dongcong.net
 
 


Lễ Lá : Trầm Thiên Thu

 

Hành trình đau khổ

(Chúa Nhật Lễ Lá, năm B)

Người ta thường nói: “Khổ ải trần gian” hoặc “Đời là bể khổ”. Vâng, “biển khổ” chứ không phải “sông khổ” hoặc “ao khổ”. Điều đó cho thấy kiếp người không ngừng nối tiếp đau khổ, là một hành trình đau khổ triền miên. Có lẽ do vậy mà khi sinh ra không ai cười, ai cũng “cất tiếng khóc chào đời”. Biết chấp nhận thì có thể “hóa giải” đau khổ thành niềm vui, nếu không thì càng chồng chất thêm đau khổ mà thôi.
Hơn 2000 năm trước, Thích Ca Mâu Ni là người sống trong cung vàng điện ngọc, nhưng ông đã “giác ngộ” sau khi nhìn thấy những cảnh khổ của kiếp người, thế nên ông quyết ngồi thiền dưới gốc bồ đề để tu thân và “tâm niệm” Tứ Diệu Đế: Sinh là khổ, Bệnh là khổ, Lão là khổ, và Khổ là khổ. Ông đã siêu thoát và được người ta tôn vinh là Đức Phật. Muốn thoát đau khổ không gì hơn là đi xuyên qua đau khổ. Chúa Giêsu cưỡi lừa vào thành Giêrusalem, được người ta tung hô khi tay họ cầm lá thiên tuế chào đón. Nhưng đó cũng là lúc Ngài khởi đầu “hành trình đau khổ”.

TÔI TỚ ĐAU KHỔ
Ngôn sứ Isaia nhiều lần tiên báo về “người tôi tớ đau khổ”. Ông cảm thấy Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho ông nói năng như một người môn đệ, để ông biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Ông xác nhận: “Sáng sáng Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ” (Is 50:4). Ông cho biết thêm: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50:5).
Ngôn sứ Isaia “không cưỡng lại” và “không thoái lui” dù ông phải “đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu” và “không che mặt khi bị mắng nhiếc, phỉ nhổ” (Is 50:6). Ông tin mình “có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ”, vì thế, ông “không hổ thẹn” mà cứ “trơ mặt ra như đá”. Thế nên ông biết mình sẽ “không phải thẹn thùng” (Is 50:7). Ông là hình ảnh của Đức Kitô, con người của đau khổ, khởi đầu “hành trình đau khổ” từ Giêrusalem, ngay khi được người ta cầm những cành thiên tuế tung hô là vua.
Tác giả Thánh vịnh mô tả về tình trạng chịu nhục nhã ê chề:
Thấy con ai cũng chê cười
Lắc đầu, bĩu mỏ, buông lời mỉa mai:
“Nó trông cậy Đức Chúa Trời
Cứ để mặc Người giải cứu nó đi!” (Tv 22:8-9)
Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ không chỉ bị khiêu khích, bị đau khổ về tinh thần mà còn bị đau khổ về thể lý:
Quanh con bầy chó bao chặt chẽ
Bọn ác nhân vây bủa trong ngoài
Chúng đâm con thủng chân tay
Xương con đếm được vắn dài, chúng xem (Tv 22:17-18)
Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ bị đau khổ đến tận cùng, nhưng vẫn luôn trông cậy vào Thiên Chúa:
Áo mặc ngoài chúng đem chia chác
Còn áo trong cũng bắt thăm luôn
Chúa là sức mạnh con nương
Cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa! (Tv 22:19-20)
Đồng thời vẫn muốn tôn vinh Thiên Chúa trong chính những đau khổ của mình:
Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa
Cho anh em tất cả được hay
Và trong đại hội dân Ngài
Con xin dâng tiến một bài tán dương (Tv 22:23)
Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ luôn trung tín với Thiên Chúa, tự động viên mình và khuyến khích người khác: “Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ítraen tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:24).

CHẤP NHẬN ĐAU KHỔ
Thánh Phaolô vừa phân tích vừa xác định: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6). Đạo cũng như đời, người quyền cao chức trọng có mấy ai dám “vi hành” để hiểu rõ cảnh khổ của người dân?
Trong tác phẩm Authority: Its Use and Abuse (*) có kể một số “điểm son” của Đức cố GM Irumpen, GP Palakkad (Ấn Độ), đáng để chúng ta noi gương: Mỗi Chúa nhật, ngài đến một giáo xứ nào đó mà không báo trước, ngồi tòa giải tội khoảng 15-20 phút, dâng lễ, giảng lễ, dạy giáo lý, và chuyện trò với giáo dân và linh mục quản xứ; ngài không bao giờ cho phép người ta tổ chức tiếp tân chào mừng ngài tại các giáo xứ. Và tại tòa giám mục hay ở bất cứ nơi đâu mà ngài ghé thăm, ngài không nhận bất cứ sự biệt đãi nào dành cho mình; ngài cho rằng sự hào nhoáng bên ngoài (kiểu như đoàn xe đưa rước trong những dịp đặc biệt) không phải là chứng nhân Tin Mừng mà là chứng nhân của văn hóa thế tục; hằng ngày ngài dành thời gian từ 9 giờ đến 12 giờ để tiếp bất cứ ai đến gặp, không cần hẹn trước; ngài không bao giờ nghỉ trưa; ngài chỉ dự những lễ kỷ niệm chịu chức hay khấn dòng nếu những lễ ấy tổ chức ở nhà thờ chính tòa; ngài không tổ chức mừng ngày kỷ niệm thụ phong giám mục của mình. Năm nào ngài cũng mừng lễ bổn mạng, dịp các linh mục tĩnh tâm tháng vào ngày 19-3. Linh mục đoàn cùng nâng cốc chúc mừng và nhâm nhi chút bánh ngọt; ngài không đưa lên bảng thông tin giáo phận các tin về hoạt động hay đi lại của ngài trong giáo phận, mà chỉ thông tin cho mọi người biết trước về những trường hợp ngài phải ra ngoài giáo phận quá một ngày, chẳng hạn khi ngài sắp đi dự họp Hội Đồng Giám Mục,...; ngài không bao giờ đi nước ngoài, trừ phi đó là bổn phận bắt buộc như về Rôma dịp Ad limina. Ngài không bao giờ đi nước ngoài để quyên tiền. Ngài nói rằng các nhu cầu căn bản của giáo phận cần phải được gánh vác bởi chính giáo dân trong giáo phận; không bao giờ có chuyện “phạt treo”, chẳng hạn không cấp giấy chứng chỉ hôn phối vì người ta chưa đóng góp quĩ; ngài luôn ăn mặc giản dị, ăn chay trường, và chẳng ai thấy hình ảnh của ngài trên báo chí; ngài hưu trí tại nhà hưu của các linh mục cao niên. Cuộc đời ngài thật đơn giản, tất cả đồ đạc xếp gọn trong một chuyến xe nhỏ; giáo phận tặng ngài một ô tô dịp ngài về hưu, nhưng ngài không nhận, chỉ muốn được trợ cấp hưu bổng đúng theo mức hưu dưỡng như các linh mục khác trong giáo phận; ngài không muốn xin viện trợ từ bên ngoài để xây các nhà thờ to lớn. Nếu ai dâng hiến đất, ngài sẽ xây một nhà thờ vừa phải với sự hỗ trợ của chính các giáo dân địa phương; văn phòng của ngài là một gian phòng nhỏ trong một ngôi nhà cũ kỹ, không có bất cứ món trang trí nào; ngài là một chứng nhân Tin Mừng, sống điều ngài rao giảng, cách sống của ngài cho thấy rõ quyền bính là để phục vụ.
Tại Việt Nam có gương sáng của Đức cố GM Cassaigne (người Pháp, quen gọi cha Sanh, nguyên giám mục GP Saigon), vị tông đồ của người cùi. Ngài cũng đã từng rong ruổi khắp khu dân cư nghèo để thấy rõ thực tế, cửa tòa giám mục cũng luôn rộng mở đón tiếp mọi người.
Những chứng nhân như vậy thật đáng khâm phục vì đúng là những mục tử của Chúa, dám quên mình vì đoàn chiên.
Chúa Giêsu không chỉ là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ mà còn là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ-Khiêm-Nhường: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:7). Cái chết của Ngài khác thường là “chết trên thập giá”, loại khổ hình nhục nhã nhất thời đó. Chính vì Ngài chịu đau khổ đến tột cùng mà “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2:9), danh hiệu ấy cao cả và quyền năng đến nỗi “khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2:10). Để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:11).
Trong cuộc sống, không ai muốn đau khổ, nghĩa là ai cũng muốn sống sung sướng, muốn tận hưởng niềm hạnh phúc – tận hưởng bằng mọi cách và càng nhiều càng tốt. Vì thế mà con người miệt mài đêm ngày đi tìm hạnh phúc. Đau khổ luôn là điều bí ẩn đối với cuộc sống. Thậm chí những người chấp nhận đau khổ có thể bị coi là “ngu xuẩn”, là “dại dột”, là “điên khùng”.
Bất kỳ ở quốc gia nào, một bị cáo đứng trước vành móng ngựa cũng có luật sư bào chữa. Trong Giáo hội Công giáo, trước khi phong thánh cho ai thì cũng có 2 “phe”, một phe đưa ra các điều tốt và một phe đưa ra các điều xấu – được gọi là “luật sư của quỷ”, phe luật sư này sẽ đưa ra mọi thứ “bất lợi” cho ứng viên đến khi “chịu thua” mới thôi. Chẳng hạn trường hợp của Chân phước GH Gioan XXIII, luật-sư-của-quỷ đã hết cách nên đành “tố cáo” Gioan XXIII hồi nhỏ hay chơi diều.
Còn Chúa Giêsu, khi bị xét xử, dù không ai thấy Ngài có tội gì ngoài “tội làm điều tốt”, không hề có luật sư bào chữa. Phúc âm theo thánh sử Mác-cô ghi rõ rằng vừa tảng sáng, các thượng tế đã họp bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng. Sau đó, họ trói Đức Giêsu lại và giải đi nộp cho ông Philatô. Ông Philatô hỏi Ngài: “Ông là vua dân Do Thái sao?” (Mc 15:2a). Chúa Giêsu trả lời: “Đúng như ngài nói đó” (Mc 15:2b). “Đúng như ngài nói đó”, một câu nói đơn giản mà thâm thúykhiêm nhường. Chúa Giêsu không hề tự nhận là Vua-dân-Do-Thái mà tại người ta nói vậy. Ngài chỉ tự nhận” là Con-Số-Không: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20; Lc 9:58) và “Tôi đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45).
Các thượng tế tố cáo Người nhiều tội, nên ông Philatô lại hỏi: “Ông không trả lời gì sao? Nghe kìa, họ tố cáo ông biết bao nhiêu tội!” (Mc 10:4). Nhưng Đức Giêsu không trả lời gì nữa, khiến ông Philatô phải ngạc nhiên. Người hiểu thì không cần giải thích, người không hiểu thì giải thích cũng vô ích.
Vào mỗi dịp lễ lớn, ông Philatô thường phóng thích cho dân một người tù, tuỳ ý họ xin. Khi ấy có tử tù “khét tiếng” Baraba đang bị giam với những tên phiến loạn đã giết người trong một vụ nổi dậy. Đám đông kéo nhau lên yêu cầu tổng trấn ban ân xá như thường lệ. Ông Philatô hỏi: “Các ông có muốn ta phóng thích cho các ông vua dân Do Thái không?” (Mc 10:9). Ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà các thượng tế nộp Ngài. Nhưng các thượng tế xách động đám đông đòi ông Philatô phóng thích Baraba. Bị áp lực mạnh nên ông Philatô lại hỏi: “Vậy ta phải xử thế nào với người mà các ông gọi là vua dân Do Thái?”. Họ la lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mc 10:13). Ông Philatô muốn tha Chúa Giêsu vì thấy Ngài vô tội, nhưng ông ta hèn nhát và sợ mất chức quyền, ông cù cưa: “Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác?” (Mc 10:14a). Nhưng họ càng la to: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mc 10:14b).
Vì muốn chiều lòng đám đông, ông Philatô phóng thích Baraba và truyền đánh đòn Đức Giêsu, rồi trao Ngài cho họ đóng đinh vào thập giá. Lính điệu Đức Giêsu vào bên trong dinh tổng trấn, và tập trung cả cơ đội lại. Chúng khoác cho Ngài một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Ngài, rồi mỉa mai: “Vạn tuế đức vua dân Do Thái!” (Mc 10:18). Chúng lấy cây sậy đập lên đầu Ngài, khạc nhổ vào Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo điều ra, và cho Ngài mặc áo lại như trước. Vải dính vào những vết thương sẽ rất đau đớn khi bị giật áo ra. Cảnh tượng thật hãi hùng!
Thường thì các tử tội được ân huệ sau cùng, nhưng Chúa Giêsu không hề được ân huệ cuối cùng nào, có chăng chỉ là chút giấm chua. Bị hành hạ đủ kiểu, thương tích đầy mình, thế mà Ngài còn phải tự vác thập giá đi lên đồi. Lúc ấy, có một người tên Simôn (gốc Kyrênê, từ miền quê lên) đi ngang qua đó. Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Đức Giêsu. Tới Gôngôtha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng trao rượu pha mộc dược cho Ngài, nhưng Ngài không uống. Chúng đè Ngài xuống và đóng đinh vào thập giá, rồi đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau. Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba (khoảng 9 giờ sáng).
Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tên cướp. Ngài bị liệt vào hạng những tên phạm pháp. Kẻ qua người lại đều nhục mạ Ngài, vừa lắc đầu vừa nói: “Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi!” (Mc 10:29-30). Các thượng tế và kinh sư cũng chế giễu Ngài như vậy, và kháo nhau: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình”. Rồi họ thách thức: “Ông Kitô vua Ít-ra-en, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin” (Mc 10:31-32). Thậm chí cả một tên cùng chịu đóng đinh với Ngài cũng không biết thân mà còn nhục mạ Ngài.
Bóng tối bao phủ khắp mặt đất từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (khoảng 12 giờ tới 15 giờ). Một hiện tượng thiên nhiên bất thường, vô cùng kỳ lạ. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-lôi, Ê-lôi, la-ma-xa-bác-tha-ni!” – nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 10:34). Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Êlia”. Có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Để xem ông Êlia có đến đem hắn xuống không”.
Đức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Lại một sự kiện lạ lùng nữa. Chính viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Ngài tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 10:39). Thế là hoàn tất hành-trình-đau-khổ. Người không tin thì đó là thất bại ê chề của Đức Kitô, nhưng họ lầm to. Đối với những người tin Ngài thì đó là Ơn Cứu Độ. Giáo hội cùng chịu Đại Tang, không chỉ là quốc tang mà còn là thế giới tang!
Lạy Chúa, chúng con thành tâm sám hối và xin lỗi Chúa, xin thương xót và tha thứ. Xin cảm tạ Chúa Cha đã ban Đấng Cứu Thế cho chúng con. Chúng con thật may mắn và hạnh phúc vì được tận hưởng Lòng Thương Xót vô biên qua cái chết của Đức Kitô. Xin giúp chúng con can đảm sống xứng đáng với Ơn Cứu Độ, kiên trì đi trọn hành trình đau khổ và làm chứng nhân của Lòng Chúa Thương Xót, để chúng con cũng được cùng phục sinh với Chúa Con. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Authority: Its Use and Abuse (Sử dụng và Lạm dụng quyền bính), sách của LM C.P. Varkey (NXB The Bombay Saint Paul Society, 1999).

Màu xanh hy vọng
(Chúa Nhật Lễ Lá, năm B)

Hy vọng là khởi đầu ước mơ, là đường dẫn tới mục đích. Hy vọng rất cần cho cuộc sống. Có bốn ý tưởng hay đối với cuộc sống: Nhìn lại phía sau để rút kinh nghiệm, nhìn lên phía trước để có hy vọng, nhìn ra xung quanh để thấy thực tế, nhìn vào nội tâm để thấy chính mình.
Màu xanh tượng trưng cho niềm hy vọng. Lễ Lá là khởi đầu Tuần Thánh, khởi đầu khoảng buồn thương vô tận, đầy tang tác và chết chóc, nhưng màu xanh của lá cho chúng ta niềm hy vọng tràn trề: Đức Kitô phục sinh.
Trước lễ Vượt Qua một tuần, Chúa Giêsu cưỡi một con lừa nhỏ vào Thành Giêrusalem, có các môn đệ lội bộ theo sau. Thánh Gioan nói rõ: “Dân chúng lũ lượt tuôn đến mừng lễ. Thoạt nghe tin Đức Giêsu tới Giêrusalem, họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Ít-ra-en!” (Ga 12:12-13).
Buồn để rồi vui. Buồn càng nhiều, vui càng rộn rã. Cũng vậy, đau khổ để rồi hạnh phúc. Đau khổ càng nhiều, hạnh phúc càng lớn. Đó là sự tất yếu, và cũng là Thánh Ý Thiên Chúa mầu nhiệm.
Trình thuật Is 50:4-7 là phần đầu của bài thứ ba trong số các Bài Ca Người Tôi Trung. Đó là nói về đau khổ của Người Tôi Trung – Người Tôi Tớ Đau Khổ: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ”. Những động thái đó không phải là miễn cưỡng, nhưng là tự nguyện – vì yêu thương và thương xót những người mà Người Tôi Trung quý mến. Kẻ được yêu đó là chính mỗi tội nhân chúng ta.
Đau khổ lắm. Đau khổ đến tột cùng. Phàm ngôn không đủ lời để diễn tả. Nhưng dù đau khổ tới đâu, Người Tôi Trung vẫn một lòng tín thành và tín thác: “Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng”. Chẳng ai muốn khổ, chẳng ai mong sầu, nhưng có đau khổ mới biết thương người khác. Nếu chưa đau khổ, người ta không thể hình dung ra đau khổ thế nào. Chưa đi tù thì không thể hiểu hết cảnh tù đày, chưa hiểu hết nghĩa của sự tự do. Bị tù là bị khổ.
Có lẽ chúng ta nghe Kinh Thánh kể hoặc nghe nói về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu nhiều lần rồi, hầu như thuộc lòng, nhưng có thể nói rằng vẫn có chút gì đó “mơ hồ” nếu chưa xem phim “The Passion of Christ” (Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu) của đạo diễn Mel Gibson (1). Xem cảnh quân lính đánh đập Chúa Giêsu rất dã man, khó có ai có thể tưởng tượng được như vậy. Mel Gibson có trí óc rất tinh tế. Giỏi thật!
Khi gặp đau khổ, người kiêu ngạo thì nguyền rủa – nguyền rủa người khác, trách móc đất trời, và vùng vẫy như con giun bị đạp; còn người khiêm nhường thì cam chịu, tủi thân, có trách thì chỉ trách mình mà thôi: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:7-9). Buồn lắm, buồn đến chết được!
Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Chuỗi buồn này tiếp chuỗi sầu khác. Nước mắt không chỉ mặn, mà còn chua và cay. Cô đơn và lạc loài, thế mà đau khổ cứ tiếp tục chồng lên đau khổ: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa!” (Tv 22:17-20). Đó là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Dù là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa Cha, nhưng Ngài vẫn phải chịu đau khổ đến tột cùng để làm trọn sứ vụ cứu độ chúng sinh. Chắc chắn không một phàm nhân nào phải chịu đau khổ như Ngài. Nhân tính nơi Ngài cũng phải chịu đựng lắm, cả tinh thần và thể lý, chúng ta không thể tưởng tượng được. Ngay cả những người chịu đóng đinh trong lễ hội Cutud (Philippines) chỉ là một phần nhỏ so với Con Người Giêsu mà thôi, chưa thấm vào đâu!
Dù cô đơn, lạc loài, nhục nhã, đau khổ, nhưng Người Tôi Trung vẫn quyết vì Danh Chúa. Hình ảnh này đã và đang được thể hiện nơi các vị tử đạo. Một lần hứa là trọn trăm năm, trước sau như một, không gì có thể lay chuyển: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương” (Tv 22:23).
Thánh Phaolô cho chúng ta biết về sự tự nguyện của Người-Tôi-Trung-Đau-Khổ: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:6-8). Sự tự nguyện luôn cao cả, quý giá, đáng khâm phục, đáng noi gương. Dù là loại tình yêu nào thì cũng phải tiết ra “chất” hy sinh, nếu không có sự hy sinh thì không đáng gọi là tình yêu. Hy sinh cao nhất là “dám chết” vì người khác. Thật vậy, khi nói về tình yêu, Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).
Đức Giêsu Kitô đã nêu gương để chúng ta noi theo. Thánh Phaolô giải thích và kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:9-11).
Thật lạ, chuỗi đau khổ bắt đầu chính từ khoảnh khắc hiển hách. Trình thuật Mc 14:1-15 như một đoạn phim sống động, cho chúng ta thấy rõ điều đó: Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Đức Giêsu và giết đi, vì họ nói: “Đừng làm vào chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động”. Họ muốn giết Ngài trước ngày lễ, nhưng không thể: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
Lúc đó, ngay tại nhà ông Simon Cùi ở làng Bêtania. Giữa lúc Đức Giêsu dùng bữa, có một phụ nữ đến với chiếc bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng (2) nguyên chất, thứ đắt tiền. Cô đập ra, đổ dầu thơm trên đầu Người. Chắc hẳn cô biết mình tội lỗi, nhưng cô không có ý “mua chuộc” hoặc “lấy lòng” Chúa Giêsu. Không biết cô có biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa hay không, nhưng cô thực sự tâm phục khẩu phục Con Người thánh thiện và cao cả này. Cô tin nên cô mới “ngồi lì” để xin Ngài thương xót. Niềm hy vọng của cô rất lớn, rất cao, rất rộng, rất sâu.
Đám bạn của ông Simon Cùi biết rõ cô nàng này, thế nên có vài người lấy làm bực tức và xì xầm: “Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo”. Ra cái điều nhân đức lắm. Bảo là thương người nghèo hay tiếc của? Họ hy vọng điều gì? Chúng ta cũng thường có động thái này khi muốn chứng tỏ “bản lĩnh đạo đức” của mình, nhưng ngày nay “phong cách” của chúng ta tinh vi hơn thời xưa. Thử “nhìn” các thành viên trong hội này hoặc đoàn nọ mà xem. Chẳng oan uổng chi mô!
Tức trong lòng chưa đủ, họ còn thốt ra lời họ gắt gỏng với cô. Lòng ghen tức của con người kinh khủng, thật đáng sợ! Nhưng Đức Giêsu ôn tồn bảo họ: “Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! Điều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng. Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô”. Chúa Giêsu không thích nói nhiều, nhưng lúc này Ngài phải nói “dài hơi” một chút để những người có “óc bã đậu” (dốt thật hoặc cố chấp) có thể hiểu.
Nữ tội nhân này bị chúng ta khinh miệt và ghét bỏ, nhưng Chúa Giêsu đã làm cho cô hãnh diện: “Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô.
Điều gì sẽ đến rồi sẽ đến. Thánh sử Mác-cô kể ngắn gọn sang một cảnh khác: “Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền. Giu-đa liền tìm cách nộp Người sao cho tiện” (Mc 14:10-11). Vì mê tiền, ông Giu-đa đã “đi đêm” với bọn bất lương. Ông cũng có cách hy vọng riêng: Có tiền tiêu xài hoặc làm việc gì đó. Tiền dù rất “bạc bẽo” nhưng nó có ma lực cực mạnh, khó có thể cưỡng lại, và Thánh Phaolô đã xác định: Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10). Lơ là một thoáng là chết chắc – bất kỳ ai!
Rồi đến hôm đó là ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế Chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”. Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ vào thành, sẽ có một người mang vò nước đón gặp họ, và bảo họ cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào thì họ vào theo và hỏi chủ nhà xem phòng dành cho Ngài ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu. Chúa Giêsu cho biết rằng chính ông ấy sẽ chỉ cho một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng, và họ có nhiệm vụ dọn tiệc.
Chiều đến, Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai cùng tới. Đang khi dùng bữa, Người nói: “Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy”. Tá hỏa tam tinh. Giòi trong xương giòi ra thật ư? Đáng sợ thật! Kẻ thù thì dễ thấy mà đề phòng, người thân thiết thì biết họ trở tay lúc nào mà đề phòng? Rất nguy hiểm. Quả thật, bạn bè và người thân đôi khi còn đáng sợ hơn kẻ thù!
Và rồi sau Bữa Tiệc Ly, qua việc chỉ điểm của ông Giu-đa, bọn thủ ác đã tra tay bắt Chúa Giêsu. Thấy chướng mắt, ông Phêrô có sẵn gươm liền tuốt ra, vung chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế. Hú hồn! Có lẽ Phêrô chỉ hoảng mà chém đại thôi, chứ cũng đang run thí mồ! Nhưng rồi Chúa Giêsu bảo ông cất gươm, rồi Ngài chữa lành tai cho nạn nhân. Thế mà chúng vẫn cứng lòng tin, không chịu sám hối, vẫn quyết bắt giết Con Thiên Chúa!
Đoạn phim buồn chưa khép lại ở “khoảng tối” này, và còn một “khoảng đen” khác, nhưng cuối cùng sẽ là “vùng sáng” huy hoàng. Màu xanh hy vọng vẫn tươi sắc xanh biếc...
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết chấp nhận đau khổ với lòng tự nguyện, vì yêu Chúa, vì thương người, vì muốn cứu các linh hồn và để đền tội chính mình. Xin ban thêm lòng can đảm để chúng con đủ sức duy trì niềm hy vọng vào Danh Đức Giêsu Kitô cho tới hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
(1) Phim lồng tiếng Việt – https://www.youtube.com/watch?v=YthiJ07xRAs
(2) Cam tùng (tên khoa học là Nardostachys) là một chi thực vật thuộc họ Kim Ngân. Chi này gồm hai loại có thể gọi là cam tùng hoặc cam tùng hương, được sử dụng để chiết xuất lấy tinh dầu màu hổ phách, mùi rất thơm.

 

Cử hành Lễ Lá
Chúa Nhật Lễ Lá là ngày vui mừng, ngày tưởng nhớ Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem. Cả bốn Phúc Âm đều nói về sự kiện này.
Thánh sử Mát-thêu mô tả: “Các ông dắt lừa mẹ và lừa con về, trải áo choàng của mình trên lưng chúng, và Đức Giê-su cỡi lên. Một đám người rất đông cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá mà rải lên lối đi. Dân chúng, người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21:7-9).
Nhưng chỉ vài ngày sau đó, Ngài bị bắt, ngày mà chúng ta gọi là Thứ Năm Tuần Thánh, rồi Ngài bị xử tử vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Khởi đầu Tuần Thánh – Chúa Nhật Lễ Lá là ngày cuối cùng của Mùa Chay, và là khởi đầu Tuần Thánh. Tại các cộng đoàn, mọi người cùng cầm lá đi rước và hát mừng Đức Chúa, và cùng nhau tiến vào nhà thờ.

Lịch sử Chúa Nhật Lễ Lá – Thời Trung Cổ, Chúa Nhật Lễ Lá thường được đánh dấu bằng việc đốt hình nộm Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, sau khi bị ném đá. Đốt hình nộm như vậy là cách quở trách người môn đệ tham lam và bất tín đã phản bội Thầy Giêsu.

Chúa Nhật Lễ Lá trên thế giới – Trong Giáo hội Công giáo, chủ tế mặc lễ phục đỏ, màu máu, cho thấy rằng sự hy sinh cứu độ khi Ngài tiến vào Thành Giêrusalem. Các cộng đoàn có thể dùng lá ô-liu, lá dừa, lá cọ, lá vân sam hoặc các loại lá khác. Sau đó lá được đưa về gia đình.
Thói quen trang trí mộ bằng lá được làm phép vẫn còn ở một số nơi tại Đức quốc. Tại Pakistan, các Kitô hữu vừa cầm lá tiến vào nhà thờ vừa hát Thánh Vịnh 24.
Trong Giáo hội Chính Thống Nga và nhiều Giáo hội Âu châu khác, các tín hữu cầm những cành liễu thay cho lá cọ vì vấn đề giá cả. Một số tín đồ Chính Thống giáo dùng lá ô-liu. Các cành lá này được làm phép và phân phát cho mọi người cùng với một cây nến. Sau đó, họ đưa cả lá và nến về nhà để mong được phúc lành.
Tại Nga, nhiều thành phố có rước lừa, đặc biệt là ở Novgorod và Moscow. Đức Thượng Phụ của Moscow, vị đại diện Đức Kitô, cưỡi trên một con lừa đi cùng đoàn rước. Nga hoàng đi bộ dẫn đầu đoàn rước. Đoàn rước ở Moscow khởi đi từ điện Kremlin và kết thúc tại nhà thờ Chúa Ba Ngôi (Trinity Church), ngày nay là nhà thờ Thánh Basiliô. Tuy nhiên, Nga hoàng Peter I đã hủy bỏ thói quen này.
Tại Ấn Độ, các cành lá được phân phát trước nhà thờ, các cành lá có kết hoa vạn thọ. Tại Tây ban Nha, đặc biệt ở TP Seville, có các cuộc rước lá trong Tuần Thánh, khởi đầu từ Chúa Nhật Lễ Lá. Các cuộc rước này biểu hiện cuộc thương khó của Chúa Giêsu Kitô. Bánh piazza được bán trước nhiều nhà thờ ở khắp nước Ý, người ta cũng bán lá ô-liu và lá cọ.
Tại Rôma, người ta thường diễn lại việc Chúa Giêsu vào Thành Giêrusalem rất quy mô. Tại Hy Lạp, Chúa Nhật Lễ Lá được gọi là kyriake, heorte ton baion, heorte baiophoros, hoặc Chúa Nhật La-da-rô. Họ có ngày lễ La-da-rô sống lại ngay hôm trước Chúa Nhật Lễ Lá. Còn tại Hoa Kỳ, Chúa Nhật Lễ Lá thường là ngày lặng lẽ ở các nhà thờ. Chúng ta được mời gọi tham dự ngày đặc biệt này từ hai ngàn năm trước, từ khi chính Chúa Giêsu vào Thành Giêrusalem.

Kính mừng Chúa Giêsu Kitô – Hãy tham dự cuộc rước lá, nghe và suy niệm Bài Thương Khó, để sám hối và thông phần đau khổ với Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Lạy Thiên Chúa, Đấng con thờ!
Ngài nỡ lòng mà ruồng bỏ con sao?
Dù con thảm thiết kêu gào
Nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!
Ngày kêu Chúa chẳng đáp lời
Đêm van Ngài cũng vẫn hoài lặng im
(Tv 22:2-3)

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

 

TÂM SỰ CỦA LÁ

Đơn sơ cành Lá xanh xanh

Vẫy chào Con Chúa vào thành Gia-liêm (*)

Hân hoan đón Chúa nhân hiền

Lá mừng khấp khởi nép trên tay người

Nghe thiên hạ cất vang lời:

“Chúc tụng Con Đức Chúa Trời hiển vinh”

Lá như bất chợt thêm xanh

Mặc dù Lá chỉ là cành Lá thôi!

Lá mơ hóa kiếp con người

Hưởng ơn cứu độ Chúa Trời ban cho

Nhưng là thực vật vô tri

Đâu dám sánh gì với kiếp phàm nhân

Thế nên Lá cảm thấy buồn

Nhưng mà Lá vẫn có phần mừng vui

Bởi vì được đón Chúa Trời

Vinh dự cho đời lá lắm, Chúa ơi!

TRẦM THIÊN THU

Lễ Lá, 2012 – (*) Giêrusalem. 

 

NỤ HÔN GIUĐA

Nụ hôn là dấu yêu thương

Đẹp như cổ tích vô thường xưa nay

Nụ hôn là tốt, là hay

Có nụ hôn này lại khác người ta

Nụ hôn đó của Giuđa

Hôn Thầy là dấu giao cho quân thù

Bán Thầy để có tiền thu

Tiền tài, danh vọng làm mù quáng thôi

Nhân tình thế thái ở đời

Cũng thường phản trắc ngay người thân ta

Xin đừng vội trách Giuđa

Lòng ta nhiều lúc rất tà tâm thôi

Dùng nụ hôn để hại người

Miễn sao mình có lợi rồi mặc ai!

Giêsu là Đấng Thiên Sai

Mà còn bị ghét mình đây đáng gì

Lạy Thiên Chúa, Đấng từ bi

Xin thương tha thứ, độ trì đời con

Đừng vô tâm lấy nụ hôn

Khiến người khác phải hàm oan tội tình

TRẦM THIÊN THU

Ai tội lỗi, ai thánh thiện?

Mùa Chay lại về. Mùa Chay nhắc nhớ tới kiếp bụi tro của phàm nhân, đời tội lỗi của chúng ta. Ai là người có tội? Ai là người đạo đức? Nhưng có ai là tội nhân thánh thiện hay không? Có. Và có thể là chính mỗi chúng ta, nếu...

Như chúng ta biết, ai trong chúng ta cũng đều là tội nhân trước mặt Thiên Chúa nhân lành. Có người mãi mãi là tội nhân, nhưng có người là tội nhân rồi nên thánh, họ chính là các “tội nhân thánh thiện”. Nghe vô lý chăng? Không hề vô lý, mà lại rất hợp lý. Tại sao? Vì ai trong chúng ta cũng đều trải qua con đường tội-lỗi-và-thứ-tha, ngay cả những người đạo đức nhất, bởi vì đối với Thiên Chúa, bất kỳ ai cũng chỉ là những tội nhân. Có một số thánh nhân “nổi tiếng” về sa ngã, những người tội lỗi này đã thành tâm sám hối và nên thánh. Bạn có nhớ các “tội nhân thánh thiện” đó là ai?

1. DISMAS – Dismas là ai? Dismas, còn được viết là Dimas hoặc Dysmas, là người cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu trên Đồi Sọ (Gôn-gô-tha), là người mệnh danh là “người trộm lành”. Khi tử tội kia (Dumachus) không biết phận mình mà còn phỉ báng và thách thức Chúa Giêsu, Dismas đã la mắng Dumachus: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23:40-41). Rồi Dismas thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:42). Chúa Giêsu nói với Dismas: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Quá “đã”! Cả đời trộm cướp, cuối cùng Dismas cướp luôn Thiên Đàng. Có lẽ không ai sướng bằng Thánh Dismas, được đồng hành với Chúa Giêsu vào Thiên đàng ngay lập tức!

2. PHÊRÔ – Phêrô là ai? Là Giáo hoàng tiên khởi của Giáo hội Công giáo, được Chúa Giêsu trao trọng trách sau 3 lần phải xác nhận nhân đức yêu mến: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21:17). Thế nhưng Giáo hoàng Phêrô cũng là người bị Chúa Giêsu chửi nặng nhất: “Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16:23). Với kinh nghiệm “xương máu” đó, chính Thánh Phêrô đã khuyên hậu duệ: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ” (1 Pr 5:2). Ông Phêrô nóng tính và cương quyết, Chúa Giêsu báo trước mà ông vẫn nói mạnh. Nhưng rồi sự việc xảy ra đúng y boong. Ông sực nhớ điều Đức Giêsu đã nói với mình: “Gà chưa kịp gáy hai lần, thì anh đã chối Thầy đến ba lần” (Mc 14:72). Thế là ông oà lên khóc.

3. MÁTTHÊU – Mátthêu là ai? Là dân thu thuế. Thời đó, dân thu thuế bị liệt vào loại người tội lỗi. Nhưng khi đi ngang qua trạm thu thuế, Đức Giêsu thấy một người tên là Mátthêu đang ngồi tại trạm. Ngài bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” (Mt 9:9), Mátthêu sẵn sàng bỏ mọi thứ và đi theo Đức Giêsu ngay, không chút lưỡng lự, không so đo hay tính toán gì. Và rồi Mátthêu còn là tác giả cuốn Phúc Âm thứ nhất.

4. PHAOLÔ – Phaolô là ai? Là dân biệt phái, Phaolô đã trích Cựu ước khoảng 200 lần trong các thư gởi các Giáo đoàn. Là người Rôma, Phaolô đã đi khắp Đế quốc, nói 3 ngôn ngữ: tiếng Aram, tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp, đồng thời còn thông thạo tiếng Latin nữa. Trước khi ngã ngựa trên đường Damascus, Phaolô có tên là Saolô. Ngài đã từng than phiền về tính vô định của mình: “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7:19). Nhưng nhiệm vụ lịch sử của Phaolô là “định mệnh đã không chọn một người khá hơn”. Thánh Phaolô là một trong hai cột trụ của Giáo hội.

5. NỮ TỘI NHÂN – Một phụ nữ bán loại hoa đặc biệt, một cô gái làng chơi hạng sang, “nổi tiếng” với đám dân chơi. Phụ nữ này là hiện thân của những người bị phỉ báng, chị là một phụ nữ tội lỗi, bị mọi người khinh bỉ, xa lánh, ghét bỏ, nhưng chị đã lấy nước mắt rửa chân Ðức Giêsu (Lc 7:36-50). Chủ nhà Simon không rửa chân và xức dầu thơm cho Chúa Giêsu, nhưng người-khách-tội-lỗi-không-mời-mà-đến đã lấy nước mắt rửa chân Chúa, lấy tóc lau chân Chúa, và xức dầu thơm chân Chúa. Tội lỗi ngập đầu nhưng được Chúa tẩy sạch và tha hết. Lý do Chúa đưa ra rất đơn giản: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7:47). Tình yêu mới quan trọng, và chính tình yêu mới có thể chiến thắng tội lỗi. Chiếc áo không làm nên thầy tu. Đừng xét đoán người khác!

Xin được “mở ngoặc” nhỏ: Đừng lầm lẫn mà cho rằng Thánh Maria Mácđala (Mađalêna) chính là phụ nữ tội lỗi này, người được Thánh sử Luca kể lại trong trình thuật Lc 7:36-48. Chúng ta cùng “xem xét” nghiêm túc:

Có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Đức Giêsu đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.
Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!”. Đức Giêsu lên tiếng bảo ông: “Này ông Simôn, tôi có điều muốn nói với ông!”. Ông ấy thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói”. Đức Giêsu nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?”. Ông Simôn đáp: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn”. Đức Giêsu bảo: “Ông xét đúng lắm”.
Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Simôn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít”. Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: “Tội của chị đã được tha rồi”.
Trong Tân Ước, ngoài Đức Maria Mẹ Thiên Chúa (Mt 1:16), ai cũng đã rõ, chúng ta thấy có vài phụ nữ khác cũng tên là Maria: Maria Mácđala và một Maria khác (Mt 28:1), Maria vợ ông Cơlôpát (Ga 19:25), Maria mẹ ông Giô-xết (Mc 15:47), Maria mẹ ông Giacôbê (Mc 16:1). Maria mẹ ông Giacôbê Thứ (Nhỏ, tác giả Thư Thánh Giacôbê và lãnh đạo Giáo hội Giêrusalem, khác với Giacôbê Lớn) và Maria mẹ ông Giô-xết cũng là một: “Có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê Thứ và Giôxết, cùng bà Salômê” (Mc 15:40).
Nói về các phụ nữ đi theo Chúa Giêsu, Thánh sử Luca cho biết: “Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mácđala, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khuda quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ” (Lc 8:1-3).
Thánh Máccô cho biết rõ: “Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mácđala, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ” (Mc 16:9). Rõ ràng Maria Mácđala chính là người-được-trừ-khỏi-bảy-quỷ (do Chúa Giêsu chữa), tức là Maria ở Mácđala, chắc chắn khác với Maria ở Bêtania. Bêtania là nơi mà Thánh Gioan xác định: “Bêtania cách Giêrusalem không đầy ba cây số” (Ga 11:18).
Thánh sử Gioan (Ga 12:9-11) cho biết thêm điều liên quan dạ tiệc mà Chúa Giêsu được một phụ nữ xức dầu thơm: “Một đám đông người Do-thái biết Đức Giêsu đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giêsu, nhưng còn để nhìn thấy anh Ladarô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết. Các thượng tế mới quyết định giết cả anh Ladarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giêsu”.
Trước đó, Thánh sử Gioan (Ga 11:1-2) đã cho biết: “Có một người bị đau nặng, tên là Ladarô, quê ở Bêtania, làng của hai chị em cô MáctaMaria. Cô Maria là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh Ladarô, người bị đau nặng, là em của cô”. Thánh Gioan cho biết các chi tiết rất rõ ràng. Sau đó, Thánh Gioan cho biết rằng Ladarô chết và được Đức Giêsu cho sống lại, dù đã an táng 4 ngày và nặng mùi rồi.
Như vậy, rõ ràng người phụ nữ mà chúng ta gọi là tội nhân kia KHÔNG PHẢI là Maria ở Mácđala, mà chính là Maria ở Bêtania – em gái của Mácta và chị của Ladarô.
Còn Maria Mácđala thì sao? Thánh Gioan cho biết: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala” (Ga 19:25). Trong lúc “dầu sôi lửa bỏng”, không thấy Kinh Thánh nói tới hai chị em Mácta và Maria, nhưng xác định tên rõ ràng: MARIA MÁCĐALA (tức là Maria Mađalêna).

Tất cả là nhờ Lòng Chúa Thương Xót, vì con người rất yếu đuối. Nếu không có Lòng Chúa Thương Xót thì chẳng ai xứng đáng hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa. Nhưng thật là may mắn, dù chúng ta chỉ là tội nhân, và dù chúng ta có tội lỗi thế nào thì hãy vững tin vào Thiên Chúa, chứ đừng tuyệt vọng. Tạ ơn Chúa muôn đời!

Ai tội lỗi hoặc ai thánh thiện? Hãy đọc lại trình thuật Lc 18:10-14, câu chuyện này do Chúa Giêsu đưa ra:
Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.
Chúa Giêsu kết luận: “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.

TRẦM THIÊN THU

 

Ô uế !

Chúa Giêsu đã xác định: “Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế” (Mt 15:11; Mc 7:15).

Ô uế là bẩn. Bẩn là dơ. Dơ là không sạch. Bẩn là ô nhiễm, nhưng có nhiều dạng và có nhiều mức độ: Ô nhiễm môi trường là bẩn, ô nhiễm không khí là bẩn, ô nhiễm thực phẩm là bẩn, ô nhiễm nguồn nước là bẩn, ô nhiễm quản lý là bẩn, ô nhiễm tư tưởng là bẩn, ô nhiễm ánh mắt là bẩn, ô nhiễm lương tâm là bẩn, ô nhiễm giáo dục là bẩn, ô nhiễm âm nhạc là bẩn, ô nhiễm văn chương là bẩn,… Ô nhiễm nào cũng bẩn, cũng xấu, cũng có hại!

Các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày đưa tin về các loại bẩn. Nào là thịt thối, heo siêu nạc; nào là thuốc tăng trọng, cà-phê là đậu nành trộn với hàng chục loại hóa chất; nào là giá làm bằng đậu bẩn, trái cây được kích thích bằng hóa chất; nào là phở chứa phoóc-môn, nước tương (xì dầu) chứa chất 3-MCPD, sữa chứa melamine,… Cơ man nào mà kể. Đó là dạng bẩn thực phẩm gây hại cho cơ thể, có thể sinh ung thư. Chết chắc!

Chỉ nói riêng về thực phẩm thôi cũng đã thấy có nhiều mối nguy hiểm đe dọa tính mạng con người hằng ngày, tính đến mức từng giây. Dạng bẩn nào cũng nguy hiểm, nhưng dạng bẩn nguy hiểm và độc hại nhất là “lòng người bẩn”, là “lương tâm bẩn”. Các loại bẩn đều do lòng người bẩn. Tất cả sẽ không bẩn nếu lòng người không ô nhiễm, không bẩn, tức là có lương tâm trong sạch. Có thể nói rằng mọi thứ bẩn đều bắt nguồn từ “lương tâm bẩn”, vì từ đó dẫn tới nhiều hệ lụy khác!

Lương tâm còn gọi là lương tri. Lương tâm bẩn cũng có nhiều mức độ, từ nhẹ đến nặng: Nói dối, gian lận, tham lam, lừa đảo, hối lộ, tham nhũng, nhiễu nhương, hiếu chiến, bịp bợm, trục lợi, thực dụng,... Vĩ nhân Mahatma Gandhi (Ấn Độ, 1869-1948) nói: “Với lương tâm, quy luật của số đông không có tác dụng. Có tòa án còn cao hơn tòa án công lý, đó là tòa án lương tâm. Nó thay thế cho mọi tòa án khác”.

Sử gia Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn (Nga, 1918-2008) có cách so sánh độc đáo: Công lý là lương tâm, không phải lương tâm cá nhân mà là lương tâm của toàn bộ nhân loại. Những ai nhận thức rõ ràng giọng nói của lương tâm chính mình thường cũng nhận ra giọng nói của công lý”. Còn triết gia Jean-Jacques Rousseau (Pháp, 1712-1778) định nghĩa: “Lương tâm là tiếng nói của linh hồn; dục vọng là tiếng nói của cơ thể”.
Như vậy, vấn đề lương tâm rất quan trọng, đúng như sử gia kiêm triết gia Voltaire (Pháp, 1694-1778) đã nhận định: “Con đường an toàn nhất là không làm gì trái với lương tâm. Với bí mật này, chúng ta có thể hưởng thụ cuộc sống và không sợ chết”.
Walter Lippmann lý giải: “Lương tâm của chúng ta không phải là vật chứa chân lý vĩnh cửu. Nó phát triển cùng với đời sống xã hội của chúng ta, và điều kiện xã hội thay đổi cũng dẫn tới sự thay đổi triệt để về lương tâm” (Our conscience is not the vessel of eternal verities. It grows with our social life, and a new social condition means a radical change in conscience).

Chúa Giêsu đã xác định: “Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế” (Mt 15:11; Mc 7:15). Cái gì từ TRONG con người xuất ra mới là cái làm cho người ta ra ô uế, chứ cái từ NGOÀI con người không gây bẩn, không làm ô uế. Vậy cái đó là cái gì? Có thể hiểu “cái từ trong con người xuất ra” theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Cái nào cũng bẩn. Ngoại tại và nội tại đều cần thiết để khả dĩ có môi trường trong sạch, không bị ô uế!

Có những người rất bẩn mà vẫn ảo tưởng là mình sạch. Có những tư tưởng bẩn mà vẫn được lưu truyền. Dạng này nguy hiểm lắm, họ không chỉ “duy trì” cái bẩn cho mình mà còn gây ô nhiễm cho người khác. Người bẩn mà không bẩn, người sạch lại bẩn, đôi khi càng có chức có quyền càng bẩn!

Thế nhưng có một loại ô uế có thể gây ô nhiễm hơn mọi thứ khác, và nó gây bẩn nhất, đó chính là TỘI LỖI. Thiên Chúa vô cùng ghê tởm dạng ô uế này. Thánh Phaolô nói: “Hãy tẩy rửa hồn xác cho sạch mọi vết nhơ, và đem lòng kính sợ Thiên Chúa mà lo đạt tới mức thánh thiện hoàn toàn” (2 Cr 7:1). Tuy nhiên, chúng ta không thể tự rửa sạch, mà phải cầu xin để được Thiên Chúa rửa sạch: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4).

May thay, chúng ta được phép tẩy rửa chính mình trong Máu và Nước tuôn trào từ Thánh Tâm Đức Giêsu Kitô ngay trên Đồi Sọ. Xin tạ ơn Chúa muôn đời!

TRẦM THIÊN THU

 

Nên CHO hay NHẬN ?
Sách Huấn Ca dạy: “Con ơi, đừng tước đoạt miếng cơm manh áo của người nghèo, đừng để kẻ khốn cùng luống công chờ đợi. Đừng làm cho kẻ đói phải buồn tủi, đừng chọc tức ai khi họ phải ngặt nghèo. Một tâm hồn đang bực bội, con đừng làm khổ thêm, đừng bắt kẻ túng thiếu đợi lâu mới được con giúp đỡ. Kẻ khốn khổ nài xin, con đừng từ chối, gặp người nghèo, con đừng ngoảnh mặt đi. Đừng làm ngơ không nhìn đến kẻ thiếu thốn, kẻo nên cớ cho người ta nguyền rủa con” (Hc 4:1-5).
CHO là TRAO TẶNG, TRAO BAN, HIẾN DÂNG,… với cả tấm lòng trân trọng và yêu quý. Một động từ đẹp, không đẹp về cách viết mà đẹp về ý nghĩa đầy tính nhân bản, đầy tình thương xót, đầy lòng thứ tha,... KHÔNG CÓ thì không thể CHO, vì người ta chỉ có thể CHO những gì mình CÓ – dù vật chất hay tinh thần.
Ngoài Tám Mối Phúc Thật (Mt 5:3-10), một trong những ĐẠI PHÚC khó tin nhất được đề cao trong Kinh thánh là: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35). Người cho lại hạnh phúc hơn người nhận ư? Có lộn không? Thật là ngược với trực giác và bản năng của chúng ta. Tuy nhiên, đó lại là sự thật với 5 lý do xác định lý do nên CHO hơn NHẬN.
Tuy nhiên, cũng nên nhớ lại câu nói ý vị của người Việt Nam: “Của cho không bằng cách cho”. Một câu nói rất NHẸ nhưng rất ĐAU, nhắc nhở chúng ta đừng vội… “chảnh” khi CHO ai bất kỳ thứ gì!
1. CHO LÀ VÂNG LỜI THIÊN CHÚA
Cựu ước có nhiều mệnh lệnh hơn đối với việc CHO về tài chính – cho ai, cho khi nào, cho bao nhiêu, cho cách nào, Tân ước ít mệnh lệnh này. Có thể các tác giả Tân ước chỉ cho rằng Thiên Chúa đã CHO chúng ta quá nhiều – thậm chí đã CHO chính Đức Kitô làm giá cứu độ muôn dân, nhưng việc CHO của chúng ta nên hợp lý và thoải mái. Chúa Giêsu đã khuyến cáo: “Anh em đã được CHO KHÔNG, thì cũng PHẢI CHO KHÔNG như vậy” (Mt 10:8). Một mệnh lệnh xem chừng quá “nhẹ” nhưng lại khó thực hành!
2. CHO LÀ PHỤC TÙNG THIÊN CHÚA
Vâng lời (vâng phục, tuân phục, thanh tuân) là một nhân đức. Vâng lời liên quan việc “từ bỏ mình”, tức là khi vâng lời thì người ta phải bỏ ý riêng, đề cao ý người khác, vì khi vâng lời là “chết” cho chính mình. Vâng lời cũng là một trong ba lời khấn chính của các tu sĩ. Mỗi động thái vâng lời đều có giá trị cao trong cuộc đời Kitô hữu: “Vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9). Chúa Giêsu cũng hành động chỉ vì vâng lời: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Đó là vâng phục.
3. CHO LÀ THỂ HIỆN TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
CHO là động thái tốt đẹp và hoàn hảo: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú; nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng” (Gc 1:17). Quả thật, xét cho cùng thì “tất cả đều là Hồng Ân” (Rm 4:16). Những gì không thuộc về mình, vậy tại sao cứ GIỮ khư khư làm “tư sản” mà lại không muốn CHO? Miệng nói YÊU Thiên Chúa mà lại không muốn CHO thì làm sao có thể gọi là tình yêu đúng nghĩa? Nếu chỉ nói suông thì chúng ta chỉ là “thùng rỗng kêu to” (x. 1 Cr 13). Người ta nói: “Tiền là tiên, là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân”. Vậy chúng ta nghĩ gì về Thiên Chúa khi chúng ta dùng tiền bạc?
4. CHO LÀ RAO TRUYỀN THIÊN CHÚA CỨU ĐỘ
Thiên Chúa là Đấng-tự-hiến, sẵn sàng trao ban tất cả: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Đó là lý do mà Tông đồ Phaolô muốn khuyến khích chúng ta nên CHO, dẫn chứng sống động bằng chính Đức Kitô: “Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8:9). Chúa Giêsu giàu đức tin, giàu yêu thương,... nên Ngài muốn chúng ta cũng phải như thế. Khi chúng ta hy sinh, chịu đau khổ, nhịn nhục,… vì lợi ích của người khác, đó là chúng ta biết CHO vì đức ái, là loan báo Tin Mừng và nên giống Đức Kitô.
5. CHO LÀ TIN TƯỞNG THIÊN CHÚA QUAN PHÒNG
Nỗi sợ là rào cản khiến chúng ta không muốn CHO. Tại sao? Sợ cho quá nhiều, sợ uổng phí, sợ mình bị thiếu hụt,... Khi biết CHO là biết hy sinh, chúng ta bày tỏ đức tin và niềm tín thác vào Thiên Chúa vì chắc chắn Ngài luôn quan phòng và lo liệu đủ cho chúng ta. Đây KHÔNG là ĐIÊN RỒ, mà là ĐỨC TIN. Nhiều Kitô hữu đã tìm được niềm vui trong công việc từ thiện, công việc tông đồ. Đó là cách bẻ tấm-bánh-cuộc-đời-mình và TRAO CHO tha nhân: “Cơm bánh của bạn, hãy đem thả trên mặt nước, về lâu về dài, bạn sẽ tìm lại được” (Gv 11:1). Thiên Chúa quan phòng sẽ lo liệu nếu chúng ta vâng lời Ngài và tin tưởng: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Tv 22:).
Có những điều nghịch lý được Kinh Thánh đề cập: “Có khi lâm nạn lại thành công, gặp may mà hoá thiệt thòi. Có lúc cho đi mà con không được lợi, có lúc cho đi lại được trả gấp đôi. Đôi khi vinh quang đem lại nhục nhã, kẻ thấp hèn lại được ngẩng đầu hiên ngang. Có kẻ sắm nhiều mà tốn ít, nhưng thực ra phải trả gấp bảy lần. Người khôn ngoan nói ít cũng gây được thiện cảm, lời hoa mỹ của kẻ ngu đần chỉ là thứ đổ đi. Ích gì cho con quà biếu của đứa khờ dại: nó biếu một mà trông được mười. Nó cho thì ít, trách mắng thì nhiều, miệng oang oang như thằng mõ, hôm nay cho mượn, ngày mai đã đòi” (Hc 20:9-15). Vậy mà không phải vậy. Trong đó đầy triết lý sống mà chúng ta phải miệt mài học cả đời!
Biết CHO là sống khôn ngoan, bởi vì “khôn ngoan chính là cây sự sống đối với người nào nắm được khôn ngoan” (Cn 3:18). Sự sống đề cập ở đây là sự sống đời đời, sự sống vĩnh hằng.
TRẦM THIÊN THU

 

Đấng cứu độ

Đấng cứu độ là Chúa Giêsu, nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại, từ cổ chí kim. Ngài là Thiên Chúa Ngôi Hai mặc xác phàm (Ga 1:1,14; Cl 2:9), là Thiên Chúa phục sinh (Lc 24:34; Ga 2:19-21), và là Đấng Cứu Độ (Cv 5:30-32). Ngài đến để chết cho các tội nhân chúng ta (Rm 5:8) và để giải thoát chúng ta khỏi án phạt đời đời, vì Ngài không muốn ai phải hư mất (Ga 17:12).
Chúng ta có bao giờ phạm tội? Nói dối, trộm cướp, vô lý tức giận người khác, ham muốn, tham lam,...? Chắc chắn có cách nào đó, vậy là chúng ta đã vi phạm Luật Chúa. Thiên Chúa đã dạy: “Chớ trộm cướp; chớ nói dối; chớ thờ thần nào khác ngoài Ta; chớ giết người,…” (Xh 20:3-17). Ngài đã đưa ra tiêu chuẩn công chính, nếu chúng ta phạm một luật nào trong các giới răn của Chúa thì đã thiếu tiêu chuẩn và đáng phải chịu hình phạt của Ngài. Khi chết, chúng ta sẽ đối diện Ngài, và Ngày Phán Xét, Ngài sẽ xét xử công minh. Ngài phải xử vì Ngài công chính.
Chúa Giêsu là Đấng chúng ta cần. Và chỉ cần mình Ngài thôi. Những gì chúng ta làm sẽ không thể giúp mình (Rm 3:10-12; Is 64:6). Chúng ta không bao giờ có thể tốt đủ và cũng chẳng có gì để dâng lên Thiên Chúa ngoài tội lỗi của mình. Chỉ nhờ ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa có nơi Đức Giêsu và sự hy sinh cao cả của Ngài mà chúng ta được nên công chính, và nhờ thực hiện các điều luật của Ngài. Đức Giêsu có thể cứu chúng ta khỏi án phạt công minh của Thiên Chúa, gọi là được “giải án, tuyên công”.
Ngày Phán Xét, Thiên Chúa sẽ xét xử mọi người về các tội lỗi đã phản nghịch Ngài. Ngài sẽ xét xử người nói dối, trộm cướp, lừa đảo, ham muốn nhục dục, phỉ báng người khác,... Ngài sẽ làm vậy vì Ngài là Đấng Thánh và công chính. Thiên Chúa phải xử phạt người tội lỗi. Thiên Chúa không thể và sẽ không bao giờ làm ngơ bất kỳ người nào không giữ luật công chính. Luật này phản ánh đặc tính của Thiên Chúa. Do đó, phạm luật là chống lại Thiên Chúa và khước từ tính thánh thiện của Ngài. Ngài sẽ chứng minh và xử phạt.
Kinh Thánh nói rằng mọi người đều phạm tội và mất vinh quang của Thiên Chúa (Rm 3:23), nghĩa là tội lỗi đã tách chúng ta xa rời Thiên Chúa (Is 59:2), hậu quả hiển nhiên là sự chết (Rm 6:23) và án phạt (Ep 2:3). Cách duy nhất để được cứu là nhờ tin vào Đức Kitô (Ep 2:8-9; Rm 5:1). Bạn phải tin vào những gì Chúa Giêsu đã làm trên Thập Giá để tha thứ tội lỗi cho chúng ta chứ không tin vào thứ gì khác, dù là điều tốt mà bạn đã làm. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể xoay chuyển án công minh mà Thiên Chúa sẽ đổ lên người tội lỗi.
Phúc Âm nói rằng Chúa Giêsu vì các tội nhân mà chết trên Thập Giá, chịu mai táng, nhưng đã sống lại (1 Cr 15:1-4). Cái chết của Ngài là sự hy sinh đền bù mọi tội lỗi của chúng ta và của toàn thế giới (1 Ga 2:2).
Chúa Giêsu đã chết cho tội lỗi thế gian (1 Ga 2:2), Ngài là con đường duy nhất dẫn tới Chúa Cha (Ga 14:6), và Ngài mặc khải chính Thiên Chúa (Mt 11:27). Ngài có quyền trên trời và dưới đất (Mt 28:18), chỉ nhờ Ngài thì chúng ta mới được cứu độ (Ep 2:3). Ngài có quyền tha tội (Lc 5:20; Mt 9:2), có thể truất phế mọi tội lỗi nơi tâm hồn chúng ta. Ngài có thể giải thoát chúng ta khỏi mọi hệ lụy tội lỗi đã làm chúng ta mù lòa, yếu đuối hoặc thất vọng. Ngài có thể làm vậy vì Ngài mang mọi tội lỗi vào thân thể Ngài mà đưa lên Thập Giá (1 Pr 2:24) để những ai tin vào Ngài thì sẽ được cứu độ.
Nếu bạn không là Kitô hữu, và muốn thoát khỏi án phạt công minh của Thiên Chúa, hãy tìm đến Đấng đã chết vì tội lỗi thế gian, vì các tội nhân (Mt 11:28). Hãy tin tưởng và phó thác vào Chúa Giêsu. Hãy đón nhận Thiên Chúa làm người, Đấng đã chịu chết và đã sống lại vinh quang (1 Cr 15:1-4), hãy xin ơn tha thứ và đón nhận Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cứu độ (Ga 1:12). Hãy sám hối, ăn năn và hối cải. Chỉ có Chúa Giêsu mới tẩy sạch tội lỗi khỏi linh hồn chúng ta và cứu chúng ta thoát khỏi án phạt công minh của Thiên Chúa. 
Hãy thành tâm sám hối và cầu nguyện với Chúa Giêsu, Ngài không chấp tội nhưng muốn chúng ta sám hối, và Ngài sẽ “mủi lòng” ngay. Hãy tìm kiếm Ngài, hãy cầu xin Ngài cứu độ, và Ngài sẽ giải thoát chúng ta bằng Giá Máu Cứu Chuộc. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Giờ Cứu Độ, xin hướng về Đức Kitô chịu đóng đinh:
Lạy Chúa Giêsu, con bất toàn và không thể làm vui lòng Ngài bằng mọi nỗ lực của con. Con biết con đáng phạt tương xứng với tội con đã phạm, vì con không có gì làm vui lòng Ngài. Xin thương xót và tha thứ tội con, xin tẩy rửa con nên tinh tuyền và làm cho con nên công chính. Con tin vào hồng ân cứu độ mà Ngài đã thực hiện trên Thập Giá. Con chỉ cậy nhờ công nghiệp của Ngài mà con có thể được hưởng sự sống đời đời. Xin cứu độ con, lạy Chúa Giêsu!
TRẦM THIÊN THU

 

Chúa Giêsu có bị đóng đinh và chết?
Cả bốn Phúc Âm đều cho biết rằng Chúa Giêsu thực sự bị đóng đinh và chết trên Thập giá. Chứng cớ đó có đủ bảo đảm để kết luận rằng tường trình Phúc Âm là chính xác? Trước khi tìm câu trả lời, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của câu hỏi này. Cái chết cứu độ và sự phục sinh của Chúa Giêsu là giáo lý chủ yếu của Kitô giáo. Nếu một trong hai điều đó không xảy ra, việc rao giảng của các tông đồ về Kitô giáo đều vô ích. Vì nếu Chúa Giêsu không chết trên Thập giá thì không có cái chết hy sinh vì tội lỗi của chúng ta để cứu chuộc chúng ta như Phúc Âm truyền dạy. Hơn nữa, vì thuật ngữ “phục sinh” nói đến sự biến đổi thân xác thành thể xác bất tử, nếu Chúa Giêsu không chết thì không có thi thể nào được biến đổi nhờ sự phục sinh.
Không có sự phục sinh thì Kitô giáo là giả tạo, như Thánh Phaolô dạy: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em” (1 Cr 15:17). Các Phúc Âm cho biết rằng Chúa Giêsu xác định “sự phục sinh của Ngài là chứng cớ của những lời tuyên bố về chính Ngài là thật” (x. Mt 12:39-40; Ga 2:18-22). Như vậy, theo Chúa Giêsu và Thánh Phaolô, nếu Chúa Giêsu không phục sinh, chúng ta phải tìm một thế giới khác. Do đó, vì sự phục sinh đòi hỏi có sự chết, chính cái chết của Chúa Giêsu do bị đóng đinh thực sự là mối liên kết không thể phá vỡ nếu Kitô giáo được coi là đúng thật.
Đây là 4 lý do củng cố niềm tin về việc Chúa Giêsu chịu chết do bị đóng đinh:
Thứ nhất, cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu được các văn bản cổ kể lại: Kitô giáo và ngoài Kitô giáo. Ngoài 4 Phúc Âm và một số Thánh Thư trong Tân ước, các văn bản đều được viết từ thế kỷ I, cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu cũng được tường thuật bởi các văn bản cổ ngoài Kitô giáo. Josephus (cuối thế kỷ I), Tacitus (đầu thế kỷ II), Lucian (giữa thế kỷ II), và Mara bar Serapion (thế kỷ II và III) cũng tường thuật sự kiện này. Sự thật là các văn bản ngoài Kitô giáo này nói đến Chúa Giêsu và cho thấy rằng cái chết của Chúa Giêsu cũng được người ngoại giáo biết chứ không phải Kitô giáo bịa đặt.
Thứ nhì, rất khó có thể sống sót sau khi bị đóng đinh. Việc đóng đinh và hành hạ nhiều lần là cách tồi tệ nhất thời xưa. Nhiều người trong chúng ta đã xem phim “The Passion of the Christ” (Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu) của đạo diễn Mel Gibson (*) thì thấy rõ cách hành hạ rất dã man. Nhiều bản văn cổ cũng mô tả như vậy, chẳng hạn Josephus, một sử gia Do Thái hồi thế kỷ I, đã kể về một đàn ông bị đánh đập bằng roi da rất dã man đến nỗi lòi xương ra (1). Ông còn nói về một nhóm người bị đánh đập đến lòi ruột (2). Trong bản văn hồi thế kỷ II là “The Martyrdom of Polycarp” (Cuộc Tử Đạo của Thánh Pô-ly-ca-pô), lính La Mã đánh người đến đứt cả động mạch (3). Nạn nhân được đưa ra ngoài thành phố rồi bị đóng đinh vào thập giá hoặc một cây nào đó (4). Nạn nhân bị bỏ mặc chịu đau đớn cùng cực. Thế kỷ I, triết gia người Rôma là Seneca đã mô tả các nạn nhân bị đóng đinh là “bị đập liên hồi, bị cắt chân tay, bị biến dạng, bị đóng đinh và bị hành hạ đến bán sống bán chết” (5). Chỉ có một trường hợp được kể là sống sót sau khi bị đóng đinh. Josephus kể là đã chứng kiến ba người bị đóng đinh (6). Ông kêu gọi người bạn Titus làm đội trưởng lính La Mã, người đã ra lệnh tháo đinh ngay và được hỗ trợ y tế. Dù vậy, hai trong ba người vẫn chết. Như vậy, nếu Chúa Giêsu được tháo đinh sớm và được cấp cứu thì cơ may sống sót cũng rất khó. Tuy nhiên, không có chứng cớ nào nói rằng Chúa Giêsu được tháo đinh sớm khi còn sống và được cấp cứu.

Thứ ba, ý kiến chuyên ngành y khoa đều nhất trí kết luận rằng Chúa Giêsu chắc chắn chết vì bị đóng đinh (7). Một số người không chắc chắn, nhưng đa số vẫn nói rằng Chúa Giêsu chết vì ngộp thở (asphyxiation) hoặc thiếu oxygen. Vốn hiểu biết của chúng tôi về việc đóng đinh đều đồng thuận với ý kiến này. Nhiều nguồn cổ nói rằng việc đập gãy ống chân là để nạn nhân mau chết trên thập giá (8). Vậy là sao? Tôi có hai người bạn là trưởng khoa cấp cứu ở hai bệnh viện lớn (9). Tôi hỏi họ rằng đập gãy ống chân cho nạn nhân mau chết thì có đúng không. Họ trả lời rằng chắc chắn hiếm xảy ra lắm. Vậy họ đập gãy ống chân nạn nhân cho mau chết bằng cách nào?
Trong thế chiến I và II, người Đức thường hành hạ các nạn nhân bằng một “phương pháp” gọi là “aufbinden” – nạn nhân bị cột chặt hai tay rồi bị treo lơ lửng, chân không chạm đất. Khi nạn nhân kiệt sức, họ lại thả nạn nhân xuống. Khi nạn nhân tỉnh thì họ lại treo lên. Vì cơ bắp dùng để hít mạnh hơn dùng để thở, đi-ô-xít các-bon sẽ tích tụ và nạn nhân sẽ chết một cách khổ sở. Thí nghiệm cho thấy người ta bị treo lơ lửng sẽ bất tỉnh trong vòng 12 phút, nếu tay treo ở góc 45 độ hoặc nhỏ hơn so với cơ thể. Đập gãy ống chân nạn nhân bị đóng đinh sẽ làm cho nạn nhân dễ thở, dù chỉ tạm thời. Do đau đớn vì bị đóng đinh, nạn nhân sẽ chết vì thiếu oxygen, không có cơ may tỉnh lại. Thánh sử Gioan cho biết rằng một tên lính đã lấy ngọn giáo đâm vào ngực Chúa Giêsu để chắc chắn Ngài chết thật (x. Ga 19:34-37), cách này được nói tới trong tài liệu của Quintillian, sử gia Rôma hồi thế kỷ I (10).
Có lý do nào để tin rằng quân lính Rôma muốn xử lý cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá? Một sử gia Do Thái uy tín hồi thế kỷ I có nói tới việc người Rôma hủy hoại thành Giêrusalem năm 70. Người Do Thái có thói quen tháo xác các tử tội khỏi thập giá và chôn trước khi mặt trời lặn (11). Các tài liệu cổ cho biết rằng có người bị đóng đinh mà sống tới 3 ngày trên thập giá, các nạn nhân bị bỏ mặc trên thập giá cho tới chết để làm mồi cho chim chóc, chó, và côn trùng. Tuy nhiên, đây không là cách thực hành ở Giêrusalem trước khi thành này bị hủy hoại năm 70. Chúa Giêsu bị đóng đinh khoảng năm 30 hoặc 33. Như vậy, chúng ta có lý để tin chắc rằng Chúa Giêsu đã chết thật trước khi mặt trời lặn vào ngày Ngài bị xử tử. Thánh Gioan kể: “Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giêsu xuống” (Ga 19:38).

Thứ tư, nếu Chúa Giêsu có thể sống sót sau khi bị đóng đinh, Ngài sẽ không bảo các môn đệ tin Ngài sống lại. Chúng ta thử tưởng tượng rằng Chúa Giêsu nửa sống nửa chết trong mộ đá. Ngài hồi tỉnh sau cơn hôn mê và thấy mình ở trong khoảng tối tăm. Ngài mò mẫn mà không tìm thấy lối ra. Mấy tên lính gác hỏi: “Ông định trốn đi đâu vậy?”. Chúa Giêsu trả lời: “Tôi muốn thoát ra khỏi đây”. Ngài đánh mấy tên lính gác, sau đó Ngài ra khỏi mộ đá và đi tìm các môn đệ. Cuối cùng, Ngài đến căn nhà mà Thầy trò đã ở và gõ cửa. Phêrô ra mở cửa và gặp Chúa Giêsu lom khom với hình hài toe tua tơi tả. Phêrô nói: “Lạy Chúa! Con không phải đợi Thầy phục sinh như Thầy đã nói sao?”. Hẳn là sử gia sẽ nói rằng Chúa Giêsu phải thuyết phục các môn đệ tin đó là Ngài trong tình trạng thương tích đầy mình và phục sinh trong thân xác bất tử. Còn sống ư? Chắc chắn là thế. Sống lại ư? Không còn cách khác.
Tóm lại, chứng cớ lịch sử xác nhận rằng Chúa Giêsu thực sự chết do bị đóng đinh (chết về nhân tính thôi). Nhiều nguồn cổ xác nhận như vậy, một số nguồn ngoài Kitô giáo, như vậy thì không thiên về cách hiểu của Kitô giáo về sự kiện này. Rất ít cơ may sống sót sau khi bị đóng đinh. Nếu Chúa Giêsu sống sót sau khi bị đóng đinh, không thể nào các môn đệ tin chắc là Ngài phục sinh.
Dù rất đa nghi, người sáng lập tổ chức “Jesus Seminar John Dominic Crossan” cũng kết luận: “Chúa Giêsu bị đóng đinh là điều chắc chắn như bất cứ điều gì khác trong lịch sử” (12). Cũng vậy, nhà phê bình Tân ước Gerd Lüdemann (người vô thần) đã viết: “Chúa Giêsu chết do bị đóng đinh là điều không thể chối cãi” (13).
Như vậy, đã rõ Chúa Giêsu chết vì bị đóng đinh, không có chứng cớ nào phản bác, sử gia đã xác nhận rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh và quá trình đó đã khiến Ngài chết.
Đôi khi người ta nói rằng Chúa Giêsu không thể là Thiên Chúa vì Ngài đã chết, mà Thiên Chúa thì bất tử. Điều họ không hiểu là Chúa Giêsu có hai bản tính: Thiên tính và nhân tính. Về lý thuyết, chúng ta gọi đó là sự kết hợp thực thể (hypostatic union). Giáo hội dạy rằng Đức Kitô có hai bản tính riêng biệt, thần tính và nhân tính.
Chúa Giêsu có chết không? Không, Thiên Chúa không thể chết. Kinh thánh cho biết rằng Thiên Chúa bất biến (Tv 90:2; Mlk 3:6), nghĩa là Ngài không hề thay đổi. Nếu Ngài chết, đó là thay đổi. Thần tính của Chúa bất biết, vậy Ngài không thể chết. Vả lại, sự chết là chức năng sinh học mà sinh vật nào đó không còn sống. Nhưng Thiên Chúa không có tính sinh học. Ngài khác hẳn chúng ta. Về lý thuyết, chúng ta nói rằng Ngài “hoàn toàn khác”. Nghĩa là Ngài khác hẳn đối với phàm nhân chúng ta. Vì chúng ta chết, nhưng THIÊN CHÚA KHÔNG CHẾT.
Cũng vậy, ý tưởng về cái chết có ẩn ý về sự không tồn tại. Đây là vấn đề khác khi suy nghĩ về vấn đề Thiên Chúa chết. Theo Kitô giáo, Thiên Chúa hiện hữu vĩnh hằng – lại ngụ ý sự thay đổi về bản chất của Ngài, một tình trạng không thể có. Do đó, THIÊN CHÚA KHÔNG THỂ CHẾT.
Đôi khi người ta nói rằng Chúa Giêsu không thể là Thiên Chúa vì Ngài đã bị người Do Thái giết chết trên Thập giá. Điều họ không hiểu là Chúa Giêsu có hai bản tình: Thiên Chúa và con người. Về lý thuyết, chúng ta gọi đó là sự kết hợp thực thể hoặc bản thể. Giáo hoàng dạy rằng nơi Đức Kitô có hai bản tính riêng biệt, thần tính và nhân tính. Nhân tính chết trên Thập giá, chứ không phải là thần tính. Nhưng vì Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là con người, thế nên chúng ta nói rằng Chúa Giêsu chết trên Thập giá.
Như vậy, THIÊN CHÚA KHÔNG CHẾT; nhưng nơi Đức Kitô, ĐẤNG LÀM NGƯỜI CÓ THẦN TÍNH, chúng ta hiểu đó là cái chết về sinh học, chứ không là cái chết về thần tính bất tử của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã bị người ta giết chết về nhân tính, về thể lý, nhưng chính NGÀI ĐÃ PHỤC SINH vinh quang như Ngài đã nói trước.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ 4truth.net và Y-Jesus.org)
1 Chiến Tranh 6:304. Xem 2:612; Tích Xưa 12:256.
2 Chiến Tranh 2:612.
3 Cuộc Tử Đạo của Thánh Polycarp 2:2.
4 Rất nhiều văn bản cổ nói tới việc dùng đinh đóng những người bị phạt một cái cây hoặc thập giá. Phúc Âm theo Thánh Gioan nói tới cuộc đóng đinh của Chúa Giêsu (20:25 & 27), và Thánh Luca cũng ám chỉ điều đó (24:39). Không có nguồn nào nói rằng Chúa Giêsu không bị đóng đinh vào thập giá.
5 Seneca, Các Thư, “To Lucilius” 101.
6 Josephus, Life 420-21.
7 Một số được nhắc tới trong sách “Raymond Brown, The Death of the Messiah”, Volume 2 (New York: Doubleday, 1994), 1088ff.
8 Cicero, Các bài Diễn Thuyết, bài 13, 12:27; Phúc Âm theo Thánh Phêrô 4:14. Trong Phúc Âm theo Thánh Phêrô, việc đánh gãy chân bị cấm, với mục đích là để nạn nhân phải chịu đau đớn lâu.
9 Dr. Jim Ritchie và Dr. Jack Mason.
10 Các bài Diễn Thuyết 6:9: “Đối với người chết trên thập giá, người hành hình không cấm chôn người bị xử tử”.
11 Chiến Tranh Do Thái 4:317. 
12 John Dominic Crossan, Chúa Giêsu: Tiểu Sử Cách Mạng (San Francisco: HarperCollings, 1991), 145.
13 Gerd Lüdemann. Sự Phục Sinh của Đức Kitô (Amherst, NY: Prometheus, 2004), 50.
(*) Phim sản xuất năm 2004 [https://www.youtube.com/watch?v=YthiJ07xRAs], diễn viên Jim Caviezel đóng vai Chúa Giêsu. Sáu tháng trước khi bắt đầu đóng phim “Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu”, Jim Caviezel thường hay thăm viếng nơi Đức Mẹ hiện ra ở Medjugorge (Mễ Du). Tại đây, tình cờ ông gặp một phụ nữ xa lạ, và bà này đã nói: “Anh sẽ đóng vai Chúa Giêsu đấy!”. Quả thật, đạo diễn Mel Gibson đã tìm thấy Jim Caviezel trong danh sách những người đăng ký xin đóng phim. Ông thấy tên Jim Caviezel và Jesus Christ rất gần nhau, đều được viết tắt là J.C. Có điều lạ nữa là Jim Caviezel lúc ấy cũng đúng 33 tuổi, rất trùng hợp với tuổi của Chúa Giêsu khi bị khổ nạn.

 

Lệnh truy nã
Truy nã là biện pháp mạnh áp dụng cho những kẻ phạm pháp nghiêm trọng mà bỏ trốn, không thành tâm sám hối, không đầu thú. Dạng truy nã đặc biệt là dạng mạnh mẽ đối với kẻ phạm tội nguy hiểm, có thể truy nã toàn quốc hoặc quốc tế. Có những lệnh truy nã với giải thưởng cao dành cho người phát hiện kẻ bị truy nã.
Mỗi lãnh thổ, mỗi quốc gia, mỗi vùng,... đều có luật pháp riêng. Trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam, luật tố tụng hình sự cũng như các văn bản liên quan không có thuật ngữ “truy nã địa phương” hoặc “truy nã toàn quốc”, bởi bất kỳ ai, ở địa phương nào cũng có quyền bắt người truy nã, vì vậy hiệu lực về lãnh thổ của lệnh truy nã được ngầm hiểu là toàn quốc. Việc truy nã quốc tế cũng không có quy định cụ thể, bởi tính khả thi của việc thực thi luật pháp Việt Nam ngoài phạm vi lãnh thổ.
Quyết định truy nã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt, giữ tội phạm. Theo điều 82 của Bộ luật Tố tụng Hình sự về việc bắt giữ người đang có quyết định truy nã: “Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến các cơ quan thẩm quyền ở nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền”.
Thông thường, công dân Việt Nam phạm tội tại Việt Nam sẽ áp dụng phạm vi truy nã trên toàn quốc, trong trường hợp có căn cứ hoặc bị nghi ngờ có dấu hiệu bỏ trốn ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, cơ quan điều tra cùng với các cơ quan có thẩm quyền, phối kết hợp với Interpol (Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế) hoặc các quốc gia mà Việt Nam tham gia ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp để thực hiện việc bắt và dẫn độ người phạm tội về nước để xét xử.
Với những tên tội phạm “khét tiếng”, tầm cỡ quốc gia hoặc quốc tế, việc truy nã là điều cần thiết và cấp bách, vì họ có thể nguy hiểm cho cộng đồng nhân loại. Đó là điều tất nhiên, ai cũng đồng tình, chắc chắn chẳng ai phản đối. Tuy nhiên, trong lịch sử nhân loại, từ cổ chí kim, từ Á sang Âu, có một người bị truy nã ráo riết, bị coi là tội phạm đặc biệt, dù con người này không chỉ vô tội mà còn rất nhân lành: Đức Giêsu Kitô.
Trình thuật Ga 11:45-54 (tương đương Mt 26:1-5; Mc 14:1-2; Lc 22:1-2) cho biết rằng các thủ lãnh Do Thái đã quyết định tìm mọi cách bắt giết Đức Giêsu cho bằng được.
Trong số những người Do Thái đến thăm cô Maria – em gái của cô Mácta và chị của cậu Ladarô, họ được chứng kiến việc Đức Giêsu làm và có nhiều kẻ đã tin vào Người. Nhưng lại có những người đi gặp nhóm Pharisêu và kể cho họ những gì Đức Giêsu đã làm. Đúng là tâm địa xấu, thóc mách vì ghen tức. Thấy người khác giỏi hơn thì tìm cách trù dập, thấy người khác tốt lành hơn thì gièm pha,... Ngày nay, loại người này vẫn thấy nhan nhản ở khắp nơi, từ cộng đồng xã hội tới cộng đồng tôn giáo.
Sau khi nghe lũ “bà tám” rỉ tai như vậy, các thượng tế và các người Pharisêu liền triệu tập Thượng Hội Đồng và nói: “Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rôma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta” (Ga 11:47-48). Rõ ràng ghen tức, nhỏ mọn, hèn hạ. Tại sao người ta tin Ông Ấy? Tại sao mình không được người khác tin? Tại sao không tự xét mình để chấn chỉnh mà lại ngậm máu phun người?
Ngay lúc đó, một người trong Thượng Hội Đồng tên là Caipha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: “Các ông không hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11:49b-50). Khốn nạn thật! Ra cái vẻ nhân đức, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tâm, nhân hậu, nhân từ,...! Đủ thứ “nhân” mà không hề đức độ, chỉ như “nhân” của loại hạt hoặc chiếc bánh mà thôi!
Ông ta không tự mình nói ra điều đó, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giêsu sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi mà còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối. Từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giêsu. Do đó, Đức Giêsu không đi lại công khai giữa người Do Thái nữa. Ngài đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Épraim, rồi ở lại đó với các môn đệ.
Như vậy, Lệnh Truy Nã đã được chính thức công bố, yết thị khắp nơi!
Chúng ta nhớ lại một lần nọ, Đức Giêsu đã khiển trách nặng với ba “cái khốn” dành cho các người Pharisêu và các nhà thông luật: “Khốn cho các người, hỡi các nhà thông luật! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, dù một ngón tay cũng không động vào. Khốn cho các người! Các người xây lăng cho các ngôn sứ, nhưng cha ông các người đã giết chết các vị ấy! Khốn cho các người, hỡi những nhà thông luật! Các người đã cất giấu chìa khoá của sự hiểu biết: các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người lại ngăn cản” (Lc 11:46, 47 và 52).
Khi Đức Giêsu ra khỏi đó, các kinh sư và các người Pharisêu bắt đầu căm giận ra mặt, và vặn hỏi Ngài về nhiều chuyện, gài bẫy để xem có bắt được Ngài nói điều gì sai chăng (Lc 11:53-54). Thật kinh khủng quá, nghe mà rợn cả người! Họ là ai? Là người có chức quyền, có địa vị, cả xã hội và tôn giáo.
Một lần khác, sau khi nghe những dụ ngôn Chúa Giêsu kể, các thượng tế và người Pharisêu hiểu là Ngài ám chỉ họ. Thế là họ tìm cách bắt Ngài, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Ngài là một ngôn sứ (Mt 21:45-46). Dịp may chưa đến với họ. Và họ tiếp tục ngấm ngầm toan tính mưu mô thâm hiểm.
Còn nữa, sau khi nghe Chúa Giêsu nói dụ ngôn tiệc cưới (Mt 22:1-14; Lc 14:15-24), nhóm Pharisêu nhận thấy Ngài cũng nói về chính họ nên họ đã toa rập với nhau tìm cách bắt giết Ngài. Họ đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy về việc nộp thuế cho Xêda, nhưng Đức Giêsu biết họ có ác ý, giả hình, bảo họ: “Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mt 22:21). Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Ngài lại đó mà đi, nhưng trong lòng ấm ức lắm.
Điều gì đến cũng sẽ đến, chỉ hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Đức Giêsu và giết đi (Mc 14:1). Tệ hơn là chính Giuđa Ítcariốt, một người trong Nhóm Mười Hai, “đi đêm” với các thượng tế để nộp Ngài cho họ. Nghe vậy, họ rất mừng và hứa cho tiền. Gã Giuđa liền tìm cách nộp Ngài sao cho tiện (Mc 14:11). Ném đá nhưng muốn giấu tay, thọc gậy bánh xe hoặc giật dây, nhưng đó là lỗi của cái gậy hoặc sợi dây, chứ “tôi vô can”, nếu cần thì rửa tay như tổng trấn Philatô (Mt 27:24). Vô tư!
Chúa Giêsu đã bị chê là lộng ngôn, khùng điên, ba trợn, thậm chí tên cướp khét tiếng Baraba còn được coi là “tốt lành” hơn Chúa Giêsu, thế nên hắn đã được hưởng ân xá đặc biệt là được tha bổng vô điều kiện (Mt 27:11-26; Mc 15:2-15; Lc 23:13-25; Ga 18:28-40).
Muốn so sánh thì phải có ít nhấn hai cái. Nếu không có cái so sánh thì lấy gì phân biệt? Thật vậy, có cái xấu mới khả dĩ nhận ra cái đẹp, có cái ác mới khả dĩ nhận biết cái thiện. Tất cả chúng ta đều là người xấu (x. Lc 11:13), đã từng xấu xa bằng cách này hay cách nọ, và chúng ta cũng đã từng suy nghĩ hoặc nói ra như Kinh Thánh đề cập: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Nhận biết mình xấu thì mới biết thương người xấu, nhờ đó mà nhận thấy chí lý khi Chúa Giêsu dạy PHẢI yêu thương kẻ thù (Mt 5:43-48; Lc 6:27-35). Động từ “phải” nói lên sự bắt buộc, nhưng rất thấm thía! Thánh Ý Chúa mầu nhiệm, “mọi lời Thiên Chúa phán đều được chứng nghiệm” (Cn 30:5).
Khi Chúa Giêsu vào Thành Giêrusalem, khoảnh khắc vinh quang quá vắn vỏi, ngay sau đó là khoảng đau khổ dài dằng dặc. Cuộc đời chúng ta cũng không thể không như vậy, niềm vui quá ít và nhỏ nhoi, nhưng nổi sầu khổ quá nhều và quá lớn. Nếu ví cuộc đời là chiều dài 1m thì khoảng vui chỉ dài 1dm, mà khoảng buồn dài tới 9dm.
Có lẽ ít người lưu ý câu Kinh Thánh này: “Lành dữ, sống chết, giàu nghèo, tất cả đều do Đức Chúa” (Hc 11:14). Điều này giúp chúng ta nhận biết sự mầu nhiệm của Thánh Ý Chúa, chúng ta không bao giờ hiểu hết. Chúng ta đừng bao giờ “truy nã” nhau, và hãy ghi nhớ điều này suốt đời: “Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi” (Cn 3:5-6).
Tuần Thánh bắt đầu, chúng ta cố gắng đồng hành với Đức Kitô suốt Đường Thánh Giá, hãy nhìn sâu vào mắt Ngài và nghe di ngôn mà Ngài căn dặn lần cuối: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).
Lạy Chúa-Giêsu-đau-khổ, xin thương xót chúng con, xin biến đổi chúng con, và chúng con xin tín thác vào Ngài. Xin giúp chúng con chịu đau khổ với Ngài, chịu chết với Ngài, và được phục sinh với Ngài – Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến thiên thu vạn đại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Lễ Lá – 2015

 


 

DongCongNet - March 28, 2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)