dongcong.net
 
 


thứ tư lễ tro : Trầm Thiên Thu

Kín đáo
(Thứ Tư Lễ TRO)

Bụi tro là kiếp con người
Dù dài hay ngắn vẫn đời bụi tro
Bụi tro vẫn cất tiếng ca
Tím màu sám hối, đậm đà mến yêu

Mùa Chay là chuỗi 40 ngày sám hối và “chết” cho tội lỗi mình đã vấp phạm, ăn chay 40 ngày vì chúng ta muốn noi gương Chúa Giêsu (Mt 4:1-11). Buồn mà vui, màu tím ảm đạm mà xán lạn (xán: rực rỡ, lạn: sáng sủa). Đó là “khoảng chuẩn bị” nghiêm túc trong khi vui mừng chờ đón Con Thiên Chúa phục sinh: “Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8).

Chay không chỉ là nhịn đói thể lý mà quan trọng là nhịn đói tinh thần, là tịnh tâm. Chay tịnh phải thực hành kín đáo chứ không tỏ vẻ hình thức, chay chỉ có Chúa và mình biết thôi. Phàm nhân ưa bề ngoài, thế nên kín đáo không là điều dễ thực hiện. Về động thái kín đáo, Thomas Carlyle (1795-1881, triết gia, sử gia, văn sĩ, người Scotland) nhận xét: “Sự kín đáo là thành tố của mọi điều tốt đẹp, thậm chí cả đức hạnh, cả cái đẹp cũng bí ẩn”. Người kín đáo là người thận trọng, “thận trọng là con trưởng của sự khôn ngoan” (Victor Hugo, 1802-1885).

Kinh Thánh không nói tới tục lệ Mùa Chay, nhưng có nói tới việc sám hối và rắc tro trên đầu (2 Sm 13:19; Et 4:1; Đn 9:3; Mt 11:21), hoặc ngồi trên đống tro (G 2:8). Đó là cách thể hiện sự trở về với Thiên Chúa. Trở về là điều không chỉ cần thiết mà còn cấp bách, vì phải trở về cho kịp trong lúc Thiên Chúa còn chờ đợi chúng ta, vì chính Ngài mời gọi: “Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van” (Ge 2:13).

Khóc lóc trong lòng, đau lòng vì đã làm mất lòng Chúa, điều đó quan trọng hơn là khóc lóc bề ngoài, khóc với những giọt nước mắt cá sấu: “Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, Người hối tiếc vì đã giáng hoạ. Biết đâu Người chẳng nghĩ lại và hối tiếc mà để lại phúc lành, hầu anh em có lễ phẩm và lễ tưới rượu dâng lên Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em” (Ge 2:12-14). Nghi thức thời xưa khác nghi thức ngày nay, nhưng mục đích vẫn là chứng tỏ sự ăn năn sám hối thật lòng để nài van Thiên Chúa xót thương. Và chắc chắn Thiên Chúa xót thương, vì chúng ta còn đang sống trong Giờ Thương Xót của Thiên Chúa.

Ngôn sứ Giôen truyền lệnh của Thiên Chúa: “Hãy rúc tù và tại Sion, ra lệnh giữ chay thánh, công bố mở cuộc họp long trọng; hãy tụ tập chúng dân, mời dự đại hội thánh, triệu tập các cụ già, tụ họp đám thiếu nhi cũng như trẻ thơ còn đang bú. Tân lang hãy ra khỏi loan phòng, tân nương hãy rời bỏ phòng khuê! Giữa tiền đình và tế đàn, các tư tế phụng sự Đức Chúa hãy than khóc và nói rằng: Lạy Đức Chúa, xin dủ lòng thương xót dân Ngài! Xin đừng để gia nghiệp của Ngài phải nhục nhã và nên trò cười cho dân ngoại! Chẳng lẽ các dân lại được cớ mà nói: Thiên Chúa của chúng ở đâu rồi?” (Ge 2:15-17). Giữ chay là việc thánh, ai cũng phải thực hiện. Làm thì được phúc, không làm thì không chỉ vô phúc mà còn bị trừng phạt.

Quả thật, vì thấy dân chúng thành tâm sám hối, Thiên Chúa đã “nồng nhiệt yêu thương đất của Người, đã tỏ lòng khoan dung đối với dân Ngài” (Ge 2:18). Tội lỗi là điều ghê tởm, là điều nguy hiểm với con người, nhưng tội lỗi sẽ hóa thành “chuyện nhỏ” nếu chúng ta thành tâm sám hối: “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông” (Is 1:18). Chúa Giêsu đã xác định với Thánh nữ Faustina: “Lòng Thương Xót của Ta lớn hơn tội lỗi của con và toàn thế giới” (Nhật Ký, số 1485). Vâng, chính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa sẽ khỏa lấp tất cả nếu chúng ta thành tâm ăn năn, quyết tâm chừa cải, vấn đề quan trọng là đừng bao giờ lạm dụng Lòng Chúa Thương Xót.

Với tâm tình sám hối, tác giả Thánh Vịnh đã tha thiết cầu xin: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài” (Tv 51:3-6a). Biết phục thiện và nhận lỗi, Thiên Chúa tha thứ ngay, vì Ngài luôn kiên trì chờ đợi chúng ta tự thú với Ngài.

Ngài ban cho chúng ta những thứ hơn chúng ta tưởng, Ngài biết chúng ta cần gì, nhưng Ngài muốn chúng ta chứng tỏ rằng chúng ta cần Ngài. Cầu xin Ngài thương xót cũng là cách thể hiện lòng yêu mến Ngài vậy: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (Tv 51:12-14). Hằng ngày, không chỉ trong Mùa Chay này, mà suốt cả cuộc đời, chúng ta hãy cầu xin không ngừng: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài” (Tv 51:17). Cầu nguyện không chỉ là xin mà còn phải tôn vinh, chúc tụng, và tạ ơn Chúa.

Là phàm nhân cũng có nghĩa là tội nhân: “Lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai” (Tv 51:7). Ai cũng sai lầm, phạm sai lầm là xúc phạm tới người khác, nguy hiểm nhất là xúc phạm tới Thiên Chúa, vì thế mà luôn cần sự hòa giải và sự tha thứ. Thánh Phaolô nói: “Chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5:20-21).

Ăn chay và sám hối là việc phải làm suốt đời, đặc biệt là Mùa Chay – mùa được mệnh danh là “cơ hội thuận tiện”, mùa của lòng thương xót, mùa cứu độ. Thánh Phaolô nói: “Vì được cộng tác với Thiên Chúa, chúng tôi khuyên nhủ anh em: anh em đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa, đừng để trở nên vô hiệu. Quả thế, Chúa phán rằng: Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ. Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6:1-2).

Sự kín đáo cần cả bề ngoài và bề trong, đời cũng như đạo. Thiên Chúa rất ghét thói ba hoa, thói giả hình, nói hay mà làm dở. Chúa Giêsu vừa nhắc nhở vừa ra lệnh: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng” (Mt 6:1). Hai chữ “phô trương” có vẻ “đồ sộ” lắm, nhưng không phải vậy, vì chúng ta có những kiểu phô trương rất tinh vi. Chúa biết chúng ta có “máu” này nên Ngài đã cảnh báo. Thế mà hằng ngày chúng ta vẫn “dính” thói này. Làm gì cũng muốn được khen. Tiếng khen chẳng là gì, theo gió bay tuốt luốt, ấy thế mà người ta vẫn khoái. Kể cũng lạ thật. Chắc hẳn những người này có “họ hàng” với mấy ông Pharisêu rồi!

Chúa Giêsu nói rõ ràng, nói “toạc móng heo” luôn: “Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6:2-4). Chúa nói thật chứ không đùa, nhưng rồi Chúa nói thì kệ Chúa, tay phải làm mà không cho tay trái biết thì… kỳ lắm! Thế nên người ta vẫn đua nhau làm “bảng vàng” hoặc “bằng ghi ơn” để thỏa mãn các “nhà hảo tâm” để về nhà treo cho “oai”.

Ngài còn nói thêm: “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6:5-6). Rất nên “suy tư” điều Chúa Giêsu nói là “đã được phần thưởng rồi”, suy nghĩ nghiêm túc đúng hướng chứ đừng cố ý “bẻ lái” đi đâu hết!

Trình thuật Tin Mừng hôm nay dành cho ngày đầu Mùa Chay của mọi năm (cả năm A, B và C), ít nhất mỗi năm chúng ta được “nhắc nhở” một lần. Nghĩa là ai càng nhiều tuổi thì càng được “nhắc nhở” nhiều lần. Chúa Giêsu tiếp tục cảnh báo: “Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6:16-18).

Chúa Giêsu xác định rằng “họ được phần thưởng rồi”, không phải một lần mà tới ba lần, mà người Việt chúng ta thường nói là “quá tam ba bận”. Điều Ngài nói đó có nghĩa là phần thưởng đời này thôi, đời sau thì “miễn” đấy! Chúng ta không bị oan đâu, tốt nhất là đấm ngực mình chứ đừng đấm ngực ai, hãy chân thành sám hối:

Con nay biết tội mình rồi
Cầu xin Thiên Chúa nhậm lời nài van
Rửa con sạch hết oan khiên
Tha thứ lỗi lầm con trót vương mang (Tv 51)

Lạy Thiên Chúa, xin thương xót chúng con, xin giúp chúng con biết trở về với cả tấm lòng từ hôm nay, ngày mà chúng con được nhắc nhở về thân phận với chút tro tàn. Xin giúp chúng con triệt tiêu “cái tôi” mà trở nên nhỏ bé để Ngài lớn lên trong chúng con mọi nơi và mọi lúc. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Đời cát bụi

“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…” (Cát Bụi – Trịnh Công Sơn).

Mùa Chay bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro bằng nghi thức xức tro, nhắc nhở thân xác phàm nhân chỉ là cát bụi. Tuy không bắt buộc theo truyền thống, nhưng đó là ngày thánh, không tới nhà thờ để được xức tro thì những người có tâm hồn đạo đức sẽ cảm thấy áy náy, cảm thấy có lỗi với Chúa. Ngay cả những người không thường xuyên tới nhà thờ cũng cố gắng bắt đầu thể hiện mùa Chay bằng việc chịu tro. Tây phương xức tro bằng cách vẽ hình Thánh giá trên trán, còn Việt Nam thường bỏ một ít tro trên đầu.

Xức tro để nhớ lại thân phận mình chỉ là bụi cát: Được hóa thân từ bụi cát rồi sẽ trở về bụi tro. Nói thẳng ra là CHẾT. Điều đó nhắc nhở người ta phải không ngừng canh tân cách sống sao cho càng ngày càng tốt hơn. Thiết tưởng cũng nên nhắc lại là Thứ Ba trước Lễ Tro thường được gọi là Thứ Ba Béo (Fat Tuesday, Mardi Gras).

Tro trong Kinh thánh
Thói quen dùng tro trong nghi lễ tôn giáo bị mai một từ giữa thời tiền sử, nhưng chúng ta vẫn thấy trong truyền thống tôn giáo thời Cựu ước. Chẳng hạn, tiên tri Giêrêmia kêu gọi sám hối thế này: “Thiếu nữ dân tôi ơi, hãy quấn vải thô vào mình và lăn trên tro bụi” (Gr 6:26).

Mặt khác, tiên tri Isaia lại phê bình cách dùng vải thô và tro để cầu xin Thiên Chúa, ông chỉ ra rằng việc này phổ biến trong dân Ítraen: “Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa?” (Is 58:5).

Tiên tri Đanien xin Chúa cứu dân Ítraen, và nêu gương cho họ thế này: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9:3).

Có thể các ví dụ điển hình về ăn chay trong Cựu ước liên quan vải thô và tro. Khi tiên tri Giôna vâng lệnh Chúa đến rao giảng trong thành phố lớn Ninivê, cách giảng của ông đã hiệu quả, lời kêu gọi ăn chay và sám hối tới tận tai nhà vua: “Tin báo đến cho vua Ninivê; vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô, và ngồi trên tro” (Gn 3:6).

Trong sách Giuđitha, chúng ta thấy việc ăn chay xác định rằng tro được xức trên đầu: “Hết mọi người nam trong dân Ítraen cùng với vợ con cư ngụ ở Giêrusalem đều phủ phục trước Đền Thờ, rắc tro lên đầu, mặc áo vải thô ra trước nhan Đức Chúa” (Gđt 4:11; x. Gđt 4:15 và 9:1).
Thời Tân ước, nhóm người đấu tranh giành độc lập cho Do Thái cũng đã chuẩn bị cuộc chiến bằng cách dùng tro: “Ngày hôm ấy, họ ăn chay, mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu và xé áo mình ra” (1 Mcb 3:47; x. Mcb 4:39).

Trong Tân ước, Chúa Giêsu nhắc đến việc dùng vải thô và tro là dấu hiệu của sự sám hối: “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, họ đã mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối” (Mt 11:21; Lc 10:13).

Tro trong lịch sử Giáo hội
Dù các ám chỉ này có trong Kinh thánh, việc dùng tro trong Giáo hội chỉ còn lại ít tài liệu hồi thế kỷ I trong lịch lịch sử Giáo hội. Thomas Talley, chuyên gia về lịch sử phụng vụ, nói rằng phụng vụ ban đầu có thể xác định niên đại về Thứ Tư Lễ Tro cho thấy việc rắc tro có từ năm 960. Trước đó, tro được dùng làm dấu hiệu của sự chấp nhận đối với nghi thức sám hối. Từ đầu thế kỷ XVI, nghi lễ dùng cách vẽ hình Thánh giá bằng tro trên trán khi chấp nhận một người bệnh nặng đối với nghi thức sám hối. Từ đầu thế kỷ XI, Viện phụ Aelfric ghi chú rằng đó là thói quen đối với các tín hữu tham dự nghi lễ ngày Thứ Tư khởi đầu mùa Chay, bao gồm việc xức tro. Gần cuối thế kỷ XI, ĐGH Urbanô II kêu gọi dùng tro trong ngày này. Sau đó, ngày này mới được gọi là Thứ Tư Lễ Tro.

Đầu tiên, giáo sĩ và đàn ông được xức tro trên đầu, còn phụ nữ được vẽ dấu Thánh Giá bằng tro trên trán. Nhưng rồi cách vẽ Thánh giá bằng tro trên trán được áp dụng cho cả nam và nữ.

Thế kỷ XII, luật nói rằng tro được tạo ra bằng cách đốt những cành lá đã làm phép từ Lễ Lá năm trước. Ngày nay, nhiều giáo xứ kêu gọi giáo dân đưa lá được làm phép năm trước đến nhà thờ để làm nghi lễ đốt lá sau thánh lễ.

Nghi thức Sám hối
Có vẻ như việc dùng trong đầu mùa Chay là cách mở rộng việc dùng tro khi bước vào nghi thức sám hối. Quy luật này là cách mà Bí tích Hòa giải được cử hành qua hầu hết thế kỷ I của Giáo hội. Những người phạm tội trọng xưng tội với giám mục hoặc vị đại diện giám mục và được giao việc đền tội sẽ thực hành qua một thời gian. Sau khi đền tội xong, họ được giám mục giao hòa bằng lời tha tội trước cộng đoàn.
Khi làm việc đền tội, hối nhân thường có một chỗ riêng trong nhà thờ và mặc trang phục đặc biệt để cho biết tình trạng của mình. Như các tân tòng chuẩn bị lãnh Bí tích Thánh tẩy, họ thường ra khỏi cộng đoàn sau phần phụng vụ Lời Chúa.
Đây là toàn bộ quá trình được làm mẫu trên hành trình trở lại của tân tòng, vì Giáo hội thấy việc phạm tội trọng sau khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy là chưa thực sự trở lại. Đền tội là cố gắng thứ nhì để nuôi dưỡng sự trở lại. Các giáo phụ thời kỳ đầu của Giáo hội còn gọi việc đền tội là “Bí tích Thánh tẩy đệ nhị”.
Mùa Chay được phát triển trong Giáo hội là toàn thể cộng đoàn cầu nguyện và ăn chay cho các tân tòng chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy. Lúc đó, cả cộng đoàn đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy cùng chuẩn bị tái tuyên hứa lời hứa rửa tội trong đại lễ Phục sinh. Như vậy, mọi người cùng các tân tòng đào sâu sự trở lại của mình. Đó là điều tự nhiên mà nghi thức sám hối tập trung vào mùa Chay, với sự hòa giải thường được cử hành vào Thứ Năm Tuần Thánh để việc tái hòa giải có thể chia sẻ trong các phụng vụ của Tam Nhật Thánh (Triduum). Mùa Chay là mùa tập trung vào Bí tích Thánh tẩy và Bí tích Hòa giải.

Thay đổi cách hiểu mùa Chay
Viếc tiếp nhận tân tòng dần dần biến mất khiến cách hiểu của người ta về mùa Chay cũng thay đổi. Thời Trung cổ, việc nhấn mạnh không còn rõ ràng về Bí tích Thánh tẩy. Thay vì thế, việc nhấn mạnh chính chú trọng vào cuộc Khổ nạn và Sự chết của Đức Kitô. Nghệ thuật Trung cổ phản ánh sự tập trung gia tăng này vào Đấng Cứu Thế Đau Khổ, cho nên lòng sùng kính phổ biến cũng vậy. Mùa Chay được coi là thời gian nhận biết tội lỗi mình đã khiến Đức Kitô phải đau khổ và chết thê thảm. Đền tội được coi là cách tránh hình phạt vì tội hơn là cách tái thề hứa lời hứa rửa tội.
Việc biến mất nghi thức sám hối dần dần, việc dùng tro trở thành phần thêm vào văn bản gốc. Sự tập trung vào việc đền tội riêng và Bí tích Hòa giải vẫn tiếp tục trong Mùa Chay, nhưng sự liên kết với Bí tích Thánh tẩy không còn rõ ràng với đa số chúng ta nữa. Điều này phản ánh trong công thức kết hợp với việc xức tro: “Hãy nhớ mình chỉ là cát bụi và sẽ trở về bụi tro”. Câu này tập trung vào sự chết của chúng ta, là cách nghiêm túc khích lệ đền tội, nhưng có chút gợi ý ở đây về ý nghĩa rửa tội nào đó. Cách nhấn mạnh vào sự chết hợp với kinh nghiệm sống thời Trung cổ, khi sự đe dọa của cái chết luôn chực chờ. Nhiều người chết còn rất trẻ, và sự tàn phá xã hội của bệnh dịch đã khiến tử vong rất dễ.

Thứ Tư lễ Tro sau Công đồng Vatican II
Công đồng Vatican II (1962-1965) đã kêu gọi đổi mới Mùa Chay, phục hồi đặc tính cũ liên quan Bí tích Thánh tẩy. Sự phục hồi này rất tiến bộ nhờ giữ lại cách tiếp nhận tân tòng được ủy thác của Nghi lễ Khai tâm Kitô giáo cho Người lớn (Rite of Christian Initiation of Adults) năm 1972. Khi người Công giáo gia tăng tương tác với các tân tòng trong giai đoạn cuối của việc họ chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, họ bắt đầu hiểu Mùa Chay là mùa chuẩn bị rửa tội và tái thề hứa lời hứa rửa tội.
Vì Thứ Tư Lễ Tro đánh dấu khởi đầu Mùa Chay, tự nhiên cũng là khởi đầu khôi phục sự tập trung vào Bí tích Thánh tẩy. Một gợi ý là công thức thứ nhì được đưa ra cho việc xức tro: “Hãy sám hối và tin vào Phúc âm”. Dù điều này không minh nhiên nói tới Bí tích Thánh tẩy, nhưng vẫn nhắc nhớ chúng ta về lời hứa rửa tội là xa tránh tội lỗi và tuyên xưng đức tin. Rõ ràng kêu gọi chúng ta xa tránh tội lỗi, trở về với Chúa, người mà chúng ta phải ấp ủ cả đời mình.
Khởi đầu Mùa Chay, Thứ Tư Lễ Tro mời gọi chúng ta bắt đầu hành trình trở về, đánh dấu Mùa Sám Hối. Khi các tân tòng bước vào giai đoạn cuối của việc chuẩn bị cho các Bí tích mùa Phục sinh, tất cả chúng ta cũng được mời gọi đồng hành với họ để chúng ta cũng chuẩn bị tái thề hứa lời hứa rửa tội trong đêm vọng phục sinh.

Các bài đọc trong lễ Tro
Các bài đọc trong Thứ Tư Lễ Tro làm nổi bật lời mời gọi trở về. Bài đọc I trích từ sách Giôen, kêu gọi chúng ta trở về với Chúa “bằng việc ăn chay, than khóc và thống thiết than van”. Tiên tri Giôen nhắc nhớ chúng ta rằng “Thiên Chúa từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương”, đó là mời gọi chúng ta tín thác vào Tình Yêu của Thiên Chúa khi chúng ta cố gắng canh tân đời sống. Cần lưu ý rằng tiên tri Giôen không chỉ kêu gọi trở về cá nhân. Ông kêu gọi toàn thể mọi người, nên ông nói: “Hãy thổi kèn ở Sion, công bố ăn chay, kêu gọi nhóm họp; quy tụ mọi người, chú ý giáo đoàn; nhóm họp người lớn, con cái và trẻ em còn bú”. Khi chúng ta bước vào mùa canh tân, chúng ta kết hiệp với cả dân Chúa, vì tất cả chúng ta đều chia sẻ nhu cầu trở về liên tụcchúng ta được kêu gọi nâng đỡ nhau trong suốt hành trình này. Bắt chước những người tham dự Nghi thức Sám hối trong quá khứ, chúng ta cùng trở thành cộng đoàn sám hối khi tìm cách tiếp cận Thiên Chúa qua việc đền tội và canh tân đời sống.
Với cách nói khác nhưng không kém phần cấp bách, thánh Phaolô xin chúng ta “giao hòa với Thiên Chúa, vì đây là thời thuận tiện và là ngày cứu độ”. Thời điểm trở về với Chúa là lúc này, Mùa Chay Thánh này, chính ngày này.
Phúc âm Lễ Tro cho chúng ta lời khuyên tốt về cách chúng ta hành động trong Mùa Chay. Chúa Giêsu nói về 3 quy tắc chính của Mùa Chay: Bác ái, cầu nguyện trai tịnh. Các hoạt động tâm linh này, như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta, được làm dù không ai biết, và cũng đừng cho ai biết, chỉ có Chúa biết, kẻo vô ích (x. Mt 6:1-17). Điều quan trọng không phải là chúng ta chỉ nên cầu nguyện một mình mà không cầu nguyện chung với cộng đoàn, mà là chúng ta chỉ nên cầu nguyện không phải để người ta thấy mình đạo đức hoặc thánh thiện. Việc ăn chay và bác ái cũng vậy, không cần phải giấu giếm mà nên làm vì kính mến Chúa và yêu thương tha nhân, chứ không để người ta biết mà khen mình.
Có điều mỉa mai là chúng ta sử dụng đoạn Phúc âm này, khuyên chúng ta rửa mặt và không làm ra vẻ ăn chay, với vẻ chỉ loanh quanh với việc xức tro là xong. Đây chỉ là cách Chúa Giêsu bảo chúng ta đừng làm những hành động mang tính tôn giáo chỉ muốn khoe khoang cho người khác biết. Chúng ta đừng xức tro để tỏ ra mình thánh thiện, mà phải biết rằng chúng ta đều là những tội nhân khốn nạn cần phải sám hối, đền tội và canh tân.

Từ tro tới giếng rửa tội
Lời mời gọi liên tục sám hối phản ánh trong các bài đọc cũng là sứ điệp của TRO. Chúng ta sống Mùa Chay từ tro tới giếng rửa tội. Chúng ta xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro và rửa sạch bằng nước của giếng rửa tội. Sâu xa hơn, chúng ta phải chết cho tội và xác thịt từ đầu Mùa Chay để có thể sống trọn vẹn hơn trong Đấng Phục Sinh trong ngày đại lễ Phục sinh.
Khi xức tro, chúng ta nhớ mình là gì. Chúng ta nhớ rằng chúng ta là thụ tạo bởi bụi đất: “Hãy nhớ mình là bụi đất”. Chúng ta nhớ rằng chúng ta là những thụ tạo sẽ chết và “sẽ trở về bụi đất”. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy. Chúng ta nhớ rằng chúng ta là những lữ khách trên hành trình trở về: “Hãy sám hối và tin vào Phúc âm”. Chúng ta nhớ rằng chúng ta là chi thể của Nhiệm thể Đức Kitô: Xức tro để công bố mình đồng nhất với người khác.
Canh tân mình trước mặt Chúa là điểm cốt lõi của việc thực hành Mùa Chay. Rất dễ quên, vì thế chúng ta thường “lăn vào vết xe cũ” của thói quen phạm tội, cách nghĩ và cách sống trái ngược với Ý Chúa. Chúng ta cũng như dân thành Ninivê trong chuyện kể của tiên tri Giôna. Chính sự “đồi bại” của họ khiến Chúa phải sai Giôna tới rao giảng cho họ. Tiên tri Giôna muốn tránh né sứ vụ đó và bị chìm sâu trong nước. Được cá cứu, cuối cùng tiên tri Giôna mới làm theo Ý Chúa và bắt đầu rao giảng trong khắp thành Ninivê. Lời giảng của ông lọt vào tai và lòng của dân thành, họ làm theo và đã được cứu.
Từ đầu Mùa Chay, Lời Chúa kêu gọi chúng ta trở về. Nếu chúng ta biết mở tai và mở lòng đón nhận Lời Chúa, chúng ta cũng sẽ như dân thành Ninivê cố gắng từ bỏ tội lỗi và thành tâm trở về với Chúa. Chắc chắn chúng ta sẽ được tha thứ và được cứu độ. Rất đơn giản, thời điểm đó bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro!
Nghi thức xức tro là nghi thức long trọng, là dấu hiệu khởi đầu Mùa Chay Thánh. Nghi thức rất đặc biệt, không có động thái phụng vụ như những ngày khác trong suốt năm phụng vụ.
Tro được tạo ra từ việc đố các lá đã làm phép của Chúa Nhật Lễ Lá năm trước. Tro được làm phép trong Thánh Lễ Thứ Tư Lễ Tro, sau bài giảng. Mọi người lần lượt lên chịu tro, thừa tác viên vừa xức tro vừa đọc: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15), hoặc: “Hãy nhớ mình là bụi đất và sẽ trở về bụi đất” (St 3:19). Tro là biểu tượng của 2 thứ chính trong Cựu ước.

Sự chết và sám hối

Tro tương đương với cát bụi, thân xác con người được tạo thành từ đất: “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2:7), và khi thân xác hư nát, nó sẽ trở về đất cát hoặc bụi tro.
Tổ phụ Abraham đã thưa với Chúa: “Con chỉ là thân tro bụi” (St 18:27), ám chỉ cái chết của nhân loại. Còn tiên tri Giêrêmia mô tả cái chết là “thung lũng tử thi và tro thiêu xác” (Gr 31:40).
Tro là điềm gở, và chúng ta dùng tro vào ngày Thứ Tư Lễ Tro để nhắc nhớ về cái chết chắc chắn sẽ đến với chúng ta. Cái chết có thể đến sớm, cũng có thể đến chậm, nhưng chắc chắn nó sẽ đến. Nếu cái chết đến, chúng ta cần chuẩn bị, và thời gian chuẩn bị là ngay từ bây giờ, còn cách chuẩn bị là sống theo phương cách của Chúa.
Tiên tri Đanien đã khúm núm lúc mặc áo vải thô và xức tro, đó là dấu hiệu ăn năn vì đã phản nghịch, bội bạc và trụy lạc: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9:3).
Khi Giôna cảnh báo dân thành Ninivê rằng Thiên Chúa sắp hủy diệt thành phố vì sự suy đồi và sự trụy lạc của họ, dân thành đã vội mặc áo vải thô và xức tro để tỏ ra xa tránh lối sống sa đọa: “Tin báo đến cho vua Ninivê; vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô, và ngồi trên tro. Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai hoạ Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Người đã không giáng xuống nữa” (Gn 3:6 và 10). Tro là lời khẩn thiết cầu xin Chúa ân ban lòng thương xót, lòng trắc ẩn, và ơn tha thứ.
Hơn nữa, đó còn là cách công nhận tội lỗi mình, lá cách bày tỏ sự buồn rầu vì tội lỗi đã trót phạm, là lời hứa canh tân và quyết tâm chống lại chước cám dỗ trong tương lai.
Chúng ta đều là những tội nhân. Khi chúng ta chịu tro trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta xin lỗi Chúa về tội lỗi mình, và chúng ta muốn dùng Mùa Chay để sửa sai, để thanh tẩy tâm hồn, để kiểm soát ước muốn và tiến bộ trong sự thánh thiện, nhờ đó chúng ta sẽ chuẩn bị mừng lễ Phục sinh.

Sống tinh thần Lễ Tro
Thiên Chúa là Đấng chí thánh, Thiên Chúa của chúng ta, Đấng đã ban sự sống và mọi thứ cho chúng ta. Trong đời sống, áp lực của công việc và trách nhiệm thường khiến chúng ta quên sám hối, đền tội và yêu thương. Chúng ta sa ngã và không sống đúng bổn phận của mình, không thể hiện niềm tín thác vào Con Thiên Chúa.
Mùa Chay Thánh giúp chúng ta chấn chỉnh những gì sai sót, giúp chúng ta đền tội và canh tân đời sống bằng ân sủng của Chúa, giúp chúng ta nhớ mình chỉ là tội nhân, đặc biệt là giúp chúng ta nhớ đến Lòng Chúa Thương Xót vô biên.
Khởi hành từ Thứ Tư Lễ Tro, mong sao tro có thể nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta thuộc về Con Thiên Chúa. Ước mong sự thờ phượng, lời cầu nguyện và việc đền tội của chúng ta có thể kiên trì bền vững trong suốt 40 ngày Mùa Chay.
Nguyện xin Chúa giúp chúng ta thực sự canh tân để có thể hân hoan mừng với sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô trong đại lễ Phục sinh. Chúng ta hãy đồng hành cùng Chúa để có thể thanh thản bước vào Mùa Chay Thánh…

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ AmericanCatholic.org và TheCatholicSpirit.com)

 

Chuyện cát bụi

(Thư Tư Lễ Tro, Năm B)
Trong ca khúc “Cát Bụi”, cố NS Trịnh Công Sơn khắc khoải về thân phận con người: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy?”, nhưng rồi ông lại thấy vui: “Ôi cát bụi tuyệt vời, mặt trời soi một kiếp rong chơi”. Ông tiếp tục tự vấn: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi?”, và ông than thở: “Ôi cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp không nguôi”. Lạ thay, cát bụi mà đôi khi cũng cảm thấy “mệt nhoài”!

Ông không là Kitô hữu, nhưng triết lý sống của ông rất gần với Công giáo. Triết lý của ông giản dị mà thâm thúy: “Sỏi đá cũng cần có nhau”, nghĩa là cần lắm tình yêu thương. Có yêu thương thì mới khả dĩ tha thứ. Tha thứ càng cần hơn, thực tế cho thấy rằng người ta càng có tuổi càng nhận thấy mình sai lầm nhiều, vì ai cũng “chợt một chiều tóc trắng như vôi”, để rồi “trăm năm vào chết một ngày”. Người ta dẫn đến cho Chúa Giêsu một phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, Chúa Giêsu thản nhiên: “Ai trong quý vị sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8:8). Kinh thánh ghi rõ: “Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi (Ga 8:9). Thì ra người ta càng sống lâu càng nhiều tội lỗi! Chúa Giêsu đã có lần đặt vấn đề: “Sao bạn thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới?” (Lc 6:41), còn người đời vẫn nói thế này:

Chân mình còn lấm bê bê
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người

KIẾP BỤI TRO
Chúng ta là những người rất “chảnh”, dù chúng ta chỉ là cát bụi, là bụi tro. Thế nên kiếp người luôn canh cánh nỗi lo, khiến chúng ta cứ “xoay mòn thành đá cuội” rồi lại “úp mặt bùi ngùi” – theo cách nói của NS họ Trịnh. Thật vậy, con người chẳng là gì, có chăng chỉ là cát bụi: “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3:19). Đó là điều chắc chắn 100%. Không chỉ vậy, con người còn luôn bị giằng co: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:19). Chúa hiểu, Chúa chỉ cần chúng ta sống chân thành và tin cậy Ngài mà thôi, chứ Ngài không đòi hỏi quá sức chúng ta.

Trót phạm tội thì phải sám hối, đó là biết phục thiện. Nhưng chỉ sám hối thôi chưa đủ, chúng ta còn cần một vế “đức tin” nữa mới cân bằng: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Lầm đường lạc lối thì phải trở về: “Hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van” (Ge 2:12). Trở về thật lòng, chứ không thể giả vờ hoặc “lấy vải the che mắt thánh”. Tuy nhiên, ăn chay và sám hối không cần “ra vẻ” ủ rũ, khắc khổ: “Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng” (Ge 2:13). Chữ TÂM cần hơn chữ TẠI. Nội tại cần hơn ngoại tại.

Trở về phải can đảm nhận tội và tin tưởng. Đứa con phạm tội tày trời sẽ không dám trở về với cha mẹ vì sợ bị trừng phạt, sợ cha mẹ không tha thứ. Nhưng nó đủ can đảm và tin tưởng thì nó sẽ dám trở về. “Nước mắt chảy xuôi” nên cha mẹ có giận mấy cũng bỏ qua, vì tình thương lớn hơn cơn giận. Người đời còn như vậy huống chi Thiên Chúa. Ngài là Đấng “từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương”, và “Ngài hối tiếc vì đã giáng hoạ” (Ge 2:13). Thương lắm! Không giấy mực và không ngôn từ nào diễn tả hết tình thương ấy. Thế thì ai dại gì mà không trở về với Thiên Chúa?

Nếu chúng ta biết nhận tội: “Lạy Đức Chúa, xin dủ lòng thương xót dân Ngài! Xin đừng để gia nghiệp của Ngài phải nhục nhã và nên trò cười cho dân ngoại!” (Ge 2:17). Cầu nguyện như vậy là “chạm” vào “điểm yếu” của Chúa, chắc chắn Ngài không thể không thương xót chúng ta, vì cầu nguyện là sức mạnh của con người và là sự yếu đuối của Thiên Chúa. Nhưng Ngài thích như thế: “Đức Chúa đã nồng nhiệt yêu thương đất của Ngài, đã tỏ lòng khoan dung đối với dân của Ngài. Tai ương chấm dứt và dân được giải thoát” (Ge 2:18). Chúng ta chỉ là cát bụi mà dám lộng ngôn, lộng hành và phạm thượng. Nhưng mỗi “hạt bụi” vẫn được Thiên Chúa nâng niu, yêu quý, vì Lòng Chúa Thương Xót lớn hơn mọi tội lỗi. Nhiệm mầu quá, và trí tuệ chúng ta không thể nào hiểu hết!

Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh chị em hãy làm hoà với Thiên Chúa” (2 Cr 5:20). Thiên Chúa là “Đấng chẳng hề biết tội là gì, nhưng Ngài đã tự biến thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Ngài” (2 Cr 5:21). Lại thêm điều khó hiểu nữa. Nếu thấy ai làm “chuyện khác người”, chúng ta cho người đó là dại dột, ngu xuẩn, hoặc điên khùng. Thế thì Chúa Giêsu đúng là người như vậy, quá “ngược đời”, cũng chỉ vì Ngài “yêu chúng ta quá mà hóa điên”.

Sau khi nhận biết “chất khùng điên” của Chúa Giêsu, thánh Phaolô cũng bị “lây nhiễm” loại “bệnh bất trị” của Ngài, thế nên ông tha thiết khuyên nhủ: “Anh chị em đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa, thì đừng để trở nên vô hiệu” (2 Cr 6:1). Hãy đứng dậy và quyết tâm trở về ngay, vì “đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6:2), nhất là khoảng thời gian mùa Chay này.

THÀNH TÂM SÁM HỐI
Giáo hội xức tro trên đầu chúng ta để nhắc nhớ thân phận con người: “Hãy nhớ mình là tro bụi, và sẽ trở về bụi tro”. Con người luôn đầy sai lầm, mỗi ngày chúng ta phải “xin lỗi Chúa” nhiều lần, đặc biệt hơn trong những ngày mùa Chay: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm” (Tv 51:3-5). Chúng ta thực sự “đắc tội với Chúa” vì đã “dám làm điều dữ trái mắt Ngài”. Chúng ta là những tử tội, không gì có thể biện minh nếu Ngài công bình tuyên án và liêm chính xét xử.

Nhưng Thiên Chúa không nỡ làm thế, Ngài vẫn kiên tâm chờ đợi chúng ta ăn năn sám hối, Ngài không muốn trừng phạt ai, không muốn ai phải hư mất (x. Mt 18:11; Mt 18:14; Ga 17:12), và không muốn ai phải chết. Yêu là khổ, không yêu thì lỗ. Đừng chần chừ, đừng lần lữa nữa, hãy trở về và yêu “tới bến”. Trái tim đã “tan vỡ” cũng đừng ngại, Chúa sẽ “đại tu” nó nếu chúng ta biết thân thưa: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (Tv 51:12-14).
Bản tính con người chuộng bề ngoài, thích phô trương, ưa vật chất, như ca dao Việt Nam có câu:

Thế gian chuộng của, chuộng công
Có ai lại chuộng người không bao giờ!

Ngay cả khi làm những công việc có “tính chất” tông đồ hay từ thiện, người ta cũng luôn muốn “chứng tỏ” mình để “nổi bật” trước người khác, đôi khi Chúa chẳng được lợi gì. Đó là điều rất nguy hiểm!

Thế nên, Chúa Giêsu căn dặn kỹ lưỡng: “Khi làm việc lành phúc đức, anh chị em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng” (Mt 6:1). Và Ngài gọi những người đó là “bọn đạo đức giả”, chỉ “cốt để người ta khen” (Mt 6:2). Dạng người này không khó nhận thấy hằng ngày! Chúa Giêsu xác định: “Họ đã được phần thưởng rồi” (Mt 6:2).

Ngài bày cho “mẹo” này: “Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc bạn bố thí được kín đáo. Cha của bạn, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho bạn. Còn khi cầu nguyện, anh chị em đừng làm như bọn đạo đức giả: Thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba, ngã tư, cho người ta thấy”. Một lần nữa, Chúa Giêsu tái xác định: “Họ đã được phần thưởng rồi” (Mt 6:5). Ngài muốn rằng, khi chúng ta cầu nguyện, “hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Chúa Cha, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt 6:6). Ngài nói rõ: “Khi ăn chay, anh chị em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: Họ làm cho ra vẻ thiểu não để thiên hạ thấy họ ăn chay” (Mt 6:16). Lại thêm lần thứ ba Chúa Giêsu khẳng định: “Họ đã được phần thưởng rồi” (Mt 6:16).

Chúa Giêsu rất ghét giả hình, rất ghét bề ngoài, rất ghét khoe khoang, rất ghét người “khoái nổ”, đúng là “nói lắm chậm việc”, nhưng Ngài rất thích sự âm thầmkín đáo: “Khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy bạn ăn chay ngoại trừ Cha của bạn, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của bạn, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho bạn” (Mt 6:17-18).

Lời Chúa quá rõ ràng, không gì bóng gió, không gì khó hiểu, không thể viện bất kỳ cớ gì khác!

Lạy Chúa, chúng con thật lòng xin lỗi Chúa, xin ân thương tha thứ chúng con vì Lòng Thương Xót vô biên của Ngài. Chúng con xin tạ ơn Ngài, “xin mở miệng chúng con để chúng con cất tiếng ngợi khen Ngài” (Tv 51:17). Chúng con cầu xin nhân danh Đại Sư Phụ Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

 

Hãy nhớ mình là bụi tro !

Mùa Chay bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro bằng nghi thức xức tro. Tuy không bắt buộc theo truyền thống, nhưng đó là ngày thánh, không tới nhà thờ để được xức tro thì những người có tâm hồn đạo đức sẽ cảm thấy áy náy, cảm thấy có lỗi với Chúa. Ngay cả những người không thường xuyên tới nhà thờ cũng cố gắng bắt đầu thể hiện mùa Chay bằng việc chịu tro. Tây phương xức tro bằng cách vẽ hình Thánh giá trên trán, còn Việt Nam thường bỏ một ít tro trên đầu.

Xức tro để nhớ lại thân phận mình chỉ là bụi cát: Được hóa thân từ bụi cát rồi sẽ trở về bụi tro. Nói thẳng ra là CHẾT. Điều đó nhắc nhở người ta phải không ngừng canh tân cách sống sao cho càng ngày càng tốt hơn. Thiết tưởng cũng nên nhắc lại là Thứ Ba trước Lễ Tro thường được gọi là Thứ Ba Béo (Fat Tuesday, Mardi Gras).

Tro trong Kinh thánh
Thói quen dùng tro trong nghi lễ tôn giáo bị mai một từ giữa thời tiền sử, nhưng chúng ta vẫn thấy trong truyền thống tôn giáo thời Cựu ước. Chẳng hạn, tiên tri Giêrêmia kêu gọi sám hối thế này: “Thiếu nữ dân tôi ơi, hãy quấn vải thô vào mình và lăn trên tro bụi” (Gr 6:26).

Mặt khác, tiên tri Isaia lại phê bình cách dùng vải thô và tro để cầu xin Thiên Chúa, ông chỉ ra rằng việc này phổ biến trong dân Ítraen: “Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa?” (Is 58:5).

Tiên tri Đanien xin Chúa cứu dân Ítraen, và nêu gương cho họ thế này: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9:3).

Có thể các ví dụ điển hình về ăn chay trong Cựu ước liên quan vải thô và tro. Khi tiên tri Giôna vâng lệnh Chúa đến rao giảng trong thành phố lớn Ninivê, cách giảng của ông đã hiệu quả, lời kêu gọi ăn chay và sám hối tới tận tai nhà vua: “Tin báo đến cho vua Ninivê; vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô, và ngồi trên tro” (Gn 3:6).

Trong sách Giuđitha, chúng ta thấy việc ăn chay xác định rằng tro được xức trên đầu: “Hết mọi người nam trong dân Ítraen cùng với vợ con cư ngụ ở Giêrusalem đều phủ phục trước Đền Thờ, rắc tro lên đầu, mặc áo vải thô ra trước nhan Đức Chúa” (Gđt 4:11; x. Gđt 4:15 và 9:1).

Thời Tân ước, nhóm người đấu tranh giành độc lập cho Do Thái cũng đã chuẩn bị cuộc chiến bằng cách dùng tro: “Ngày hôm ấy, họ ăn chay, mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu và xé áo mình ra” (1 Mcb 3:47; x. Mcb 4:39).

Trong Tân ước, Chúa Giêsu nhắc đến việc dùng vải thô và tro là dấu hiệu của sự sám hối: “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, họ đã mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối” (Mt 11:21; Lc 10:13).

Tro trong lịch sử Giáo hội

Dù các ám chỉ này có trong Kinh thánh, việc dùng tro trong Giáo hội chỉ còn lại ít tài liệu hồi thế kỷ I trong lịch lịch sử Giáo hội. Thomas Talley, chuyên gia về lịch sử phụng vụ, nói rằng phụng vụ ban đầu có thể xác định niên đại về Thứ Tư Lễ Tro cho thấy việc rắc tro có từ năm 960. Trước đó, tro được dùng làm dấu hiệu của sự chấp nhận đối với nghi thức sám hối. Từ đầu thế kỷ XVI, nghi lễ dùng cách vẽ hình Thánh giá bằng tro trên trán khi chấp nhận một người bệnh nặng đối với nghi thức sám hối. Từ đầu thế kỷ XI, Viện phụ Aelfric ghi chú rằng đó là thói quen đối với các tín hữu tham dự nghi lễ ngày Thứ Tư khởi đầu mùa Chay, bao gồm việc xức tro. Gần cuối thế kỷ XI, ĐGH Urbanô II kêu gọi dùng tro trong ngày này. Sau đó, ngày này mới được gọi là Thứ Tư Lễ Tro.

Đầu tiên, giáo sĩ và đàn ông được xức tro trên đầu, còn phụ nữ được vẽ dấu Thánh Giá bằng tro trên trán. Nhưng rồi cách vẽ Thánh giá bằng tro trên trán được áp dụng cho cả nam và nữ.

Thế kỷ XII, luật nói rằng tro được tạo ra bằng cách đốt những cành lá đã làm phép từ Lễ Lá năm trước. Ngày nay, nhiều giáo xứ kêu gọi giáo dân đưa lá được làm phép năm trước đến nhà thờ để làm nghi lễ đốt lá sau thánh lễ.

Nghi thức Sám hối

Có vẻ như việc dùng trong đầu mùa Chay là cách mở rộng việc dùng tro khi bước vào nghi thức sám hối. Quy luật này là cách mà Bí tích Hòa giải được cử hành qua hầu hết thế kỷ I của Giáo hội. Những người phạm tội trọng xưng tội với giám mục hoặc vị đại diện giám mục và được giao việc đền tội sẽ thực hành qua một thời gian. Sau khi đền tội xong, họ được giám mục giao hòa bằng lời tha tội trước cộng đoàn.

Khi làm việc đền tội, hối nhân thường có một chỗ riêng trong nhà thờ và mặc trang phục đặc biệt để cho biết tình trạng của mình. Như các tân tòng chuẩn bị lãnh Bí tích Thánh tẩy, họ thường ra khỏi cộng đoàn sau phần phụng vụ Lời Chúa.

Đây là toàn bộ quá trình được làm mẫu trên hành trình trở lại của tân tòng, vì Giáo hội thấy việc phạm tội trọng sau khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy là chưa thực sự trở lại. Đền tội là cố gắng thứ nhì để nuôi dưỡng sự trở lại. Các giáo phụ thời kỳ đầu của Giáo hội còn gọi việc đền tội là “Bí tích Thánh tẩy đệ nhị”.

Mùa Chay được phát triển trong Giáo hội là toàn thể cộng đoàn cầu nguyện và ăn chay cho các tân tòng chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy. Lúc đó, cả cộng đoàn đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy cùng chuẩn bị tái tuyên hứa lời hứa rửa tội trong đại lễ Phục sinh. Như vậy, mọi người cùng các tân tòng đào sâu sự trở lại của mình. Đó là điều tự nhiên mà nghi thức sám hối tập trung vào mùa Chay, với sự hòa giải thường được cử hành vào Thứ Năm Tuần Thánh để việc tái hòa giải có thể chia sẻ trong các phụng vụ của Tam Nhật Thánh (Triduum). Mùa Chay là mùa tập trung vào Bí tích Thánh tẩy và Bí tích Hòa giải.

Thay đổi cách hiểu mùa Chay

Viếc tiếp nhận tân tòng dần dần biến mất khiến cách hiểu của người ta về mùa Chay cũng thay đổi. Thời Trung cổ, việc nhấn mạnh không còn rõ ràng về Bí tích Thánh tẩy. Thay vì thế, việc nhấn mạnh chính chú trọng vào cuộc Khổ nạn và Sự chết của Đức Kitô. Nghệ thuật Trung cổ phản ánh sự tập trung gia tăng này vào Đấng Cứu Thế Đau Khổ, cho nên lòng sùng kính phổ biến cũng vậy. Mùa Chay được coi là thời gian nhận biết tội lỗi mình đã khiến Đức Kitô phải đau khổ và chết thê thảm. Đền tội được coi là cách tránh hình phạt vì tội hơn là cách tái thề hứa lời hứa rửa tội.

Việc biến mất nghi thức sám hối dần dần, việc dùng tro trở thành phần thêm vào văn bản gốc. Sự tập trung vào việc đền tội riêng và Bí tích Hòa giải vẫn tiếp tục trong Mùa Chay, nhưng sự liên kết với Bí tích Thánh tẩy không còn rõ ràng với đa số chúng ta nữa. Điều này phản ánh trong công thức kết hợp với việc xức tro: “Hãy nhớ mình chỉ là cát bụi và sẽ trở về bụi tro”. Câu này tập trung vào sự chết của chúng ta, là cách nghiêm túc khích lệ đền tội, nhưng có chút gợi ý ở đây về ý nghĩa rửa tội nào đó. Cách nhấn mạnh vào sự chết hợp với kinh nghiệm sống thời Trung cổ, khi sự đe dọa của cái chết luôn chực chờ. Nhiều người chết còn rất trẻ, và sự tàn phá xã hội của bệnh dịch đã khiến tử vong rất dễ.

Thứ Tư lễ Tro sau Công đồng Vatican II

Công đồng Vatican II (1962-1965) đã kêu gọi đổi mới Mùa Chay, phục hồi đặc tính cũ liên quan Bí tích Thánh tẩy. Sự phục hồi này rất tiến bộ nhờ giữ lại cách tiếp nhận tân tòng được ủy thác của Nghi lễ Khai tâm Kitô giáo cho Người lớn (Rite of Christian Initiation of Adults) năm 1972. Khi người Công giáo gia tăng tương tác với các tân tòng trong giai đoạn cuối của việc họ chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, họ bắt đầu hiểu Mùa Chay là mùa chuẩn bị rửa tội và tái thề hứa lời hứa rửa tội.

Vì Thứ Tư Lễ Tro đánh dấu khởi đầu Mùa Chay, tự nhiên cũng là khởi đầu khôi phục sự tập trung vào Bí tích Thánh tẩy. Một gợi ý là công thức thứ nhì được đưa ra cho việc xức tro: “Hãy sám hối và tin vào Phúc âm”. Dù điều này không minh nhiên nói tới Bí tích Thánh tẩy, nhưng vẫn nhắc nhớ chúng ta về lời hứa rửa tội là xa tránh tội lỗi và tuyên xưng đức tin. Rõ ràng kêu gọi chúng ta xa tránh tội lỗi, trở về với Chúa, người mà chúng ta phải ấp ủ cả đời mình.

Khởi đầu Mùa Chay, Thứ Tư Lễ Tro mời gọi chúng ta bắt đầu hành trình trở về, đánh dấu Mùa Sám Hối. Khi các tân tòng bước vào giai đoạn cuối của việc chuẩn bị cho các Bí tích mùa Phục sinh, tất cả chúng ta cũng được mời gọi đồng hành với họ để chúng ta cũng chuẩn bị tái thề hứa lời hứa rửa tội trong đêm vọng phục sinh.

Các bài đọc trong lễ Tro

Các bài đọc trong Thứ Tư Lễ Tro làm nổi bật lời mời gọi trở về. Bài đọc I trích từ sách Giôen, kêu gọi chúng ta trở về với Chúa “bằng việc ăn chay, than khóc và thống thiết than van”. Tiên tri Giôen nhắc nhớ chúng ta rằng “Thiên Chúa từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương”, đó là mời gọi chúng ta tín thác vào Tình Yêu của Thiên Chúa khi chúng ta cố gắng canh tân đời sống. Cần lưu ý rằng tiên tri Giôen không chỉ kêu gọi trở về cá nhân. Ông kêu gọi toàn thể mọi người, nên ông nói: “Hãy thổi kèn ở Sion, công bố ăn chay, kêu gọi nhóm họp; quy tụ mọi người, chú ý giáo đoàn; nhóm họp người lớn, con cái và trẻ em còn bú”. Khi chúng ta bước vào mùa canh tân, chúng ta kết hiệp với cả dân Chúa, vì tất cả chúng ta đều chia sẻ nhu cầu trở về liên tụcchúng ta được kêu gọi nâng đỡ nhau trong suốt hành trình này. Bắt chước những người tham dự Nghi thức Sám hối trong quá khứ, chúng ta cùng trở thành cộng đoàn sám hối khi tìm cách tiếp cận Thiên Chúa qua việc đền tội và canh tân đời sống.

Với cách nói khác nhưng không kém phần cấp bách, thánh Phaolô xin chúng ta “giao hòa với Thiên Chúa, vì đây là thời thuận tiện và là ngày cứu độ”. Thời điểm trở về với Chúa là lúc này, Mùa Chay Thánh này, chính ngày này.

Phúc âm Lễ Tro cho chúng ta lời khuyên tốt về cách chúng ta hành động trong Mùa Chay. Chúa Giêsu nói về 3 quy tắc chính của Mùa Chay: Bác ái, cầu nguyện và trai tịnh. Các hoạt động tâm linh này, như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta, được làm dù không ai biết. Điều quan trọng không phải là chúng ta chỉ nên cầu nguyện một mình mà không cầu nguyện chung với cộng đoàn, mà là chúng ta chỉ nên cầu nguyện không phải để người ta thấy mình đạo đức hoặc thánh thiện. Việc ăn chay và bác ái cũng vậy, không cần phải giấu giếm mà nên làm vì kính mến Chúa và yêu thương tha nhân, chứ không để người ta biết mà khen mình.

Có điều mỉa mai là chúng ta sử dụng đoạn Phúc âm này, khuyên chúng ta rửa mặt và không làm ra vẻ ăn chay, với vẻ chỉ loanh quanh với việc xức tro là xong. Đây chỉ là cách Chúa Giêsu bảo chúng ta đừng làm những hành động mang tính tôn giáo chỉ muốn khoe khoang cho người khác biết. Chúng ta đừng xức tro để tỏ ra mình thánh thiện, mà phải biết rằng chúng ta đều là những tội nhân khốn nạn cần phải sám hối, đền tội và canh tân.

Từ tro tới giếng rửa tội

Lời mời gọi liên tục sám hối phản ánh trong các bài đọc cũng là sứ điệp của TRO. Chúng ta sống Mùa Chay từ tro tới giếng rửa tội. Chúng ta xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro và rửa sạch bằng nước của giếng rửa tội. Sâu xa hơn, chúng ta phải chết cho tội và xác thịt từ đầu Mùa Chay để có thể sống trọn vẹn hơn trong Đấng Phục Sinh trong ngày đại lễ Phục sinh.

Khi xức tro, chúng ta nhớ mình là gì. Chúng ta nhớ rằng chúng ta là thụ tạo bởi bụi đất: “Hãy nhớ mình là bụi đất”. Chúng ta nhớ rằng chúng ta là những thụ tạo sẽ chết và “sẽ trở về bụi đất”. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy. Chúng ta nhớ rằng chúng ta là những lữ khách trên hành trình trở về: “Hãy sám hối và tin vào Phúc âm”. Chúng ta nhớ rằng chúng ta là chi thể của Nhiệm thể Đức Kitô: Xức tro để công bố mình đồng nhất với người khác.

Canh tân mình trước mặt Chúa là điểm cốt lõi của việc thực hành Mùa Chay. Rất dễ quên, vì thế chúng ta thường “lăn vào vết xe cũ” của thói quen phạm tội, cách nghĩ và cách sống trái ngược với Ý Chúa. Chúng ta cũng như dân thành Ninivê trong chuyện kể của tiên tri Giôna. Chính sự “đồi bại” của họ khiến Chúa phải sai Giôna tới rao giảng cho họ. Tiên tri Giôna muốn tránh né sứ vụ đó và bị chìm sâu trong nước. Được cá cứu, cuối cùng tiên tri Giôna mới làm theo Ý Chúa và bắt đầu rao giảng trong khắp thành Ninivê. Lời giảng của ông lọt vào tai và lòng của dân thành, họ làm theo và đã được cứu.

Từ đầu Mùa Chay, Lời Chúa kêu gọi chúng ta trở về. Nếu chúng ta biết mở tai và mở lòng đón nhận Lời Chúa, chúng ta cũng sẽ như dân thành Ninivê cố gắng từ bỏ tội lỗi và thành tâm trở về với Chúa. Chắc chắn chúng ta sẽ được tha thứ và được cứu độ. Rất đơn giản, thời điểm đó bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro!

Nghi thức xức tro là nghi thức long trọng, là dấu hiệu khởi đầu Mùa Chay Thánh. Nghi thức rất đặc biệt, không có động thái phụng vụ như những ngày khác trong suốt năm phụng vụ.

Tro được tạo ra từ việc đố các lá đã làm phép của Chúa Nhật Lễ Lá năm trước. Tro được làm phép trong Thánh Lễ Thứ Tư Lễ Tro, sau bài giảng. Mọi người lần lượt lên chịu tro, thừa tác viên vừa xức tro vừa đọc: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15), hoặc: “Hãy nhớ mình là bụi đất và sẽ trở về bụi đất” (St 3:19). Tro là biểu tượng của 2 thứ chính trong Cựu ước.

Sự chết và sám hối

Tro tương đương với cát bụi, thân xác con người được tạo thành từ đất: “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2:7), và khi thân xác hư nát, nó sẽ trở về đất cát hoặc bụi tro.

Tổ phụ Abraham đã thưa với Chúa: “Con chỉ là thân tro bụi” (St 18:27), ám chỉ cái chết của nhân loại. Còn tiên tri Giêrêmia mô tả cái chết là “thung lũng tử thi và tro thiêu xác” (Gr 31:40).

Tro là điềm gở, và chúng ta dùng tro vào ngày Thứ Tư Lễ Tro để nhắc nhớ về cái chết chắc chắn sẽ đến với chúng ta. Cái chết có thể đến sớm, cũng có thể đến chậm, nhưng chắc chắn nó sẽ đến. Nếu cái chết đến, chúng ta cần chuẩn bị, và thời gian chuẩn bị là ngay từ bây giờ, còn cách chuẩn bị là sống theo phương cách của Chúa.

Tiên tri Đanien đã khúm núm lúc mặc áo vải thô và xức tro, đó là dấu hiệu ăn năn vì đã phản nghịch, bội bạc và trụy lạc: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9:3).

Khi Giôna cảnh báo dân thành Ninivê rằng Thiên Chúa sắp hủy diệt thành phố vì sự suy đồi và sự trụy lạc của họ, dân thành đã vội mặc áo vải thô và xức tro để tỏ ra xa tránh lối sống sa đọa: “Tin báo đến cho vua Ninivê; vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô, và ngồi trên tro. Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai hoạ Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Người đã không giáng xuống nữa” (Gn 3:6 & 10). Tro là lời khẩn thiết cầu xin Chúa ân ban lòng thương xót, lòng trắc ẩn, và ơn tha thứ.

Hơn nữa, đó còn là cách công nhận tội lỗi mình, lá cách bày tỏ sự buồn rầu vì tội lỗi đã trót phạm, là lời hứa canh tân và quyết tâm chống lại chước cám dỗ trong tương lai.

Chúng ta đều là những tội nhân. Khi chúng ta chịu tro trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta xin lỗi Chúa về tội lỗi mình, và chúng ta muốn dùng Mùa Chay để sửa sai, để thanh tẩy tâm hồn, để kiểm soát ước muốn và tiến bộ trong sự thánh thiện, nhờ đó chúng ta sẽ chuẩn bị mừng lễ Phục sinh.

Sống tinh thần Lễ Tro

Thiên Chúa là Đấng chí thánh, Thiên Chúa của chúng ta, Đấng đã ban sự sống và mọi thứ cho chúng ta. Trong đời sống, áp lực của công việc và trách nhiệm thường khiến chúng ta quên sám hối, đền tội và yêu thương. Chúng ta sa ngã và không sống đúng bổn phận của mình, không thể hiện niềm tín thác vào Con Thiên Chúa.

Mùa Chay Thánh giúp chúng ta chấn chỉnh những gì sai sót, giúp chúng ta đền tội và canh tân đời sống bằng ân sủng của Chúa, giúp chúng ta nhớ mình chỉ là tội nhân, đặc biệt là giúp chúng ta nhớ đến Lòng Chúa Thương Xót vô biên.

Khởi hành từ Thứ Tư Lễ Tro, mong sao tro có thể nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta thuộc về Con Thiên Chúa. Ước mong sự thờ phượng, lời cầu nguyện và việc đền tội của chúng ta có thể kiên trì bền vững trong suốt 40 ngày Mùa Chay.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta thực sự canh tân để có thể hân hoan mừng với sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô trong đại lễ Phục sinh. Chúng ta hãy đồng hành cùng Chúa để có thể thanh thản bước vào Mùa Chay Thánh…

TRẦM THIÊN THU 17-2-2012
(Chuyển ngữ từ AmericanCatholic.org và TheCatholicSpirit.com)

CHẾT
Xức tro là xé cõi lòng
Chết cho một thuở hoang đàng, kiêu sa
Chết cho ý nghĩ gian tà
Chết cho lừa dối, điêu ngoa, giả hình
Chết cho thiếu sót công bình
Chết cho vô ý, vô tình, vô tâm
Chết cho thiếu đức đối nhân
Chết cho thiếu đức đối thần bấy lâu
Lạy Thiên Chúa, Đấng tối cao
Xin thương xót thứ tha bao lỗi lầm
Tội chồng chất chật ngày đêm
Thế mà con cứ tưởng con tốt lành
Bởi con ỷ lại, hợm mình
Nay xin được chết chung tình Giêsu
TRẦM THIÊN THU
Lễ Tro – 2015

MIỀN TỊCH LIÊU
Vườn Dầu tĩnh mịch, hoang vu
Mình Thầy chí thánh Giêsu nguyện cầu
Mồ hôi như máu tuôn trào
Vừa lo vừa sợ khổ đau cận kề
Xin Cha thương xót bỏ qua
Chén kia đắng quá muốn từ chối ngay
Lạc loài giữa cảnh liêu trai
Dẫu khổ đọa đày vẫn quyết xin vâng
Nhiều khi con thấy bâng khuâng
Nhọc nhằn, lận đận, chợt hoang mang nhiều
Thầy ơi, xin đỡ nâng mau
Kẻo con lạc bước giữa chiều trần ai
Khổ đêm nối tiếp khổ ngày
Đôi khi con muốn xuôi tay giữa đời
Một Mùa Chay nữa về rồi
Xin Thầy giúp sức biết cười dù đau
Đời con một chuyến bể dâu
Nhưng con xin quyết bước theo chân Thầy
TRẦM THIÊN THU
Mùa Chay – 2015

CHỮ TÌNH
Chúa đã tạo ra con bằng đất sét
Mai lại đưa về cát bụi mà thôi (1)
Kiếp phàm nhân bọt bèo khoảng buồn, vui
Đời nhân thế sẽ phải về cát bụi! (2)
         Nước mắt mặn suốt trăm năm lầm lũi
         Sáng, trưa, chiều là những chuỗi nhiêu khê
         Như Phù Dung chóng tàn, chẳng là gì
         Nhưng may mắn vẫn được Ngài thương xót
Con đã mang hình ảnh người bởi đất
Là Adam, một thụ tạo đầu tiên
Thế nhưng con không hề bị lãng quên
Vì sẽ giống Đấng từ trời mà đến (3)
         Ngài là Đức Kitô, Đấng chí thiện
         Vì yêu thương nên đã đến trần gian
         Dùng giá máu để cứu độ đời con
         Ôi mầu nhiệm, con cúi đầu cảm tạ
Cuộc đời con cũng mang hình Thập Giá
Một nhánh dọc đưa con lên tới Ngài
Một nhánh ngang đưa con gặp mọi người
Nhánh ngang và nhánh dọc kết chữ TÌNH kỳ diệu!
TRẦM THIÊN THU
(1) G 10:9. (2) Tv 90:3. (3) 1 Cr 15:48.

HAI NỬA CUỘC ĐỜI
Cuộc đời là cõi trầm luân
Bồi hồi chợt nhớ thì thầm mùa Chay
Nhớ đêm nhớ cả ban ngày
Nhớ nô-tì-kiếp đắng cay gian trần
Sầu lòng chứ chẳng bi quan
Dẫu phận sang, hèn cũng hoá bụi tro
Trăm năm nào phải là thơ
Nhập nhoà mơ ước thực hư cuộc đời
Nửa môi cười với ngày vui
Nửa môi méo xệch chơi vơi phận mình
Một con mắt ngó mông mênh
Một con mắt ướt lệ kinh cầu buồn
Kiếp người hai nửa xác, hồn
Xác thân nặng trĩu, hồn bồng bềnh bay
Nắng vàng thắp sáng lên cây
Giáo đường chuông đổ chợt gầy trầm tư
Hồng ân Thiên Chúa bao la
Dốc đời lăn mãi, phù du kiếp người
Giằng co hai nửa cuộc đời
Nửa tôi thanh thoát, nửa tôi nặng nề
Quanh năm lạc giữa đam mê
Trở đi mắc núi, trở về mắc sông
Chỉ mong lượng Chúa khoan hồng
Thành tâm chay tịnh cho lòng bình an
TRẦM THIÊN THU

Vết lăn cũ
Một lần nữa, Mùa Chay lại về. Mùa Chay liên quan vấn đề sám hối, sám hối liên quan tội lỗi. Một trong những điều khiến chúng ta thất vọng nhiều nhất là khi cố gắng tiến bộ về tâm linh nhưng cứ tái phạm các tội cũ, cứ lại lăn vào vết xe cũ, tránh mãi chẳng được, chừa mãi không xong!
Chúng ta buồn. Chúng ta nghĩ rồi mình lại tái phạm. Và đúng như vậy. Chúng ta ngập đầu tội lỗi, cắn rứt và xấu hổ. Do đó chúng ta cũng dễ bỏ cuộc. Chúng ta thất vọng và tự nhủ đó không là tội, nếu có là tội thì cũng chỉ là tội nhẹ.
Đây là 12 cách cần ghi nhớ nếu bạn cứ phạm đi phạm lại một tội nào đó:
1. Hoàn thiện phải làm cả đời. Bạn có nghĩ mình sẽ nên thánh sau một đêm? Đây là vấn đề đối với nhiều người trong chúng ta. Chúng ta thích “cấp tốc”, giải quyết nhẹ nhàng mà hiệu quả. Thánh GH Gioan Phaolô II nói: “Sự hoàn thiện phải thực hiện suốt đời”. Không gì vĩ đại mà lại dễ dàng. Nên thánh cũng như trở nên vận động viên Thế Vận Hội hoặc người có tài năng xuất chúng. Ai cũng phải khổ luyện, chẳng có gì dễ dàng và mau chóng được. Hãy nhớ: “Dục tốc, bất đạt”.
2. Đừng gay gắt với chính mình. Vâng, hãy đặt ra tiêu chuẩn cao. Đừng dễ dãi với chính mình, nhưng cũng đừng khó khăn với chính mình. Cứ cố gắng làm rồi sẽ làm đúng. Có một “sáo ngữ” nhưng đúng: “Bạn thường té ngã bao nhiêu lần thì cũng phải thường đứng dậy chừng đó lần”. Bạn đang trên đường tiến tới thì té ngã bao nhiêu lần cũng không thành vấn đề.
3. Hãy khách quan. Số tội lỗi và mức xấu hổ không là “thước đo” để phân định mức độ nghiêm trọng của tội. Chúng ta cảm thấy xấu hổ về tội liên quan xác thịt vì nó ô uế và nhơ nhớp. Việc thiếu cầu nguyện và không tôn trọng người khác có thể là tội còn nặng hơn các tội về xác thịt. Lòng kiêu ngạo có thể ngăn cản tâm linh hơn tội về xác thịt. Nói như vậy không phải là biện hộ cho tội xác thịt, nhưng cảm giác có tội và xấu hổ đôi khi khiến chúng ta không nhận ra rằng tội lỗi không làm chúng ta xấu hổ. Hãy khách quan khi xét mình và đừng đánh mất cảm thức tội lỗi. Hãy thẳng thắn với chính mình, tin vào lòng thương xót của Chúa và đi xưng tội.
4. Phân biệt tội. Tội nặng (tội trọng) liên quan vấn đề quan trọng. Bản chất của tội trọng là làm chúng ta mất ơn nghĩa với Chúa. Bạn phải biết đó là tội trọng, là yếu tố làm mất tự do, và phải quyết định dứt khoát, đừng tự nhủ: “Tôi biết đó là tội trọng, nhưng tôi cứ phạm”. Nếu lỡ phạm tội trọng, bạn phải cấp tốc ăn năn. Nếu bạn có ý đi xưng tội  trong thời gian sớm nhất, đó là bạn đã trở về với Chúa.
5. Tội quen phạm liên quan tâm lý. Nhận biết điều này giúp bạn bớt phạm tội. Nếu bạn bị “nghiện” và không thể vượt qua một tội nào đó, bạn cần nhờ người linh hướng. Các nhà liệu pháp và các nhà tư vấn có thể giúp bạn tìm ra căn nguyên khiến bạn “nghiện”. Nếu bạn khó chừa một tội nào đó, có thể bạn đã bị “nghiện”. Nhiều người không cho là mình bị “nghiện” nên không chịu “điều trị”. Hãy mạnh dạn nhờ người giúp đỡ để bạn có thể vượt qua. Đừng muốn làm bác sĩ vì bạn bị bệnh. Đừng ngần ngại lãnh nhận Bí tích Hòa giải nếu linh hồn bạn bị bệnh.
6. Tự giải thoát. Nếu bạn “kẹt” vì một tội nào đó, có thể bạn bị sự ác ám ảnh. Nói là “sự ác” không hẳn là ma quỷ. Có thể đó chỉ là điều thuộc tâm sinh lý – bị kém trí nhớ, ảnh hưởng mối quan hệ không lành mạnh nào đó, hoặc do yếu tố xấu nào đó. Nếu bạn cảm thấy sự ác ảnh hưởng bạn, hãy cầu nguyện và ăn chay. Hãy ăn chay các ngày thứ Sáu và chú tâm cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”. Hãy xưng tội, đừng quan tâm là linh mục nào. Xưng tội là thú tội với Chúa và xin Ngài thương xót.
7. Nhận biết cơn cám dỗ. Có thể bạn đã làm điều gì đó rồi... quen. Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt. Nó thúc giục bạn, và bạn lấy nhiều lý do để tự biện hộ. Thói quen thành nghiện, nghiện rồi thì muộn rồi. Hãy chống lại cơn cám dỗ ngay khi nó xuất hiện trong tâm trí. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Đừng thí mạng mà đối đầu với ma quỷ, nhưng hãy thẳng thắn nói với nó: “Satan, cút ngay, xa ta ra!”.
8. Cậy nhờ linh khí. Thánh lễ, tràng hạt Mân Côi, áo Đức Bà, ảnh các thánh, Kinh Thánh,… là các vũ khí hữu hiệu trong cuộc chiến tâm linh. Hãy tìm hiểu cách sử dụng hữu hiệu các linh khí này.
9. Hiểu bản chất tội. Bạn sẽ không bỏ được tội lỗi nếu bạn không thực sự ghê tởm nó. Bạn thấy những con nghiện đáng sợ không? Nghiện gì cũng đáng sợ: Nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện thuốc lá,... Nghiện phạm tội còn kinh tởm hon nhiều. Hãy cầu nguyện để thanh lọc ước muốn, cố gắng tập trung vào cái tốt đẹp và chân thật.
10. Tìm người linh hướng tốt. Hãy chân thành sám hối và tìm người linh hướng, kiểu như bác sĩ gia đình, quan hệ thân thiết để người linh hướng biết thực trạng của bạn. Càng biết rõ thì người linh hướng càng dễ giúp bạn tiến bộ trên đường trọn lành. Ai cũng phải nên thánh, có người nhanh, có người chậm, nhưng chắc chắn ai cũng trải qua con đường sám hối và được Thiên Chúa thương xót thứ tha.
11. Đừng bỏ cuộc. Dù thất vọng nhưng đừng tuyệt vọng. Dù thế nào cũng không được đầu hàng, bỏ cuộc. Đừng tự nhủ rằng tội của mình không là tội. Đó là tự giả dối và hủy hoại chính mình. Hãy đối mặt với tội lỗi và kiên cường chiến đấu. Hãy ghi nhớ: “Đừng bỏ cuộc!”.
12. Chúa luôn ở bên bạn. Đó là điều bạn phải ghi nhớ rõ ràng. Nhiều người Công giáo phạm tội như thể Chúa ở xa lắm, rồi nghĩ rằng đời còn dài, mai mốt ăn năn cũng được, Chúa nhân từ lám. Đó là lạm dụng lòng thương xót của Chúa. Kinh Thánh nói: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3:17). Phải hiểu tích cực chứ đừng tiêu cực. Hiểu tiêu cực là lợi dụng lòng tốt của Chúa. Ngài luôn chờ cơ hội để tha thứ chứ không muốn kết án. Hãy can đảm “đứng dậy và trở về với Cha” (Lc 15:18), càng sớm càng tốt.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Patheos.com)
Giáp Tết Ất Mùi, chuẩn bị Mùa Chay – 2015

Vệ sinh
Vệ sinh là việc làm cần thiết, không chỉ để giữ sức khỏe riêng mà còn giữ môi trường sạch đẹp, đặc biệt là giữ phép lịch sự tối thiểu đối với người khác và cũng là tự trọng. Tuy nhiên, điều gì thái quá thì cũng bất cập, cái gì cũng có giới hạn của nó. Thậm chí cái mà chúng ta gọi là “tự do” cũng có giới hạn của tự do, vì không thể làm bất cứ điều gì theo ý mình rồi lấy cớ là “quyền tự do”.
Thiên Chúa ban cho mọi người như nhau về sự bình đẳng và quyền tự do, nhưng con người đã lạm dụng nên bị hạn chế, cái giới hạn không ai có thể cưỡng lại được là sự chết. Ai cũng phải chết! Chính cái chết là thất bại lớn nhất và là nỗi đau khổ nhất của con người.
Có người xuề xòa, dễ dãi quá, sao cũng được; có người lại khó tính, chi li, xét nét đủ thứ. Kiểu nào cũng không hay! Dễ dãi quá nên để cho nhà cửa bừa bộn, cẩn thận quá thì mất thời gian, và rồi người ta ngại đến nhà mình. Bẩn thể lý là điều ghê tởm, bẩn tinh thần càng đáng ghê tởm hon. Cũng vậy, vệ sinh thể lý là điều cần, vệ sinh tâm linh càng cần hơn.
Trình thuật Mt 15:1-9 (Mc 7:1-13) đề cập vấn đề vệ sinh. Một hôm, có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giêrusalem đến gặp Đức Giêsu và nói rằng: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa?”. Ngài thản nhiên trả lời: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa’. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa. Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng: ‘Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”.
Như chúng ta đã biết, Pharisêu là nhóm người giả hình, tự nhận mình thánh thiện, dạy người khác làm nhưng chính họ không thực hiện. Họ là những người nhiệt thành (Mt 23:15), quan tâm về sự hoàn thiện và sự trong sạch, thực hành tỉ mỉ các lề luật với các truyền thống được truyền khẩu, am hiểu lề luật, lo bề ngoài mà coi thường bề trong. Họ đã ngăn chặn giáo huấn của Thiên Chúa bằng các truyền thống nhân văn của họ (Mt 15:1-20), họ mỉa mai người dốt nát nhân danh luật riêng của họ (Lc 18:11-14), họ tránh tiếp xúc với phường tội lỗi và bọn thu thuế, họ tự nhận có luật pháp về Thiên Chúa nhân danh việc làm của họ (Mt 20:1-16; Lc 15:25-30), họ ỷ lại mình có lề luật, tự hào mình có Thiên Chúa (Rm 2:17-24), nhưng họ chỉ là kẻ đui dắt kẻ mù, dốt mà chảnh, đỏng đảng mà tưởng mình có duyên, Chúa Giêsu đã ví họ như “mồ mả tô vôi” (Mt 23:27).
Do Thái giáo (Yehudah) là một tôn giáo đặt nền tảng trên Kinh Torah (một phần của Kinh Tanakh hoặc Kinh Thánh Hebrew), gắn liền với lịch sử dân tộc Do Thái, như đã được diễn giải trong Kinh Talmud và các sách khác. Do Thái giáo xem mình là mối quan hệ giao ước giữa dân Ít-ra-en (và sau này là người Do Thái) với Thiên Chúa. Và như thế, nhiều người xem đây là tôn giáo độc thần đầu tiên. Nhiều phương diện của Do Thái giáo ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các khái niệm về đạo đức và luật dân sự của phương Tây. Do Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất mà vẫn còn được thực hành cho đến ngày hôm nay, sách thánh và rất nhiều truyền thống của Do Thái giáo tiếp tục được coi trọng trong các tôn giáo truyền thống Áp-ra-ham nói chung. Như vậy, lịch sử và những luân lý đạo đức của Do Thái giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến các tôn giáo khác, kể cả Kitô giáo và Hồi giáo.
Năm 2007, dân số Do Thái ước tính khoảng 13,2 triệu người, trong đó có 41% sinh sống ở Ít-ra-en. Trong Do Thái giáo hiện đại, uy quyền không được trao cho một người riêng lẻ hay một cơ quan nào cả mà nó ở trong sách thánh, giáo luật, và các thầy giảng (Rabbi) là những người diễn dịch Kinh Thánh. Truyền thống người Do Thái cho rằng Do Thái giáo khởi nguồn bằng giáo ước giữa Thiên Chúa và ông Áp-ra-ham (khoảng năm 2000 trước Công nguyên), tổ phụ và quốc tổ của nhà nước Do Thái. Qua nhiều thời đại, Do Thái giáo gắn liền với rất nhiều luân lý tôn giáo, mà quan trọng nhất là đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất là đấng toàn năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, Ngài đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó. Theo tục truyền Do Thái, Thiên Chúa thiết lập giao ước với con cái Ít-ra-en và hậu duệ, cho chúng biết lề luật và giới răn của Ngài qua ông Môsê trên Núi Sinai. Do Thái giáo trân trọng việc học hỏi Cựu Ướctuân giữ các giới răn đã ghi trong Cựu ước như đã được dẫn giải chi tiết trong sách Talmud. Do đó, luật của họ có hơn 600 điều phải giữ từng chi tiết, kiểu cũng vấp phạm. Chết chắc!
Ngày nay cũng vẫn thấy nhiều người có “máu” Pharisêu, thích chỉ tay năm ngón nhưng họ “không buồn động ngón tay vào” (Mt 23:4), họ giả hình mà luôn mạo nhận là nhân đức. Nhóm Pharisêu đã bị Chúa Giêsu “tặng” cho tám chữ “khốn” (x. Mt 23:13-32). Đáng sợ nhất là câu này: “Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục?” (Mt 23:33).
Giả hình là gì? Là NÓI mà KHÔNG LÀM. Nói theo văn hoa bóng bẩy thì là “ngôn hành bất nhất”. Nói theo người đời thì là “miệng nam mô, bụng một bồ dao găm”. Chúa Giêsu vô cùng ghét động thái này! Chúa Giêsu nguyền rủa nhóm Pharisêu chỉ vì họ nói hay mà làm dở, hoặc nói mà không làm.
Đừng nghĩ Chúa Giêsu nguyền rủa nhóm Pharisêu chứ không nói động đến chúng ta. Nếu tôi có ý nghĩ như vậy thì khốn cho tôi! Còn bạn, bạn có thấy “nhột gáy” không? Nên vệ sinh bề trong hay bề ngoài? Đừng lấy cái CHÍNH làm cái PHỤ, hoặc lấy cái PHỤ làm cái CHÍNH.
TRẦM THIÊN THU

Thảo dược thời Chúa Giêsu
Người ta cho biết rằng thuốc dùng trong thời Chúa Giêsu ảnh hưởng nhiều bởi tiêu chuẩn y dược của Hy Lạp (*). Người Hy Lạp đã cách mạng hóa khái niệm và cách áp dụng thuốc, cũng ảnh hưởng người La Mã thời Chúa Giêsu. Đa số thuốc Hy Lạp liên quan 4 loại chất lỏng, hoặc “thể dịch” (humor), trong cơ thể con người (máu, đờm, mật đen, và mật vàng). Đa số thuốc dùng trong thời đó liên quan việc thay đổi mức độ các chất lỏng. Do đó, rất thông dụng việc chữa trị như trích máu, làm ói mửa, tắm rửa, làm nóng, làm mát, và làm toát mồ hôi.
Tuy nhiên, đó không chỉ là các dạng được thực hành. Ngoài nhiều dạng dân gian, nhiều loại thảo dược cũng được dùng để điều trị các bệnh thông thường. Một số cách điều trị được đề cập trong Ktt, các thảo dược thường được dùng cũng được ghi thành văn bản bởi những người có họcc thời Chúa Giêsu. Trong số đó có Di Medicina của Celsus (Y Dược) và Naturalis Historia (Lịch Sử Thiên Nhiên) của Gaius Plinius Secundus.
1. TRẦM HƯƠNG
Một trong ba thứ được dâng tiến Hài Nhi Giêsu tại Hang Belem là trầm hương. Trầm hương được coi là có nhiều ích lợi cho sức khỏe. Trầm hương được dùng làm chất khử trùng để ngăn ngừa nhiễm trùng, giúp tiêu hóa, trị ho, trị cảm lạnh, và là chất tốt cho nướu, tóc và da.
2. MỘC DƯỢC
Một thứ khác trong ba thứ được dâng tiến Hài Nhi Giêsu là mộc dược. Loại nhựa thơm này cũng có ích lợi về y dược. Mộc dược có tính khử trùng, kháng khuẩn, chống nấm, và ngăn ngừa viêm nhiễm. Điều này khiế cho mộc dược được dùng để cải thiện huyết lưu, làm tăng hệ miễn nhiễm, giảm sốt, giúp tiêu hóa tốt, trị ho và trị cảm lạnh.
3. CỦ TỎI
Từ lâu tỏi đã được dùng rộng rãi nhờ đa lợi ích cho sức khỏe. Nhiều năm nghiên cứu, người ta thấy rằng tỏi có tính kháng khuẩn, chống nhiễm trùng, ngăn ngừa ký sinh, và chống ô-xít hóa. Vì vậy, dùng tỏi có lợi cho tiêu hóa mà còn có lợi cho sức khỏe tổng quát. Mỗi ngày nên ăn 2 tép tỏi tươi.
4. DẦU LƯU LY
Ngày nay, dầu lưu ly (borage oil) là loại dầu giàu a-xít béo omega-9 có khả năng chống nhiễm trùng. Dầu lưu ly được dùng để làm giảm sốt, chữa thấp khớp, chống trầm cảm, và làm thuốc xổ.    
5. CÂY THÌ LÀ
Theo tài liệu Naturalis Historia, cây thì là có lợi cho mắt. Ngày nay, nghiên cứu cho thấy cây thì là giàu vitamin C, có các chất chống ô-xít hóa khác, và có khả năng ngăn ngừa nhiễm trùng.  
6. CÂY NGẢI GIẤM
Cây ngải giấm (tarragon) được dùng làm gia vị giúp ngon miệng, đồnt thời được dùng trong y học cổ truyền. Lá ngải giấm dùng làm ổn định bao tử. Lấy lá ngải giấm pha như pha trà, uống giúp ngủ ngon. Nhai lá ngải giấm trị đau răng.
7. TRÁI LỰU
Thời Chúa Giêsu, lựu được dùng để chữa trị nhiều chứng bệnh. Rễ cây lựu nấu nước uống để trị sán dây (sán xơ mít), hoa lựu dùng để trị kiết lỵ và lở loét miệng. Ngày nay, nghiên cứu cho thấy rằng lựu chứa nhiều chất chống ô-xít hóa, ngăn ngừa một số chứng ung thư, và ngăn ngừa nhiễm trùng.    
8. CẢI BẮP
Tài liệu Naturalis Historia  của Gaius Plinius Secundus cho biết ít nhất 87 liệu pháp liên quan cải bắp. Ăn cải bắp sống giúp chữa nhức đầu, mắt yếu, và có lợi cho sức khỏe. Giã nhuyễn cải bắp pha với nước ấm để đắp vào vết thương, trặc gân (bong gân), và ung nhọt.
9. TRÁI MÂM XÔI
Tài liệu Naturalis Historia cho biết rằng trái mâm xôi đa lợi ích về chữa trị như chữa về nướu, hạch nhân (a-mi-đan) và nọc rắn. Nước ép cây mâm xôi giúp lợi tiểu, lá mâm xôi trị bệnh về miệng và da.
10. CÂY BÀI HƯƠNG
Bài hương hoặc hương thảo (hyssop). Nhiều người coi cây này là “Thánh Thảo” (cỏ thánh) vì người ta dùng để rảy nước trong các nghi lễ tẩy trần người phong cùi và fảy máu trên tường nhà người Ít-ra-en trong kỳ lễ Vượt Qua. Quân lính La Mã đã dùng cây bài hương để đưa giấm lên cho Chúa Giêsu nếm khi Ngài bị đóng đinh trên Thập Giá. Với khái niệm y học, cây bài hương thuờng được thêm vào trà để trị ho và khó thở. Bài hương cũng được dùng để trị viêm khớp, thấp khớp, vết bầm, vết cắt và vết thương.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
(*) Madsen AN. Wilt Thou Be Made Whole? In: The Lord of the Gospels: The 1990 Sperry Symposium on the New Testament. Salt Lake City: Deseret Book, 1991, pages 113-128.


Hôn nhân khác đạo
Hôn nhân khác đạo gọi là “hôn nhân liên tôn”. Cái gì khác nhau cũng có thể gây phiền toái, nhất là cái khác đó liên quan vấn đề tôn giáo.
Hôn nhân khác đạo có thể là một thách đố, luôn cần nhiều tình yêu và khéo léo giao tiếp. Tuy nhiên, hôn nhân khác đạo cũng có thể là đại phúc giúp vợ chồng lớn mạnh trong niềm tin của nhau.
Đây là các gợi ý dành cho những người Công giáo kết hôn với người khác tôn giáo:
1. ĐỪNG “HOÁN CẢI” NHAU
Bạn có thể chia sẻ sự nhiệt thành đối với niềm tin của mình và thật lòng trả lời các câu hỏi, nhưng đừng thúc ép người bạn đời phải gia nhập Công giáo. Giáo Hội khuyên: “…Các cặp vợ chồng khác đạo có thể sống trong hoàn cảnh đặc biệt theo ánh sáng của Đức Tin, vượt qua mọi sự căng thẳng giữa trách nhiệm đối với nhau và cộng đoàn, khuyến khích phát triển các điểm chung về niềm tin và tôn trọng các điểm khác nhau” (GLCG số 1636).
2. CẦU NGUYỆN CÙNG NHAU
Hằng ngày nên dành thời gian cầu nguyện với nhau. Mới đầu có thể khó, nhưng hãy kiên trì để có thể đạt được cách cầu nguyện chung và có lợi cho cả hai về tâm linh. Một cách hay là cùng đọc Kinh Thánh hoặc tìm hiểu về Kinh Thánh.
3. DUY TRÌ ĐỨC TIN
Người Công giáo có thể dễ xa rời Đức Tin vì cảm thấy khó hòa hợp trong hôn nhân khác đạo. Vấn đề quan trọng là phải biết tôn trong niềm tin của người bạn đời, nhưng đừng thỏa hiệp. Nếu không thể tham dự Thánh Lễ hằng ngày thì hãy cố gắng tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật, hãy đề nghị người bạn đời cùng đi. Hãy xưng tội vào những dịp lễ, tết, và các dịp đặc biệt. Bí tích Hòa Giải tạo cơ hội tốt để thảo luận về mọi điều khó khăn của cuộc sống hôn nhân khác đạo. Bạn có thể đề nghị người bạn đời cùng nhau gặp linh mục và thảo luận về bất kỳ vấn đề gì.
4. GIÁO DỤC CON CÁI
Theo Giáo Luật, người không Công giáo phải đồng ý cho con cái gia nhập Công giáo và giáo dục chúng theo cách của Công giáo. Hãy bảo đảm cho chúng nền tảng Đức Tin vững chắc và được lãnh nhận các bí tích. Điều này rất “nhạy cảm” đới với người bạn đời khác đạo. Hãy dạy con cái tôn trọng niềm tin của cha hoặc mẹ của chúng, và hãy khuyến khích chúng đặt ra các câu hỏi.
5. CHIA SẺ ĐỨC TIN
Hãy lưu ý các điểm chung về tâm linh và hỗ trợ nhau trên hành trình tâm linh, nhưng hãy tôn trọng các điểm khác nhau. Tránh chỉ trích hoặc chê bai niềm tin của nhau. Nếu không thể trả lời câu hỏi về Đức Tin, hãy tìm câu trả lời ở sách báo hoặc nhờ người có uy tín. Hãy tìm hiểu Công giáo và chia sẻ với người bạn đời. Hãy cầu xin Chúa giúp hiểu nhau và tôn trọng nhau.
6. VĨ NGÔN
Bạn phải hy sinh và hành động khéo léo trong hôn nhân khác đạo, cố gắng để có lợi ích cho gia đình và xã hội. Thánh GH Gioan Phaolô II nói: “Hôn nhân giữa người Công giáo và người khác đạo có bản chất riêng, nhưng có nhiều yếu tố có thể tốt và phát triển, cả về giá trị thực chất và về sự đóng góp mà họ có thể tạo sự đại kết. Điều này rất thật khi hai người trung thành với nhiệm vụ tôn giáo của mình. Phép Rửa và động lực của ân sủng cung cấp cho họ nền tảng và sự thúc đẩy để diễn tả sự kết hợp trong lĩnh vực luân lý và tâm linh” (Tông huấn Familiaris Consortio).

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

 

DongCongNet February 18, 2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)