh, chuông điện thoại reo vài lần – những người mới, những người chúng tôi đã gặp ngang đường – "Tôi nghe nói hôm nay bạn đang ăn bữa tối lễ Giáng sinh. Còn chỗ cho vài người nữa không?".
Khi họ đến, họ tự giới thiệu với chúng tôi và với nhau, sắp đồ ăn đầy ra đĩa của mình và tìm chỗ ngồi trên nền nhà. Căn phòng ồn ào khi 20 người chia sẻ các câu chuyện của họ – một vài người đi khắp châu Á, một vài người là tình nguyện viên ở Trung Quốc hoặc Hong Kong, một vài người sống một mình và không có người để tâm sự.
Khi bữa ăn kết thúc, chúng tôi ngồi ở phòng khách cùng trò chuyện. Trong một khoảng im lặng, ai đó bắt đầu hát: "Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng, đất với trời, xe chữ đồng...". Và mọi người cùng hòa chung tiếng hát. Bài hát kết thúc, tất cả đều im lặng. Và rồi có ai đó lại bắt đầu cất tiếng hát: "Đêm thanh nghe tiếng hát của thiên thần chung nhau đàn ca thánh thót hỉ hoan...".
Và kìa như có Mẹ Maria, Thánh Giuse và Hài nhi Giêsu, tất cả chúng tôi cùng đứng dậy. Cũng như họ, chúng tôi là những người tứ cố vô thân từ xa trở về nhà mình. Mọi người được yêu cầu làm điều gì đó quan trọng để thay đổi thế giới. Chúng tôi cùng cố gắng góp phần nhỏ của mình để làm thay đổi thế giới. Trong phòng khách bé nhỏ trên lầu ba ở một thành phố tại Hong Kong, chúng tôi có một lễ Giáng sinh mà không ai có thể dự đoán trước. Đơn giản đó là món quá đối với chúng tôi. Mọi người quây quần xung quanh một cây Giáng sinh nhỏ, đó là một Đêm Thánh.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Chicken Soup for the Soul: Christmas Magic)

ß Sheryl Smith-Rodgers (Blanco, Texas).

Lời Cầu Đêm Giáng Sinh

Sheryl Smith-Rodgers, tác giả bài này, đang trên bờ vực thẳm ly hôn, nhưng sức mạnh của lời cầu nguyện đã kéo chị đến dự Thánh lễ đêm Giáng sinh.

Lễ đêm Giáng sinh bắt đầu vào lúc tôi cho xe vô bãi gởi xe. Tôi nghĩ: “Vậy là tốt”. Tôi vô nhà thờ khi ca đoàn hát: “Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng…”. Tôi cúi đầu, hy vọng không ai chúc mừng Giáng sinh với tôi. Hôn nhân của tôi không hạnh phúc và tôi cảm thấy thật rắc rối.

Tôi đã không muốn tới nhà thờ, không muốn nói chuyện với ai, nhưng trong đầu tôi cứ vang lên tiếng nói bắt tôi phải đi. Tôi đi thẳng tới một góc cung thánh. Có một ghế ở hàng sau trống để tôi quỳ một mình, và rồi khi lễ xong tôi cũng sẽ đi ra mà không ai thấy. Nhưng khi tôi vô ghế thì đã có một phụ nữ ở đó!

Khi ngồi xuống, tôi nghĩ: “Lạy Chúa, nếu Chúa thực sự muốn con tham dự hết Thánh lễ này thì con cần Ngài giúp đỡ. Có thể làm cho mọi người không nhìn thấy con không?”

Tôi cứ nhìn xuống đất suốt Thánh lễ. Rồi khi linh mục nói: “Chúng ta hãy chúc bình an cho nhau”. Tôi quay sang phụ nữ kia, chị ôm tôi và nói: “Chúc mừng Giáng sinh”. Nhưng khi tôi đưa tay bắt tay chị, tôi thấy mắt chị ánh lên nét đau khổ, giống như nỗi đau của tôi khi tôi nhìn vào gương sáng nay. Tôi hỏi: “Chị có sao không?”. Cố nén nỗi đau và nước mắt, chị nói ngắn gọn về hôn nhân rắc rối của con trai chị, và chị làm khổ con cháu... Chúng tôi cầu nguyện cho nhau.

Sau Thánh lễ, tôi ôm chào người bạn mới đó. Chị nói: “Hầu như tôi không muốn đến nhà thờ hôm nay, nhưng có điều gì đó cứ lôi kéo tôi đến đây”.

Có điều gì đó cũng đã lôi kéo tôi đến nhà thờ đem nay. Tôi đã đến gặp một con người mà chính người đó cũng cần gặp tôi.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Guideposts)

Tặng phẩm hoàn hảo

Chính tình yêu là một tặng phẩm (Jean Anouilh).

Hai tuần trước lễ giáng sinh, tôi rời khu ngoại ô với một ít bạn bè để rảo quanh các đường phố Los Angeles. Tôi vừa đi vừa hát nhỏ: “Chuông leng keng, chuông leng keng, chuông giáo đường âm vang…”. Nhưng tôi không thấy những đứa trẻ cười và người qua lại, nụ cười ẩn giấu sau nụ cười”.

Tôi gặp hàng trăm người vô gia cư, những con nghiện tụ tập chỗ này chỗ nọ. Họ xách theo những chiếc bịch ni-lông chứa các vật dụng thường, trong khi những dãy nhà, những người mua sắm tranh thủ về nhà từ các cửa tiệm.

Không có gì mang vẻ ngày nghỉ. Tôi mong chờ Chúa can thiệp và nhắc nhớ tôi về mùa lễ hội.

Qua ngày thứ hai của hành trình, người hướng dẫn mời chúng tôi nhìn ngắm khu Metro Kidz. Chúng tôi theo chiếc xe đẩy phát bữa trưa, được vẽ những hình nghệ thuật thánh graffiti, khi xe vòng quanh khu nhà nghèo. Âm nhạc âm vang từ những chiếc loa và kéo theo hàng trăm trẻ em tới một hẻm cụt tĩnh lặng. Đủ lứa tuổi, từ chập chững tới thiếu niên, chúng ùa theo. Mọi người cùng phát quà cho chúng.

– Em nào muốn chơi trò chơi?

– Con, con. – Một đứa trẻ nói với giọng tự tin.

– Để con, để con. – Cả đám đồng thanh hô theo.

Niềm vui lan tỏa và tôi mỉm cười.

– Được rồi. Chúng ta sẽ chơi và có thưởng. Tôi muốn kể chuyện Giáng sinh. Bao nhiêu người đã từng nghe chuyện về Hài nhi Giêsu?

Hầu như mọi cánh tay đều giơ lên. Tôi ngồi bắt chéo chân giữa những đứa trẻ nói cười khúc khích, có một đứa bé bò vào lòng tôi và ngủ ngon lành. Có gì đó chạm vào cạnh sườn tôi. Quay lại tôi thấy một bé gái xinh xắn có mái tóc xoăn. Bím tóc có chiếc kẹp hình cầu vồng đa sắc. Đôi mắt sáng và to. Tôi hỏi:

– Chào con. Tôi là Sandy. Con tên gì?

Nó có vẻ bẽn lẽn, mắt nhìn xuống đất, nói nhỏ:

– Con tên Erika.

– Con bao nhiêu tuổi? – Vừa hỏi tôi vừa đặt tay lên vai nó.

Erika vừa cười vừa nói:

– Con 5 tuổi.

– Con muốn chơi hả?

Nó nắm tay tôi, lắc đầu và nói:

– Không.

– Được rồi. Chúng ta ngồi xem nha.

Phần thưởng là đồ ăn, đồ chơi và sách được trao cho những em dự thi. Người thắng nhận phần thưởng và giơ cao lên cho mọi người thấy.
Chúng nói với nhau:

– Xem bạn có gì nè!

Cuối cùng, đến lúc nghe truyện Giáng sinh và học những câu kinh thánh mới.

– Nghe đây! Chúng ta có vài phần thưởng nữa. Lắng nghe cho kỹ và trả lời nha các con!

Ngồi giữa những đứa trẻ nghèo ở đường phố Los Angeles, Tôi rất vui và hạnh phúc. Tôi nghe truyện về hai cha mẹ phải ở trong chuồng bò vì không còn quán trọ cho họ. Tôi cảm thấy đứa bé ngủ trong lòng tôi như đứa trẻ được bọc trong khăn và bú mẹ.

Erika lắng nghe câu chuyện đêm vọng Giáng sinh và nhích tới một chút. Nó chăm chú nhìn và kiên nhẫn chờ phần thi.

– Hôm nay là câu kinh thánh trong thư thánh Giacôbê 1:17. Tôi sẽ đọc và các con lặp lại nha. Mỗi món quà tốt đẹp và hoàn hảo đều đến từ Chúa Cha.

– Mỗi món quà tốt đẹp và hoàn hảo đều đến từ Chúa Cha. – Các em đồng thanh lặp lại.

– Cảm ơn con đã lắng nghe. Con được nhận phần thưởng.

Erika giơ cao món quà gói giấy đỏ. Tôi chú ý mặt nó ngời sáng và miệng cười tươi. Các em khác mở quà của mình ra xem, nhưng Erika không mở quà. Nó nhìn đứa bé ngủ trong lòng tôi, rồi nó nói nhỏ vào tai tôi:

– Hôm nay con có quà Giáng sinh cho em con rồi.

Không biết đó là món quà gì, nó trao quà cho em nó. Tôi cảm động và rơi nước mắt. Tấm lòng của Erika như Chúa Giêsu vậy. Mới 5 tuổi nhưng nó biết yêu thương là món quà hoàn hảo, và tặng phẩm tốt nhất là biết yêu thương người khác.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Chicken Soup for the Soul)

 

Chuyện Giáng Sinh
Lễ Giáng sinh có thể gọi chính xác là ngày nghỉ của các giác quan.
Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi. Khung cảnh Giáng Sinh được trang trí lộng lẫy khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị, vô số những tấm thiệp được gởi để chúc mừng nhau. Hơn 2.000 năm qua, thế giới đánh dấu việc giáng sinh của Chúa Giêsu là lễ hội vui mừng nhất. Không có ngày nào trong năm vui mừng như vậy.
Chưa một Công đồng nào hoặc một Giáo hoàng nào công bố như vậy. Nhưng mỗi năm, Giáng Sinh đến như làn gió Đông bất ngờ thổi vào Tháng Mười Hai, như ánh nắng lấp lánh phản chiếu trên tuyết trắng xóa. Cảm giác rất lạ, đang từ mùa Đông cằn cỗi tới mùa ánh sáng vui mừng.
Giáng Sinh đầu tiên – ngày Chúa Giêsu giáng trần – là “cú sốc” đối với lịch sử nhân loại.
Trải qua nhiều thế kỷ, nhân loại đã sống và đã chết trong tội mà không biết, cảnh khốn khổ của thế gian này không thể tránh khỏi và niềm vui quá ít mà mau qua. Giáng Sinh tới, lịch sử được chia làm đôi: Trước ngày đó (trước Công nguyên), và sau ngày đó (sau Công nguyên). Thế giới hoàn toàn thay đổi. Vì Ơn Cứu Độ khởi đầu từ khi Thiên Chúa hóa thành nhục thể, khi Thiên Chúa hạ sinh tại Belem.
Thiên Chúa đến ở với chúng ta trên thế gian này. Thánh Gioan khởi đầu Phúc Âm bằng cách diễn tả một Thiên Chúa rất quyền năng, rất xa xôi, nhưng Ngài đã vượt qua tất cả vì yêu thương nhân loại:
“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:1-5).
Đó là Thiên Chúa mà chính các triết gia ngoại giáo cũng biết, họ gọi Ngài là Động Lực Đầu Tiên, Tạo Hóa, Thượng Đế. Kịch bản của Thánh Gioan lên tới đỉnh điểm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).
Đây là tin “giật gân”. Từ trời cao xa, từ thời điểm xa nhất, chính Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể và “cắm lều” ở giữa Dân Ngài. Từ đời đời, Thiên Chúa là Ngôi Lời, nhưng không ai nắm bắt được Ngôi Lời. Bây giờ Ngài hóa thành Hài Nhi, và người ta có thể bồng bế hoặc ôm ấp Hài Nhi.
Theo sự thật lạ lùng của Kitô giáo, không gì táo bạo như điều này: Ngôi lời sinh ra tại một ngôi làng nhỏ, trong một hang đầy thú vật, vào một đêm vừa lạnh giá vừa tăm tối. Ngôi Lời đã làm người và đã thay đổi mọi thứ. Điều này làm cho lễ Giáng Sinh trở thành lễ gây sốc nhất trong lịch.
Ý nghĩa lễ Giáng Sinh được gom lại trong điều này. Thiên Chúa đã sống trong một gia đình như chúng ta. Ngài cũng run người vì lạnh như chúng ta. Ngôi-Lời-mặc-xác-phàm cũng đã bú sữa mẹ như các em bé khác, cũng khóc lóc khi cơ thể bất an. Hoàn toàn như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi.
Truyền thống cho chúng ta biết rằng Thánh Gioan viết đoạn mở đầu cho Phúc Âm của ngài khi được linh hứng cao độ. Bạn bè của ngài đã bảo ngài viết chuyện đời Chúa Giêsu, thế nên ngài bảo họ ủng hộ ngài bằng cách ăn chay và cầu nguyện. Khi ăn chay xong, Thần Khí ngự xuống trên Thánh Gioan, và ngài như không còn là chính mình. Ngôn từ cứ tuôn trào – có thể chính là những từ mà ngài cố gắng tìm mà chưa bao giờ tìm được.
Chúng ta có thể thấy lạ trong giọng điệu khi ngài nói với chúng ta rằng Ngôi Lời trở nên người phàm. Khi ngài viết, hẳn là ngài cũng cảm thấy rất hưng phấn, như lần đầu đến nhà của thợ mộc Giêsu ở làng Nadarét, Đấng Được Xức Dầu, Con Thiên Chúa.
Sự ngạc nhiên này cũng có trong thư thứ nhất của Thánh Gioan. Theo truyền thống, Thánh Gioan viết lá thư đó 66 năm sau khi Chúa Giêsu về trời, nhưng vẫn có sự ngạc nhiên trong lối hành văn của ngài. Ngài vẫn như thể không tin được rằng “điều đó là từ khởi đầu” cũng là “điều mà chúng ta nghe, thấy và sờ được”.

* * *
Trong thời Giáo hội sơ khai, lễ Giáng Sinh không là lễ quan trọng. Cuộc đời Chúa Giêsu vẫn là ký ức sống, và sự phục sinh của Ngài vẫn chiếm vị trí trung tâm trong lịch. Nhưng theo thời gian, các thầy dạy giả mạo bắt đầu không chịu nhận nhân tính nơi Chúa Giêsu. Họ cho rằng cơ thể Chúa Giêsu là cách cải trang tinh vi, chứ Thiên Chúa không bao giờ hạ giá chính Ngài bằng cách “mặc lấy xác phàm”. Sau đó, các tà thuyết từ chối việc Đức Mẹ sinh ra Ngôi Lời. Họ nói rằng Đức Mẹ sinh ra “thùng” chứa đựng Ngôi Lời. Các tà thuyết vẫn cho rằng Chúa Con là phần phụ, như thần thánh, chứ không đồng bản thể và vĩnh hằng với Chúa Cha.
Các tà thuyết này có một điểm chung: Không chấp nhận việc làm người của Con Thiên Chúa. Arius là người lập ra tà thuyết Arian, ông là người giỏi về luận lý. Ông từ chối tín điều Tam Vị Nhất Thể (Chúa Ba Ngôi), ông cho rằng ba không thể là một, đó là số học sơ đẳng. Thiên Chúa vô hạn không thể làm người hữu hạn, đó là triết học sơ đẳng. Do đó không thể có việc Thiên Chúa làm người.
Những người lạc giáo như Arius muốn dành cho Thiên Chúa sự sỉ nhục không thể lý giải của sự lệch lạc vì kết hợp quá sát với bản tính nhân loại. Đó cũng là vấn đề tương tự mà nhóm Pharisêu không thể vượt qua: Nếu Ông Giêsu này quá tốt, tại sao Ngài thân thiết với người tội lỗi và người thu thuế? Thật vậy, mặc dù những người theo tà thuyết khăng khăng cho rằng họ bảo vệ sự hoàn hảo của Thần tính, họ vẫn thực sự từ khước sự hoàn hảo của tình yêu Thiên Chúa. Cuối cùng, tình yêu có thể có vẻ bất khả lý luận. Bất kỳ ai đánh giá người khác như chính mình đều có vẻ hoàn toàn thái quá.
Hầu như không thể trùng khớp việc kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giêsu theo lịch sử và theo nghĩa đen, Ngài là con bác thợ mộc bắt đầu đảm trách việc quan trọng hơn khi đức tin đích thực bị choán bởi các sai lầm rất nguy hiểm là từ chối việc hóa thành nhục thể. Mừng Con Thiên Chúa giáng sinh là tách điều chính thống với tà thuyết. Mừng Chúa Giáng Sinh đưa Giáo hội tới nguyên tắc rõ ràng.

* * *
Từ đầu, không có sự thống nhất về ngày lễ Giáng Sinh. Giáo hội ở Ai Cập đặt ngày Đức Kitô giáng sinh vào tháng Tư hoặc tháng Năm. Các Giáo hội khác đặt vào tháng Ba, hoặc bất kỳ tháng nào mà họ thích. Điều cũng phổ biến là kết hợp lễ Giáng Sinh với lễ Hiển Linh (Ba Vua), đặt cả hai lễ này vào ngày 6 tháng 1. Nhưng khoảng thập niên 400, lễ Giáng Sinh được ấn định ngày 25 tháng 12 cho tới ngày nay.
Có ít nhất ba giả thuyết về lễ Giáng Sinh được mừng vào ngày 25 tháng 12. Cả ba đều hợp lý.
Giả thuyết thứ nhất đơn giản nhất. Chuyện xưa kể rằng, khoảng năm 350, ĐGH Julius I tìm ngày Chúa Giêsu giáng sinh trong hồ sơ điều tra dân số. Không thấy trong hồ sơ có thông tin về 350 năm sau đó. Chúng ta biết qua Phúc Âm theo Thánh Luca rằng Chúa Giêsu sinh ra trong thời gian điều tra dân số. Người Rôma, với sự tôn trọng mệnh lệnh, có thể đã giữ hồ sơ quá kỹ ở nơi nào đó tại Rôma nên không thể phát hiện.
Giả thuyết thứ nhì cho rằng các Kitô hữu không thể bỏ lễ kỷ niệm giữa mùa Đông của người ngoại giáo, nên dùng ngày đó luôn. Xuyên suốt lịch sử, người ta đã bỏ qua những ngày ngắn trong năm như ngày Đông chí hoặc Hạ chí. Khi ngày bắt đầu dài trở lại, nghĩa là mùa Đông cũng qua, và thế giới sẽ tái sinh vào mùa Xuân.
Nguồn gốc ngoại giáo của ngày này không làm chúng ta thành xấu xa. Thật vậy, nhiều truyền thống Kitô giáo đã có nguồn gốc từ ngoại giáo. Chẳng hạn cây Giáng Sinh không liên quan gì tới ngày Chúa Giêsu giáng sinh, nhưng chắc chắn mang ý nghĩa là nghi lễ giữa mùa Đông của ngoại giáo: Nhờ sự thông cảm, chúng ta đem tinh thần này vào ngày lễ bằng một cây xanh – cây này vẫn sống khi các cây khác đã chết khô. Và đó cũng là biểu tượng xứng hợp đối với các Kitô hữu. Cây xanh là phép ẩn dụ minh nhiên về niềm hy vọng của cuộc sống mới mà Đức Kitô mang lại cho chúng ta.
Còn nữa, đèn nến mà chúng ta thắp sáng khắp nơi trong lễ Giáng Sinh có thể là sự sống còn của nghi lễ ngoại giáo – một lần nữa lại là dạng thông cảm, lửa thắp sáng để làm mặt trời chết sống lại. Nhưng ánh sáng luôn là biểu tượng ưa thích của Kitô giáo.
Chúng ta biết rằng Giáo hội thời sơ khai thường lợi dụng niềm tin hoặc tục lệ của dân địa phương để loan truyền Phúc Âm. Chính Thánh Phaolô đã có một câu nổi tiếng được khắc trên bàn thờ dâng kính một vị thần ở A-thê-na (Athens): “Thưa quý vị người A-thê-na, tôi thấy rằng, về mọi mặt, quý vị là người sùng đạo hơn ai hết.23 Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nhìn lên những nơi thờ phượng của quý vị, tôi đã thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: Kính thần vô danh. Vậy Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (Cv 17:23). Tinh thần của Thánh Phaolô có rất nhiều trong Giáo hội trong việc phát triển cách hiểu của Kitô giáo về các lễ hội được ưa thích của người ngoại giáo, giải thích cho những người chuyển đạo rằng họ thực sự tôn thờ không chỉ Thần ánh sáng mà là Chúa Nguồn Sáng.
Giả thuyết thứ ba giải thích về ngày 25 tháng 12 là nó thích hợp với khái niệm của Giáo hội sơ khai về sự sống hoàn hảo của Chúa Giêsu. Truyền thống nói rằng Chúa Giêsu chết ngày 25 tháng 3. Các thần học gia lý luận rằng, để sự sống của Ngài hoàn hảo, Ngài cũng phải được thụ thai vào ngày 25 tháng 3, rồi sinh ra 9 tháng sau đó.
Ý tưởng về sự sống của Chúa Giêsu có sự hoàn hảo về mỹ học phải làm thỏa mãn thời đại cho tới thời triết học tân Platon. Điều đó đã làm thỏa mãn các nhà thông thái cũng như lễ hội giữa mùa Đông làm thỏa mãn tình cảm của dân chúng.
Các giả thuyết này đều có thể là thật. Chẳng hạn, người ta tưởng tượng rằng Đức giáo hoàng đã khám phá ngày tháng trong cuộc điều tra dân số, và Giáo hội lợi dụng sự thích hợp đó với ngày tháng của lễ hội ưa thích của người ngoại giáo, cũng như các Kitô hữu lợi dụng tính cân xứng với ngày chết của Chúa Giêsu. Các Kitô hữu đã tới các quốc gia theo cách mà các quốc gia đã được chuẩn bị để nghe biết. Nhờ đưa ra cách hiểu về Kitô giáo đối với phong tục địa phương hoặc ý tưởng triết học hợp lý, Giáo hội đã cho những người mới theo đạo cách hiểu lịch sử của việc Chúa giáng sinh theo cách mà họ có thể hiểu.

* * *
Khi lễ hội này lan tràn khắp các nước mới gia nhập Kitô giáo ở Âu châu và Đông phương, người ta gom các phong tục ngoại giáo cổ xưa hơn và tạo cách hiểu mới. Lễ Giáng Sinh lan truyền tới đâu thì đều có vẻ mới nhưng vẫn quen thuộc với những người mới theo đạo. Có thể chính sự quen thuộc đó đã làm cho lễ Giáng Sinh được người ta yêu thích.
Khoảng năm 1100, lễ Giáng Sinh đã trở nên lễ quan trọng nhất trong năm. Suốt thời Trung cổ, lễ Giáng Sinh được cử hành ở khắp nơi với những cảnh đẹp lộng lẫy và niềm vui mừng. Người ta hát những bài ca giáng sinh mà họ thích; những đám rước nhộn nhịp qua các con đường nhỏ ở các thành phố thời Trung cổ; và bất kỳ nơi nào cũng tỏa mùi thơm từ những món ăn mừng lễ Giáng Sinh.
Tuy nhiên, với cuộc Cải cách Tin Lành, có những thay đổi về văn hóa. Họ hăng hái chống lại mọi sự lạm dụng trong Giáo hội, nhiều nhà cải cách đã nhắm vào lễ Giáng Sinh chỉ là một trong các lễ hội ngoại giáo. Theo nghĩa nào đó, dĩ nhiên họ đúng: Nhiều truyền thống có nguồn gốc ngoại giáo. Nhưng các phe chống lễ Giáng Sinh đã chỉ phê phán bằng “cái gốc” đáng lẽ họ phải phê bình bằng “hoa trái”.
Khi những người theo Thanh giáo chiếm lĩnh ở Anh quốc, họ đã cấm lễ Giáng Sinh. Các cửa tiệm phải mở toang ra. Bất kỳ ai bị phát hiện một miếng bánh nào sẽ gặp rắc rối. Người Thanh giáo cho rằng các loại bánh khúc cây, bánh mận, và những bài hát giáng sinh tạo nên lễ Giáng Sinh truyền thống Anh quốc đều không là gì khác ngoài việc tôn sùng ngẫu tượng ngoại giáo, thế thì phải dẹp bỏ. Có một số người phản đối, thậm chí một số người còn sẵn sàng chết vì bảo vệ lễ Giáng Sinh, nên dân chúng vẫn theo truyền thống dùng lễ Giáng Sinh là ngày nghỉ – nhưng người Thanh giáo vẫn chiếm ưu thế, dù chỉ trong một thời gian ngắn.
Để phản kháng, người Thanh giáo ra lệnh rằng lễ Giáng Sinh phải là ngày ăn chay. Truyền thống này không bao giờ được tiếp nối. Dễ dàng nói rằng việc ăn chay không bao giờ được theo vì tính yếu đuối nhân loại – cuối cùng, người ta thích ăn mừng lễ hơn ăn chay vì tự nhiên như người ta thích vui hơn thích buồn. Nhưng Mùa Chay không bao giờ bị bỏ ra ngoài lịch. Các Kitô hữu tốt lành sẵn sàng chịu đựng sự từ bỏ mình khi thích hợp. Nhưng điều đó có vẻ không thích hợp với lễ Giáng Sinh.
Có điều người Thanh giáo không hiểu, và có điều nhiều người tốt vẫn không hiểu, đó là không có sự mâu thuẫn giữa việc tôn thờ Thiên Chúa và tận hưởng sự sáng tạo của Thiên Chúa. Không gì xấu để tận hưởng những điều tốt lành mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Phép lạ thứ nhất của Chúa Giêsu là hóa nước thành rượu – mà không chỉ là rượu thường, thánh Gioan tỉ mỉ cho biết đó là loại rượu hảo hạng. Rõ ràng Con Người có vị giác rất tốt theo nhân tính.
Một số các Kitô hữu sai lầm như Thanh giáo đều xấu hổ vì hiểu đức tin với niềm vui trần tục. Nhưng mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh là mầu nhiệm Ngôi Lời làm người. Thánh Athanasiô nói rằng chữ “nhục thể” (xác thịt) là sự chính thống anh hùng vô địch khi những đám mây tà thuyết có vẻ đen tối nhất, “nhục thể không loại bỏ vinh quang của Ngôi Lời, tư tưởng còn xa hơn. Ngược lại, nhục thể được Thiên Chúa làm cho vinh quang”.
Một số các Giáo phụ gọi lễ Giáng Sinh là lễ Hóa Thân, theo nghĩa gốc tiếng Latin. Khi Thiên Chúa mặc xác phàm, chính nhục thể trở thành vật thánh, là điều được cử hành bằng hình ảnh, tượng và thiệp giáng sinh.
Thế kỷ VIII, một bè rối nổi lên trong Giáo hội và tự nhận là “Iconoclasts”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “những người đập nát hình ảnh” (tức là phá ngẫu tượng). Họ cố gắng “thanh lọc” và “tâm linh hóa” đời sống Kitô giáo bằng cách xóa bỏ mọi biểu tượng về Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các thánh. Họ phá hủy mọi hình ảnh tôn giáo trong thời Đế quốc La Mã Đông phương, và họ chặt tay các Kitô hữu nào không loại bỏ các ảnh tượng. Họ nói rằng Thiên Chúa không thể được thể hiện qua ảnh tượng; ai làm vậy là thờ ngẫu tượng. Nhưng đây là cách mà Thánh Gioan thành Damascô trả lời họ: “Thời xưa, Thiên Chúa không được thể hiện bằng bất kỳ cách nào. Nhưng ngày nay, vì Thiên Chúa đã mặc xác phàm và sống giữa chúng ta, tôi có thể biểu hiện điều nhìn thấy ở Thiên Chúa. Tôi không tôn thờ chất liệu, mà tôi tôn thờ Đấng tạo nên chất liệu và trở nên chất liệu vì tôi… Qua chất liệu, Ngài hoàn tất ơn cứu độ cho tôi”.
Nói cách khác, sự “hóa thân” làm thành nghệ thuật, và cũng là đồ thánh, cũng như điều đó làm cho cơ thể thành vật thánh. Các họa sĩ đã vẽ tranh giáng sinh qua nhiều thế kỷ mà không tạo ra ngẫu tượng. Cách thể hiện của họ là những bài Thánh ca (hymns) ca tụng Thiên Chúa vô hình được làm thành hữu hình.
Nhìn vào bất kỳ tranh giáng sinh cổ điển nào đều có thể cảm nhận Thiên Chúa. Mỗi con vật trong hang đá là một thụ tạo; mỗi cọng rơm trong máng cỏ đều được rút ra bằng sự cẩn thận vô cùng. Trong các cảnh của Kinh thánh, các họa sĩ đã yêu quý vẽ ra từ nhiều thế kỷ qua, lễ Giáng Sinh gợi nhớ sự vui mừng nhất trong niềm vui vẽ tranh, và Thiên Chúa hiện hữu trong từng chi tiết đó.

* * *
Câu chuyện giáng sinh của mọi người là câu chuyện trong Phúc Âm theo Thánh sử Luca. Điều làm cho câu chuyện đó được yêu mến là sự thân thiện. Thánh Luca có vẻ như viết cho dân ngoại, cố gắng tới đúng chỗ Chúa Giêsu sinh ra về phương diện lịch sử và địa lý. Chúa Giêsu giáng sinh không là một ẩn dụ hoặc ngụ ngôn như những câu chuyện thời Trung cổ, mà đó là sự kiện thật ở nơi thật mà lịch sử có thể chứng minh.
Thánh Luca tiếp tục cho chúng ta thấy kỹ năng viết của một sử gia, chính xác các chi tiết mà chúng ta cần biết về sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta biết Thánh Giuse và Mẹ Maria cảm thấy thế nào khi không có chỗ trọ, và các ngài vui thế nào khi tìm được cái hang chiên lừa, và khiến chúng ta cũng cảm thấy như Thánh Giuse và Mẹ Maria. Rất chi tiết. Còn các tác giả Phúc Âm khác không cho chúng ta biết chi tiết như vậy, mà chỉ nói các điểm chính.

* * *
Ngôi Lời hóa thành nhục thể không chỉ là sự kiện một lần trên Thập giá hoặc Thăng thiên. Đức Giêsu Kitô không chỉ đến trong thế gian ở một nơi đặc biệt và vào thời điểm đặc biệt, mà Ngài còn thiết lập Giáo hội là Nhiệm Thể Ngài trên thế gian này. Các cộng đoàn tín hữu sinh sống ở mọi nơi trên hành tinh này – họ là các chi thể của Đức Kitô. Nếu bạn muốn biết Chúa Giêsu như thế nào, hãy vào nhà thờ và nhìn xung quanh bạn.
Hơn nữa, chúng ta còn gặp Đức Kitô hiện thân trong Bí tích Thánh Thể, vì Ngài nói: “Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:55). “Hóa thân” không là điều trừu tượng – đó là điều “cụ thể kỳ diệu” trong đời sống thường nhật của chúng ta. Điều đó không chỉ xảy ra hơn hai ngàn năm trước mà vẫn đang xảy ra từng ngày trong thời đại chúng ta ngày nay.
“Hóa thân” là “hiện thân” của tình yêu hiện hữu trong những điều thực tế mà Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta. Đó không chỉ vì sự hiểu biết của phàm nhân yếu đuối mà các bí tích đều được cử hành bằng các dấu bề ngoài. Chúa Con đã hóa điều đó nên sự thánh.
Chính trong Thánh Thể, chúng ta thấy sự nuôi dưỡng dành cho tinh thần được mô tả trong dạng sơ đẳng nhất của sự nuôi dưỡng dành cho thân xác. Thiên Chúa vĩnh hằng hiện ra với chúng ta trong dạng tạm thời của bánh và rượu: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:26-28). Khi cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta được gợi nhớ rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã trở nên xác thịt thực sự để xẻ ra và máu thực sự để đổ ra.
Sự hóa thân đó cho chúng ta cảm thấy niềm vui thực sự thích hợp với lễ Giáng Sinh. Qua sứ vụ của Ngài, Chúa Giêsu thành Nadarét đã chữa lành các bệnh nhân và làm no thỏa những người đói khát. Ngài yêu thương chúng ta không chỉ để đưa chúng ta về Thiên đàng với Ngài, mà Ngài còn muốn chúng ta tận hưởng hạnh phúc ngay khi chúng ta còn sống trên thế gian này. Ngài chỉ yêu cầu chúng ta một điều duy nhất là yêu mến Ngài, đồng thời yêu thương tha nhân như Ngài đã yêu thương chúng ta.
Người ta vẫn thấy dấu vết của tình yêu Kitô trong các phong tục cổ và thói quen tặng quà giáng sinh. Việc mua thiệp giáng sinh cũng là sự thôi thúc của Kitô giáo là “trao tặng”, như Chúa Giêsu đã dạy: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35).
Chúa Giêsu luôn thấy điều tốt nơi chúng ta và tha thứ lỗi lầm cho chúng ta, Ngài cũng muốn chúng ta phải làm cho người khác hạnh phúc. Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều đó hiện thực nơi mỗi chúng ta.
Đây là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta: Chúng ta có thể xác để dùng nó mà thờ lạy Thiên Chúa, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà phục vụ tha nhân, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà đem lại sự thuận lợi, an ủi và chữa lành, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác vì mục đích làm vinh danh Thiên Chúa.
Lễ Giáng Sinh chan hòa niềm vui: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2:14). Chúa Giêsu sinh ra nơi hang bò lừa hôi tanh cho những gia đình lao động nghèo. Đó là điều vinh dự đích thực. Không gì lý tưởng bằng việc Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Con Thiên Chúa sinh ra theo cách rất ư bình thường, thậm chí còn tệ hơn bình thường. Những người đầu tiên biết Tin Vui này là những mục đồng chăn chiên nghèo khổ, chứ không phải những người cao sang quyền thế hoặc hoàng đế Augustô tại dinh thự ở Rôma, cũng chẳng phải bạo chúa Hêrôđê. Đó là sự kỳ diệu của Ngôi-Lời-Làm-Người: Ngôi Lời thực sự là người như chúng ta.
Câu chuyện giáng sinh là câu chuyện kể về cách mà xác thịt hóa thành thánh thiêng, thân xác được thánh hóa, và niềm vui trần tục trở nên thánh ca chúc tụng Thiên Chúa. Như vậy, lễ Giáng Sinh là lễ dành cho ngũ quan. Chúng ta thích nghe đi nghe lại câu chuyện Chúa Giêsu giáng sinh mà không chán, và câu chuyện đó vẫn ở mãi trong chúng ta.

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ FathersOfTheChurch.com)

Chuyện Ông Già Noel
Ông Già Noel có thật hay chỉ là truyền thuyết? Có thật chứ! Dù người ta có nói thì thực sự vẫn có một Ông Già Noel hào phóng, người ta gọi Ông Già Noel là Santa Claus.
Ông Già Noel tên là Nicholas (Ni-cô-la), là người theo Kitô giáo Hy Lạp, sinh tại Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 300 sau công nguyên. Ông thương người nghèo và cho họ những gì ông có. Cha mẹ ông mất vì bệnh dịch khi ông còn nhỏ. Ông sống như lời Chúa Giêsu nói với chàng thanh niên: “Bán tài sản và cho người nghèo” (Mt 19:21). Và ông đã thực hiện đúng như vậy.
Ông trở thành linh mục, rồi được bổ nhiệm làm giám mục GP Myra khi còn trẻ tuổi. Một truyền thuyết nói rằng ông được chọn vì ông có lòng đại lượng, yêu thương trẻ em, quan tâm các thủy thủ... đặc biệt thương những người bị oan sai. Ông Già Noel chính là Thánh Nicholas.
Tại TP Patara gần đó, có một thương gia bị mất hết tài sản, mà ông lại có ba đứa con gái. Ông không có gì để hồi môn cho các con. Thời đó, con gái có của hồi môn càng nhiều càng có cơ hội lấy chồng. Người cha cảm thấy chán nản lắm. Tiếng đồn tới tai Thánh Nicholas, lúc này Thánh Nicholas đem một túi vàng đặt ở trước nhà thương gia kia để có của hồi môn cho con gái lớn. Không lâu sau, cô con gái này có chồng.
Thánh Nicholas cũng làm vậy lần hai, rồi lần ba. Lần cuối cùng, người cha “canh me”, rồi bắt gặp nhà hảo tâm nên đã bày tỏ lòng biết ơn. Thánh Nicholas cấm ông không được cho ai biết chuyện, vì Chúa Giêsu dạy: “Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6:3). Những thỏi vàng được đặt vào những chiếc vớ treo trước lò sưởi. Do đó, trẻ em ngày nay thường treo vớ trong Đêm Giáng Sinh với hy vọng nhận được quà của Ông Già Noel.
Nhiều truyền thuyết nói rằng đó không là những túi vàng, mà là những trái bóng bằng vàng. Đó là lý do mà ba trái bóng vàng là biểu tượng của Thánh Nicholas – thánh bổn mạng của các tiệm cầm đồ (pawn shops).
Hồi còn trẻ, Thánh Nicholas hành hương tới Thánh Địa. Ngài đi trên con đường Chúa Giêsu đã đi xưa để có được cảm nghiệm sâu sắc về Chúa Giêsu. Khi trở về qua đường biển, một cơn bão mạnh đe dọa tàu. Thánh Nicholas vẫn bình tĩnh cầu nguyện. Các thủy thủ đều sợ hãi vì bão, nhưng bỗng ngạc nhiên khi thấy gió yên, biển lặng, mọi người thoát chết. Do đó, Thánh Nicholas là bổn mạng các thủy thủ và cách hành khách đường biển.
Hoàng đế Diocletian của Rôma mạnh mẽ chống lại Kitô giáo, hành hạ dã man các Kitô hữu, đã ra lệnh ĐGM Nicholas bị bắt. Ngài bị đánh đập, bị đày và bị tống ngục. Các tù nhân là các Kitô hữu quá nhiều nên chật nhà tù. Để giải quyết tình trạng này, họ hành hạ các Kitô hữu để giải khuây và co họ chết bớt.
Khi Hoàng đế Constantine gia nhập Kitô giáo, ĐGM Nicholas được thả. Trong cả Chính Thống giáo và Công giáo, nhiều câu chuyện kể về Thánh Nicholas về lòng nhân hậu: Cứu người thoát khỏi đói khát, cứu sống những người bị kết án tử oan sai. Những câu chuyện tương tự kể về việc Thánh Nicholas làm việc thiện nhưng không muốn ai biết.
Theo một nhà viết tiểu sử, 5 thế kỷ sau khi Ông Già Noel qua đời, Thánh Nicholas đã chống lại tà thuyết Arian – tà thuyết này không nhận thần tính của Chúa Giêsu. Một số nhà viết sử nói rằng Thánh Nicholas đã tham dự Công Đồng Nicê và đã thẳng tay tát vào mặt Arius (người khai sinh tà thuyết Arian). Các giám mục khác ngạc nhiên không hiểu sao ngài lại thô lỗ với Arius như vậy. Truyền thuyết nói rằng lúc đó cả Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã hiện ra bảo vệ ngài. Những người gièm pha ngài đều rút lui. Có thể đó chỉ là truyền thuyết, vì các sự kiện này không được ghi lại trong hồ sơ của Công Đồng, cũng không thấy có tên ĐGM Nicholas trong danh sách các tham dự viên.
Công Đồng Nicê nổi bật với tín điều mà ngày nay vẫn được sử dụng, xác tín rằng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Người sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha…”.
Thánh nicholas qua đời ngày 6 tháng 12 năm 343 (sau công nguyên) tại TP Myra, được an táng tại nhà thờ của ngài. Người ta nói rằng man-na (giống như lương thực từ trời nuôi dân Ít-ra-en đi qua sa mạc 40 năm dưới sự hướng dẫn của Mô-sê) xuất hiện trên mộ Thánh Nicholas và man-na này có khả năng chữa bệnh. Ngày nay, mộ của ngài tại Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là điểm đến của hàng ngàn khách hành hương mỗi năm. Lễ Thánh Nicholas là ngày 6 tháng 12 (ngày 19 tháng 12 theo lịch Julian), ngày ngài qua đời.
Hoàng đế Justinian dâng kính Thánh đường ở Constantinople cho Thánh Nicholas. Một sử gia Hy Lạp viết: “Cả Tây phương và Đông phương đều tôn vinh Thánh Nicholas. Ở đâu có người ở thì ở đó tên ngài được tôn kính, và có những nhà thờ được xây dựng dâng kính ngài. Mọi Kitô hữu tôn kính ngài và cầu xin ngài bảo trợ”.
Khi TP Myra mừng lễ ngài thì một nhóm hải tặc Ả Rập từ đảo Crete đến tấn công, cướp tài sản và bắt các tù nhân đem bán làm nô lệ. Cậu bé Basilios bị bắt và phải dâng rượu cho vua Ả Rập, rượu đựng trong chiếc ly vàng rất đẹp. Cha mẹ của Basilios đau khổ vì mất đứa con duy nhất, họ đau buồn suốt nhiều năm.
Gần ngày lễ Thánh Nicholas, người mẹ không muốn tham dự. Thay vì bà phải tới nhà thờ cầu nguyện cho con trai. Khi dâng rượu cho vua Ả Rập, Basilios bất thần chạy trốn. Thánh Nicholas xuất hiện trước mặt Basilios đang hoảng hốt, ngài chúc lành và đưa Basilios về tòa giám mục ở Myra. Truyền thuyết nói rằng Basilios đã xuất hiện trước mặt người mẹ khi bà đang cầu nguyện, tay Basilios vẫn cầm chiếc ly vàng của vua Ả Rập.
Có gần 400 nhà thờ được dâng kính Thánh Nicholas ở Anh quốc hồi cuối Thời Trung Cổ. Nhiều truyền thuyết về Thánh Nicholas nói ngài đã đến với những người độc ác giết người hoặc bắt cóc trẻ em, và ngài cầu nguyện cho họ. Sau đó họ đã hoán cải.
Tại Pháp, có chuyện kể về ba trẻ em đi chơi và bị lạc, chúng bị lừa bán làm nô lệ. Thánh Nicholas cầu xin Thiên Chúa và chúng đã được thả về với gia đình. Do đó, Thánh Nicholas được coi là bổn mạng của trẻ em. Ngày nay, Thánh Nicholas được sùng kính cả ở Đông phương và Tây phương với tước hiệu là thánh bổn mạng của trẻ em, của người đi biển, của ngành ngân hàng, các tiệm cầm đồ, các học giả, các trẻ mồ côi, dân lao động, các du khách, các thương gia, các quan tòa, dân nghèo, các thanh thiếu nữ, các sinh viên, các nạn nhân bị oan sai, các tù nhân và các người làm hoặc bán nước hoa. Ngài là thánh bổn mạng của TP Apulia (Ý quốc), đảo Sicily, Hy Lạp, và TP Lorraine (Pháp quốc).
Sau khi được rửa tội ở Constantinople, Nga hoàng Vladimir I đã đem các câu chuyện về Thánh Nicholas và lòng súng kính ngài về Nga. Ngày nay, Thánh Nicholas vẫn là vị thánh được sùng kính nhiều nhất tại Nga, với hơn 2.000 nhà thờ mang tên Thánh Nicholas.
Tại một số quốc gia, Thánh Nicholas được gọi là Papa Noel (Cha Giáng Sinh), Sinter Klaus hoặc Santa Claus (Sinter/Santa là “thánh”, Klaus/Claus là dạng thu gọn của chữ Nicholas).
Mộ Thánh Nicholas ở Myra vẫn là nơi thu hút khách hành hương. Khoảng năm 1000 (sau công nguyên), vì nhiều cuộc chiến xảy ra trong vùng, một số Kitô hữu quan ngại việc kính viếng mộ Thánh Nicholas, nhất là vì Thổ Nhĩ Kỳ đa số là dân Hồi giáo. Đầu năm 1087, các thủy thủ đã đem xương Thánh Nicholas tới Bari, một hải cảng thuộc miền duyên hải tại Ý quốc.
Một nhà thờ được xây dựng ngay trên mộ ngài, nhiều tín hữu vẫn không ngừng tới kính viếng Thánh Nicholas – người là nguồn cảm hứng về Ông Già Noel ngày nay.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
Giáng Sinh 2014

Chiều kích của Tình Yêu
Ai cũng khả dĩ biết rằng tình yêu là điều rất quan trọng trong Kinh Thánh và đời sống, nhưng chúng ta có thực sự biết tình yêu quan trọng như thế nào? Chúng ta hãy xem thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông Đồ để tìm hiểu tình yêu liên quan Thiên Chúa thế nào. Thánh Gioan đã nói rõ: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8). Đó là cách định nghĩa của Thánh Gioan về Thiên Chúa.
Thiên Chúa không chỉ có tình yêu thương dành trọn chúng ta, mà chính Ngài là Tình Yêu Thương. Tuy nhiên, Ngài không chỉ yêu cầu chúng ta yêu thương nhau, mà chính Ngài đã thực hiện tình yêu thương trọn vẹn, yêu thương đến chấp nhận chịu chết vì chúng ta. Bằng nhiều cách, Thánh Gioan diễn tả tình yêu Thiên Chúa rất khéo léo, mạnh mẽ và chính xác.

TÌNH YÊU HY SINH
“Chúng ta đã BIẾT tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã TIN vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu: ai Ở LẠI trong tình yêu thì Ở LẠI trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa Ở LẠI trong người ấy” (1 Ga 3:16).
Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu nhắc chúng ta nhớ rằng, trên hết mọi sự, tình yêu là hy sinh, là quên mình. Tình yêu luôn mang tính vị tha, luôn hướng về người khác, quan tâm người khác, những người là hiện thân của Đức Giêsu Kitô. Chúng ta phải ghi nhớ và thực hành cách mà Chúa Giêsu đã yêu thương và hy sinh, luôn tiếp tục thể hiện tình yêu đó nếu chúng ta muốn làm môn đệ của Ngài.

TÌNH YÊU NOI GƯƠNG – “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” (1 Ga 4:7).
Dĩ nhiên chúng ta không thể yêu thương trọn vẹn như Chúa Giêsu, nhưng chúng ta được Ngài mời gọi cố gắng hết sức có thể. Vấn đề là chúng ta có cố gắng hay không. Chúng ta có thể trải nghiệm tình yêu Thiên Chúa đầy đủ hơn nếu chúng ta yêu thương nhau.

TÌNH YÊU HIỆN THÂN – “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1 Ga 4:9).
Chúa Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta, nêu gương để chúng ta sống theo. Chúa Giêsu yêu thương và tha thứ mọi người, đó là đặc tính hoàn hảo của tình yêu dành cho nhau phải được thể hiện.

TÌNH YÊU TIỀN ĐỊNH – “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10).
Khả năng yêu rất quan trọng, dù chúng ta cố gắng thế nào thì cũng không thể yêu tới mức cao nhất. Tình yêu không thể cân-đo-đong-đếm. Mức độ yêu là yêu không có mức độ. Hãy nghĩ về mức độ yêu thương để có thể đạt tới mức cao nhất trong đời sống thường nhật của chúng ta, tất nhiên chúng ta có yêu thương tới mức nào thì cũng không bao giờ bằng tình yêu Thiên Chúa mãi mãi dành cho chúng ta.

TÌNH YÊU CHÂN THẬT – “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4:20-21).
Thánh Gioan so sánh rất cụ thể và rõ ràng: Những người chúng ta nhìn thấy hằng ngày mà còn chưa yêu được thì đừng nói mình yêu mến Thiên Chúa. Nghĩa là NÓI DỐI, là GIẢ HÌNH. Mà Thiên Chúa rất ghét thói giả hình. Không ai có thể tự biện hộ!

TÌNH YÊU CAN ĐẢM – “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1 Ga 4:18).
Yêu mến Thiên Chúa dễ hơn yêu thương tha nhân, vì Thiên Chúa nhân lành và vô hình, còn tha nhân hữu hình và “khó ưa” lắm, thậm chí còn phải yêu cả kẻ thù nữa. Yêu thương như vậy thì đúng là người can đảm lắm! Yêu mà sợ hoặc nhát đảm thì đừng nói là yêu. Yêu thương tha nhân chính là tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót.

TRẦM THIÊN THU

 

DongCongNet - December 22, 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)