dongcong.net
 
 


Lễ Mình Máu Chúa: Trầm Thiên Thu

ĂN THẦN LƯƠNG HƯỞNG THẦN DƯỢC
(Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, năm B)

CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH THÁNH HẰNG SỐNG
NGƯỜI LÃNH NHẬN THỎA LINH HỒN ẤM NO

Trong Ga 6:35, Chúa Giêsu đã xác định điều đó. Người lãnh nhận không còn đói khát nữa, không chỉ được sống mà còn sống dồi dào, và đặc biệt là “khỏi phải chết” (Ga 6:50). Ngược lại, nếu không lãnh nhận Mình Máu Ngài, chúng ta sẽ sống èo uột và tất nhiên sẽ không có sự sống đời đời. Thánh Thể vừa là Thần Lương vừa là Thần Dược.
Đối với phàm nhân, việc ăn uống là “cái sự sung sướng” đệ nhất trong tứ khoái. Tuy nhiên, ăn uống không chỉ là khoái khẩu mà còn là nuôi sống thân xác. Ăn uống cũng là nét văn hóa: Văn hóa ẩm thực. Ăn uống không chỉ là đưa ẩm thực vào miệng, nhai, nuốt và tiêu hóa theo sinh lý tự nhiên, mà còn phải học cách ăn để biết cách ăn, như tục ngữ Việt Nam nói: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”.
Là thụ tạo, thân xác con người cần có lương thực để sống; tương tự, tâm hồn cũng cần loại lương thực đặc trưng để sống. Người Công giáo hạnh phúc có được một loại “siêu ẩm thực” – gọi là Thần Lương, đó chính là Thánh Thể của chính Đức-Kitô-Thiên-Chúa-Nhập-Thể-Làm-Người. Ai ăn Thánh Thể Ngài và uống Bửu Huyết Ngài thì không còn đói khát và được hứa ban sự sống đời đời.
Chúng ta thường thấy chữ IHS (hoặc JHS), nghĩa là Iesus Hominum Salvator – Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ Nhân Loại. Chữ viết tắt này xuất hiện từ thế kỷ VIII: DN IHS CHS REX REGNANTIUM. Ba chữ đầu được viết tắt từ câu “DomiNus IHeSus CHristuS” – “Chúa Giêsu Kitô là Vua các vua”. Chân phước Gioan Colombini (qua đời năm 1367) thường viết chữ này trước ngực. Người ta còn thêm mẫu tự V (hình ba dấu đinh) vào chữ IHS thành IHSV. Dạng này được Thánh Inhaxiô dùng làm biểu tượng của các tu sĩ Dòng Tên. IHSV là viết tắt câu “In Hoc Signo Vinces” (Nhờ dấu này, bạn sẽ chiến thắng), được coi là ám chỉ chiến thắng mà Hoàng đế Constantine đã đánh bại Maxentius tại Cầu Milvian ngày 28 tháng Mười năm 312.
HUYẾT ƯỚC ĐƯỢC THIẾT LẬP
Cựu Ước cho biết rằng từ ngàn xưa, ông Môsê xuống thuật lại cho dân mọi lời của Đức Chúa và mọi điều luật. Toàn dân đồng thanh đáp: “Mọi lời Đức Chúa đã phán, CHÚNG TÔI SẼ THI HÀNH” (Xh 24:3). Đó là lời phàm nhân hứa với Đức Chúa. Chính ông Môsê đã chép lại mọi lời của Đức Chúa đã truyền.
Ngay sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Israel. Đó chính là Giao Ước và là Thập Giới (Mười Điều Răn). Dâng lễ toàn thiêu, ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa rồi ông Môsê lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo” (Xh 24:7). Ông Môsê lấy máu rảy lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24:8). Một Huyết Ước đã được thiết lập giữa Thiên Chúa và nhân loại – giữa Tạo Hóa (Tạo Vật) với Thụ Tạo.
Được Thiên Chúa tạo dựng nên giống hình ảnh Ngài với bản chất “nhân chi sơ tính bổn thiện”, thế nhưng con người ngang ngược và kiêu căng, tự biến mình thành tội nhân – nghĩa là tất cả chúng ta đều hoàn toàn bất xứng. Tuy vậy, Thiên Chúa không coi chúng ta là tôi tớ và lại thiết lập Giao Ước Mới với nhân loại. Vì thế, chúng ta lại càng phải biết dâng lời tạ ơn. Giáo Hội đã dùng Tv 116 để dâng lời tạ ơn, vì Thánh Vịnh này chính là Lời Kinh Tạ Ơn. Thiên Chúa chí thánh và cao sang vô cùng, chúng ta không có gì đền đáp cho cân xứng: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Ngài đã ban cho?” (Tv 116:12). Tự vấn như vậy rồi thì cũng nhận ra mình là Con-Số-Không quá lớn, và chỉ còn biết tin cậy vào Thiên Chúa mà tự thề hứa: “Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu Thánh Danh Ðức Chúa” (Tv 116:12-13).
Ôi, ân nghĩa Thiên Chúa cao dày khôn ví! Chúng ta phải chân thành khiêm nhường nhìn nhận: “Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:16), và phải tự hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn,  trước toàn thể dân Ngài” (Tv 116:18). Vâng, chính chúng ta tự hứa thì cũng phải tự xử trước khi Thiên Chúa xử.
Liên quan Giao Ước và Máu, Thánh Phaolô cho chúng ta biết qua thư gởi giáo đoàn Do Thái: “Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai. Để vào cung thánh, Ngài đã đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này. Ngài đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với CHÍNH MÁU CỦA MÌNH, Ngài vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ƠN CỨU CHUỘC VĨNH VIỄN cho chúng ta” (Dt 9:11-12). Rồi thánh nhân vừa giải thích vừa kết luận: “Vậy nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch thì Máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Ngài THANH TẨY LƯƠNG TÂM chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống. Trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi QUYỀN LÃNH NHẬN GIA NGHIỆP VĨNH CỬU Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9:13-15). Thánh Phaolô nói rõ ràng quá chừng!
Máu là loại chất lỏng rất đặc biệt, nó duy trì sự sống trong cơ thể con người – và động vật. Mất máu nhiều thì không thể sống, nghĩa là chết. Ngày xưa, khi thề hứa với nhau điều quan trọng, người ta thường “cắt máu ăn thề” (mỗi người tự lấy chút máu của mình, hòa vào chung rượu, rồi chia nhau uống), nhất là khi kết nghĩa huynh đệ. Và Thiên Chúa cũng đã thiết lập Huyết Ước với nhân loại chúng ta.
HUYẾT ƯỚC ĐƯỢC THỰC HIỆN
Thánh sử Thầy thuốc Mác-cô cho biết: Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế chiên Vượt Qua, Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và dặn họ: “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu? Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng. Ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta” (Mc 14:13-15). Hai môn đệ ra đi vào thành, các ông thấy mọi sự y như Ngài đã nói. Và các ông dọn dạ tiệc Vượt Qua.
Khi đang bữa ăn, Đức Giêsu CẦM LẤY bánh, dâng lời CHÚC TỤNG, BẺ RA, TRAO CHO các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy” (Mc 14:22). Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, trao cho các ông, và nói: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người” (Mc 14:24). Đây là phép lạ lớn nhất và là mầu nhiệm đức tin, nếu không có đức tin thì không thể nào tin nổi. Bánh và rượu được thánh hóa để trở thành Thánh Thể của Đức Giêsu Kitô, làm Thần Lương nuôi sống chúng ta hằng ngày. Đó cũng là Giao Ước được thực hiện, đúng với lời hứa mà Chúa Giêsu đã hứa trước khi Ngài về cùng Chúa Cha: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Ngài lập Bí tích Thánh Thể và cũng lập chức Linh mục kỳ diệu, bởi vì phàm nhân mà được Chúa trao quyền hành động thay mặt Ngài.
Sau khi thiết lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu ân cần nhắn nhủ: “Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa” (Mc 14:25). Ngài về Thiên quốc trước để dọn chỗ cho chúng ta, những người tin Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Độ.
Để tỏ lòng kính mến Thánh Thể và đáp lại Tình Ngài, mỗi ngày chúng ta nên RƯỚC LỄ THẬT, rước lễ xong thì hãy đắm mình trong Ngài để hòa tan với Ngài và chuyện trò với Ngài. Mọi lúc khác trong ngày, chúng ta cũng nên RƯỚC LỄ THIÊNG LIÊNG, nếu có thể thì chầu Thánh Thể chung hoặc riêng. Thánh LM TS Thomas Aquinas, thần học gia lỗi lạc, cho biết: “Rước lễ thiêng liêng sinh hiệu quả như rước lễ thật, nhưng còn tùy chúng ta dọn mình kỹ hay không, có tha thiết ao ước Chúa hay không, và có yêu mến Chúa nhiều hay không”.
Chúa Giêsu vẫn luôn ở nơi Nhà Tạm chờ đợi chúng ta tâm sự với Ngài, không phải chúng ta an ủi Ngài mà chúng ta được Ngài an ủi. Thánh Thể và Thánh Tâm phải được chúng ta ưu tiên, và đó cũng là tôn kính Lòng Chúa Thương Xót vậy.
Liên quan Thánh Thể, trên trang CongGiaoDanThan.com, tác giả Nguyễn Hy Vọng kể câu chuyện xảy ra thật tại Việt Nam thế này: Năm 1954, sau khi chiếm miền Bắc, một toán công an cộng sản vào nhà dòng kín Bùi Chu lục soát. Khi đến Nhà Nguyện, lúc các nữ tu đang chầu Mình Thánh, một tên cộng sản lớn tiếng la lối: “Chúa của các người ở đâu?”. Nữ tu chỉ Nhà Tạm trên bàn thờ, tên này lấy súng mang trên người nhắm Nhà Tạm. Hắn bắn vỡ chén thánh và Mình Thánh Chúa đổ ra vương vãi. Bắn xong, hắn vẫn đứng yên, chĩa súng vào Nhà Tạm như muốn bắn tiếp. Các nữ tu vô cùng đau lòng vì Mình Thánh Chúa bị xúc phạm, nên quỳ xuống, van xin anh đừng bắn nữa, nhưng khi chạm đến hắn, các nữ tu mới biết hắn chỉ còn là cái xác không hồn: HẮN CHẾT ĐỨNG!
Lạy Thánh Tử Giêsu, xin thanh tẩy tâm hồn chúng con để chúng con xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể Ngài mỗi ngày, xin Thánh Thể Ngài ban cho chúng con phúc trường sinh, chứ không là cớ khiến chúng con bị án phạt đời đời vì tội bất xứng. Ngài là Đấng cứu độ nhân loại, hiển trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Thánh ca THẦN LƯƠNG : https://youtu.be/a5dL73xe7gU

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA
CHẶNG ĐÀNG THÁNH THỂ

Các tu sĩ Dòng Phanxicô nổi tiếng về việc giới thiệu về Chặng Đàng Thánh Giá (the Stations of the Cross) ở các Giáo Hội địa phương trên khắp thế giới. Đó là lòng sùng kính dựa trên các sự kiện liên quan cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu. Trong những năm gần đây, các hình thức sùng kính khác cũng đã được giới thiệu, trong đó có “Chặng Đàng Thánh Thể” (the Stations of the Holy Eucharist).

Lòng sùng kính này tương tự Chặng Đàng Thánh Giá, gồm 12 chặng dựa vào các đoạn Kinh Thánh trong Cựu Ước và Tân Ước, được tập trung vào Thánh Thể.

Thánh Clara Nghèo Khó Dòng Chầu Thánh Thể (Perpetual Adoration) ở Hanceville, Alabama, (trước đây Mẹ Angelica sáng lập mạng lưới truyền hình toàn cầu EWTN – Eternal Word Television Network), là người thúc đẩy lòng sùng kính này và đã phát triển các lời suy niệm cho mỗi chặng đàng. Trên website có giải thích mục đích của lòng sùng kính này (*).

Mục đích của Chặng Đàng Thánh Thể là giúp các tín nhân hiểu biết và yêu mến nguồn gốc và đỉnh cao của đức tin: THÁNH THỂ – The Most Holy Eucharist. Xuyên suốt lịch sử cứu độ, Chúa Cha đã chuẩn bị cho dân Ngài tặng phẩm là Con Yêu Dấu của Ngài, và cũng chuẩn bị cho sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Trong Cựu Ước, Thánh Thể đã được diễn tả trước. Trong Tân Ước, các tiên báo đó trở thành hiện thực.

Đây là lòng sùng kính tốt lành có nền tảng Kinh Thánh và tập trung vào một trong các tặng phẩm được Thiên Chúa trao ban cho nhân loại.

Dưới đây là một trong các phiên bản về Chặng Đàng Thánh Thể, làm nổi bật nhiều điều tiên báo và ứng nghiệm về Thánh Thể trong Kinh Thánh.

1 – Men-ki-xê-đê là Vua Sa-lem: Tiên báo về chức linh mục.
2 – Lễ Quá Hải của người Do Thái: Chiên Vượt Qua – Diễn tả trước về Thánh Thể.
3 – Man-na: Diễn tả trước về Thánh Thể – Man-na Mới.
4 – Đền Thờ cũ: Diễn tả trước về Thánh Thể – Thiên Chúa ở giữa loài người.
5 – Êlia và bánh nướng: Diễn tả trước về Thánh Thể – Thần Lương trên đường lữ hành (của ăn đàng).
6 – Belem là Nhà Bánh: Nơi sinh của Bánh Hằng Sống.
7 – Tiệc cưới tại Cana: Nước hóa rượu, rượu thành máu.
8 – Hóa bánh ra nhiều: Thánh Thể là Thần Lương cho nhiều người.
9 – Diễn từ Bánh Hằng Sống: Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống.
10 – Bữa Tiệc Ly: Lời hứa nên trọn (ứng nghiệm).
11 – Đường về Em-mau: Chúa Giêsu được nhận ra khi Ngài bẻ bánh.
12 – Tiệc Cưới Con Chiên: Thánh Thể là lời hứa về sự sống đời đời.

PHILIP KOSLOSKI

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Aleteia.org)

Lễ Sangti – 2018

 

BÍ TÍCH THÁNH THỂ
Bí tích Thánh Thể là gì?

Đối với người Công giáo, Thánh Thể là bí tích cao trọng nhất. Thật vậy, tham dự Thánh Lễ là một nghĩa vụ, sẽ là tội trọng nếu không tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật và một số lễ buộc. Thánh Lễ được chia thành hai phần: Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể. Phụng Vụ Lời Chúa gồm hai bài đọc (một bài Cựu Ước và một bài Tân Ước), đáp ca, Phúc Âm, bài giảng và lời nguyện.

Tâm điểm của Thánh Lễ là phần thứ hai, Phụng Vụ Thánh Thể. Lúc này, các tín hữu Công giáo chia sẻ Mình và Máu Chúa Giêsu trong hình bánh và rượu. Theo Kinh Thánh, việc này được cử hành để tưởng nhớ Đức Kitô (1 Cr 11:23-25; x. Lc 22:18-20 và Mt 26:26-28). Tuy nhiên, theo Giáo lý Công giáo (số 1366), “Thánh Thể là lễ hy sinh vì tái thể hiện hy tế Thập Giá, vì đó là cuộc tưởng niệm và hưởng dùng thành quả”.

Giáo lý Công giáo (số 1367) tiếp tục cho biết: Hy lễ Đức Kitô và hy lễ Thánh Thể là một hy lễ: “Hiến vật là Đấng hiến dâng qua thừa tác viên linh mục, Đấng đã tự hiến trên Thập Giá, chỉ khác cách dâng”. Hy lễ này được cử hành trong Thánh Lễ, chính Đức Kitô tự hiến đã đổ máu trên Thập Giá xưa và nay được dâng theo cách không có máu, nhưng hy lễ này vẫn thực sự có giá trị giao hòa.

Trong sách Ma-la-khi, ngôn sứ nói trước việc bỏ nghi lễ cũ và thiết lập nghi lễ mới: “Ai trong các ngươi sẽ đóng cửa lại, để các ngươi khỏi uổng công đốt lửa trên bàn thờ của Ta? Ta chẳng hài lòng chút nào về các ngươi, và Ta chẳng ưng nhận lễ phẩm từ tay các ngươi dâng. Quả thật, từ đông sang tây, Danh Ta thật cao cả giữa chư dân; và ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta, bởi vì Danh Ta thật cao cả giữa chư dân” (Ml 1:10-11). Nghĩa là Thiên Chúa sẽ được tôn vinh trong dân ngoại, những người sẽ dâng hiến lễ tinh tuyền cho Ngài ở mọi nơi. Người Công giáo coi đó là Thánh Thể. Tuy nhiên, Thánh Phaolô có vẻ có hướng khác: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12:1). Thánh Thể chỉ có thể được dâng ở những nơi ấn định: các nhà thờ đã thánh hiến theo giáo luật. Ý tưởng hiến dâng thân mình làm của lễ sống động rất phù hợp với ngôn ngữ tiên báo, nói rằng hy lễ sẽ được dang “ở mọi nơi”.

Giáo Hội Công giáo Rôma tin rằng bánh và rượu trở nên Mình Máu Chúa Giêsu thực sự. Giáo Hội cố gắng ủng hộ hệ tư tưởng với các câu Kinh Thánh này: Ga 6:32-58; Mt 26:26; Lc 22:17-23; và 1 Cr 11:24-25. Năm 1551, Công Đồng Trentô xác định: “Việc thánh hóa bánh rượu làm biến đổi bản chất của bánh rượu thành Mình Máu Đức Kitô. Giáo Hội Công giáo gọi sự biến đổi này là sự biến thể hoặc hóa thể” (Phiên họp XIII, chương IV; x. canon II). Bằng cách chia sẻ bữa tiệc Thánh Thể, Giáo Hội dạy rằng người Công giáo hoàn tất câu Ga 6:53: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình”.

Điều đó có ý nghĩa gì? Chúa Giêsu xác định: “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là THẦN KHÍ và là SỰ SỐNG. Nhưng trong anh em có những kẻ KHÔNG TIN” (Ga 6:63-64). Như vậy, nếu “xác thịt vô ích”, tại sao chúng ta phải ăn Thịt của Chúa Giêsu để có sự sống đời đời? Điều đó vô nghĩa cho tới lúc Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng lời Ngài chính là “thần khí”. Chúa Giêsu nói rằng đó không là giáo huấn suông theo nghĩa đen, mà theo nghĩa tâm linh. Ngôn ngữ liên kết hoàn hảo với lời Thánh Phaolô: “Vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12:1).

Theo người Do Thái, bánh tương đương với Ngũ Thư (Torah – 5 cuốn đầu tiên trong Cựu Ước, tiếng Do Thái: תּוֹרָה, nghĩa là “hướng dẫn” hoặc “dạy dỗ”), và việc “ăn bánh” là đọc và hiểu giao ước của Thiên Chúa (x. Đnl 8:3). Chẳng hạn, sách Huấn Ca nói: “Ai ăn Ta sẽ còn đói, ai uống Ta sẽ còn khát. Ai nghe lời Ta sẽ không phải thẹn thùng, ai hoạt động trong Ta sẽ không hề phạm tội. Tất cả những điều ấy đều có trong sách Giao ước của Thiên Chúa Tối Cao, trong Lề Luật ông Mô-sê đã truyền, để các cộng đồng Gia-cóp nhận làm gia nghiệp” (Hc 24:20-22). Việc trích dẫn sách Huấn Ca ở đây không xác nhận đó là Kinh Thánh, mà chỉ minh họa cách người Do Thái nghĩ về Luật Mô-sê. Cần phải hiểu sự ngang hàng của Bánh với Ngũ Thư để đánh giá đúng quan điểm của Chúa Giêsu.

Trong Ga 6, Chúa Giêsu cho dân chúng biết rằng Ngài còn cao trọng hơn Ngũ Thư (x. Ga 6:49-51) và cả Luật Mô-sê. Sách Huấn Ca nói rằng những người ăn theo Luật thì “vẫn đói” và “vẫn khát”; cách nói này được Chúa Giêsu phản ánh khi Ngài nói: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6:35). Chúa Giêsu không đòi hỏi người ta ăn Thịt và uống Máu Ngài theo nghĩa đen, Ngài cho họ biết điều cốt lõi của Giáo lý Kitô giáo: HÃY TIN VÀO CHÚA GIÊSU. Đó chính là ước muốn của Thiên Chúa: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6:29).

Có sự tương tự rất rõ ràng trong Ga 6 đối với thời ông Mô-sê và việc ăn man-na. Thời ông Mô-sê, man-na được Thiên Chúa cung cấp làm của ăn cho dân Israel khi họ đi trong hoang địa. Tuy nhiên, trong Ga 6, Chúa Giêsu xác nhận là man-na thật, là bánh bởi trời. Với câu này, Chúa Giêsu xác nhận việc Thiên Chúa cung cấp đầy đủ về Ơn Cứu Độ. Man-na là sự quan phòng về việc cứu đói, Chúa Giêsu là nguồn cung cấp của Thiên Chúa về việc cứu khỏi án phạt. Giống như man-na phải được dùng để duy trì sự sống của dân Israel, chúng ta cũng phải lãnh nhận Chúa Giêsu để được cứu độ.

Trong Ga 6, rõ ràng Chúa Giêsu đề cập chính Ngài là Bánh Hằng Sống và khuyến khích những người theo Ngài ăn Thịt Ngài. Nhưng chúng ta không cần kết luận rằng Chúa Giêsu dạy những gì mà người Công giáo nói tới là sự biến thể hoặc hóa thể (transubstantiation). Bữa Tiệc Ly / rước lễ / Thánh Thể chưa được thiết lập. Mãi tới chương 13 trong Phúc Âm theo Thánh Gioan, Chúa Giêsu mới thiết lập bí tích Thánh Thể / Thánh Lễ / Bữa Tiệc Ly. Như đã nói trên đây, đó là cách tốt nhất để hiểu đoạn văn này trong ánh sáng đức tin để được Chúa Giêsu ban Ơn Cứu Độ. Khi chúng ta tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ, hãy hoàn toàn tín thác vào Ngài, chúng ta cũng đang “ăn Thịt Ngài” và “uống Máu Ngài”. Thánh Thể Ngài không tan rữa khi Ngài chết, và Bửu Huyết Ngài đã đổ ra để cứu độ chúng ta. Thánh Phaolô cho biết: “Cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa” (1 Cr 11:26-27).

Công giáo định nghĩa Thánh Thể là “tái diễn” sự hy sinh của Đức Kitô, khái niệm này không có trong Kinh Thánh. Đức Kitô không cần hy sinh lại. Sự hy sinh của Đức Kitô không cần hiến dâng lại. Dt 7:27 xác định: “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đã dâng chính mình và chỉ dâng MỘT LẦN là đủ”. Tương tự, 1 Pr 3:18 giải thích: “Chính Đức Kitô đã chịu chết MỘT LẦN vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương – hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh”. Đức Kitô chết một lần trên Thập Giá là đủ cứu chuộc mọi tội lỗi của chúng ta (1 Ga 2:2). Do đó, sự hy sinh của Đức Kitô cũng không cần hiến dâng lại. Sự hy sinh của Đức Kitô được đón nhận bằng đức tin (Ga 1:12; Ga 3:16). Ăn Thịt và uống Máu Đức Kitô là dấu chỉ đón nhận sự hy sinh của Ngài thay cho chúng ta, nhờ ân sủng qua đức tin.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ GotQuestion.org)
Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô, 3-6-2018

✝ Cảm nghiệm PANGE LINGUA (Tantum Ergo) của Thánh LM TS Thomas Aquino:

https://www.youtube.com/watch?v=Swns4Kjzc9E

 

CHUẨN BỊ THÁNH LỄ

Một trong các lời than phiền mà người Công giáo chúng ta nghe được từ người khác là Thánh Lễ nhàm chán lắm. Có thể thi thoảng chính chúng ta cũng nghĩ như vậy. Người ta than rằng họ không được gì khi tham dự Thánh Lễ. Đôi khi chúng ta quên rằng Thánh Lễ không quá nhiều về chúng ta vì Thánh Lễ là chúc tụng và thờ phượng Thiên Chúa. Đó không là cách chúng ta cảm nhận.

Thật vậy, cảm xúc của chúng ta là nguồn sự thật và thực tế bất kham không đáng tin. Chúng thay đổi từng ngày và ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố ngoại tại và nội tại. Đừng cho rằng ma quỷ luôn tìm cách kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa bằng cảm xúc và sự tưởng tượng của chúng ta. Thiên Chúa cũng chẳng như cảm xúc của chúng ta. Nếu chúng ta dành quá nhiều thời gian tập trung vào cách chúng ta cảm nhận, chúng ta sẽ thấy mình tôn thờ cảm xúc của mình chứ chẳng tôn thờ Thiên Chúa.

Tất cả chúng ta sẽ trải nghiệm những lúc mà các vị linh hướng gọi là sự phiền muộn và sự an ủi. Chúng ta sẽ dành nhiều thời gian chú ý tới sự phiền muộn hơn là sự an ủi khi Thiên Chúa muốn tẩy rửa và giải thoát chúng ta khỏi dính líu những thứ trần tục, kể cả việc đặt cảm xúc ở trung tâm cuộc đời của chúng ta. Nếu không được kiểm soát, cảm xúc sẽ dẫn chúng ta vào con đường lầm lạc và thậm chí là nguy hiểm. Đó là sự thật khách quan về đời sống hằng ngày, nhưng nó cũng gắn liền với cách chúng ta hiểu biết về Thánh Lễ. Chúng ta không là trung tâm của Thánh Lễ, chính Đức Kitô mới là trung tâm của Thánh Lễ.

1. CHUẨN BỊ THÁNH LỄ

Một trong những khó khăn mà tất cả chúng ta đều đối mặt trong nhịp sống ngày nay là KHÔNG DÀNH THỜI GIAN ĐỂ CHUẨN BỊ CHO THÁNH LỄ ĐÚNG MỨC. Chúng ta vội vàng đi lễ, nhiều người tới nhà thờ thì Thánh Lễ đã bắt đầu, có khi đã đọc sách thánh xong, rồi chia trí đủ chuyện và cảm xúc mơ hồ. Mục đích của Thánh Lễ là đưa chúng ta vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi – đặc biệt là qua sự sống, sự chết, và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Thánh Lễ đưa chúng ta vào mối quan hệ kết hiệp với Thiên Chúa và tha nhân trong Đức Kitô để chúng ta có thể đi vào thế giới và loan báo Tin Mừng. Thánh Lễ còn là dịp chúng ta chia sẻ sự hy sinh của Đức Kitô qua việc dâng của lễ – qua thừa tác viên linh mục – và dâng sự hy sinh của chúng ta lên Thiên Chúa qua bí tích Thánh Thể. Trời và đất gặp nhau trong Thánh Lễ. Theo nghĩa đen, chúng ta đặt một chân lên mặt đất và một chân bước vào cõi vĩnh hằng mỗi khi tham dự Thánh Lễ.

Cần phải nuôi dưỡng thói quen tốt đối với Thánh Lễ để khi có những lúc khô khan (không thể tránh) thì chúng ta có thể kiên trì và không rơi vào tình trạng chán nản hoặc thất vọng. Chúng ta phải học cách giữ thinh lặng trong tâm hồn và ngoài thề lý. Hãy nhớ rằng cả nội tại và ngoại tại đều là vấn đề và liên quan lẫn nhau. Đó là lý do Giáo Hội biết rõ khi nhấn mạnh về vẻ đẹp của các dạng, nhất là trong Thánh Lễ. Đó là lý do bí tích Thánh Thể được Chúa Giêsu thiết lập vừa là hữu hình vừa vô hình. Chúng ta có xác hồn nên chúng ta xử lý với thân xác và các cảm nghiệm thực tế, đó là vừa vật chất vừa tinh thần. Đó cũng là lý do chúng ta đối mặt với nhiều chước cám dỗ tập trung vào thể lý khi điều khiển tinh thần.

2. VÀO CÕI TĨNH LẶNG

Chính sự thinh lặng không có nghĩa là một dạng tự hành hạ mà chúng ta muốn để duy trì sự tĩnh lặng thể lý, tâm trí và linh hồn trong suốt Thánh Lễ. Hơn nữa, đó là cách sắp xếp đời sống tâm linh để chúng ta được bình an. Khi sự tĩnh lặng này bao phủ, chúng ta có thể nghỉ ngơi trong Chúa và tham dự vào những mầu nhiệm. Điều này không dễ đạt được, cần phải cầu nguyện và kỷ luật. Chúng ta sống trong thời đại bận rộn, vội vã, có thể khó hoặc có vẻ không thể tìm được sự tĩnh lặng trong cuộc sống hàng ngày. Để có thể thinh lặng trong Thánh Lễ, chúng ta phải tập luyện giữ thinh lặng mỗi ngày. Hằng ngày, hãy dành vài phút để cầu xin Chúa làm cho chúng ta tĩnh lặng trong tâm hồn, rồi tâm trí sẽ cho phép chúng ta đi vào cõi tĩnh lặng sâu thẳm khi chúng ta tham dự Thánh Lễ.

Trong cuốn “Meditations Before Mass” (Suy Niệm Trước Thánh Lễ), tác giả Romano Guardini giải thích về sự cần thiết của sự tĩnh lặng: “Con người sinh sống, và động vật di chuyển; sự tuân thủ từ bên ngoài không ngưng nghỉ. Vì thế, sự tĩnh lặng vẫn còn, và nó chỉ xuất hiện khi nó được mong muốn. Nếu chúng ta đánh giá cao sự tĩnh lặng, nó sẽ đem niềm vui đến cho chúng ta; nếu không thì chỉ là sự khó chịu… Hơn nữa, sự tĩnh lặng không nên hời hợt, vì khi đó sẽ có tiếng nói hoặc sự lúng túng; tư tưởng, cảm xúc, tâm hồn cũng phải tìm được sự nghỉ ngơi. Rồi sự tĩnh lặng đích thực sẽ thấm sâu vào chúng ta, lan tỏa ra xung quanh”.

Sự tĩnh lặng đem lại bình an và niềm vui, giúp chúng ta giao tiếp với Thiên Chúa ở mức sâu rộng hơn. Sự tĩnh lặng đưa chúng ta vào những nơi bí ẩn trong chúng ta để chúng ta có thể khám phá Ngài. Thánh Lễ là thời gian chúng ta có thể hiểu các bí ẩn mà chúng ta chưa biết và được bổ dưỡng bằng Mình Máu Thánh Chúa. Các bí ẩn này mang ý nghĩa và cách hiểu mới hơn nếu chúng ta có thể duy trì sự tĩnh lặng trong đời sống của chúng ta.

3. THAM DỰ THÁNH LỄ

Để có thể giữ thinh lặng trong Thánh Lễ, chúng ta cần đến nhà thờ sớm. Rất nhiều người đến nhà thờ vội vã, chia trí, kích động, chán nản, hoặc mệt mỏi. Những người có con nhỏ đều biết rằng đó có thể là cuộc đấu tranh thực tế để giục người khác đi lễ đúng giờ. Đến nhà thờ sớm vài phút cho chúng ta cơ hội cầu xin Chúa thanh tẩy lòng trí khỏi mọi điều lo lắng. Điều đó có vẻ như không thể, nhưng chúng ta có thể đạt được khi kiên nhẫn với đứa con đang trườn bò lên mình nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Hãy cố gắng thực hành và kiên nhẫn!

Đời sống tâm linh là nuôi dưỡng những thói quen tốt lành và cần có thời gian. Hãy kiên nhẫn với chính mình, nhưng hãy cố gắng đến nhà thờ 5-10 phút trước giờ lễ. Tác giả Romano Guardini giải thích: “Trước hết, chúng ta phải tới nhà thờ sớm để chuẩn bị tâm hồn. Chúng ta phải loại bỏ ảo tưởng về tình trạng của mình khi bước vào nhà thờ; chúng ta phải can đảm đối mặt với sự bồn chồn, sự lẫn lộn và sự rối loạn của chúng ta. Nói một cách chính xác, chúng ta chưa thực sự hiện hữu là những con người – không phải như con người mà Thiên Chúa nói, mà luôn hy vọng cách đáp lại phù hợp với mình. Chúng ta là những bó cảm xúc, tưởng tượng, ý tưởng, và các kế hoạch khác. Điều cần làm trước tiên là thinh lặng và tập trung. Chúng ta phải thành thật nói rằng tôi đang ở đây, và chỉ có một điều tôi cần làm là tập trung vào điều duy nhất: tham dự Thánh Lễ. Tôi hoàn toàn sẵn sàng”.

Sự chia trí và cuộc chiến tâm linh có thể là phương diện khó tránh khỏi về Thánh Lễ đối với đa số chúng ta, vì chúng ta chưa thực sự là “bậc thầy” về lĩnh vực tâm linh. Khi chúng ta cảm thấy bồn chồn áy náy, chúng ta phải tự cố gắng tập trung mỗi khi tham dự Thánh Lễ. Đối với đa số chúng ta, điều này xảy ra khá thường xuyên, nhưng theo thời gian, tình trạng đó sẽ biến mất khi chúng ta sống có kỷ luật.

Tôi thấy rằng tôi cầu xin Đức Mẹ kéo tôi gần với Mẫu Tâm Vô Nhiễm trước mỗi Thánh Lễ là việc làm hữu ích khi đấu tranh với các tư tưởng lan man, chước cám dỗ, hoặc những điều làm chia trí khác. Thật tốt lành, nhà thờ giáo xứ tôi có tượng Đức Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá, thế nên tôi có thể chú ý tới Đức Mẹ khi tôi cảm thấy khó giữ tĩnh lặng.

Khi chúng ta nhận thấy mình tiến bộ trong sự tĩnh lặng về thể lý và tâm hồn, chúng ta không còn thấy khó tập trung nữa, nhất là tập trung vào chính mình (vì có người cứ quay ngang quay dọc xem có ai nhìn mình không, rồi vuốt tóc, chỉnh áo quần,...). Thánh Lễ sẽ không còn nhàm chán, không còn cảm thấy lâu, không còn cảm thấy thời gian nặng nề trôi qua. Cách sắp xếp nội tâm của chúng ta có nhiều điều cần làm đối với nhận thức của chúng ta về Thánh Lễ. Rất nhiều người than phiền về Thánh Lễ, họ không làm được những việc cần đối với Chúa trước Thánh Lễ. Điều này không nghĩa rằng chúng ta không có những ngày tồi tệ.

Nhiều lần chúng ta không cảm thấy thoải mái, bị căng thẳng nhiều, hoặc mệt mỏi, nhưng khi nuôi dưỡng thói quen giữ tĩnh lặng, chúng ta có thể tập trung vào Thiên Chúa. Không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy thoải mái khi đi lễ. Thật vậy, có thể có những lúc chúng ta khô khan nguội lạnh hoặc cảm thấy trống rỗng khi cố gắng bám vào Thập Giá để sống tốt hơn. Chắc chắn được nghỉ ngơi trong những lúc khó khăn và những lúc bình an, Chúa Giêsu vẫn nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời Ngài và bằng Mình Máu Ngài để lôi kéo chúng ta vào sâu trong tình yêu và lòng thương xót vô biên của Ngài.

CONSTANCE T. HULL
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu – 2018

 

VẤN ĐỀ RƯỚC LỄ

Thánh Lễ và Rước Lễ là trung tâm của đời sống Kitô giáo. Do đó chúng ta nên nghiêm túc và thành kính! Đây là 3 điều mà nhiều người Công giáo thể hiện chưa đúng:

1. KHÔNG CÚI ĐẦU
Nhiều người Công giáo lên rước lễ mà thiếu sự tôn kính. Chúng ta đang nói về việc lãnh nhận Chúa Giêsu, thế nên cần có sự tôn kính!
Đa số người ta không biết rằng mình được coi là làm điều gì đó, nhưng Hướng Dẫn Chung về Sách Lễ Rôma (HDCSLR) của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ cho biết: “Khi rước lễ, tín hữu cúi đầu trước Thánh Thể để tỏ lòng tôn kính… Dấu hiệu tôn kính cũng được thể hiện khi rước Máu Thánh” (HDCSLR số 160).
Mặc dù luật ở Mỹ là đứng khi rước lễ (sau khi cúi đầu), tín hữu cũng được phép rước lễ khi quỳ nếu họ muốn làm như vậy (HDCSLR số 160). Nhưng đừng không thể hiện chi cả!

2. KHÔNG THƯA “AMEN”
Điều này có thể bỏ qua nếu người rước lễ cảm thấy áp lực mà cần rước lễ nhanh vì xếp hàng dài, nhưng đó là đúng đã chỉ ra trong Nghi Thức Thánh Lễ: KHI LINH MỤC TRAO MÌNH THÁNH VÀ NÓI: “MÌNH THÁNH CHÚA KITÔ”, NGƯỜI RƯỚC LỄ PHẢI THƯA: “AMEN”.
Đây là điều quan trọng bởi vì nó xác định bạn thực sự tin rằng bạn đang tiếp rước chính Đức Kitô (có thể đó là điều nhắc nhở cần thiết cho chính mình). Chỉ có một tiếng thôi, thế nên hãy kính cẩn thưa “Amen”.

3. BẠN CÓ TRONG TÌNH TRẠNG ÂN SỦNG?
Dĩ nhiên không thể biết tình trạng linh hồn của người khác, nhưng có thể đa số người Công giáo chưa thực sự hiểu điều này: BẠN CHỈ ĐƯỢC LÃNH NHẬN THÁNH THỂ NẾU BẠN LÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO SỐNG TRONG TÌNH TRẠNG ÂN SỦNG.
Bạn có tội trọng từ lần xưng tội trước? Nếu CÓ, bạn cần đi xưng tội trước khi lãnh nhận Thánh Thể. Bạn vẫn nên tham dự Thánh Lễ, nhưng nếu bạn không ở trong tình trạng ân sủng thì bạn không nên rước lễ. Điều này quan trọng vì ít nhất có hai lý do:
(1) Rước lễ trong tình trạng mắc tội trọng là phạm thánh. Thế nên bạn đừng rước lễ!
(2) Không rước lễ khi bạn không ở trong tình trạng đúng đắn, chứng tỏ rằng bạn dành tình mến và lòng tôn kính cho Chúa Giêsu. Nếu bạn mắc tội trọng, bạn tham dự Thánh Lễ nhưng không rước lễ, chứng tỏ rằng bạn ý thức và đang quay đầu lại đúng hướng.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ ChurchPop.com)
[Đăng báo ĐMHCG, số 382, tháng 6-2018, DCCT xuất bản tại Hoa Kỳ]

 

Thần lương
(Chúa nhật lễ Mình Máu Chúa, năm B)

Ăn uống là cái sự sung sướng đầu tiên trong tứ khoái của con người. Ăn uống không chỉ là khoái khẩu mà còn là nuôi sống thân xác. Ăn uống cũng là nét văn hóa: Văn hóa ẩm thực. Ăn uống không chỉ là đưa ẩm thực vào miệng, nhai, nuốt và tiêu hóa theo sinh lý tự nhiên, mà còn phải học cách ăn để biết cách ăn, như tục ngữ Việt Nam nói: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”.
Thân xác cần lương thực để sống, tâm hồn cũng cần loại lương thực đặc trưng để sống. Người Công giáo hạnh phúc có được một loại siêu ẩm thực, gọi là thần lương, đó là Thánh Thể của chính Đức-Kitô-Thiên-Chúa-Nhập-Thể-Làm-Người. Ai ăn Mình Thánh Chúa và uống Máu Thánh Chúa thì không còn đói khát và được sống đời đời.

THIẾT LẬP GIAO ƯỚC
Ngày xưa, ông Môsê xuống thuật lại cho dân mọi lời của Đức Chúa và mọi điều luật. Toàn dân đồng thanh đáp: “Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành” (Xh 24:3). Ông Môsê đã chép lại mọi lời của Đức Chúa. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Ít-ra-en. Đó là Giáo ước và là Thập giới (Mười điều răn). Dâng lễ toàn thiêu, ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa’ rồi ông Môsê lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo” (Xh 24:7). Ông Môsê lấy máu rảy lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24:8). Một Giáo-Ước-Máu được thiết lập giữa Thiên Chúa và loài người.
Chúng ta hoàn toàn bất xứng, thế nhưng Thiên Chúa không coi chúng ta là tôi tớ và lại thiết lập Giáo ước với chúng ta. Vì thế, chúng ta lại càng phải biết dâng lời tạ ơn. Giáo hội đã dùng Tv 116 để tạ ơn, vì Thánh vịnh này là Lời Kinh Tạ Ơn. Thiên Chúa chí thánh và cao sang vô cùng, chúng ta không có gì đền đáp cho cân xứng: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Ngài đã ban cho? (Tv 116:12), tự vấn rồi chỉ còn biết tin cậy vào Ngài: “Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu Thánh Danh Ðức Chúa” (Tv 116:12-13).
Chúng ta phải khiêm nhường nhìn nhận: “Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:16) và tự hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn,  trước toàn thể dân Ngài” (Tv 116:18).
Trong thư gởi giáo đoàn Do Thái, Thánh Phaolô cho biết: “Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai. Để vào cung thánh, Ngài đã đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này. Ngài đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Ngài vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9:11-12). Rồi thánh nhân giải thích và kết luận: “Vậy nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì Máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Ngài thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống. Trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9:13-15). Thánh Phaolô nói rõ ràng quá!

THỰC HIỆN GIAO ƯỚC
Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế chiên Vượt Qua, Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và dặn họ: “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu? Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng. Ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta” (Mc 14:13-15). Hai môn đệ ra đi vào thành, các ông thấy mọi sự y như Ngài đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua.
Đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy” (Mc 14:22). Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, trao cho các ông, và nói: “Đây là máu Thầy, máu Giao ước, đổ ra vì muôn người” (Mc 14:24). Đây là phép lạ lớn nhất, và đây là mầu nhiệm đức tin, vì không có đức tin thì không thể nào tin nổi. Bánh và rượu được thánh hóa để trở thành Thánh Thể của Đức Giêsu Kitô, làm thần lương nuôi sống chúng ta hằng ngày. Đó cũng là Giao ước được thực hiện, đúng như Chúa Giêsu đã hứa trước khi Ngài về cùng Chúa Cha: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Ngài lập Bí tích Thánh Thể và cũng lập chức Linh mục kỳ diệu, phàm nhân mà được chúa trao quyền.
Sau đó, Ngài nói: “Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa” (Mc 14:25). Ngài về Thiên quốc trước để dọn chỗ cho chúng ta, những người tin Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Độ.
Để tỏ lòng kính mến Thánh Thể và đáp lại Tình Ngài, chúng ta nên rước lễ thật hằng ngày, rước lễ xong thì hãy đắm mình trong Ngài để hòa tan với Ngài và chuyện trò với Ngài, rước lễ thiêng liêng thường xuyên trong ngày, chầu Thánh Thể chung hoặc riêng. Chúa Giêsu ở Nhà Tạm hằng ngày chờ đợi chúng ta tâm sự với Ngài, không phải chúng ta an ủi Ngài mà chúng ta được Ngài an ủi. Thánh Thể và Thánh Tâm phải được chúng ta ưu tiên, và đó cũng là tôn kính Lòng Chúa Thương Xót vậy.

Lạy Chúa, xin thanh tẩy tâm hồn chúng con để chúng con xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể Đức Kitô, là chúng con lãnh nhận phúc trường sinh, chứ không bị án phạt đời đời vì bất xứng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Giao Ước Máu
(Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, năm B)

Trong Bữa Tiệc Ly, chính Chúa Giêsu đã xác lập Giao Ước Máu: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22:20). Giao ước mới chứ không cũ, và được ký kết bằng máu chứ không bằng thứ gì khác, mà máu này là chính Máu của Con Thiên Chúa, chứ không là máu chiên, máu bò, máu dê,... Giao ước mới là Giao Ước Máu – Máu Thánh của chính Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa.
Giao ước (hiệp ước, thỏa ước, khế ước, minh ước) khác với hợp đồng. Hợp đồng là sự thỏa thuận của đôi bên và có thời hạn. Còn giao ước vô thời hạn, vĩnh viễn, và là thành phần của cuộc sống. Hợp đồng và giao ước đều có những trách nhiệm mà đôi bên phải thực hiện.
Theo nghĩa Kinh Thánh, giao ước được thiết lập và đóng ấn bằng một lễ nghi công khai và long trọng. Theo phong tục của dân ở Đất Thánh xưa, người ta đóng ấn giao ước bằng nghi thức sát tế một con vật, rồi phân thây con vật ấy thành hai phần và đặt dưới đất. Sau đó, đại diện hai bên lần lượt đi ngang qua giữa hai phần con vật đó, ngụ ý quyết tâm thi hành giao ước và sẵn sàng chịu cùng một số phận như con vật bị giết nếu vi phạm giao ước (x. St 15:7-20; Gr 31:31; Gr 34:18-22).
Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã nhiều lần thiết lập giao ước với loài người (x. St 8:20-21; St 9:8-17; St 12:1-3) . Có hai giao ước được nhắc tới trong Kinh Thánh là Giao Ước Cũ và Giao Ước Mới – Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước là giao ước được thiết lập giữa Thiên Chúa và dân Israel, được đóng ấn bằng máu con vật sát tế. Tân Ước là giao ước được thiết lập trực tiếp giữa Thiên Chúa và toàn thể nhân loại, và được đóng ấn bằng chính Bửu Huyết của Đức Kitô, Con Một yêu dấu của Thiên Chúa.
Không gì có thể so sánh với giá máu, gọi là vô giá. Tục ngữ Việt Nam so sánh: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Quý lắm! Như chúng ta biết, máu là một tổ chức di động, được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào và huyết tương. Theo thể tích, hồng cầu chiếm khoảng 45%, bạch cầu chiếm khoảng 0,7%, và huyết tương chiếm khoảng 54,3%. Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức, đồng thời loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể – như khí carbonic và acid lactic. Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào (cả tế bào bảo vệ cơ thể và tế bào bệnh lý) và các chất khác nhau (các amino acid, lipid, hormone) trong các cơ phận quan trọng. Các rối loạn về thành phần cấu tạo máu hoặc sự tuần hoàn bình thường của máu đều có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác. Máu chiếm 7% trọng lượng cơ thể. Người trưởng thành trung bình có khoảng 5 lít máu. Tỷ trọng máu ở vào khoảng 1060 kg/m3.

Rõ ràng máu thực sự giữ vai trò rất quan trọng trong sự sống của con người – và động vật. Cái gì liên quan máu đều đáng giá, vì liên quan sự sống còn! Thực vật có loại “máu lạnh” và không có màu đỏ, chúng ta gọi là “nhựa”.
Cuộc sống có nhiều thứ liên quan máu, có thể tốt, có thể xấu, nhưng luôn “nghiêm trọng”. Máu xấu có trong những người xấu xa, chẳng hạn một cô bé vô tội 16 tuổi ở Guatemala bị đám người xấu đánh đập dã man, rồi họ thiêu sống em

(https://www.youtube.com/watch?v=FkrVxd1QQ3E). Và hàng ngày, ở đâu đó trên thế giới này – kể cả Việt Nam, còn biết bao vụ án liên quan “máu xấu” vẫn không ngừng xảy ra. Chính họ đang muốn “triệt tiêu” Thiên Chúa, làm hư Giá Máu của Đức Giêsu Kitô.

Chúa Giêsu đã nói thẳng với Sao-lê – tức là Sa-un, sau trở thành Phaolô: “Đá lại mũi nhọn thì khốn cho ngươi!” (Cv 26:14). Người có “máu xấu” cố ý làm ngơ chứ chắc chắn không phải không biết. Còn máu, còn sống; mất máu, đông máu hoặc “khô máu”, chết chắc! Đó là quy luật tự nhiên – tức là Luật Chúa. Sao-lê đã tỉnh ngộ vì cú ngã ngựa chí mạng, và rồi nhìn vào thực tế của cuộc đời nhiễu nhương này, ông đã phải thốt lên: “Mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7). Người ta đã và đang muốn loại bỏ Thiên Chúa, bằng chứng là xưa nay luôn xuất hiện các tà thuyết. Nhiều điều nhãn tiền mà người ta vẫn không hề biết sợ, vì quá cố chấp. Thật khủng khiếp!

Ngày xưa, ông Mô-sê xuống núi thuật lại cho dân mọi lời và mọi điều luật của Đức Chúa. Toàn dân đồng thanh đáp: “Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành” (Xh 24:3). Rất ngoan ngoãn. Một lời hứa rất đẹp. Ước gì họ luôn ngoan ngoãn như vậy, và chúng ta cũng luôn ngoan ngoãn như thế. Nhưng nào có được như vậy!

Ông Mô-sê chép lại mọi lời của Đức Chúa. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Ít-ra-en. Rồi ông sai các thanh niên trong dân Ít-ra-en dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa. Ông Mô-sê lấy một nửa phần máu đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo” (Xh 24:7). Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24:8).

Giao ước cũ cũng có “dính líu” tới máu. Máu biểu hiện sự sống. Vì thế, máu rất quan trọng, vì sự sống là thứ bất khả xâm phạm. Màu máu cũng có gì đó rất khác lạ, sắc đỏ khác với mọi màu đỏ khác. Với những con người bình thường, lời thề cũng thường liên quan máu. Ngày xưa, người ta thường “uống máu ăn thề” – họ cùng cắt máu ngón tay, cho chảy chung vào một cái chén rồi chia nhau uống, thề sống chết có nhau. Các Thánh Vịnh cũng lặp đi lặp lại từ “giao ước” ít nhất 18 lần – trong 13 Thánh Vịnh.

Phàm nhân chẳng là gì, nhưng Thiên Chúa đã tha tội chết, cho quyền sống, và còn ký kết giao ước vĩnh viễn. Cảm được lòng thương xót bao la của Thiên Chúa, tác giả Thánh Vịnh đã tự nhủ: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116:12-13).

Thiên Chúa là Chúa của người sống, Ngài yêu thương họ tới cùng và Ngài muốn mọi người được sống dồi dào. Tác giả Thánh Vịnh tự hứa với Thiên Chúa: “Đối với Chúa thật là đắt giá, cái chết của những ai trung hiếu với Người. Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:15-16). Và quyết tâm hành động: “Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn, và kêu cầu thánh danh Chúa. Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người” (Tv 116:17-18).

Thánh Phaolô cho biết: “Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai. Để vào cung thánh, Người đã đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này. Người đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9:11-12). Như đã nói, cái gì liên quan máu đều là vấn đề nghiêm trọng. Máu động vật đã vậy, máu người còn nghiêm trọng hơn. Và còn hơn thế nữa, Máu Chúa Giêsu vô cùng quý giá, tột đỉnh quý giá, không gì có thể so sánh, vì không chỉ là Máu Thánh mà còn là Máu Cực Thánh.

Thánh Phaolô so sánh và giải thích: “Nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9:13-14). Máu động vật và máu người có thể làm chúng ta bị dơ bẩn, nhưng Máu Thánh Chúa Giêsu lại khác, không làm chúng ta dơ bẩn mà còn tẩy sạch chúng ta khỏi mọi thứ ô uế.
Thật kỳ diệu với mối liên kết giữa Cựu Ước và Tân Ước, giữa sự sống thể lý và sự sống tâm linh. Thánh Phaolô cho biết: “Người [Chúa Giêsu] là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9:15).
Ca tiếp liên “Lauda Sion” (Hỡi Sion, Hãy Ngợi Khen) có những lời cầu nguyện thâm thúy này: “Này đây bánh của các thiên thần, biến thành lương thực của khách hành hương; thật là bánh của những người con, không nên ném cho loài khuyển. Bánh này đã được báo trước bằng hình ảnh, khi người ta sát tế I-xa-ác, chiên của lễ vượt qua đã được kể ra, khi cha ông chúng ta được tặng man-na. Lạy Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, là Bánh thật, xin Người thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con; xin Người ban cho chúng con nhìn thấy những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh. Chúa là Ðấng thông biết và có thể làm nên mọi sự, Chúa nuôi dưỡng chúng con trong đời sống tạm gửi này, trên cõi cao xanh, xin cho chúng con được trở nên thực khách đồng bàn của Chúa, đồng thừa kế và đồng danh phận với những công dân thánh của nước trời. Amen”.
Ngày xưa, ca tiếp liên này được sử dụng trong Lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi, ngày xưa thường gọi là lễ Săng-ti), không hiểu sao ngày nay không được sử dụng nữa. Thật đáng tiếc!
Thánh Mát-thêu cho biết: Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ hỏi Đức Giêsu để biết ý Thầy muốn họ dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu. Ngài sai hai môn đệ đi và dặn họ đi vào thành, gặp một người mang vò nước thì đi theo người đó. Người đó vào nhà nào thì họ hỏi chủ nhà về căn phòng dành cho Thầy ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ, người ấy sẽ chỉ cho một phòng rộng rãi trên lầu đã được chuẩn bị sẵn sàng, và họ sẽ dọn tiệc ở đó. Hai môn đệ ra, vào thành và thấy mọi sự y như Ngài đã nói. Thật kỳ lạ, chỉ có Thiên Chúa mới khả dĩ biết trước như vậy, vì Ngài thấu suốt mọi sự!
Khi đang ăn cùng các môn đệ, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy” (Mc 14:22). Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa” (Mc 14:24-25). Nghe Thầy nói và nhìn phong cách Thầy lúc đó, chắc hẳn họ vô cùng ngạc nhiên – dù Kinh Thánh không ghi lại chi tiết. Không lạ sao được, vì bánh mà bảo là “thịt”, rượu mà bảo là “máu”. Vâng, trí tuệ phàm nhân không thể hiểu thấu: “Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì” (Đây Nhiệm Tích).
Trong Thông điệp “Ecclesia de Eucharistia” (Giáo Hội Sống Nhờ Thánh Thể, số 62), Thánh Gioan-Phaolô II đã gọi Thánh Tiến Sĩ Tôma Aquinô là “thần học gia vĩ đại nhất và là thi sĩ mãnh liệt nhất của Chúa Kitô về Bí tích Thánh Thể” (summus theologus simulque Christi Eucharistici fervidus cantor). Trong bộ “Tổng Luận Thần Học” (Summa Theologica, III, Q. 76, Art. 8), Thánh Tôma Aquinô cho biết:

Khách thể 1: Có vẻ như Thánh Thể Chúa Kitô không thực sự ở đó khi thịt hoặc một em bé hiện ra trong bí tích này. Vì thân thể Ngài ngừng ẩn trong bí tích này khi dạng bí tích ngừng hiện hữu (the sacramental species cease to be present). Nhưng khi thịt hoặc một em bé hiện ra, dạng bí tích ngừng hiện hữu. Do đó thân thể Chúa Kitô không thực sự ở đó.

Khách thể 2: Hơn nữa, dù thân thể Chúa Kitô ở đâu, dưới chính dạng đó hoặc dạng bí tích. Nhưng khi có sự hiện ra, rõ ràng là Chúa Kitô không hiện hữu trong chính dạng của Ngài, vì toàn bộ Chúa Kitô được chứa trong bí tích này, và Ngài vẫn là tổng thể dưới dạng mà Ngài lên trời: nhưng điều xuất hiện mầu nhiệm trong bí tích này đôi khi được thấy là một miếng thịt nhỏ, hoặc đôi khi là một em bé. Rõ ràng là Ngài không ở đó dưới dạng bí tích là bánh hoặc rượu. Do đó, có vẻ như thân thể Chúa Kitô không ở đó bằng bất kỳ cách nào.

Khách thể 3: Hơn nữa, thân thể Chúa Kitô bắt đầu ở trong bí tích này bằng việc thánh hiến và biến chuyển (consecration and conversion). Nhưng thịt và máu xuất hiện mầu nhiệm bằng phép lạ không được thánh hiến (not consecrated), cũng không được biến chuyển thành Mình Máu thật của Chúa Kitô. Vì thế, Mình Máu Chúa Kitô không ẩn dưới dạng đó.

Chúa Giêsu muốn chúng ta sống dồi dào (Ga 10:10), muốn vậy thì chúng ta phải lãnh nhận Thánh Thể. Thánh Eymard, đấng sáng lập Dòng Thánh Thể (SSS – Societas Sanctissimi Sacramenti), đã nói: “Chúng ta chỉ chuốc lấy thất bại nếu chúng ta xa rời Thánh Thể”. Một câu nhắc nhở vô cùng quan trọng, chúng ta cần ghi nhớ luôn.

Lạy Thiên Chúa, xin sắp đặt cuộc đời của chúng con theo đúng ý Ngài và xin ở với chúng con luôn để chúng con được sự sống viên mãn của Con Một Ngài. Xin giúp chúng con biết cầm lấy tấm-bánh-cuộc-đời của chúng con, rồi tạ ơn, bẻ ra, và trao tặng tha nhân với cả tấm lòng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Chúa Giêsu Thánh Thể
Khi đề cập Thánh Thể, chúng ta thường thấy ghi JHS. Vậy chữ này nghĩa là gì?
Theo tiếng Hy Lạp, Thánh Danh “Giêsu” được viết là ιησους – chuyển ngữ thành ihsous và phát âm là iēsous. Đây là cách viết của Thánh Danh Giêsu được ghi trong cả bốn Phúc Âm. Theo tiếng Do Thái, Thánh Danh “Giêsu” được viết là ישוע
– chuyển ngữ thành yeshu‘a và phát âm là yeshūa.
Cuối cùng, theo tiếng Latin, Thánh Danh “Giêsu” được viết là Iesus – tiếng Anh là Jesus, tiếng Pháp là Jésus, vì mẫu tự “j” thường thay thế cho mẫu tự “i” khi đứng ở đầu chữ (kể cả khi ở giữa các nguyên âm).
Chữ IHS (hoặc JHS) được Latin hóa chữ ιησους của tiếng Hy Lạp – viết hoa là ΙΗΣΟΥΣ hoặc IHSOUS theo tiếng Latin. Biểu tượng X-P (chữ X và P lồng vào nhau) là các mẫu tự Hy Lạp dùng cho chữ Kitô (ngày xưa gọi là Ki-ri-xi-tô), tiếng Hy Lạp viết là χριστος (Christos) – XPistos.
IHS là Iesus Hominum Salvator – Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ Nhân Loại. Chữ “biểu tượng” IHS phổ biến đến nỗi không lạ gì khi thấy trong tiếng Latin, chữ Iesus bị viết lộn là IheSus – mẫu tự H được thêm vào, mặc dù mẫu tự H trong tiếng Hy Lạp tương đương mẫu tự E trong tiếng Latin.
Chữ viết tắt IHS xuất hiện từ thế kỷ VIII: “DN IHS CHS REX REGNANTIUM”. Ba chữ đầu được viết tắt từ câu “DomiNus IHeSus CHristuS” – “Chúa Giêsu Kitô là Vua các vua”. IC và XC hoặc IHS và XPS là vết tắt của chữ Iesous Christos. Chân phước Gioan Colombini (qua đời năm 1367) thường viết chữ này trước ngực.
Still, although historically inaccurate, there is certainly nothing wrong with seeing in this insignia a testimony to the truth that there is no other name under heaven given to men, whereby we must be saved : “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4:12). Chắc chắn rằng chỉ có Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ, không có ân sủng của Ngài thì chúng ta không thể làm được gì để đạt được sự sống đời đời.
Người ta thêm mẫu tự V (hình ba dấu đinh) vào chữ IHS thành IHSV. Dạng này được Thánh Inhaxiô dùng làm biểu tượng của các tu sĩ Dòng Tên. IHSV là viết tắt câu “In Hoc Signo Vinces” (Nhờ dấu này, bạn sẽ chiến thắng), được coi là ám chỉ chiến thắng mà Hoàng đế Constantine đã đánh bại Maxentius tại Cầu Milvian ngày 28 tháng Mưới năm 312.
Trước khi chiến đấu, Hoàng đế đã thấy dấu này trên trời (có thể là X-P, biểu tượng của Đức Kitô) và nghe nói câu này: εν τουτω νικα – tiếng Hy Lạp nghĩa là “In Hoc Signo vinces – Nhờ dấu này, bạn sẽ chiến thắng”. Câu này được dịch sang tiếng Latin, và người ta thấy rằng các mẫu tự đầu của mỗi chữ ghép lại thành IHSV. Thật kỳ diệu!
Nhân Danh Đức Giêsu Kitô, chúng ta sẽ chiến thắng mọi kẻ thù – chính kẻ thù cuối cùng là Tử Thần (sự chết) cũng sẽ bị tiêu diệt!
TRẦM THIÊN THU (tổng hợp và chuyển ngữ)


Sống viên mãn
Thánh giáo phụ Irênê viết: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống viên mãn”. Câu này hay quá! Ngài muốn nói rằng nên thánh thật là ý nghĩa. Nên thánh là sống viên mãn, là trở nên con người như Thiên Chúa đã tạo dựng.
Sống viên mãn không tương đương với khái niệm hiện đại về “cách sống tròn đầy nhất”. Nhiều người nói về cách sống này, họ muốn nói rằng chúng ta nên hưởng thụ càng nhiều càng tốt, càng thoải mái càng tốt. Không hẳn là sai, nhưng không đúng với cách sống mà Thánh Irênê đề cập.
Sống viên mãn nghĩa là tận hưởng sự sống kết hiệp với Thiên Chúa, kết quả của sự sống viên mãn là sống các nhân đức đối thần (tin, cậy, mến) và các nhân đức đối nhân (bác ái, công bình, can đảm, chịu đựng, nhịn nhục, cẩn thận, khiêm nhu, tha thứ, nhân hậu, tử tế, hòa đồng,...). Sống nhân đức sẽ được phần thưởng tốt lành là sinh hoa trái của Chúa Thánh Thần.
Chúng ta muốn biết cuộc sống của mình có ý nghĩa gì và với mục đích gì. Trái tim chúng ta khao khát tình yêu và sự viên mãn. Chúng ta có thể thỏa mãn bằng cách sống kết hiệp với Thiên Chúa, tức là sống thánh thiện.
Các thánh là gương mẫu về việc sống viên mãn. Thiết tưởng, Thánh GH Gioan Phaolô II hoặc Chân phước Nữ tu Teresa Calcutta là những người sống viên mãn. Họ lan tỏa hoa trái của Chúa Thánh Thần. Người ta được các thánh thu hút, nói đúng ra là được Thiên Chúa thu hút qua các thánh. Họ sống viên mãn vì họ sống tình bằng hữu sâu sắc với Chúa Giêsu, Đấng là vinh quang của Thiên Chúa nơi nhục thể.
Các thánh sống viên mãn vì họ không nô lệ đam mê hoặc các cảm xúc tiêu cực, nhưng các nhân đức tươi nở trong cuộc đời họ. Sống nhân đức sẽ dẫn chúng ta tới sự bình an đích thực và hạnh phúc ngay tại thế gian này.
Sống viên mãn là sống theo hoa trái của Chúa Thánh Thần. Khi ơn Chúa Thánh Thần phát triển trong chúng ta, chúng ta bắt đầu xác định cính mình bằng hoa trái: luôn vui mừng, vì thế mà bình an. Đó là trở nên hoa trái của Chúa Thánh Thần. Dù vui hay buồn, sự sống viên mãn vẫn ở trong chúng ta.
Hoa trái của Chúa Thánh Thần là kết quả của sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Chắc chắn rằng chúng ta càng sống theo hoa trái của Chúa Thánh Thần, hoa trái đó càng phát triển trong chúng ta. Tuy nhiên, hoa trái của Chúa Thánh Thần vừa là tặng phẩm vừa là sự chọn lựa. Nếu chúng ta muốn có kinh nghiệm về sự sống viên mãn, cách sống thánh thiện, chúng ta phải quyết tâm sống theo hoa trái của Chúa Thánh Thần hàng ngày. Vậy ngay từ hôm nay, chúng ta phải quyết tâm thực hiện 9 điều này:
• Yêu thương mọi người chúng ta gặp.
• Sống vui trong lúc khó khăn.
• An tâm khi gặp nghịch cảnh.
• Kiên tâm khi gặp thử thách.
• Tử tế với người không tử tế.
• Dịu dàng khi có điều trái ý.
• Luôn luôn sống đại lượng.
• Trung thành với điều nguyện ước và ơn gọi.
• Kiềm chế khi bị cám dỗ.
Chúng ta bất toàn, nhưng nếu chúng ta càng hợp tác với ơn Chúa, chúng ta càng thêm nhân đức: “Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1:23), và “Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn” (Ep 4:10).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ SpiritualDirection.com)


BẠN BÈ
Tình bạn rất cần, nhưng bạn bè là ai? Là người quen hay thân? Chúa Giêsu nói: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15:13).
Thi sĩ nổi tiếng Lord Byron (tên thật là George Gordon Byron, người Anh, 1788-1824) cho biết thế nào là tình bạn đích thực: Hồi còn đi học, ông thấy một một người lớn đánh bạn mình không tiếc xót. Byron bị tật vẹo chân nên không thể bảo vệ bạn mình. Tuy nhiên, ông vẫn đến gần tên côn đồ và hỏi hắn muốn đấm bao nhiêu cái vào thân thể máu me của người bạn. Tên côn đồ nói: “Mày hỏi làm gì?”. Byron run rẩy trả lời: “Tôi sẽ chịu bị đấm một nửa”.
Những người bạn thực sự sẽ chịu đau khổ vì nhau. Họ là một. Người này đau, người kia cũng đau. Triết gia Hy Lạp Aristotle diễn tả tình bạn là “một tâm hồn ở trong hai thể xác”.
Cần phân tích cách biểu lộ của những người mà bạn coi là bạn bè. Ai dám chịu đòn thay? Câu hỏi này không dễ trả lời, vì nhiều người bạn gọi là bạn lại không là bạn thực sự. Người bạn thực sự có thể được xác định là người biết rõ về bạn – bí mật, mơ ước, nỗi buồn, niềm vui,…
Đôi khi chúng ta vẫn nói người quen là bạn bè. Tuy nhiên, người quen chỉ là người chúng ta biết tên và biết mặt. Người hàng xóm và bạn học thường là dạng người quen. Ngược lại, người bạn thân cần có các đặc điểm này:
   • Trung thành. Gắn bó với nhau và tùy thuộc lẫn nhau.
   • Lắng nghe. Chú ý điều người kia nói và cảm thấy.
   • Thời gian. Dành thời gian cho nhau, có thể ở bên nhau và không cần nói gì.
   • Thận trọng. Đặt mình vào hoàn cảnh của người bạn, biết giúp đỡ khi cần thiết.
   • Động viên. Làm điều tốt cho nhau, quan tâm nhau bằng cách động viên khi người bạn buồn, khuyến khích thử thực hiện điều mới.
   • Chân thật. Luôn nói thật với nhau, có thể nói thẳng nói thật mà không sợ mất lòng.
   • Khôi hài. Vui vẻ thoải mái với nhau, dám chê trách để xây dựng lẫn nhau.
   • Tín cẩn. Tin tưởng lẫn nhau và giữ bí mật của nhau.
   • Chấp nhận. Coi người bạn như chính mình, tôn trọng khoảng riêng của nhau.
   • Xác thực. Không viễn vông, không giả vờ, không khách sáo, không ngần ngại biểu lộ cảm xúc.
   • Tha thứ. Biết xin lỗi và sẵn sàng tha thứ.
Bạn nhận thấy có bao nhiêu đặc điểm này ở bạn? Còn người mà bạn gọi là bạn thì sao?.
Thật chí lý khi nói về Việt ngữ: Bạn bè. Bạn cho ra bạn, thực sự là bạn, ít lắm, nhưng "bè" thì vô số kể. Kinh nghiệm sống cho thấy rằng có những người chúng ta tưởng là "bạn" nhưng thực ra chỉ là "bè" mà thôi. Khi chúng ta gặp khó khăn, về mọi phương diện, chúng ta mới biết ai là bạn thật. Lúc đó, rất có thể không còn ai là bạn nữa!
Chúa Giêsu đã chết đơn độc vì các đệ tử, những người được Ngài gọi là bạn hữu (Ga 15:15), đều bỏ của chạy lấy người, kẻ chạy mất dép, kẻ tuột luôn cả quần áo.
Buồn thay thế thái nhân tình, ngán ngẩm thay thói đời!
VIỄN ĐÔNG


Điện khẩn!
S.O.S., Help me! Tín hiệu cấp cứu này không xa lạ gì với con người, xưa cũng như nay. Về tâm linh, đường dây nóng luôn phải “bật đèn đỏ” để nối kết trực tuyến với Thiên Chúa mọi nơi và mọi lúc: “S.O.S., lạy Thiên Chúa!”.
Một buổi chiều nọ, sau khi giảng dạy cho dân chúng về một loạt các dụ ngôn, Chúa Giêsu bảo các môn đệ cho thuyền sang bờ bên kia. Đang xuôi chèo, mái, bỗng dưng một trận cuồng phong nổi lên, gió tứ bề lồng lộng, sóng vỗ mạnh, nước tràn vào thuyền đến nỗi muốn chìm. Trong khi đó, Chúa Giêsu đang ở đàng lái, vẫn dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ thấy Thầy “vô tư” thế không biết, nên họ vội đánh thức Ngài, gọi giật dậy và hốt hoảng la toáng lên: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc 4:38).
Có lẽ chúng ta cũng như các môn đệ xưa, chứ chẳng “ngon lành” gì hơn ai, ở ngay bên Thầy Giêsu mà vẫn chưa thấy an tâm khi gặp giông tố cuộc đời. Gọi như điện giật thế thì ai mà chợp mắt nổi. Ngài thức dậy, rồi ngăm đe gió, và truyền cho biển phải “im ngay và câm ngay”. Thế là gió liền tắt, và biển lặng như tờ.
Đâu vào đấy rồi, Ngài nghiêm mặt và nghiêm trách các ông: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”. Họ chỉ có nước ngậm tăm chứ nói chi được. Đúng quá mà! Cãi gì nổi? Các ông hoảng sợ – vừa sợ vì thấy phép lạ vừa sợ vì Thầy mắng thẳng, rồi họ xì xầm với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”. Theo Thầy bao ngày rồi mà giờ này còn hỏi nhau “người này là ai” vậy!
Một lần khác, sau khi làm phép lạ hóa 5 chiếc bánh và 2 con cá ra nhiều cho 5.000 người ăn no nê, Chúa Giêsu bảo các môn đệ sang trước bên kia bờ Biển Galilê, còn Ngài ở lại giải tán dân chúng. Vài giờ sau, trời đã tối, các môn đệ gặp bão. Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với họ. Các môn đệ thấy Ngài, nhưng họ hoảng sợ và bảo nhau: “Ma đấy!” (Mt 14:26). Có lẽ lúc này Ngài cũng mắc cười lắm, và rồi Ngài liền trấn an: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14:27).
Nghe vậy, ông Phêrô khoái chí thưa ngay: “Thầy ơi, nếu quả là Thầy thì xin truyền cho đệ tử đi trên mặt nước mà đến với Thầy, xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. Đức Giêsu mời ông: “Cứ đến!” (Mt 14:28-29). Ông hăng hái bước ra khỏi thuyền để đến với Chúa Giêsu, nhưng nhìn thấy gió mạnh và sóng lớn, ông chìm dần. Ông vội kêu cứu: “Thầy ơi, xin cứu con với!” (Mt 14:30). Chúa Giêsu đưa tay kéo ông lên thuyền và trách: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” (Mt 14:31). Sóng gió bỗng dưng im lặng. Các môn đệ bái lạy Ngài, lúc này mới nói với nhau: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” (Mt 14:33). Lòng trí các môn đệ vẫn ngu muội, chẳng hiểu ất giáp gì ráo trọi! (Mc 6:52).
Một lần tất cả các môn đệ đều cuống cuồng xin Thầy cứu: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc 4:38). Một lần chính thuyền trưởng Phêrô kêu cứu: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” (Mt 14:30). Nghe những lời kêu cứu đó, tôi giật mình vì thấy cũng đã bao lần yếu kém đức tin nên tôi đã từng hốt hoảng và sợ hãi trước nghịch cảnh cuộc đời. Và rồi tôi chợt nhớ tới thảm họa tàu Titanic, một trong những thảm họa kinh hoàng nhất thế kỷ XX. Có lẽ cũng nên nhắc lại lịch sử một chút…
Đêm 14 và 15-4-1912, tàu Titanic đâm phải một núi băng và chìm, với con số thiệt hại nhân mạng lớn. Nhiều con số về số người hành khách và thủy thủ đoàn thiệt mạng đã được đưa ra. Theo điều tra của Thượng viện Hoa Kỳ thì số người thiệt mạng trong vụ này là 1.517 người, còn theo điều tra của Anh thì con số này là 1.490 người. Danh sách hành khách hạng nhất trên chuyến hải hành đầu tiên của Titanic gồm các đại gia và nổi tiếng nhất thế giới. [Nhân chứng sống cuối cùng là bà Millvina Dean, sinh 2-2-1912, là người nhỏ tuổi nhất trên tàu Titanic lúc đó, nhưng cũng đã qua đời ngày 31-5-2009, và bà là hành khách qua đời cuối cùng của tàu Titanic. Chuyện Titanic đã được đạo diễn James Cameron dàn dựng thành phim năm 1997].
Tín hiệu SOS (Save Our Souls – Xin cứu linh hồn chúng tôi) không phải là lần đầu tiên được dùng trong vụ đắm tàu Titanic, mà đã được đề xuất lần đầu tiên tại Hội nghị Quốc tế về Liên lạc Điện tín trên BiểnBerlin năm 1906. Nhưng người ta thường nhớ và cho là từ vụ Titanic. Tín hiệu SOS hiếm khi được các điện tín viên Anh dùng, vì họ vẫn ưa thích mã CQD cũ hơn. Ban đầu sĩ quan điện tín Jack Phillips sử dụng mã CQD cho tới khi sĩ quan điện tín Harold Bride nói: “Dùng SOS đi, cách mới đấy, và có lẽ đây cũng là cơ hội cuối cùng để anh dùng nó”. Phillips, người đã chết đuối trong vụ đắm tàu, sau đó dùng xen lẫn một số thông điệp bằng SOS giữa những mã CQD truyền thống.
Titanic nghĩa là “khổng lồ, phi thường”. Titanic dài 882 feet 9 inches (269 m) và rộng 92 feet 6 inches (28 m), tốc độ tối đa 23 knot (43 km/g), là tàu chở khách vượt đại dương chạy bằng động cơ hơi nước đã đi vào lịch sử ngành hàng hải. Tên chính thức của nó là RMS Titanic (Royal Mail Steamer Titanic). Titanic có thể chở tổng cộng 3.547 người gồm cả thủy thủ đoàn, và bởi vì nó có chở thư, tên của nó được thêm tiền tố RMS (Royal Mail Steamer) cũng như SS (Steam Ship). Tàu bắt đầu được đóng năm 1909 và được hạ thủy năm 1912, là con tàu vĩ đại, hiện đại, lộng lẫy và sang trọng nhất thời đó. Titanic mang theo tham vọng thống trị tuyến đường biển xuyên Đại Tây Dương của hãng vận tải biển The White Star Line. Tuy nhiên, trong chuyến vượt Đại Tây Dương đầu tiên và cũng là cuối cùng của nó vào tháng 4-1912, Titanic đã vỡ đôi do đâm vào một tảng băng trôi.
Titanic được coi là một đỉnh cao của kiến trúc hàng hải và là một tiến bộ công nghệ, và được tạp chí “The Shipbuilder” nhận định là “không thể chìm”. Xung quanh tàu còn được kẻ những hàng chữ kiêu ngạo và khiêu khích Thượng Đế!
Và thảm họa đã thực sự xảy ra! Một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất là ban nhạc trên tàu Titanic gồm 8 người, do Wallace Hartley chỉ huy, tập trung tại khoang hạng nhất cố gắng giữ hành khách bình tĩnh và tin tưởng. Sau đó họ chuyển ra chơi nhạc phía trước boong. Các thành viên ban nhạc đã chơi trong buổi cầu nguyện sáng Chúa Nhật hôm trước, và họ vẫn tiếp tục chơi cả khi con tàu sắp chìm.
Một số nhân chứng nói rằng bài cuối cùng được chơi là thánh caNearer, My God, to Thee” (Lạy Chúa, con gần Ngài hơn). Tuy nhiên, có ba luồng ý kiến về bài hát này và không ai biết chắc được chính xác bài nào, nếu quả thực như vậy, đã được chơi. Nhạc trưởng Wallace Hartley đã kể với một người bạn rằng nếu ở trên một con tàu sắp chìm thì bài “Nearer, My God, to Thee” sẽ là một trong những bài được ông chơi.

Những người tạo ra tàu Titanic đầy kiêu ngạo, muốn phủ nhận Thiên Chúa, nhưng gặp thảm họa thì họ mới “sáng mắt” và phải kêu cứu Thiên Chúa: S.O.S.! Con người có làm được công trình gì, dù vĩ đại đến đâu, cũng chỉ là “không” đối với Thiên Chúa. May mà họ còn kịp nhận ra Thiên Chúa và tin cậy vào Ngài trong giây phút cuối đời.

Thánh Phêrô, người tín cẩn nhất của Chúa Giêsu đã được trao trọng trách “chăm sóc các chiên mẹ và chiên con” (x. Ga 21:15-17), là “trò cưng” của Thầy Giêsu, luôn cận kề bên Thầy, tận mắt chứng kiến nhiều phép lạ, thậm chí vừa mới thấy Thầy hóa bánh ra nhiều hồi nãy, vậy mà vẫn chưa đủ tin vào Thầy mình. Trong giông bão, Giáo hoàng tiên khởi Phêrô cũng đã không nhận ra Chúa, và cả các môn đệ cũng không nhân ra Ngài!
Vì nghi ngờ, vì thiếu niềm tin, vì thiếu vắng Chúa trong cuộc đời mà con người phải gian nan khốn khó bao phen, thế nê đã phải bao lần khẩn cấp nối “đường dây nóng” với Thiên Chúa. Cuối cùng, có Ngài rồi thì tất cả đều êm xuôi: Thầy trò vừa lên thuyền thì sóng yên, biển lặng.
Chuyện kể rằng, một người nọ ngủ mơ thấy mình đi trên bờ biển. Khi vui mừng thì có hai dấu chân, nhưng khi đau khổ thì chỉ thấy một dấu chân. Người này hỏi: “Chúa ơi, sao khi vui thấy có hai dấu chân, còn khi buồn chỉ thấy một dấu chân, Chúa đi đâu?”. Chúa trả lời: “Khi vui, con thấy hai dấu chân vì Cha đồng hành bên con; còn khi buồn, con thấy một dấu chân vì Cha cõng con trên lưng”.
Kinh Thánh đã xác định rạch ròi: “Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành! Chính Chúa là Đấng canh giữ bạn, chính Chúa là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ, đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi. Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời” (Tv 121:4-8).
Lạy Thiên Chúa toàn năng, con thật yếu đuối và kém lòng tin, thậm chí có lúc như mất niềm tin vào Ngài. Xin Ngài thương tha thứ, xin thêm đức tin cho con, đồng thời cũng thêm đức cậy và đức mến cho con. Lạy Thiên Chúa chí thánh, con xin tín thác vào Ngài, Ngài không chợp mắt ngủ quên bao giờ, khi thấy con chìm đắm trong biển đời trần gian, nhưng Ngài giả đò ngó lơ là để tôi luyện đức tin nơi con. S.O.S., lạy Thiên Chúa, xin cứu độ linh hồn con!

TRẦM THIÊN THU

DongCongNet - June 3, 2018

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)