dongcong.net
 
 


Mùa Chay : Trầm Thiên Thu

CHÚA GIÊSU – KHỔ NẠN, ĐÓNG ĐINH và PHỤC SINH

Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết mọi thứ về cuộc khổ nạn, sự đóng đinh và sự phục sinh của Chúa Giêsu thì có sai không?
Đó là tính khả dĩ có được nhờ đọc tác phẩm của các học giả khảo cứu Kinh Thánh và là những nhà nghiên cứu nổi trội nhất trên thế giới.
Dĩ nhiên là luôn có những cuộc tranh luận sôi nổi giữa các học giả và các thần học gia với mọi phương diện về cuộc sống và sự chết của Chúa Giêsu. Nhưng đôi khi vẫn cần có sự khảo sát mới rất kỹ lưỡng.
Ngôi mộ nào thực sự là nơi an táng Chúa Giêsu: Ngôi mộ ở tại Nhà thờ Thánh Mộ (Church of the Holy Sepulchre) hay là Ngôi Mộ Vườn (Garden Tomb)? Nhà thờ Thánh Mộ được tôn kính theo truyền thống ít nhất từ thế kỷ IV, khi hoàng đế Constantine cho xây dựng nhà thờ đầu tiên ở đó. Nhưng vào thế kỷ XIX, các tín đồ Tin Lành Tây phương coi Nhà thờ Thánh Mộ của Công giáo – trong khu xây dựng của Phố Cổ (Old City) – là vị trí không thích hợp, và họ vẫn công nhận “hầm mộ hai phòng” (two-chambered burial cave) bên ngoài thành gọi là Ngôi Mộ Vườn.
Ít ra khoa khảo cổ và khoa học có thể cân nhắc. Theo nhà khảo cổ Gabriel Barkay, Ngôi Mộ Vườn có từ các thế kỷ VIII–VII trước công nguyên và không được sử dụng trong thời Chúa Giêsu.
Có thể đó là điều thất vọng đối với những người đã tới viếng Ngôi Mộ Vườn khi đi hành hương, nhưng điều đó vẫn là sự khích lệ đối với các sinh viên nghiêm túc học hỏi về lịch sử Kinh Thánh để biết một sự thật không thể bác bỏ. Nhưng nếu bạn hiểu biết sai về Chúa Giêsu thì sao?
Hình ảnh hòn đá được lăn khỏi mộ Chúa Giêsu cho thấy ngôi mộ trống là đúng theo đức tin Kitô giáo. Nhưng hầu như chắc chắn rằng đó là cách dịch Phúc Âm sai!
Hóa ra chỉ có một số ngôi mộ thời Chúa Giêsu đã được phát hiện có tảng đá tròn. Ngày nay chúng ta biết nhờ khoa khảo cổ xác định rằng những người Do Thái thời đó sử dụng những tảng đá vuông để niêm phong cửa mộ được đục sâu vào vách các đồi đá tại vùng Giêrusalem.
Sự thật là chữ “lăn” (roll) được dịch từ chữ “kulio” trong Hy ngữ, cũng có thể có nghĩa là “di dời”, “xê dịch” hoặc đơn giản là “dời”, làm cho hầu như chắc chắn rằng “tảng đá được lăn ra” là lỗi về văn chương (literary error).
Nhưng lại thất vọng, cũng là sự thật rằng chúng ta càng hiểu biết nhiều về lịch sử và ngôn ngữ của thời đại Kinh Thánh thì chúng ta lại càng hiểu biết ít.
Chẳng hạn, cách phân tích chi tiết về văn chương và ngôn ngữ với nhiều phần kết của Phúc Âm theo Thánh Máccô cho thấy rằng có nhiều vấn đề chứ không chỉ có một.
Có những dạng câu hỏi khiến các học giả Kinh Thánh đã phải thức giấc vào ban đêm. Nhưng bạn có thể đi sâu vào các nghiên cứu của họ, các phát hiện và kết luận của họ. Tất cả đều có trong thư tịch của Hội Khảo Cứu Kinh Thánh (Biblical Archaeological Society).
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ BiblicalArchaeology.org)
Chuẩn bị Mùa Chay – 2018

 

Tấm lòng

Triết gia Pascal nói: “Con người là cây sậy có lý trí”. Một cách diễn tả dung dị dễ hiểu. Điều đó mặc nhiên rằng con người là sinh vật bất túc, bất trác và bất toàn, với một số phận mong manh không khác đóa phù dung. Và vì thế, con người cứ miệt mài ngày đêm đi tìm Chân-Thiện-Mỹ theo lệnh truyền của Thiên Chúa: “Hãy hoàn thiện như Cha trên trời” (Mt 5:48). Nghĩa là phải chiến đấu và vươn lên không ngừng, với khát khao tìm về cái gọi là “nhân chi sơ tính bổn thiện” sau những ngày (có thể) sa chân lầm lạc hoặc lỡ để bàn tay nhúng chàm.

Con người yếu đuối nên dễ “nhiễm” cái xấu hơn cái tốt, nhưng hẳn là khôn hơn khi chưa vấp ngã. Phêrô, một ngư ông chất phác, được Chúa Giêsu chọn làm Tông đồ, và dù đã “thẳng thừng” chối Thầy mình, ông vẫn được Ngài cất nhắc lên làm Giáo hoàng tiên khởi, làm “hoa tiêu” đưa Con thuyền Giáo hội vượt qua ngàn trùng sóng gió, vì chính ông đã có kinh nghiệm bản thân. Vấn đề không phải là tốt hay xấu, giỏi hay dốt, mà là biết thành tâm sám hối, biết sửa sai và phục thiện, để sống tốt hơn và lợi ích cho tha nhân.

Thật vậy, đời người là một chu-kỳ-ăn-năn không ngừng. Hết lỗi lầm này đến sai lầm khác. Rồi ăn năn. Rồi tái phạm. Và rồi lại hối hận… Vậy đó, hứa nhiều mà chẳng giữ được bao nhiêu. Càng nhiều tuổi càng “nói dối” nhiều: Ai càng sống lâu càng xưng tội nhiều lần mà vẫn chưa chừa được! Chúng ta chỉ là những kẻ nói dối Chúa! Ai cũng quyết lên án nhưng rồi không ai dám ném đá người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (x. Ga 8:2-11), thế nên họ đều lần lượt bỏ đi, người lớn tuổi đi trước, kẻ nhỏ tuổi đi sau, vì không ai thấy mình sạch tội. Vâng, đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán!

Nói vậy không có nghĩa là không cần hoàn hảo vì không thể hoàn hảo. Vẫn phải cố gắng tìm sự hoàn hảo: Hoàn hảo ngay trong cái chưa hoàn hảo. Nếu tưởng mình hoàn hảo tức là chưa hoàn hảo. Thật vậy, “ai tưởng mình là gì mà kỳ thực không là gì hết, đó là lừa gạt chính mình” (Gl 6:2-3). Những người theo chủ-nghĩa-hoàn-hảo, gọi là cầu toàn, luôn làm ra vẻ hoàn hảo để mong được tiếng khen, dễ nóng giận với chính mình và luôn chê trách hoặc ghen ghét người khác. Thực ra đó chỉ là cách che giấu cái bất toàn của mình.

Quả thật, con người quá yếu đuối và luôn đầy tham vọng. Nhưng không vì thế mà ỷ lại hoặc cố chấp, biện hộ cho những gì mình làm. Ngược lại, phải tự biết chấp nhận mức độ hữu hạn của mình để luôn biết làm việc tận tụy bằng tất cả tâm lực mà không đòi hỏi gì thái quá nơi người khác. Đức Giêsu đã nói: “Ai trung thành trong việc nhỏ sẽ trung thành trong việc lớn” (Lc 19:12-27). Hãy tự giành cho mình những việc khó và dành cho người khác những việc dễ, nhưng không hề miễn cưỡng hoặc tỏ vẻ khó chịu.

Mùa Chay là thời gian cần thiết để suy gẫm, tĩnh tâm, vì đời người như một cỗ máy, thỉnh thoảng vẫn cần được tu sửa – dù tiểu tu, trung tu hoặc đại tu. Mùa Chay cũng là dịp “nhìn lại” số km mình đã đi qua để biết phải cố gắng thêm ít hay nhiều, như máy móc phải châm thêm hoặc thay dầu nhớt, chứ không thể tự mãn. Ăn chay phải gắn liền với cầu nguyện, vì “bao lâu ta chưa thôi cầu nguyện là dấu chắc chắn Chúa đang thương” (Thánh Augustinô). Cầu nguyện là mãnh lực khả dĩ chiến thắng tất cả!

Ăn chay song song với tịnh tâm. Không nhất thiết phải làm điều gì vĩ đại mà chỉ cần “chấn chỉnh” hoặc “cởi bỏ” một thói xấu hoặc một động thái nào đó… Thiết tưởng đó mới là cách “trở về” hữu ích và đẹp lòng Chúa. Có thể là hy sinh không đi chơi, bớt hoặc bỏ hút thuốc, giảm uống cà-phê, bớt uống rượu, thôi cờ bạc, ít tán gẫu, không xét đoán, chăm học hơn, quan tâm nhau hơn, sống hòa đồng hơn, nghiêm túc hơn,… Đó chính là những Vị Ngọt làm cho ly-cà-phê-không-đường đời mình thêm đậm đà hương vị, để không chỉ cho riêng mình “thưởng thức” mà còn cho cả những người xung quanh cùng “nếm thử”. Và còn mãi dư vị làm sảng khoái…

Trở về là hành-trình-vui nếu biết trở về với cả tấm lòng sau những năm tháng hoang đàng. Thiên Chúa luôn nhân hậu và đại lượng vẫn từng giây mong chờ tội nhân trở về nương náu Tình Yêu Thiên Chúa. Dù tội lỗi đến đâu, dù thất vọng nhưng đừng tuyệt vọng, Thiên Chúa vẫn nhân hậu vô cùng, chỉ cần chúng ta biết thành tâm sám hối, vì chính Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Josefa Menendez (1890-1923, Dòng Thánh Tâm): “Sự khốn nạn của con lôi cuốn Cha”. Thật là may mắn và hạnh phúc cho mỗi người chúng ta có một Vị Thiên Chúa từ bi ngoài sức tưởng tượng của loài người!

Tình Yêu Chúa là thế, yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu đến giọt máu và giọt nước cuối cùng, vì vậy mức độ yêu Chúa của chúng ta phải theo cách thức của Thánh Bernard: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Con người với nhau rất cần một tấm lòng, thì với Thiên Chúa, Ngài cũng chỉ cần chúng ta dành trọn cho Ngài một Tấm Lòng mà thôi!

Lạy Chúa, chúng con thật yếu đuối, “điều con muốn thì con không làm, điều con không muốn thì con lại làm” (x. Rm 7:19). Thật trớ trêu thay! Nhưng Ngài vẫn không chấp, vẫn sẵn sàng tha thứ tất cả, tha thứ vô điều kiện, chỉ vì Tình Yêu Ngài dành cho con luôn trọn vẹn, trước sau như một. Có nhiều lúc con cô đơn và thất vọng ê chề, xin Ngài thương độ trì, vì con xác tín “Ngài là Đấng đã gọi con, Ngài đang ở với con, Ngài không để con cô đơn một mình” (Ga 8:29) và “xin thêm đức tin cho con” (Lc 17:5). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Mùa Xuân về, Mùa Chay đến
Bốn mùa Chúa đổ Hồng Ân
Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi
(Tv 65:12)
Mùa Xuân là mùa đẹp nhất trong bốn mùa, cả về màu sắc và thời tiết. Mùa Xuân không nóng bức và hanh khô như mùa Hạ, không se lạnh và bâng khuâng như mùa Thu, không băng giá và buồn bã như mùa Đông. Trái ngược với các mùa khác, mùa Xuân ấm áp, màu sắc tươi đẹp, ngàn hoa khoe sắc, cây cối đâm chồi nảy lộc, mọi vật sinh động, đất trời bừng sáng, mùa chim chóc làm tổ, mùa đôi lứa xây tổ uyên ương,... Do đó, mùa Xuân còn được mệnh danh là Mùa Yêu Thương, Mùa Đoàn Tụ, Mùa Hạnh Phúc.
Với người Công giáo, mùa Xuân còn là mùa Chay. Thế gian có BỐN mùa, Kitô hữu chúng ta có CHÍN mùa – bốn mùa của đất trời và năm mùa phụng vụ (mùa Chay, mùa Phục Sinh, mùa Vọng, mùa Giáng Sinh, và mùa Thường Niên). Độc đáo quá!
Ai cũng mong chờ Mùa Xuân, và ai cũng chộn rộn vui mừng khi đón Xuân về, lúc chào Tết đến. Với tâm tình phấn khởi đó, NS Minh Kỳ (*) đã sáng tác nhạc phẩm “Xuân Đã Về” rất phổ biến từ hơn nửa thế kỷ qua. Ca khúc này được viết ở nhịp 2/4, âm thể Ré Trưởng (D), với tiết tấu đơn giản nhưng vẫn tạo được nét độc đáo.
NS Minh Kỳ chứng tỏ Mùa Xuân thực sự đã về tràn ngập trên quê hương Việt Nam: “Xuân đã về, Xuân đã về, kìa bao ánh Xuân về tràn lan mênh mông”. Không chỉ đơn giản vậy, ông dẫn chứng thêm rất cụ thể: “Trên cánh đồng, chim hót mừng, đang thướt tha từng đàn tung bay vui say”.
Và còn nữa, ông so sánh ngàn hoa nở tươi thắm như những đôi môi cười rạng rỡ: “Xuân đã về, Xuân đã về, ngàn hoa hé môi cười vui đón gió mới”. Nghệ sĩ có khác, nhìn thấy cái mà người ta không thấy, cách so sánh rất hay và tượng hình. Đúng là Xuân đã về thật, thế nên chúng ta cũng hãy mau ca vang để mừng Xuân mới: “Xuân đã về, Xuân đã về, ta hát vang lên câu ca mừng chào Xuân”.
Xuân về có khác. Tất cả như được thay da đổi thịt, người và vật đều tươi mới: “Nhìn trời bao la xinh tươi bao cô gái đẹp cười trông xinh như hoa, lập lòe tà áo xanh xanh chen bông tím vàng đẹp hơn tiên nga, và bầy em bé rúc rích, khúc khích tiếng cười rủ nhau vui ca, từng đàn chim non xinh xinh tung bay khắp trời cùng ríu rít ca”. Xuân tuyệt vời thật, Tết vui ơi là vui! Thảo nào người ta vẫn ví von: “Vui như Tết”.
Ngày xưa, người ta không chỉ ca hát để mừng Xuân mà còn có tiếng pháo vang rền suốt mấy ngày Tết, hầu như nhà nào cũng đốt pháo, chí ít cũng là một bánh pháo (tràng pháo ngắn khoảng 40 cm) để mừng Xuân: “Một bài ca đón chào mừng hòa theo tiếng pháo đì đùng, mừng Xuân nay đã về rồi và Đông đã vừa qua”. Tiếng pháo khiến lòng người rạo rực, có buồn thế nào cũng cảm thấy vui lây. Mừng lắm, nam phụ lão ấu đều vui hớn hở, chỗ nào cũng nghe người ta nói nói cười cười râm ran như pháo nổ: “Ngập trời bao tiếng chào mừng, nàng Xuân duyên dáng về rồi, về gieo bao thắm tươi vui, lòng ta thấy yêu đời”. Nhà giàu còn đốt pháo khi hết Tết, gọi là “đốt tết”.
Mùa Xuân khiến người ta vui hơn, tin tưởng hơn, yêu đời hơn, thông cảm cho nhau hơn, thương mến nhau hơn. Đôi khi Xuân có vẻ đến sớm, nhưng không bao giờ đến muộn. Xuân về rồi, Tết đến rồi, hãy vui ca và chúc mừng nhau những điều tốt đẹp nhất, người ơi!
Xuân đã về, và Chúa Xuân đã đến qua việc Ngài nhập thế và nhập thể làm người để cứu độ nhân loại, khởi đầu từ Belem – và sẽ dẫn tới Gôngôtha. Mùa Xuân vừa về thì mùa Chay cũng chợt đến. Đón Xuân, ăn Tết, vui mừng tưng bừng, nhưng người Công giáo vẫn không được quên việc sám hối để khả dĩ hưởng nhờ Lòng Chúa Thương Xót mà được cứu độ, được trường sinh bất tử, được làm công dân Nước Trời, và mãi mãi được hưởng Mùa Xuân Vĩnh Cửu là Thiên Đàng. Mùa Chay đến có vẻ u buồn trong sắc Tím, nhưng vẫn tràn trề niềm hy vọng: Hy vọng được hưởng Ơn Cứu Độ.
Chúng ta cùng nhau “hát dâng Chúa những bài thánh vịnh, thánh thithánh ca do Thần Khí linh hứng” (Cl 3:16) để tôn vinh Thiên Chúa, và cũng là để mừng Xuân vui Tết bằng đức tin. Nhưng chúng ta vẫn phải tin cậy vào Ngài, vì Đức Kitô đã nói: Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Dù có tội lỗi đến đâu cũng đừng quên điều quan trọng này: “Hãy tin vào Thiên Chúa!” (Mc 11:22; Ga 14:1).
Thật vậy, đừng tự mãn vì mình là “chiên ngoan”, nhưng cũng đừng mặc cảm tội lỗi mà tuyệt vọng, vì “dù tội đỏ như son cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều cũng hoá trắng như bông” (Is 1:18). Máu và Nước của Chúa Giêsu sẽ tẩy sạch tất cả, chỉ với điều kiện duy nhất: Sám hối chân thành.
Chúc Mừng Năm Mới an khang, thịnh vượng, hạnh phúc, tấn tài, tấn lộc, và chúc Mùa Chay thánh đức trong niềm tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”.
TRẦM THIÊN THU
Mùa Xuân và Mùa Chay – 2015
______________________________
(*) Minh Kỳ (1930-1975) tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, gốc Huế, sinh tại Nha Trang, Khánh Hòa. Theo gia phả hoàng tộc triều Nguyễn, Minh Kỳ là cháu 5 đời của Vua Minh Mạng. Năm 1959, ông vào định cư tại Saigon. Tại đây ông cùng với Anh Bằng, Lê Dinh lập nên nhóm Lê-Minh-Bằng (Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng). Thời đó ông là đại uý cảnh sát, sau 30-4-1975, ông bị bắt đi cải tạo và bị chết oan vì lựu đạn vào khuya ngày 31-8-1975.
Ông có một số ca khúc tiêu biểu: Bao Giờ Em Lấy Chồng (viết chung với NS Hoài Linh), Biệt Động Quân, Biệt Kinh Kỳ (viết chung với NS Hoài Linh), Chuyến Tàu Hoàng Hôn (viết chung với NS Hoài Linh), Chuyện Hai Người (viết chung với NS Hoài Linh), Chỉ Có Một Người, Đừng Quên Nhau (viết chung với NS Mạnh Phát), Mưa Trên Phố Huế (phổ thơ Tôn Nữ Thụy Khương), Mưa Buồn (viết chung với NS Hoài Linh), Mây Trắng Biên Thùy (viết chung với NS Y Vân), Năm Cụm Núi Quê Hương, Người Em Vỹ Dạ, Lá Rụng Hoàng Hôn, Lời Mẹ Tôi, Sầu Tím Thiệp Hồng (viết chung với NS Hoài Linh), Từ Giã Kinh Kỳ, Thương Về Xứ Huế,…
Thưởng thức ca khúc Xuân Đã Về: http://www.youtube.com/watch?v=g__aPkF0nsg

 

Trái tim của Mẹ

Khi bạn nhìn vào cuộc đời mình, bạn sẽ thấy hạnh phúc lớn nhất là hạnh phúc gia đình (Dr. Joyce Brothers).
Có ít nhất nửa mét tuyết vào buổi sáng mùa Xuân. Anh chị em tôi cùng ngồi trên băng ghế, xem phim hoạt hình. Mẹ thúc giục chúng tôi đứng dậy và lấy áo ấm mặc vào. Chúng tôi cằn nhằn một chút, không biết có như máy kéo của Ba bị hư không và chúng tôi không thể cày xới tiếp, nghĩa là chúng tôi phải lấy xẻng cào tuyết cả hai con đường. Mẹ quả quyết với chúng tôi là máy kéo của Ba không bị hư. Những gì chúng tôi phải làm là đi theo Mẹ.
Ra tới cánh đồng, Mẹ nói chúng tôi đi hàng một phía sau Mẹ. Tôi không biết có gì khác thường hay không. Nhưng chúng tôi nhận ra khi nhìn lại những dấu vết chúng tôi để lại trên tuyết, đó là chúng tôi đang tạo nên một hình trái tim giữa cánh đồng. Trước đây tôi đã thấy nhiều hình trái tim. Tôi đã thấy những trái tim lấp lánh đỏ hoặc hồng, những trái tim vẽ bằng bút chì màu, những trái tim phác họa,… Tôi đã được bao quanh bằng những trái tim vào một buổi chiều ở trường học. Nhưng việc tạo được một trái tim lớn trên cánh đồng tuyết đã khiến tôi ngạc nhiên vì chưa từng thấy bao giờ.
Chúng tôi về nhà thu gom những chai đổ đầy nước pha màu đỏ. Chúng tôi đổ nước đỏ vào những dấu hình trái tim của chúng tôi, và tuyết biến thành đỏ. Dù mũi chúng tôi tê cóng, chân tay lạnh buốt, chúng tôi vẫn về nhà lấy nước màu đỏ đem ra đổ vào hình trái tim trên tuyết. Khi hình trái tim đỏ hết, hợp với những cánh hoa uất kim hương (tulips) trong vườn hoa mùa xuân của Mẹ, chúng tôi chất lên xe và Ba lái chúng tôi xuôi xuống đường phía dưới.
Dù chỉ mất vài phút là đến đó, nhưng hình như con đường vẫn dài hơn, không biết chúng tôi có thể nhận ra trái tim đó từ xa hay không, không biết chúng tôi làm vậy có gây ấn tượng với những người nhìn thấy hay không. Chúng tôi rướn người tới, muốn ngắm nhìn hình trái tim hồng trên tuyết. Thật vậy, trái tim chúng tôi ở đó, không đối xứng chính xác nhưng dù sao cũng vẫn có một trái tim. Chúng tôi vui mừng ngắm nhìn “công trình” mà chúng tôi đã cùng nhau tạo ra trước khi về nhà.

Ít là đã 12 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ ngày hôm đó. Trái tim mà chúng tôi đã tạo ra trên cánh đồng tuyết hôm đó không khác trái tim của Mẹ: rộng lớn, duy nhất và đại lượng. Cảm ơn Mẹ!

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ Chicken Soup for the Soul: Thanks Mom)

 

Thời giờ đã gần đến !

Mùa Chay về. Tiếp theo là Tuần Thánh và mùa Phục Sinh. Đây là Mùa Hồng Ân, là Mùa Cứu Độ. Bạn đã xưng tội chưa? Có vẻ như không thể mùa Chay nào cũng trọn vẹn nếu không xưng tội. Nhiều nơi thường xuyên có giải tội, nhất là vào mùa Chay. Xưng tội và rước lễ trong mùa Chay cũng là giáo luật: “Xưng tội trong một năm ít là một lần” và “rước Mình Thánh Chúa mùa Phục Sinh”.

Kinh thánh xác định: “Dù tội đỏ như son cũng ra trắng như tuyết, dù như vải điều thẫm cũng hoá trắng như bông” (Is 1:18).

Có nhiều lý do khiến người ta trì hoãn hoặc từ chối xưng tội. Có lẽ đây là vài lý do phổ biến:

1. Tôi không cần xưng tội. Thật vậy không? Chắc chắn là nói dối, vì “ai cũng phạm tội” (x. Rm 5:12), như người ta thường nói: “Nhân vô thập toàn”. Mới sinh ra người ta đã có tội nên mới cần rửa tội. Hằng ngày, mỗi khi dâng lễ, ai cũng thú nhận: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”, và rồi tiếp tục “xin Chúa thường xót chúng con” 3 lần và “lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con” 2 lần nữa. Chúa không muốn chúng ta “nói nhỏ” với riêng Ngài mà muốn chúng ta công khai thú tội: “Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát. Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực” (Gc 5:16). Công khai thú tội để được công chính hóa: Lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực. Như vậy xưng thú tội lỗi là điều cần thiết, vì đó là một phần không thể thiếu trong đời sống của người Kitô giáo.

2. Tôi ngại vì bỏ xưng tội lâu rồi. Đừng quên lời thánh Phaolô: “Ở đâu nhiều tội lỗi thì ở đó nhiều ân sủng” (Rm 5:20). Hãy cầu nguyện bằng kinh Ăn Năn Tội để có thể cảm nghiệm được Hồng Ân Chúa dành cho chúng ta. Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định: “Con Người đến để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18:11), và Ngài nhấn mạnh: “Cha của anh chị em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18:14). Có lẽ chúng ta chưa đủ tin nên mới thấy ngại. Tuy nhiên, đừng coi xưng tội chỉ là một nghi thức, vấn đề là thành tâm. Nghĩa là tội lỗi chúng ta có được Thiên Chúa tha thứ hay không là do chúng ta, vì “nhờ đức tin mà được cứu” (x. Mt 9:22; Mc 5:34; Mc 10:52; Lc 7:50; Lc 8:48; Lc 17:18; Lc 18:42) và “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Rm 1:17). Biết vậy rồi thì đừng ngại gì hết!

3. Tôi không có thời gian và không thuận tiện. Người muốn thì tìm ra phương tiện, người không muốn thì tìm ra lý do. Đó là loại triết lý dễ hiểu. Chúa Giêsu thiết lập chức linh mục để hối nhân có thể dễ dàng giao hòa với Thiên Chúa, đồng thời cũng để chúng ta có Chúa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28:20). Có những xứ có linh mục giải tội hàng ngày trước hoặc sau giờ phụng vụ, có những nhà dòng giải tội cả sáng và chiều các ngày trong tuần. Như vậy, nếu không tiện giờ này thì xưng tội giờ khác, không tiện ở nơi này thì xưng tội ở nơi khác. Có nhiều nơi để chọn lựa, đừng viện cớ mà biện hộ cho sự lười biếng của mình. Chúa luôn mong chờ tội nhân ăn năn sám hối, vì Ngài sẵn sàng bỏ 99 con chiên ngoan mà đi tìm 1 con chiên lạc (x. Mt 18:12-14; Lc 15: 4-7). Chúng ta có thời gian rảnh rỗi hoặc làm những thứ khác, sao lại không có thời gian giao hòa với Thiên Chúa?

4. Tôi không có tội trọng nên không cần xưng tội. Có những vị thánh xưng tội hằng ngày. Đã đành chỉ phải xưng những tội trọng, nhưng đó là “”điều kiện ắt có và đủ”. Đối với những tâm hồn đạo hạnh, tội nhẹ cũng khiến người ta cảm thấy “xa cách” Thiên Chúa. Tội trọng là những tội “nặng ký” thì dễ hiểu và dễ thấy, nhưng nhiều tội nhẹ cũng có thể làm tăng trọng lượng. Hãy tưởng tượng tội nhẹ như trái bong bóng hoặc nắm bông, một vài trái bóng hoặc một vài nắm bông không thấm vào đâu, nhưng nhiều trái bóng hoặc nhiều nắm bông có thể làm thay đổi trọng lượng rất rõ. Một bên là 1kg sắt và một bên là 1kg bông, có người có thể nghĩ ngay là sắt nặng hơn, nhưng thực sự hai bên bằng nhau vì đều là 1kg. Không thể nói hết thần học về tội lỗi, nhưng có những thứ tội “nổi cộm” như làm tổn thương người khác, tự dễ dãi với mình với những tư tưởng xấu, xem phim ảnh “đen”, bỏ lễ Chúa nhật, kiêu ngạo, tự ái thái quá, lạm dụng Thánh Danh Chúa, từ chối bác ái với người nghèo,… Nhiều thứ trong số đó có thể là tội trọng hoặc biến thành tội trọng. Tục ngữ cổ nói: Nemo judex in sua causa (không ai là thẩm phán trong vụ án của chính mình). Chúng ta thường không thấy cái đà trong mắt mình mà lại thấy cái rác trong mắt người (x. Mt 7:3-5; Lc 6:41-42). Ca dao Việt Nam cũng có câu:

Chân mình còn lấm bê bê
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người

Thật là nhiêu khê! Nhưng đừng lấy cớ “tôi không có tội trọng” mà thoái thác. Xưng tội thường xuyên (hàng tuần hay hàng tháng) là động thái khiêm nhường, đem lại lợi ích cho chúng ta là nhận lãnh thêm hồng ân và tránh được dịp tội trong tương lai.

4. Tôi không biết xưng tội gì. Ngày nay, đây là vấn đề phổ biến, vì việc đào tạo luân lý trong văn hóa của chúng ta, thậm chí cả những người Công giáo, không được chú trọng và có vẻ mơ hồ. Vả lại, ngày nay người ta muốn loại bỏ Chúa ra khỏi cuộ đời mình nên không còn cảm giác tội lỗi. Nếu thẳng thắn và nghiêm túc xét mình thì chúng ta sẽ thấy mình phạm nhiều tội hằng ngày. Vì không xét mình rõ ràng nên mới cảm thấy “không có tội gì để xưng”. Cơ bản là xét mình theo Mười Điều Răn và Sáu Điều Răn Hội Thánh, nếu cần thì dùng Kinh thánh – chẳng hạn đoạn Kinh thánh này:

Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: Đó là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam, mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng. Chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống trên những kẻ không vâng phục. Chính anh em xưa kia cũng ăn ở như thế, khi anh em còn sống giữa những người ấy. Nhưng nay, cả anh em nữa, hãy từ bỏ tất cả những cái đó: nào là giận dữ, nóng nảy, độc ác, nào là thoá mạ, ăn nói thô tục. Anh em đừng nói dối nhau, vì anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá, để được ơn thông hiểu. Vậy không còn phải phân biệt Hy Lạp hay Do Thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người. Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: Đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân. Ước chi lời Đức Kitô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan. Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng. Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha (Cl 3:5-17).

Chắc hẳn chúng ta không thấy “thoải mái” khi đọc những đoạn Kinh thánh như vậy, do đó mà cảm thấy… ngại xưng  tội! Chúa Giêsu nói: “Ai phạm tội là làm nô lệ cho tội” (Ga 8:34). Không ai muốn mình làm nô lệ cho người khác, huống chi là làm nô lệ cho tội lỗi!

Vậy hãy quyết tâm dành thời gian đi xưng tội, càng sớm càng tốt. Hãy quyết tâm sống mùa Chay theo lời thánh Phaolô: Chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người. Quả thật, Chúa nói: “Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ”. Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ (2 Cr 5:20-21 & 6:2).

Đến với Bí tích Hòa giải là đến với Tình Yêu của Thiên Chúa, đến ản náu trong Thánh Tâm Chúa Giêsu, được tắm gội trong Nguồn Hồng Ân của Lòng Chúa Thương Xót. Đừng chần chừ, đừng lần lữa, vì “thời giờ đã gần đến!” (Kh 1:3 & 22:10). Nếu chúng ta “hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, Chúa sẽ mửa chúng ta ra khỏi miệng Ngài” (x. Kh 3:16).

TRẦM THIÊN THU
Saigon – Mùa Chay 2012

Củng cố đức tin Công giáo

Đa số chúng ta thi thoảng có một chút động lực tâm linh vào một thời điểm nào đó. Điều đó vẫn xảy ra. Bất cứ tháng nào hoặc năm nào cũng là thời điểm tốt để mở rộng chân trời theo cách hình thành và củng cố đức tin Công giáo. Là người Công giáo, chúng ta có nhiều cơ hội để thực hiện. Đây là 7 cách khả thi:

1. CHẦU THÁNH THỂ
Hãy đi chầu Thánh Thể, chung hoặc riêng. Có lần một phụ nữ trẻ nói rằng cô thường xuyên chầu Thánh Thể vì cô “cần tình yêu của Chúa” và “cần ở bên Chúa”. Cô nói rằng vì Chúa Giêsu đã chết trên Thánh Giá để cứu độ chúng ta, cô tin cô có thể “an ủi” Ngài bằng việc chầu Thánh Thể để cảm nghiệm tình yêu của Ngài. Còn tặng phẩm nào quý giá hơn dành cho Chúa Giêsu hơn là dành thời gian để thờ lạy Đấng Cứu Thế?

2. THAM DỰ PHỤNG VỤ
Hãy tham dự các giờ phụng vụ. Thiên Chúa trao ban cho chúng ta các tặng phẩm. Hãy chia sẻ các tặng phẩm này cho người khác để phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân. Đó là cách tuyệt vời để chứng tỏ giá trị của chúng ta. Các giáo xứ và dòng tu là nơi thuận lợi để nuôi dưỡng lòng đạo đức, chúng ta có thể chia sẻ với các cộng đoàn và cả thế giới.

3. LẦN CHUỖI MAI CÔI
Hãy lần chuỗi Mai Côi. Trong Tông huấn “Rosarium Virginis Mariae” (Chuỗi Mai Côi Dâng Kính Đức Maria), Thánh GH Gioan Phaolô II nói: “Với chuỗi Mai Côi, các Kitô hữu được học ở Trường Học Đức Maria, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của khuôn mặt Đức Kitô, và cảm nghiệm được tình yêu sâu xa của Ngài”. Ngày nay, thông tin về Kinh Mai Côi có nhiều ở các sách và website, chúng ta có thể dễ dàng tìm hiểu cách lần chuỗi Mai Côi với các mầu nhiệm Vui, Thương, Sáng, Mừng. Đó là con đường đẹp dẫn tới Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta.

4. GIÚP ĐỠ NGƯỜI NGHÈO
Hãy giúp đỡ người nghèo. Chúng ta được mời gọi nhìn vào khuôn mặt của Đức Kitô nơi tha nhân, nhất là ở những người nghèo khổ. Đồng thời chúng ta cũng được mời gọi để cho Ánh Sáng của Đức Kitô chiếu soi chúng ta. Tình nguyện giúp người nghèo và vui vẻ trao tặng những gì mình có thể để giúp đỡ họ là cách tuyệt vời để hoàn tất cả hai lời mời gọi. Cầu nguyện cho người khác và cầu nguyện cho các linh hồn cũng là cách tốt để cầu phúc lành cho tha nhân – còn sống và đã qua đời.

5. LÃNH NHẬN BÍ TÍCH HÒA GIẢI
Hãy lãnh nhận Bí tích Hòa giải. Mặc dù nhiều người cảm thấy “ngại” với bí tích này, nhưng hãy nhớ rằng đây là Bí tích của Lòng Chúa Thương Xót. Lãnh nhận Bí tích Hòa giải là một phúc lành. Đó là cách mạnh mẽ để cầu xin ơn tha thứ của Thiên Chúa và để đón nhận Lòng Thương Xót của Ngài. Đó là một lời mời gọi canh tân.

6. THAM DỰ TĨNH TÂM
Hãy tham dự các dịp tĩnh tâm. Các Kitô hữu, các tu sĩ, các chủng sinh, các giáo sĩ, ai cũng có thể phong phú hóa đức tin của mình bằng nhiều cách. Chúng ta có thể tái hâm nóng lòng say mê Lời Chúa và tình yêu dành cho Chúa Giêsu. Chúng ta cũng có thể gợi hứng bằng cách tạo các phương pháp mời về cầu nguyện, chúc tụng và phục vụ Chúa. Tình bạn và tình đồng đạo cũng có thể làm tăng lòng yêu mến Chúa bằng nhiều cách kỳ lạ.

7. ĐỌC và SUY NIỆM LỜI CHÚA
Hãy dành thời gian đọc và suy niệm Lời Chúa. Thánh Phaolô cho biết: “Hãy đội mũ chiến là Ơn Cứu Độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là Lời Chúa” (Ep 6:17). Nếu chúng ta muốn hiểu các giáo huấn của Chúa và để Lời Chúa hướng dẫn chúng ta, hãy dành thời gian tìm hiểu Kinh Thánh, điều này sẽ giúp chúng ta hoàn tất mục đích. Nhờ khám phá đức tin theo cách mới – tức là Tân Phúc Âm hóa, chúng ta khả dĩ tìm thấy nhiều kho tàng. Sự linh hứng, sự bình an tinh thần, sự khôn ngoan, lòng trắc ẩn, tình bằng hữu và tình yêu cứu độ của Chúa Giêsu có thể được phát hiện trên hành trình. Nếu chúng ta muốn canh tân đức tin bằng mọi cơ hội, hành trình đức tin Công giáo của chúng ta có thể được tái sinh bằng nhiều cách lạ mà chúng ta chưa hề biết.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

 

Tấm lòng

Triết gia Pascal nói: “Con người là cây sậy có lý trí”. Một cách diễn tả dung dị dễ hiểu. Điều đó mặc nhiên rằng con người là sinh vật bất túc, bất trác và bất toàn, với một số phận mong manh không khác đóa phù dung. Và vì thế, con người cứ miệt mài ngày đêm đi tìm Chân-Thiện-Mỹ theo lệnh truyền của Thiên Chúa: “Hãy hoàn thiện như Cha trên trời” (Mt 5:48). Nghĩa là phải chiến đấu và vươn lên không ngừng, với khát khao tìm về cái gọi là “nhân chi sơ tính bổn thiện” sau những ngày (có thể) sa chân lầm lạc hoặc lỡ để bàn tay nhúng chàm.

Con người yếu đuối nên dễ “nhiễm” cái xấu hơn cái tốt, nhưng hẳn là khôn hơn khi chưa vấp ngã. Phêrô, một ngư ông chất phác, được Chúa Giêsu chọn làm Tông đồ, và dù đã “thẳng thừng” chối Thầy mình, ông vẫn được Ngài cất nhắc lên làm Giáo hoàng tiên khởi, làm “hoa tiêu” đưa Con thuyền Giáo hội vượt qua ngàn trùng sóng gió, vì chính ông đã có kinh nghiệm bản thân. Vấn đề không phải là tốt hay xấu, giỏi hay dốt, mà là biết thành tâm sám hối, biết sửa sai và phục thiện, để sống tốt hơn và lợi ích cho tha nhân.

Thật vậy, đời người là một chu-kỳ-ăn-năn không ngừng. Hết lỗi lầm này đến sai lầm khác. Rồi ăn năn. Rồi tái phạm. Và rồi lại hối hận… Vậy đó, hứa nhiều mà chẳng giữ được bao nhiêu. Càng nhiều tuổi càng “nói dối” nhiều: Ai càng sống lâu càng xưng tội nhiều lần mà vẫn chưa chừa được! Chúng ta chỉ là những kẻ nói dối Chúa! Ai cũng quyết lên án nhưng rồi không ai dám ném đá người-phụ-nữ-bị-bắt-quả-tang-phạm-tội-ngoại-tình (x. Ga 8:2-11), thế nên họ đều lần lượt bỏ đi, người lớn tuổi đi trước, kẻ nhỏ tuổi đi sau, vì không ai thấy mình sạch tội. Vâng, đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán!

Nói vậy không có nghĩa là không cần hoàn hảo vì không thể hoàn hảo. Vẫn phải cố gắng tìm sự hoàn hảo: Hoàn hảo ngay trong cái chưa hoàn hảo. Nếu tưởng mình hoàn hảo tức là chưa hoàn hảo. Thật vậy, “ai tưởng mình là gì mà kỳ thực không là gì hết, đó là lừa gạt chính mình” (Gl 6:2-3). Những người theo chủ-nghĩa-hoàn-hảo, gọi là cầu toàn, luôn làm ra vẻ hoàn hảo để mong được tiếng khen, dễ nóng giận với chính mình và luôn chê trách hoặc ghen ghét người khác. Thực ra đó chỉ là cách che giấu cái bất toàn của mình.

Quả thật, con người quá yếu đuối và luôn đầy tham vọng. Nhưng không vì thế mà ỷ lại hoặc cố chấp, biên hộ cho những gì mình làm. Ngược lại, phải tự biết chấp nhận mức độ hữu hạn của mình để luôn biết làm việc tận tụy bằng tất cả tâm lực mà không đòi hỏi gì thái quá nơi người khác. Đức Giêsu đã nói: “Ai trung thành trong việc nhỏ sẽ trung thành trong việc lớn” (Lc 19:12-27). Hãy tự giành cho mình những việc khó và dành cho người khác những việc dễ, nhưng không hề miễn cưỡng hoặc tỏ vẻ khó chịu.

Mùa Chay là thời gian cần thiết để suy gẫm, tĩnh tâm, vì đời người như một cỗ máy, thi thoảng vẫn cần được tu sửa – dù tiểu tu, trung tu hoặc đại tu. Mùa Chay cũng là dịp “nhìn lại” số km mình đã đi qua để biết phải cố gắng thêm ít hay nhiều, như máy móc phải châm thêm hoặc thay dầu nhớt, chứ không thể tự mãn. Ăn chay phải gắn liền với cầu nguyện, vì “bao lâu ta chưa thôi cầu nguyện là dấu chắc chắn Chúa đang thương” (Thánh Augustinô). Cầu nguyện là mãnh lực khả dĩ chiến thắng tất cả!

Ăn chay song song với tịnh tâm. Không nhất thiết phải làm điều gì vĩ đại mà chỉ cần “chấn chỉnh” hoặc “cởi bỏ” một thói xấu hoặc một động thái nào đó… Thiết tưởng đó mới là cách “trở về” hữu ích và đẹp lòng Chúa. Có thể là hy sinh không đi chơi, bớt hoặc bỏ hút thuốc, giảm uống cà-phê, bớt uống rượu, thôi cờ bạc, ít tán gẫu, không xét đoán, chăm học hơn, quan tâm nhau hơn, sống hòa đồng hơn, nghiêm túc hơn,… Đó chính là những Vị Ngọt làm cho ly-cà-phê-không-đường đời mình thêm đậm đà hương vị, để không chỉ cho riêng mình “thưởng thức” mà còn cho cả những người xung quanh cùng “nếm thử”. Và còn mãi dư vị làm sảng khoái…

Trở về là hành-trình-vui nếu biết trở về với cả tấm lòng sau những năm tháng hoang đàng. Thiên Chúa luôn nhân hậu và đại lượng vẫn từng giây mong chờ tội nhân trở về nương náu Tình Yêu Thiên Chúa. Dù tội lỗi đến đâu, dù thất vọng nhưng đừng tuyệt vọng, Thiên Chúa vẫn nhân hậu vô cùng, chỉ cần chúng ta biết thành tâm sám hối, vì chính Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Josefa Menendez (1890–1923, Dòng Thánh Tâm): “Sự khốn nạn của con lôi cuốn Cha”. Thật là may mắn và hạnh phúc cho mỗi người chúng ta có một Vị Thiên Chúa từ bi ngoài sức tưởng tượng của loài người!

Tình Yêu Chúa là thế, yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu đến giọt máu và giọt nước cuối cùng, vì vậy mức độ yêu Chúa của chúng ta phải theo cách thức của Thánh Bernard: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Con người với nhau rất cần một tấm lòng thì với Thiên Chúa, Ngài cũng chỉ cần chúng ta dành trọn cho Ngài một Tấm Lòng mà thôi!

Lạy Chúa, chúng con thật yếu đuối, “điều con muốn thì con không làm, điều con không muốn thì con lại làm” (x. Rm 7:19). Thật trớ trêu thay! Nhưng Ngài vẫn không chấp, vẫn sẵn sàng tha thứ tất cả, tha thứ vô điều kiện chỉ vì Tình Yêu Ngài dành cho con luôn trọn vẹn, trước sau như một. Có nhiều lúc con cô đơn và thất vọng ê chề, xin Ngài thương độ trì, vì con xác tín “Ngài là Đấng đã gọi con, Ngài đang ở với con, Ngài không để con cô đơn một mình” (Ga 8:29) và “xin thêm đức tin cho con” (Lc 17:5). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Ngẫu tượng
Tác giả Douglas Wilson
Thờ ngẫu tượng là thần tượng, là sùng bái ai đó hoặc cái gì đó ngoài Thiên Chúa. Có lần Richard Baxter nói: “Hầu như không thể tin được bao nhiêu lần ma quỷ đã lợi dụng khi nó làm cho tội lỗi thành vấn đề tranh cãi: một số thuộc về trí óc, một số thuộc về thứ khác; bạn thuộc ý kiến này, còn tôi thuộc ý kiến kia”. Không gì rõ ràng hơn khi chúng ta tranh luận về việc dùng ảnh tượng khi cầu nguyện.
Thánh Gioan cảnh báo hãy xa tránh ngẫu tượng, vì có thể các Kitô hữu không muốn làm vậy: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, hãy tránh xa các tà thần!” (1 Ga 5:21). Chúng ta nên phân biệt những kiểu thờ ngẫu tượng. Với tôi, tôi hiểu thờ ngẫu tượng là đặt một thụ tạo vào chỗ mà chỉ có Thiên Chúa  mới xứng đáng. Điều này xảy ra khi chúng ta dùng hình ảnh trong khi cầu nguyện, nhưng không dính líu tới ảnh tượng. Thờ ngẫu tượng khác hơn thế.
1. Ngẫu tượng vô hình. “Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam; mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng” (Cl 3:5)Thờ ngẫu tượng là vậy, nghĩa là các vật mà con người ham muốn đã chiếm vị trí sùng kính trong tâm hồn thay vì Thiên Chúa. Chúng ta không nghĩ điều này chỉ xảy ra nếu con người tham lam bắt đầu sùng bái vật chất là tiền bạc, của cải,… Sự thật là việc sùng bái như vậy là thờ phượng ngẫu tượng. Bản chất tham lam của con người có thể sùng bái bất cứ thứ gì: “Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta” (Xh 20:17). Khi bạn làm vậy là bạn tôn thờ ngẫu tượng.
Rất khó phá vỡ ngẫu tượng trong lòng mình. Tâm hồn xấu xa vì bị lừa, gặp thử thách, vì sùng bái ảnh tượng quá sẽ biến thành thờ ngẫu tượng. Chúng ta dễ quên rằng ảnh tượng là vật giúp ta nhớ đến chính nhân vật nào đó. Ví dụ, ảnh tượng người quá cố không là người quá cố mà chỉ nhắc nhở chúng ta nhớ đến con người thật của người quá cố.
Sự thờ ngẩu tượng tham lam không cần hình ảnh, nhưng nó khiến người ta say mê. Một phụ nữ nhìn vào cuốn catôlô mà ham muốn cũng là đang mua sắm. Họ đang tôn thờ ngẫu tượng của họ khi khao khát chiếc áo đầm hay đôi giày thời trang nào đó. Thậm chí có những thứ mua về mà không dùng đến.
Thích nhìn hình ảnh hoặc xem phim “đen” là một dạng thờ ngẫu tượng. Sự khao khát xâm chiếm tâm hồn họ. Ngày nay, kỹ thuật và công nghệ cao, chỉ cần một cái nhấp chuột là tất cả hiện ra trên màn hình máy vi tính hoặc điện thoại di động.
Các loại thờ ngẫu tượng tương tự như vậy là có hình ảnh mà lại không có hình ảnh (vô hình). Có vô vàn dạng thờ ngẫu tượng trong cuộc sống hàng ngày mà chúng ta tưởng không là thờ ngẫu tượng!
2. Thờ ngẫu tượng khi giao tiếp với tà thần. Rõ ràng Kinh thánh dạy chúng ta rằng thờ các tà thần là thờ ngẫu tượng:“Các ngươi không được hướng về các tà thần, không được đúc tượng thần mà thờ. Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19:4). Trong ví dụ này, vấn đề không là các ảnh tượng, mà vấn đề là những gì các ảnh tượng đó miêu tả. Chính các thần không quan tâm ảnh tượng, nhưng họ khuyến khích dùng ảnh tượng. Các ảnh tượng đó miêu tả những cái sai.
Theo từ ngữ Kinh thánh, tà thần không là vật tương tự như các thần không hiện hữu. Có những thực tế tâm linh phía sau các ảnh tượng đó.
“Về việc ăn thịt cúng, chúng ta biết rằng ngẫu tượng chẳng là gì trên thế gian, và cũng chẳng có thần nào ngoài Thiên Chúa độc nhất. Thật thế, mặc dầu người ta cho là có những thần ở trên trời hay dưới đất. Quả thật, thần cũng lắm mà chúa cũng nhiều, nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta; và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà vạn vật được tạo thành, và nhờ Người mà chúng ta được hiện hữu” (1 Cr 8:4-6).
Thánh Phaolô xác định: “Đồ cúng là cúng cho ma quỷ, chứ không phải cho Thiên Chúa; mà tôi không muốn anh em hiệp thông với ma quỷ” (1 Cr 10:20). Ma quỷ không hiện hữu. Chúng là cái mà chúng muốn là. Ví dụ rõ nhất về loại này là khi thánh Phaolô gặp một cô gái tại Philippi: “Một hôm, đang khi chúng tôi đi tới nơi cầu nguyện, một đầy tớ gái đón gặp chúng tôi; cô ta bị quỷ thần ốp, và thuật bói toán của cô làm lợi nhiều cho các chủ nhân của cô” (Cv 16:16). Người Hy Lạp nói rằng cô ta bị thần mãng xà (python, theo thần thoại Hy Lạp) khiến cô ta hiến dâng cho thần Apollo. Hoặc như Kitô giáo nói là bị quỷ ám (demon-possessed).
Với sự tôn thờ ngẫu tượng như vậy, các ảnh tượng không bị loại bỏ vì chúng chính xác, nhưng vì chúng miêu tả chính xác các tà thần. Đối với người thờ ngẫu tượng, chúng chính xác vì chúng mở ra lối tới “các thực tế tâm linh” mà chúng thực sự thể hiện: “Người ta lấy gỗ làm củi: phần để sưởi, phần để nhóm lửa nướng bánh, rồi phần nữa để tạc tượng thần mà lạy, làm một ông thần mà thờ” (Is 44:15), vì thế: “Kẻ nào bám lấy Ta để được che chở, thì hãy làm lành với Ta; với Ta, nó hãy làm lành” (Tv 115:5).
3. Thờ ngẫu tượng khi tin dị đoan. Tôi không muốn mất nhiều thời gian ở đây, vì đây không là phạm trù Kinh thánh quan trọng. Nhưng giả sử ai đó tạo ra vị tiểu thần Kwaanza, hoặc dùng tượng nhỏ Hummel, một ca sĩ hoặc một diễn viên nào đó, để thể hiện “tinh thần phục hồi” hoặc điều gì đó trong khi suy niệm buổi sáng. Những thứ này không là thực tế tâm linh phía sau chúng, và chỉ là ngu xuẩn. Nhưng chúng vẫn là sự thờ ngẫu tượng – ở mức tối thiểu theo ý nghĩa đầu tiên tôi muốn nói. Dạng thần tượng âm nhạc cũng có chút liên quan thờ ngẫu tượng!
4. Thờ ngẫu tượng là thờ Thiên Chúa thật qua hình ảnh. Hãy lưu ý Aaron nói khi ông quy tụ mọi người vây quanh con bò vàng:
“Dân thấy ông Môsê lâu quá không xuống núi, bèn tụ họp bên ông Aharon và nói với ông: "Xin ông đứng lên, làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Môsê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai Cập. Ông Aharon nói với họ: "Hãy gỡ các khuyên vàng mà vợ và con trai con gái anh em đeo ở tai, rồi đem đến cho tôi. Toàn dân gỡ các khuyên vàng đeo tai và đem đến cho ông Aharon. Ông lấy vàng từ tay họ trao cho, đem đúc và dùng dao mà gọt đẽo thành một con bê. Bấy giờ họ nói: “Hỡi Ítraen, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai Cập”. Thấy vậy, ông Aharon dựng một bàn thờ trước tượng con bê, rồi hô to: “Mai có lễ kính Đức Chúa!”. Ngay hôm sau, họ dậy sớm, dâng tiến những của lễ toàn thiêu và những lễ vật kỳ an. Dân ngồi xuống ăn uống, rồi đứng lên bày trò vui chơi”  (Xh 32:1-6).
Chúng ta có thể phân biệt sự tôn thờ tà thần với các ảnh tượng thật (mục 2 ở trên), Thiên Chúa thật với các ảnh tượng sai (mục 4 ở trên). Nhưng điều này không phân biệt giữa sự thờ ngẫu tượng và sự phi thờ ngẫu tượng (idolatry and non-idolatry). Kinh thánh kết án cả hai, với cùng một cách nói. Khi dân Israel bị cấm làm các ảnh tượng, họ bị cấm làm các ảnh tượng Thiên Chúa thật cũng như những thứ khác mà họ tạo ra rồi bái lạy với danh nghĩa tà thần: “Đức Chúa phán với anh em từ trong đám lửa: anh em nghe thấy tiếng nói nhưng không thấy hình bóng nào, chỉ có tiếng thôi” (Đnl 4:12).
Chúng ta biết điều này vì khi thánh Phaolô thảo luận “sự cố” thờ bò vàng, ngài gọi đó là tôn thờ ngẫu tượng: “Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng, như một số trong nhóm họ, theo lời đã chép: Dân đã ngồi xuống để ăn uống, rồi lại đứng lên chơi đùa. Ta đừng gian dâm, như một số trong nhóm họ đã gian dâm: nội một ngày, hai mươi ba ngàn người đã ngã gục” (1 Cr 10:7-8).
Cho nên thánh Phaolô kết án dạng đó là thờ ngẫu tượng. Cái gì? Vì sự hiện diện của con bò, không vì sự hiện hữu của lời cầu khấn ngẫu tượng. Nghĩa là những người tôn thờ Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật, ở dạng ảnh tượng, cũng vẫn phạm tội thờ ngẫu tượng (guilty of idolatry).

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Dougwils.com)

Nguồn gốc Mùa Chay
Mùa Chay là thời gian đặc biệt để cầu nguyện, sám hối, hy sinh và làm việc lành để chuẩn bị mừng lễ Phục sinh. Muốn canh tân phụng vụ Giáo hội, Hiến pháp về Phụng vụ Thánh của Công đồng Vatican II nói: “Hai yếu tố là đặc tính của mùa Chay – nhớ lại Bí tích Thánh Tẩy hoặc chuẩn bị cho Bí tích này, và sám hối – nên được nhấn mạnh trong phụng vụ và giáo lý. Qua đó, Giáo hội chuẩn bị cho các tín hữu về việc cử hành lễ Phục sinh, trong khi họ lắng nghe Lời Chúa nhiều hơn và dành thời gian cầu nguyện nhiều hơn” (số 109). Chữ Lent (mùa Chay) được rút ra từ chữ Lencten trong ngôn ngữ Anglo-Saxon, nghĩa là “mùa Xuân”, và Lenctentid không chỉ có nghĩa là “mùa Xuân” mà còn có nghĩa là “tháng Ba”, vì mùa Chay thường rơi vào tháng này.
Từ thời Giáo hội sơ khai, có chứng cớ về mùa Chay để chuẩn bị lễ Phục sinh. Chẳng hạn, Thánh Irênê (qua đời năm 203) đã viết cho Thánh Giáo hoàng Victor I, nói về việc cử hành lễ Phục sinh và sự khác nhau giữa hai việc cử hành này trong Giáo hội Đông phương và Tây phương: “SỰ tranh luận không chỉ về ngày này, mà còn về đặc tính của việc ăn chay. Một số người nghĩ rằng họ nên ăn chay một ngày, một số người nghĩ nên ăn chay hai ngày, một số người khác lại nghĩ nên ăn chay nhiều ngày hơn; một số người khác lại nghĩ nên ăn chay 40 giờ cuối cùng. Sự khác nhau trong cách giữ luật như vậy đã không có nguồn gốc như ngày nay, mà rất khác trước, từ thời xa xưa” (Eusebius, Lịch sử Giáo hội, V, 24).
Khi Rufinus dịch đoạn văn này từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latin, có dấu phẩy giữa số 40 và chữ “giờ” khiến ý nghĩa hóa thành 40 ngày, mỗi ngày 24 giờ. Do đó, tầm quan trọng của đoạn văn vẫn là từ thời tổ tiên xa xưa – luôn được diễn tả là thời các tông đồ, và thời gian 40 ngày mùa Chay đã xuất hiện. Tuy nhiên, việc thực hành thực sự và thời gian mùa Chay vẫn chưa tương ứng trong cả Giáo hội.
Mùa Chay trở nên phổ biến hơn sau khi Kitô giáo được công nhận năm 313 (sau công nguyên). Công đồng Nicê (325), trong giáo luật ghi rằng hai công nghị nên được tổ chức hằng năm, “một công nghị trước 40 mùa Chay”. Thánh Athanasiô (qua đời năm 373) trong các “Lễ Thư” (Festal Letters) kêu gọi giáo đoàn ăn chay 40 ngày trước khi ăn chay nghiêm ngặt hơn trong Tuần Thánh. Thánh Cyril thành Giêrusalem (qua đời năm 386) nói trong các bài giảng giáo lý, ngày nay gọi là RCIA (Rite of Catholic Initiation for Adults, nghi thức khai tâm Công giáo cho người lớn), trong đó có 18 điều hướng dẫn trước khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội được trao cho các tân tòng trong mùa Chay. Thánh Cyril thành Alexandria (qua đời năm 444) viết trong một loạt “Lễ Thư” cũng cho biết rằng việc thực hành đó trong mùa Chay chú trọng thời gian 40 ngày ăn chay.
Cuối cùng, Thánh Giáo hoàng Leo (qua đời năm 461) đã giảng rằng các tín hữu phải “hoàn tất việc ăn chay 40 theo luật”, đồng thời chú ý nguồn gốc mùa Chay. Có thể kết luận rằng, vào cuối thế kỷ IV, thời gian 40 ngày ăn chay chuẩn bị lễ Phục sinh được coi là mùa Chay như ngày nay, cầu nguyện và ăn chay đã tạo nên các bài luyện tập tâm linh thời sơ khai.
Dĩ nhiên, con số 40 luôn có có ý nghĩa tâm linh đặc biệt quan tâm sự chuẩn bị. Trên núi Hô-rép (núi Sinai), chuẩn bị nhận Mười Điều Răn, “Môsê ở đó với Đức Chúa 40 ngày và 40 đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều” (Xh 34:28). Êlia đi bộ “40 ngày và 40 đêm lên núi Hô-rép để gặp Thiên Chúa” (1 V 19:8). Quan trọng nhất là Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện “40 ngày và 40 đêm” trong hoang địa trước khi Ngài công khai sứ vụ (Mt 4:2).
Khi 40 ngày chay được thiết lập, việc kế tiếp là quan tâm mức độ ăn chay. Chẳng hạn, tại Giêrusalem, người ta ăn chay 40 ngày, các ngày từ thứ Hai tới thứ Sáu trong tuần, nhưng không ăn chay vào thứ Bảy hoặc Chúa nhật, do đó mùa Chay kéo dài 8 tuần. Tại Rôma và Tây phương, người ta ăn chay 6 tuần, các ngày từ thứ Hai tới thứ Bảy trong tuần, do đó mùa Chay kéo dài 6 tuần. Cuối cùng, người ta ăn chay 6 ngày mỗi tuần trong 6 tuần, thứ Tư lễ Tro được thiết lập để tăng số ngày cho đủ 40 ngày trước lễ Phục sinh. Luật ăn chay có khác nhau.
Thứ nhất, một số vùng kiêng cữ các loại thịt và các sản phẩm làm từ động vật, một số vùng lại trừ các thực phẩm như cá. Chẳng hạn, Thánh Giáo hoàng Grêgôriô (qua đời năm 604), viết cho Thánh Augustine thành Canterbury, nói về quy luật này: “Chúng ta phải kiêng những đồ tươi như thịt, và các loại tươi khác như sữa, bơ và trứng”.
Thứ nhì, luật chung cho mọi người là mỗi ngày chỉ ăn một bữa, buổi tối hoặc lúc 3 giờ chiều.
Luật ăn chay trong mùa Chay cũng thay đổi. Cuối cùng, được phép ăn nhẹ trong ngày để giữ sức khỏe mà làm việc. Được phép ăn cá, và sau đó cũng được phép ăn thịt suốt tuần, trừ thứ Tư lễ Tro và thứ Sáu. Rồi được phép ăn các sản phẩm làm từ sữa, và cuối cùng luật này được hoàn toàn nới lỏng. Tuy nhiên, kiêng cữ cả các sản phẩm sữa cũng dẫn đến việc ăn trứng Phục sinh và ăn bánh kẹp vào thứ Ba béo (Gras Mardi, Shrove Tuesday), trước thứ Tư lễ Tro.
Thời gian trôi qua, luật được thay đổi dần, thế nên ngày nay việc ăn chay không chỉ đơn giản mà còn quá dễ. Thứ Tư lễ Tro vẫn là khởi điểm mùa Chay, từ đó kéo dài 40 ngày, không kể Chúa nhật. Luật ăn chay và kiêng thịt ngày nay rất đơn giản: Chỉ giữ vào thứ Tư lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh, các tín hữu ăn chay (một bữa no, hai bữa nhẹ) và kiêng thịt; còn các thứ Sáu khác trong mùa Chay chỉ phải kiêng thịt. Giáo hội khuyến khích “từ khước cái gì đó” để hy sinh trong mùa Chay. Có điều thú vị vào các Chúa nhật và lễ trọng như lễ Thánh Giuse (19 tháng Ba) và lễ Truyền Tin (25 tháng Ba), người ta “được miễn trừ” và có thể tận hưởng bất cứ thứ gì phải kiêng trong mùa Chay.
Hãy hy sinh từ khước điều gì đó vì Chúa. Làm thật lòng chứ đừng như người Pharisêu (giả hình) để được người ta “chú ý”. Hãy chú trọng hoạt động tâm linh, như tham dự đi Đàng Thánh Giá, Thánh lễ, chầu Thánh Thể, cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng, xưng tội và rước lễ. Hãy tập trung vào hoạt động mùa Chay: Sám hối, canh tân đời sống, thể hiện đức tin và chuẩn bị cử hành Mầu Nhiệm Cứu Độ.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ CatholicEducation.org)

Xây dựng lòng can đảm
Kinh Thánh đã nhiều lần động viên: “Đừng sợ!” (St 15:1; St 21:17-18; St 26:23-24; St 35:16-17; St 43:23; St 46:1-4; St 50:18-21; Xh 14:13; Đnl 31:6; Is 43:1; Gr 46:27-28; Gr 51:46; Is 41:13; Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Ga 14:27; Lc 1:13; Lc 1:30; Lc 2:10; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20; Ga 14:27; Kh 1:17-18). Điều đó có nghĩa là HÃY CAN ĐẢM. Tuy nhiên, không phải tự dưng mà có, người ta phải tập can đảm bằng cách tạo lòng can đảm dần dần.
Tự điển Webster định nghĩa: “Can đảm là khả năng làm điều gì đó mà mình biết là khó khăn hoặc nguy hiểm”. Định nghĩa đúng, nhưng hình như vẫn thiếu “chất” phấn đấu thể lý và cảm xúc thực sự cần thiết để thể hiện lòng can đảm.
Để vượt qua những lúc khó khăn, người ta phải xây dựng lòng can đảm lớn hơn nỗi sợ hãi.
NHẬN BIẾT NỖI SỢ
Cuộc sống có nhiều nỗi sợ hãi, vượt qua là điều khó. Tuy nhiên, khi có thể nhận biết mình sợ cái gì thì bạn có thể thay đổi. Không dễ để chấp nhận và xem xét lại bi kịch để cố gắng vượt qua, nhưng chấp nhận cái gì làm cho bạn sợ hãi là bước đầu tiên để vượt qua mọi nghịch cảnh, gọi là “vượt qua chính mình”.
NÓI VỀ NỖI SỢ
Nói về nỗi sợ hãi là bước đầu tiên để xây dựng hành động – liên quan gia đình, bạn bè, kể cả chuyên gia tâm lý. Hãy phát triển kỹ thuật “khung” để giúp loại bỏ vấn đề. Hãy đối diện với thực tế, đừng né tránh. Hãy chuẩn bị các cảm xúc để “gỡ rối”, nhưng hãy nhận biết rằng khám phá cảm xúc là một phần của quá trình chữa lành.
TIN VÀO CHÍNH MÌNH
Rất cần tin vào chính mình, đó là sự tự tin. Tốt hay xấu thì vẫn là mình. Không có gì phải sợ. Nếu niềm tin của bạn lớn hơn vấn nạn, bạn sẽ xây dựng được sức mạnh cần thiết để đối mặt với các nỗi sợ hãi.
CHẤP NHẬN CÁI TỐT và CÁI XẤU
Hãy can đảm chấp nhận cả cái tốt và cái xấu, đừng bao giờ để nỗi sầu khổ “đè bẹp” bạn. Hãy nhớ rằng cái tốt và cái xấu là một phần của cuộc sống, chúng luôn cùng nhau xuất hiện. Nhận biết cái tổng thể đó để có thể chấp nhận thực tế, chấp nhận rồi bạn sẽ tách mình ra khỏi nỗi sợ hãi. Tục ngữ nói: “Cái khó ló cái khôn”. Gặp KHÓ mà không sợ thì sẽ KHÔN. Khó và Khôn đều âm “khờ”, nhưng vẫn “ca hát”. Việt ngữ “khéo” thật!
Cuộc sống đời thường và tâm linh đều cần lòng can đảm. Chúa Giêsu đã khuyến khích: “Can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian!” (Ga 16:33). Thánh Phaolô cũng đã từng khuyến khích người ta can đảm (Cv 27:21-25).
TRẦM THIÊN THU

Sức mạnh của sự lạc quan
“Sự lạc quan là niềm tin dẫn tới thành công. Không gì có thể hoàn tất nếu không có hy vọng và tự tin” (Helen Keller).
Thái độ của bạn đối với thế giới dựa vào cách bạn phản ứng khi bạn bị đối xử tệ. Bạn có thể cảm thấy đó là tốt hoặc xấu. Khi bạn cho là tốt, bạn có khả năng lạc quan và có thể làm cho cuộc sống tốt hơn và lạc quan hơn.
TRÁNH XA KẺ XẤU
Cuộc đời luôn có những điều tiêu cực và những kẻ tiêu cực. Họ là những người luôn tìm cách bới bèo ra bọ, thấy đâu cũng có cái sai, họ luôn rình rập người khác. Muốn sống lạc quan, hãy tránh xa kẻ xấu và làm bạn với người tốt. Càng có bạn tốt thì càng có thể sống tốt: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Chọn bạn mà chơi là vậy!
TÌM KIẾM GIÁ TRỊ
Đôi khi cần động lực tốt để theo hướng mới. Văn hóa đọc ngày nay phổ biến trên internet, nhưng phải có khả năng phân biệt cái tốt và cái xấu, kẻo mà thay vì có lợi thì lại có hại. Văn là người, cách viết của tác giả thể hiện tính cách của họ. Cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Một lời bất cẩn có thể nhóm lên xung đột, một lời tàn nhẫn có thể phá hỏng một cuộc đời, một lời đúng lúc có thể xua đi căng thẳng, nhưng một lời yêu thương có thể chữa lành và chúc phúc.
DUY TRÌ LÒNG BIẾT ƠN
Cách tốt để sống lạc quan là duy trì lòng biết ơn. Ai cũng mắc nợ người khác, cách này hoặc cách khác, trực tiếp hoặc gián tiếp. Đi ăn tiệm, đừng nghĩ bạn có tiền là sòng phẳng. Không. Bạn vẫn mắc nợ người ta. Món nợ mà chắc chắn ai mắc là “tình yêu thương” – đơn giản là tình người, tình đồng loại. Món nợ này trả cả đời cũng không hết. Đừng bao giờ tỏ ra vô ơn bội nghĩa!
GIÚP ĐỠ NGƯỜI KHÁC
Giúp đỡ người khác là củng cố lòng tự tin, có sự tự tin thì có thể sống lạc quan. Càng tạo mối quan hệ yêu thương với người khác, bạn càng biết quên mình và làm điều tốt cho người khác, và càng dễ thành công. Có nhiều thứ để “cho đi”, đừng “giới hạn” trong nghĩa vật chất. Đôi khi cho vật chất chưa chắc tốt hơn cho tinh thần. Luôn có điều kỳ diệu giữa lòng vị tha và và lòng từ thiện, nhờ đó mà không còn tiêu cực và bi quan.
CỨ LÀ CHÍNH MÌNH
Đa nghi và yếm thế có liên quan lẫn nhau làm cho người ta cảm thấy đau khổ và bất hạnh. Tập trung vào những điều tích cực để có thể tự tin, không ai đào tạo mình  bằng mình tự đào tạo mình. Hãy cố gắng loại bỏ các ý nghĩ tiêu cực, đừng để các tư tưởng xấu làm độc hại tinh thần. Hãy tự khó với chính mình, điều này có vẻ đơn giản nhưng khó lắm. Hãy là chính mình chứ đừng biến mình thành “bản sao” của người khác!
TRẦM THIÊN THU

NHÁT
Chúa Giêsu đã từng động viên: “Can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian!” (Ga 16:33). Đó là Ngài bảo chúng ta “đừng hèn nhát”, đừng “chết yểu” vì nhát đảm trước khi chết thật.

John Adams (1735-1826 – luật sư, chính khách, nhà ngoại giao, nhà lý luận chính trị và tổng thống thứ nhì của Hoa Kỳ) đã xác định: “Nguồn gốc thực sự của đau khổ là sự nhút nhát của chúng ta”.

Làm phàm nhân, ai cũng có những lần nhút nhát vì các lý do khác nhau. Nhút nhát vì bẽn lẽn, vì ngần ngại, vì mắc cỡ, như vậy không đến nỗi nào. Nhưng nhút nhát vì hèn yếu, vì tiểu tâm, vì run sợ, đó là nhát đảm, là chết khiếp, như vậy là tồi tệ. Nói chung, dù nhút nhát hoặc hèn nhát đều do thiếu lòng tự tin, thừa nỗi sợ hãi.

Tuy nhiên, sợ hãi và hèn nhát có sự khác nhau. Mahatma Gandhi (1869-1948, anh hùng dân tộc Ấn Độ) phân tích: “Nỗi sợ hãi có công dụng, nhưng sự hèn nhát thì không”. Người sợ hãi có thể không đáng trách, nhưng kẻ hèn nhát thì đáng trách. Kẻ hèn nhát cho mình là thận trọng, còn người bủn xỉn gọi mình là tiết kiệm. Đó là tự biện hộ!

Theo luật hàng hải và hàng không, khi gặp “sự cố”, thuyền trưởng hoặc phi công phải là người cuối cùng rời bỏ con tàu hoặc máy bay (tàu bay). Người ta có câu: “Khi đắm tàu, những con chuột nhắt bỏ chạy trước tiên”. Đó là người ta muốn nói đến những kẻ nhát đảm, chứ mấy khi có chuột trên tàu! Kẻ hèn nhát được ví như con chuột nhắt chứ không là chuột to hoặc chuột bình thường.

Trình thuật Mc 4:35-41 (x. Mt 8:23-27; Lc 8:22-25) cho biết rằng, một buổi chiều nọ, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Chúng ta sang bờ bên kia đi!”. Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Ngài đi, vì Ngài đang ở sẵn trên thuyền; có những thuyền khác cùng theo Ngài. Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước. Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ đánh thức Ngài dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”. Ngài thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!”. Gió liền tắt, và biển lặng như tờ. Rồi Ngài “nhẹ nhàng” bảo các ông: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”. Các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”.

Qua đó tôi thấy “bóng dáng” của chính mình là một kẻ “chết khiếp” thực sự, nhưng tôi vẫn tưởng mình can đảm!

Các môn đệ đang ở trên con thuyền có Sư Phụ Giêsu hiện diện, thế mà các ông vẫn sợ hãi và hoảng hốt khi gặp giông tố. Đó là nhát đảm. Không chỉ vậy, họ còn trách Thầy: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”. Đúng là “suy bụng ta ra bụng người. Họ đã dám bỏ mọi sự mà đi theo Chúa Giêsu, nghĩa là họ phải tin Con Người đó. Thế nhưng bản tính nhân loại, nói đó rồi không làm, hứa đó rồi quên giữ lời, tin đó rồi lại nghi ngờ. Do đó, Chúa Giêsu đã trách họ: “Sao nhát thế? Làm sao anh em vẫn chưa có lòng tin?”.

Thật lạ khi họ tỏ ra ngớ ngẩn và hỏi nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”. Rõ ràng họ tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu thế, nên họ mới dám đi theo. Thế nhưng niềm tin ấy chợt “bay hơi” hết trơn hết trọi, niềm tin ấy tưởng mạnh mẽ mà yếu xìu.

Và tôi cũng đã từng nhiều lần như vậy. Hằng ngày, tôi thấy mình “ngon” lắm, chả ngán gì ráo trọi. Tôi cứ là tôi, tôi quyết là chính mình, không xu nịnh, không phe cánh, luôn thẳng thắn, thật thà, thấy sao nói vậy. Ấy thế mà khi gặp nghịch cảnh, cảm thấy trước mặt mình là ngõ cụt, niềm tin của tôi biến mất, tan rã mau như đá cục gặp nhiệt độ cao. Tôi hóa kẻ nhát đảm mà tôi cứ tưởng mình can đảm. Quay hẳn 180 độ. Tồi tệ thật!
Đức tin quan trọng lắm. Nhưng đức tin vô hình nên rất cần thể hiện bằng hành động: “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:17 và 26). Đức tin cần thiết, thực sự cần thiết, nhưng phải đủ mạnh mới khả dĩ vượt qua mọi thứ. Gian khó càng nhiều thì đức tin phải càng vững vàng, nếu không thì sẽ chết khiếp!

Thánh Phaolô nói: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám” (Dt 11:1-2). Đức tin không là thứ gì đó xa xỉ hoặc khó tìm thấy, đức tin là điều bình thường nhưng kỳ diệu. Cũng thấy một sự kiện như nhau, có người không tin, có người phân vân, có người thêm đức tin.

Thánh Phaolô giải thích: Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông I-xa-ác và ông Gia-cóp là những người đồng thừa kế cũng một lời hứa, vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng. Nhờ đức tin, cả bà Xa-ra vốn hiếm muộn, cũng đã có thể thụ thai và sinh con nối dòng vào lúc tuổi đã cao, vì bà tin rằng Đấng đã hứa là Đấng trung tín. Vì thế, do một người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được. Tất cả các ngài đã chết, lúc vẫn còn tin như vậy, mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đã thấy và đón chào các điều ấy, cùng xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất. Những người nói như vậy cho thấy là họ đang đi tìm một quê hương. Và nếu quả thật họ còn nhớ tới quê hương mình đã bỏ ra đi, thì họ vẫn có cơ hội trở về. Nhưng thực ra các ngài mong ước một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời. Bởi vậy, Thiên Chúa đã không hổ thẹn để cho các ngài gọi mình là Thiên Chúa của các ngài, vì Người đã chuẩn bị một thành cho các ngài. Nhờ đức tin, khi bị thử thách, ông Áp-ra-ham đã hiến tế I-xa-ác; dù đã nhận được lời hứa, ông vẫn hiến tế người con một. Về người con này, Thiên Chúa đã phán bảo: Chính do I-xa-ác mà sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi. Quả thật, ông Áp-ra-ham nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy. Rốt cuộc, ông đã nhận lại người con ấy như là một biểu tượng” (Dt 11:8-19).

Vâng, đức tin rất cần thiết. Các môn đệ xưa đã cầu xin Sư Phụ Giêsu: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17:5). Và Ngài xác định: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (Lc 17:6).

Lạy Thiên Chúa của con, con xin tin và luôn cố gắng tín thác vào Ngài, nhất là trong những lúc con nguy khốn nhất. Con không xin Ngài làm phép lạ cho con khỏi đau khổ, nhưng con xin Ngài tiếp tục đồng hành với con trong mọi hoàn cảnh. Con xin Ngài vác con trên vai khi con phải chống chọi với nghịch cảnh. Xin ban Chúa Thánh Thần để con can đảm chứ không nhát đảm mọi nơi và mọi lúc. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ của con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Duy trì Niềm Hy Vọng
Cuộc đời luôn biến đổi, con người cũng thay đổi với thất tình và lục dục. Tất nhiên, ai cũng có những lúc buồn sầu, ngỡ như mình đi đến ngõ cụt. Khi đó, chúng ta rất cần được nâng đỡ. Đây là một số câu Kinh Thánh khả dĩ giúp chúng ta vượt qua nỗi buồn để tiếp tục sống, tiếp tục duy trì niềm hy vọng trong mọi hoàn cảnh.
Quả thật, “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105). Cuối cùng, chúng ta chỉ có Ngài mà thôi!
Khi đau khổ: Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an (Mt 5:5).
Khi nghi ngờ: Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi (Cn 3:5-6).
Khi an vui: Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an (2 Cr 1:3).
Khi mệt mỏi: Phàm là tay đua thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đấm vào không khí. Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại (1 Cr 9:25-27).
Khi yếu đuối: Tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh (2 Cr 12:10).
Khi gặp rắc rối: Cho dù con gặp bước ngặt nghèo, Chúa vẫn bảo toàn mạng sống con. Địch thù đang hằm hằm giận dữ, Ngài ra tay chận đứng, lấy tay uy quyền giải thoát con (Tv 138:7).
Khi cô đơn: Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đừng sợ, đừng run khiếp trước mặt chúng, vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi với anh em; Người sẽ không để mặc, không bỏ rơi anh em (Đnl 31:6).
Khi thất bại: Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, họ sẽ tiến đến Sion giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất (Is 51:11).
Khi thất vọng: Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong, khỏi vũng lầy nhơ nhớp, đặt chân tôi đứng trên tảng đá, làm cho tôi bước đi vững vàng (Tv 40:2-3).
Khi lo sợ: Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời (Tv 121:7-8); Đừng sợ hãi: có Ta ở với ngươi. Đừng nhớn nhác: Ta là Thiên Chúa của ngươi. Ta cho ngươi vững mạnh, Ta lại còn trợ giúp với tay hữu toàn thắng của Ta (Is 41:10).
Khi hàm oan: Mọi khí cụ được chế ra nhằm chống lại ngươi đều chẳng lợi hại gì; bất cứ ai uốn lưỡi tố cáo ngươi, ngươi sẽ đem ra kết tội. Đó là phần sản nghiệp của những tôi trung Đức Chúa, đó là sự công chính Ta dành sẵn cho những người này (Is 54:17).
Khi bị ghét: Khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta (Rm 5:6-8).
Khi thiếu bản lĩnh: Chớ gì đừng có ai coi thường anh vì anh còn trẻ. Trái lại, anh hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về cách cư xử, về đức ái, đức tin và lòng trong sạch (1 Tm 4:12); Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo (1 Ga 4:18).
Khi trống vắng: Xin kính dâng Đấng có quyền phép gìn giữ anh em khỏi sa ngã và cho anh em đứng vững, tinh tuyền, trước vinh quang của Người, trong niềm hoan lạc, xin kính dâng Thiên Chúa duy nhất, Đấng Cứu Độ chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, kính dâng Người vinh quang, oai phong, sức mạnh và quyền năng, trước mọi thời, bây giờ và cho đến muôn đời! (Gđ 1:24-25).
TRẦM THIÊN THU


Ăn năn
Ăn chay là một dạng ăn kiêng, nhưng ăn chay luôn liên quan ăn năn. Chắc hẳn không ai lại không biết ăn năn là gì. Vả lại, vì “nhân vô thập toàn”, ai cũng có kinh nghiệm tội lỗi, thế nên ai cũng đã trải nghiệm việc ăn năn.
Vì CÓ TỘI nên phải ĂN NĂN, nhờ ăn năn mà được THA THỨ, được tha thứ vì được THƯƠNG XÓT, được thương xót thì phải BIẾT ƠN.
Ăn năn là hối cải, sám hối, hối hận về tội lỗi của mình, là sự thay đổi trong tư tưởng và hành động nhằm chỉnh sửa sự sai trái để được tha thứ, chúng ta gọi đó là “cải tà quy chánh” – nghĩa là từ bỏ đường xấu mà quay về đường ngay thẳng, tốt lành. Theo nội hàm Kitô giáo, tình trạng hối cải là sự thú tội với Thiên Chúa, từ bỏ tội lỗi, quyết tâm chừa cải và cố gắng sống tốt, phù hợp với Luật Chúa và Luật Giáo Hội.
Mỗi chúng ta đều là tội nhân, đều mang “vóc dáng” của người thu thuế: “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót tôi là kẻ có tội” (Lc 18:13). Vấn đề không chỉ là đấm ngực, than van, mà phải thành tâm sám hối. Tất nhiên, chúng ta cũng phải coi chừng chính mình, đừng như người Pharisêu, kiêu hãnh vỗ ngực xưng tên, không đấm ngực mình mà lại dám đấm ngực người.
Chữ “ăn năn” trong Việt ngữ có ý nghĩa sâu xa. Ăn năn là cảm thấy ray rứt, bị giày vò vì lỗi lầm đã mắc phải. Cha Đắc Lộ giải thích: “Năn: thứ cỏ đắng; Ăn năn: ăn thứ cỏ đắng, theo lối nói ẩn dụ để chỉ sự thống hối” [1]. Chữ phải có nghĩa, ngôn ngữ thật là thâm thúy!
Nói đến từ ngữ “ăn năn” khiến chúng ta liên tưởng cụm từ “kết cỏ ngậm vành”. Tác giả J.B. Tavernier giải thích: “Nhưng nếu là trường hợp một kẻ có tội muốn xin tha tội đã phạm, người ta đưa kẻ phạm tội đến trước mặt người sẽ nghe kẻ đó xin tha tội và kẻ phạm tội phải ngậm ở miệng một nắm cỏ, nghĩa là do lối sống lệch lạc và cách ăn ở xấu xa của mình, kẻ phạm tội đã trở nên giống súc vật” [2].
Cách nói “kết cỏ ngậm vành” là dịch từ thành ngữ tiếng Hán: “Kết thảo hàm hoàn”. Thành ngữ này có nguồn gốc từ hai điển tích:
1. Điển tích “kết cỏ”: Đời nhà Tần có Ngụy Vũ Tử (có sách ghi là Ngụy Thù hoặc Ngụy Hùng) rất yêu quý người vợ lẽ. Khi hấp hối, ông dặn con trai là Ngụy Khoả hãy chôn người vợ lẽ yêu dấu theo cùng với mình, theo tục lệ cổ truyền của nước Tần. Ngụy Khoả thấy tội nghiệp nên không đành lòng làm vậy. Sau khi cha chết, Ngụy Khoả cho vợ lẽ của cha đi lấy chồng khác. Có người hỏi: “Tại sao không làm theo lời cha trăn trối?”. Ngụy Khỏa đáp: “Hiếu tử nên nghe theo lời trị mệnh chứ không nên nghe theo lời loạn mệnh” (tức là nên theo lời nói của người tỉnh táo, không nên theo lời nói của người mê sảng).
Về sau, Nguỵ Khoả lĩnh mệnh vua đi đánh giặc, trong lúc đang giao đấu gần kiệt sức, sắp thua tướng giặc nhà Tần là Đỗ Hồi, tài ba lỗi lạc, vũ dũng vô địch. Thế nhưng Ngụy Khoả bỗng thấy Đỗ Hồi bị ngã vì vướng cỏ. Ngụy Khoả xông tới đâm chết Đỗ Hồi. Đêm về, Ngụy Khoả nằm chiêm bao thấy có một ông già râu tóc bạc phơ, tay cầm gậy trúc, đến cầm tay mình và ân cần nói: “Cảm ơn tướng quân vì đã không theo di huấn của cha mà chôn sống con gái tôi, thế nên sáng nay tôi đã kết cỏ làm vướng chân ngựa, khiến giặc ngã ngựa, giúp tướng quân thắng trận. Xin tướng quân ghi nhận tấm lòng biết ơn của cha con tôi”. Nói xong, cụ già vụt biến mất. Ngụy Khỏa giật mình tỉnh giấc, nhớ lại chuyện cũ, biết cụ già chính là cha của nàng hầu trẻ đẹp trước kia của cha mình.
2. Điển tích “ngậm vành”: Đời nhà Hán có Dương Bảo mới chín tuổi. Khi đi chơi ở phía Bắc núi Hoa Âm (có sách ghi là Hạp Âm), Dương Bảo thấy một con chim sẻ vàng bị con chim cắt cắn gần chết. Dương Bảo đuổi chim cắt đi, đem sẻ về nhà nuôi gần 100 ngày thì chim sẻ khoẻ lại, rồi thả cho bay đi về đàn. Đêm ấy, Dương Bảo nằm mộng, thấy một một con chim bay đến, miệng ngậm bốn vòng bạch ngọc. Dương Bảo chưa kịp hiểu sự tình thì bỗng con chim cùng bốn vòng bạch ngọc biến thành một đứa trẻ mặc áo vàng, tiến đến bái tạ và nói: “Ta là sứ giả của Tây Vương Mẫu, giữa đường gặp nạn, trước đã nhờ người ra tay cứu vớt, nên nay đến đền ơn người đây. Xin tặng ông bốn vòng bạch ngọc. Đấy là biểu tượng cho sự vinh hiển mà ông và các con cháu bốn đời sẽ đạt được”. Quả thật, về sau con của Dương Bảo là Dương Chấn, cháu là Dương Bỉnh, chắt là Dương Tứ và chít là Dương Bưu đều được vinh hiển, có người lên đến chức Tam Công.
Thành ngữ “kết cỏ ngậm vành” thường được dùng như một lời nguyền đền ơn đáp nghĩa. Khi làm ơn cho người khác thì chẳng ai mong được họ trả ơn, thậm chí người ta còn nói: “Cứu vật, vật trả ơn; cứu người, người trả oán”. Tuy nhiên, chuyện xưa tích cũ vẫn có giá trị giáo huấn cách sống đẹp cho con người ngày nay: Biết thương người, biết giúp người, biết tri ân người. Tục ngữ nói: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Trong “Đoạn Trường Tân Thanh” (Truyện Kiều), cụ Nguyễn Du cũng có câu thơ nói về ý nghĩa này:
Dám nhờ cốt nhục tử sinh
Còn nhiều kết cỏ, ngậm vành về sau
Danh họa Léonardo Da Vinci (người Ý, đồng thời cũng là điêu khắc gia và thi sĩ nổi tiếng) quan niệm: “Ăn chay là đạo đức của con người. Ăn chay sẽ tránh được tội ác”. Bác học Albert Einstein là người yêu chuộng hòa bình, tôn trọng sự sống của muôn loài, và đã nhận định: “Không gì ích lợi cho sức khỏe của con người để có cơ hội sống lâu trên quả địa cầu này bằng cách ăn chay”.
Ăn chay có lợi cho sức khỏe thể lý, ngừa bệnh và trị bệnh. Ăn chay còn có lợi cho tinh thần, cho tâm linh. Dù vô tội, Chúa Giêsu vẫn “ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày” (Mt 4:2). Vậy thì chúng ta không thể không ăn chay, vì tất cả chúng ta đều là tội nhân. Tuy nhiên, chúng ta phải kín đáo chứ đừng phô trương (Mt 6:1-18), nếu không thì chỉ vô ích. Ma quỷ sẽ “bó tay” nếu chúng ta ăn chay và cầu nguyện (Mt 17:21).
Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài (Tv 51:3-6).
TRẦM THIÊN THU
[1] Alexandre de Rhodes, TỪ ĐIỂN ANNAM - LUSITAN - LATINH (TỪ ĐIỂN VIỆT - BỒ - LA), Roma, 1651. Phiên dịch: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1991, P.I, tr. 504: “Năn: herba quaedam amara; Ăn năn: herbam illam amaram comederem, metaphoricè dicitur poenitudine”.
[2] J.B. Tavernier, SUITE DES VOYAGES DE MGR TAVERNIER, BARON D'AUBONNE, Paris, 1680, phần IV, tr. 22: “Mais s'il y a bien pour un coupable de demander pardon de son crime, on le mène devant celuy qui le doit écouter et alas il faut qu'il ait à la bouche un bouquet d'herbe qui donne à entendre que par le déréglement de sa vie et sa mauvaise conduite, il s'étoit rendu semblable aux bestes”.


Để ăn chay hiệu quả
Hàng năm, chúng ta có Mùa Chay để noi gương Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện trong hoang địa 40 đêm ngày (Lc 4:1-2). Đây là dịp thuận tiện để chúng ta thực hành dạng hy sinh mới hoặc phong phú hóa đời sống cầu nguyện.
ĂN CHAY NGÀY THỨ SÁU
Mỗi năm, Giáo Hội yêu cầu chúng ta chỉ ăn chay hai ngày – Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng chúng ta có thể ăn chay nhiều hơn để có lợi cho linh hồn chúng ta, nhất là trong Mùa Chay này. Và đừng quên rằng chúng ta phải kiêng thịt vào các ngày Thứ Sáu trong Mùa Chay.
ĐI ĐÀNG THÁNH GIÁ
Đa số các giáo xứ đều đi Đàng Thánh Giá vào các ngày Thứ Sáu trong Mùa Chay, nhiều giáo xứ còn đi Đàng Thánh Giá mỗi tuần vào ngày Thứ Sáu. Hãy cố gắng dành thời gian đến nhà thờ để cùng mọi người theo chân Chúa Giêsu trên 14 chặng đau khổ của Ngài.
VIẾNG THÁNH THỂ
Hãy dành thời gian cầu nguyện trước Thánh Thể, đó là điều làm vui lòng Chúa Giêsu, Đấng cứu độ chúng ta. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng, các môn đệ vẫn “vô tư”, Chúa Giêsu nói với họ: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:40-41). Viếng Thánh Thể còn quen gọi là “làm giờ thánh”.
THỰC HÀNH BÁC ÁI
Hãy thực hành bác ái cụ thể bằng cách hy sinh sự thoải mái riêng để trao tặng quần áo, dụng cụ, tiền bạc,... cho những người còn phải sống khó khăn hơn mình. Bạn cũng có thể dành thời gian đi làm từ thiện, thăm viếng bệnh nhân và người già để an ủi và cảm thông nỗi khổ với họ. Mùa Chay là thời Thiên Chúa thi ân, là ngày Thiên Chúa cứu độ (2 Cr 6:2).
SUY NIỆM PHÚC ÂM
Hãy cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho bạn hiểu đúng và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Hãy dành thời gian cầu nguyện và suy niệm khi đọc Phúc Âm nói về cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu.
GƯƠNG THÁNH NHÂN
Các thánh là những anh hùng đức tin. Họ cũng là những người sống bình thường như chúng ta, nhưng họ đã thực hành nhân đức một cách phi thường. Họ có thể giúp chúng ta hành động can trường như họ. Trong Mùa Chay, hãy noi gương vị thánh nào mà bạn yêu mến và cố gắng sống như vị thánh đó. Hãy xin vị thánh đó nguyện giúp cầu thay cho bạn.
VÀO SA MẠC
Vào sa mạc là sống trong “khoảng lặng” của tâm hồn ngay giữa cuộc sống ồn ào náo nhiệt này. Hãy giảm bớt các hoạt động vô bổ hoặc chưa thực sự cần thiết. Hãy tắt ti-vi, máy vi tính, điện thoại,… Chỉ sử dụng chúng khi thực sự cần thiết. Hãy tận hưởng sự thinh lặng, hãy dành thời gian sống cho người khác, đặc biệt là hãy dành thời gian gặp gỡ Chúa, vì chúng ta chỉ có thể gặp Ngài nơi “sa mạc tâm hồn” mà thôi: “Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt 6:6).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)


Kinh Thánh và án tử hình
Kinh Thánh có thực sự đề cập án tử đối với nhiều dạng vi phạm? CÓ và KHÔNG.
Tác giả David Reagan nói: “Rất nhiều người tin rằng Chúa Giêsu chống lại án tử. Theo cách nhìn của cả người đề xuất và người phản đối về án tử, trường hợp này đã khép lại. Chúa Giêsu chống lại án tử hình. Nhưng tôi phản đối. Các thần học gia cũng vẫn sai như thường. Chúa Giêsu đã được tái tạo bởi thế giới hiện đại qua danh nhân Mahatma Gandhi, Mẹ Teresa và Tiny Tim, những người có thể đã không thấy Chúa Giêsu được phác họa rõ ràng trong Kinh Thánh. Chúng ta hãy xem lại hồ sơ”.
Kinh Thánh đã liệt kê nhiều loại tội với khung hình phạt là án tử hình:
– Tội giết người: “Ai đánh chết người thì phải bị giết chết” (Xh 21:12).
– Tội bất hiếu: “Ai đánh cha hoặc mẹ thì phải bị giết chết. Kẻ nào nguyền rủa cha hoặc mẹ thì phải bị giết chết” (Xh 21:15 và 17).
– Tội bắt cóc tống tiền: “Ai bắt cóc người, dù đã bán đi hay còn giữ trong tay thì phải bị giết chết” (Xh 21:16).
– Tội thú tính: “Kẻ giao hợp với thú vật phải bị tử hình” (Xh 22:18); “Khi người đàn ông nào giao hợp với con vật thì phải bị xử tử, và các ngươi sẽ giết con vật. Khi người đàn bà nào đến gần bất cứ con vật nào để giao cấu với nó thì (các) ngươi phải giết người đàn bà và con vật; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng” (Lv 20:15-16).
– Tội ngoại tình: “Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử” (Lv 20:10); “Nếu một người đàn ông bị bắt gặp đang nằm với một người đàn bà có chồng thì cả hai sẽ phải chết: người đàn ông đã nằm với người đàn bà, và cả người đàn bà” (Đnl 22:22).
– Tội thông dâm: “Khi một cô gái còn trinh đã đính hôn với một người đàn ông, mà một người đàn ông khác gặp cô trong thành và nằm với cô thì anh em sẽ lôi cả hai ra cửa thành ấy và ném đá, và chúng sẽ phải chết: cô gái, vì lý do ở trong thành mà đã không kêu cứu, và người đàn ông, vì lý do đã cưỡng bức vợ người đồng loại. Anh em phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh em” (Đnl 22:23-24).
– Tội hiếp dâm: “Nhưng nếu người đàn ông gặp ở ngoài đồng cô gái đã đính hôn, bắt lấy nàng và nằm với nàng, thì chỉ một mình người đàn ông đã nằm với nàng sẽ phải chết; còn cô gái thì anh em đừng làm gì nàng, nàng không có tội đáng chết. Trường hợp cũng như một người xông vào người đồng loại để giết người ấy: vì người đàn ông kia đã gặp cô ngoài đồng; cô gái đính hôn đã kêu mà không ai cứu” (Đnl 22:25-27).
– Tội loạn luân: “Khi người đàn ông nào nằm với vợ của cha mình, thì đã lột trần chỗ kín của cha mình; cả hai phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng. Khi người đàn ông nào nằm với con dâu mình, thì cả hai phải bị xử tử; chúng đã làm điều quái đản, máu chúng đổ xuống đầu chúng” (Lv 20:11-12); “Khi người đàn ông nào lấy cả con gái lẫn mẹ thì đó là tội ác tày trời; người ta sẽ bỏ nó và hai người đàn bà vào lửa mà thiêu, để không còn tội ác tày trời giữa các ngươi” (Lv 20:14).
– Tội đồng tính luyến ái: “Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà thì cả hai đã làm điều ghê tởm; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng” (Lv 20:13).
– Tội tiên tri giả: “Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ hay một kẻ chuyên nghề chiêm bao và nó báo trước cho anh em một dấu lạ hay một điềm thiêng, nếu dấu lạ hay điềm thiêng nó đã nói xảy ra, và nó bảo: ‘Chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác’, những thần mà anh em không biết thì anh em đừng nghe những lời của ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không. Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải theo; chính Người là Đấng anh em phải kính sợ; anh em phải giữ các mệnh lệnh của Người, phải nghe tiếng Người; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em phải gắn bó với Người. Ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy sẽ bị xử tử, vì nó đã hô hào nổi loạn chống Đức Chúa” (Đnl 13:2-6).
– Tội vu khống và đàng điếm: “Khi một người đàn ông lấy vợ và ăn nằm với nàng, rồi ghét bỏ nàng, vu khống và bôi xấu danh dự nàng mà nói: ‘Tôi đã lấy người đàn bà này, đã gần gũi với cô ấy và không thấy dấu nào chứng tỏ cô ấy còn trinh’, cha mẹ cô gái sẽ lấy những dấu chứng tỏ cô gái còn trinh và đưa ra cửa thành cho các kỳ mục thành ấy. Người cha cô gái sẽ nói với các kỳ mục: ‘Tôi đã gả con gái cho người đàn ông này, nhưng anh ta ghét bỏ nó; bây giờ anh ta vu khống nó và nói: Tôi không thấy những dấu chứng tỏ con gái ông còn trinh. Vậy đây là những dấu chứng tỏ con gái tôi còn trinh’. Họ sẽ mở chiếc áo choàng ra trước mặt các kỳ mục trong thành. Các kỳ mục trong thành sẽ bắt người chồng và sửa phạt: họ sẽ bắt người ấy nộp phạt một trăm thỏi bạc, và sẽ trao số bạc đó cho người cha cô gái, vì người ấy đã bôi xấu danh dự của một trinh nữ Ít-ra-en. Nàng sẽ là vợ người ấy và suốt đời người ấy không thể rẫy nàng. Nhưng nếu điều đó có thật, nếu người ta không tìm thấy nơi cô gái những dấu chứng tỏ cô còn trinh, họ sẽ lôi cô gái ra cửa nhà cha nàng; người trong thành của nàng sẽ ném đá nàng cho chết và nàng sẽ phải chết, vì nàng đã làm điều đồi bại trong Ít-ra-en, khi làm điếm trong nhà cha mình” (Đnl 22:13-21). Ở đây cũng hiểu là dạng hoạt động mại dâm.
Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn tỏ lòng thương xót khi án tử được áp dụng. Đa-vít phạm tội ngoại tình và giết người (2 Sm 11:1-5, 14-17), nhưng Thiên Chúa không kết án tử (2 Sm 12:13). Cuối cùng, mọi tội lỗi chúng ta phạm đều đáng chịu án tử vì “lương bổng của tội lỗi là cái chết” (Rm 6:23). Tạ ơn Thiên Chúa, Ngài luôn tỏ lòng thương xót đối với chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân (Rm 5:8).
Có vấn đề gì đối với hành động của Chúa Giêsu?
Khi người Pharisêu dẫn một phụ nữ phạm tội ngoại tình đến gặp Chúa Giêsu, họ lý luận rằng chị ta phải bị ném đá đến chết theo luật Môsê, Ngài im lặng và cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất, vì Ngài biết lòng lang dạ thú của nhóm Pharisêu. Nhưng họ cứ hỏi mãi, Ngài ôn tồn: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8:7). Và rồi chẳng ai dám động tay vào hòn đá, họ lặng lẽ lần lượt rút lui, già đi trước, trẻ theo sau. Ở đây, Chúa Giêsu muốn lột trần thói giả hình của nhóm Pharisêu. Họ chỉ muốn gài bẫy để thấy Ngài phá bỏ Luật Cựu Ước, chứ họ thực sự không quan tâm việc ném đá nữ tội nhân kia.
Thiên Chúa không phản đối án tử đối với người phạm tội ác: “Ai đổ máu con người thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 9:6). Nhưng Thiên Chúa luôn nhân từ và giàu lòng thương xót. Khi chỉ còn lại mình nữ tội nhân ngoại tình khép nép đứng đó, Chúa Giêsu ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?”. Chị nhỏ nhẹ đáp: “Thưa ông, không có ai cả”. Chúa Giêsu cười và nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:1-11).
Thánh Phaolô nói về trật tự xã hội được thể hiện qua thế quyền: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt. Thật thế, làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi, vì chính quyền là người thừa hành của Thiên Chúa để giúp bạn làm điều thiện. Nhưng nếu bạn làm điều ác thì hãy sợ, vì họ mang gươm không phải không có lý do. Thật vậy, họ là người thừa hành của Thiên Chúa để giáng cơn thịnh nộ của Người xuống kẻ làm điều ác. Vì lẽ đó, cần thiết phải phục tùng, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm. Đó cũng là lý do khiến anh em nộp thuế: nhân viên thu thuế là những người phục vụ Thiên Chúa, khi chu toàn phận sự. Anh em nợ ai cái gì thì hãy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính” (Rm 13:1-7). Người Việt có cách nói giản dị mà thâm thúy: “Ăn cây nào, rào cây ấy”. Chúa Giêsu cũng đã nói thẳng với tổng trấn Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài” (Ga 19:11).
Chúa Giêsu không làm gì ngược với luật Thiên Chúa đã truyền ban: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5:17-18). Một bộ luật có nhiều điều khoản. Chúa Giêsu không bỏ qua một điều khoản nào. Như vậy, Ngài cũng chẳng phản đối án tử, nhưng Ngài muốn thể hiện lòng thương xót khi không kết án tử.
Sau Đại Hồng Thủy thời ông Nô-ê, Thiên Chúa đã che chở con người thoát khỏi bạo lực: “Ta sẽ đòi mỗi con vật phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi; Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình. Ai đổ máu con người thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 9:5-6). Đó là tính thánh thiêng của sự sống con người, nên Cựu Ước có luật báo phục tương xứng: “Mắt đền mắt, răng đền răng” (Xh 21:24; Lv 24:20; Đnl 19:21).
Kitô hữu nghĩ gì về án tử? Trước hết, chúng ta phải nhớ rằng Thiên Chúa đã lập nên án tử. Chúng ta sẽ trở nên kiêu ngạo nếu nghĩ rằng chúng ta có thể lập nên một tiêu chuẩn cao hơn. Thiên Chúa có tiêu chuẩn cao nhất, vì Ngài hoàn hảo. Tiêu chuẩn này không chỉ áp dụng cho chúng ta mà còn cho chính Con Một Ngài: Chúa Giêsu bị người đời kết án tử, rồi Ngài đã bị đóng đinh và chết trên Thập Giá. Do đó, Ngài muốn cấp độ vô hạn, và Ngài có lòng thương xót ở cấp độ vô hạn. Thiên Chúa duy trì mức cân bằng tuyệt hảo.
Thứ hai, chúng ta phải biết rằng Thiên Chúa đã trao cho chính phủ quyền xác định khi nào cần áp dụng án tử (x. St 9:6 và Rm 13:1-7). Chúng ta nên chấp nhận án tử khi được áp dụng đối với những người phạm tội ác. Thánh Phaolô đã nói với ông Phét-tô: “Nếu quả thật tôi có tội, nếu tôi đã làm điều gì đáng chết, thì tôi không xin tha chết. Nhưng nếu những điều tố cáo của các người này là vô căn cứ, không ai có quyền nộp tôi cho họ. Tôi kháng cáo lên hoàng đế Xê-da!” (Cv 25:11).
Đừng ảo tưởng về một Giêsu nào khác. Thánh Phaolô đã cảnh báo về các thầy dạy giả và người rao giảng giả: “Nếu có ai đến rao giảng một Đức Giêsu khác với Đức Giêsu mà chúng tôi rao giảng, hay nếu anh em lãnh nhận một Thần Khí nào khác với Thần Khí anh em đã lãnh nhận, hoặc nếu anh em lãnh nhận một Tin Mừng nào khác với Tin Mừng anh em đã đón nhận, anh em sẵn lòng chịu đựng được ngay” (2 Cr 11:4). Chúng ta vẫn nên cảnh giác về các tiên tri giả ngày nay.
Tác giả Reagan kết luận: “Chúa Giêsu tin có án tử. Điều đó được Thiên Chúa thiết lập, được hệ thống hóa bởi luật pháp, được Chúa Giêsu chấp nhận và được Thánh Phaolô duy trì. Các thần học gia không có chứng cớ chống lại điều đó. Đừng hiểu về một Đức Giêsu nào khác. Mong sao chúng ta đừng bao giờ theo bất cứ một Đức Giêsu nào khác, mà chỉ trung tín với Chúa Giêsu của Kinh Thánh.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Đường Thánh Giá
Đường Thánh Giá (La ngữ: Via Crucis, Via Dolorosa; Anh ngữ: Way of The Cross, Way of Sorrows, Way of Suffer, Way of Grief) là một trong nơi thánh.
Đó là con đường mà Chúa Giêsu đã phải vác Thập Giá từ nơi Ngài bị kết án tử tới nơi Ngài bị xử tử bằng cách đóng đinh vào Thập Giá. Đó là nơi hành hương trong thành phố Giêrusalem cổ, và là con đường nổi tiếng từ thời sơ khai của Kitô giáo. Người ta muốn theo bước chân của Chúa Giêsu từ giữa thế kỷ IV. Đường Thánh Giá gồm 14 chặng: chín chặng dọc theo con đường và năm chặng ở trong Nhà Thờ Mộ (Holy Sepulchre).
Những người đầu tiên theo Chúa Giêsu đã đi theo Đường Thánh Giá và trở nên truyền thống thể hiện lòng sùng kính Chúa Giêsu qua đau khổ và cái chết của Ngài. Đường Thập Giá theo La ngữ là Via Dolorosa, nghĩa là “Đường Đau Khổ”.
Sau hàng trăm năm, Đường Thánh Giá trở nên hoạt động chính đối với khách hành hương tới Giêrusalem. Họ thăm Thánh Địa và Giêrusalem để kính viếng nơi Chúa Giêsu đã chịu đau khổ trước khi bị đóng đinh vào Thập Giá. Các du khách có thể đi Đường Thánh Giá từ xa để theo chân Chúa Giêsu, nhiều người nói đây là cách trải nghiệm khiêm nhường nhất.
Đường là Đàng, Việt ngữ gọi là Đàng Thánh Giá. Kitô giáo phát triển theo thời gian, các Kitô hữu không thể tới Thánh Địa đã làm Đàng Thánh Giá bằng đá, bằng gỗ, bằng kim loại, hoặc hình ảnh để kính nhớ Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu tại Giêrusalem xưa. Các nhà thờ Công giáo đều có 14 chặng Đàng Thánh Giá.


14 Chặng Đàng Thánh Giá
1. Chúa Giêsu bị xét xử và bị kết án tử.
2. Chúa Giêsu vác Thánh Giá.
3. Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ nhất.
4. Chúa Giêsu gặp Đức Mẹ.
5. Ông Simon Xyrênê vác Thập Giá đỡ cho Chúa Giêsu.
6. Bà Veronica lau mặt cho Chúa Giêsu.
7. Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ hai.
8. Chúa Giêsu an ủi phụ nữ thành Giêrusalem.
9. Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ ba.
10. Chúa Giêsu bị lột áo.
11. Chúa Giêsu bị đóng đinh vào Thập Giá.
12. Chúa Giêsu trút hơi thở trên Thập Giá.
13. Tháo xác Chúa Giêsu xuống khỏi Thập Giá.
14. Mai táng Chúa Giêsu trong mộ đá.
Mặc dù ngày nay thành cổ Giêrusalem nhìn khác thời Chúa Giêsu, nhưng Đàng Thánh Giá và Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu vẫn là nơi quan trọng đối với Kitô giáo. Đi Đàng Thánh Giá là cách suy niệm Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu. Qua đó, chúng ta có thể thêm lòng yêu mến Ngài, cố gắng khiêm nhường để hoàn thiện như Ngài muốn.
Thiết tưởng, rất cần ghi nhớ lời Chúa Giêsu nhắn nhủ các phụ nữ thành Giêrusalem: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Và hôm nay, Ngài cũng đang nói với chúng ta như vậy!
Mùa Chay, cơ hội tốt để sám hối và thông phần đau khổ với Chúa Giêsu, mời bạn theo chân Ngài qua video này:
Nhưng cuối cùng, Chúa Giêsu đã phục sinh. Alleluia!
TRẦM THIÊN THU

Suy niệm năm sự Thương

PHI LỘ – Năm 1917, khi hiện ra tại Fátima (Bồ Đào Nha) với ba trẻ chăn chiên – Luxia, Phanxicô và Giaxinta, Đức Mẹ đã nhắn nhủ: “Hãy lần chuỗi Mân Côi hằng ngày... Hãy cầu nguyện nhiều và dâng những hy sinh để cầu cho các tội nhân... Ta là Mẹ Mân Côi. Chỉ có Mẹ mới có thể giúp các con. ...Cuối cùng, Trái tim Vô nhiễm của Mẹ sẽ thắng!”.

Năm 2017 là dịp kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fátima, chúng ta hãy nhắc nhở nhau về ba lời khuyên của Đức Mẹ: [1] Ăn năn đền tội, [2] Tôn sùng Mẫu Tâm, [3] Siêng năng lần chuỗi Mân Côi. Đức Mẹ đã cho biết rằng mỗi lần đọc một kinh Kính Mừng là dâng cho Mẹ một đóa hồng tươi đẹp, và đọc xong một chuỗi Mân Côi là dâng cho Mẹ một triều thiên hoa hồng.

Trong tâm tình yêu mến Đức Mẹ, đặc biệt là tận hiến cho Đức Mẹ và lần chuỗi Mân Côi, chúng ta cùng tìm hiểu Năm Sự Thương. Chuỗi Mân Côi quan trọng vì là “Kinh Thánh tóm gọn”. Khi lần chuỗi Mân Côi với năm sự Thương, chúng ta thấy đời sống hằng ngày của chúng ta thêm sức mạnh để vượt qua mọi nghịch cảnh của cuộc đời, đồng thời thêm nhiều lợi ích qua việc kết hiệp với Đức Kitô và lòng sùng kính Đức Maria – Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta nhờ Đức Mẹ để đến với Đức Giêsu Kitô, qua Chúa Con để đến với Chúa Cha.

1. Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu (Mt 26:36-40). Chúng ta cầu xin ơn biết “ăn năn tội nên”. Ăn năn tội “cho nên” là sám hối thật lòng chứ không làm chiếu lệ, cho xong lần, hoặc làm theo “phong trào” (dịp lễ, tết, dịp đặc biệt,…). Tuy nhiên, ăn năn tội có hai cách: [1] Ăn năn tội cách trọn, [2] Ăn năn tội cách chẳng trọn. “Ăn năn tội cách trọn” là chân thành sám hối vì nhận biết Thiên Chúa là Đấng chí thánh mà mình đã xúc phạm đến Ngài, sám hối vì yêu mến Ngài; còn “ăn năn tội cách chẳng trọn” là sám hối vì sợ bị Chúa trừng phạt, sợ mất phần thưởng đời đời.
Ăn năn sám hối rồi thì phải quyết tâm dốc lòng chừa, quyết tâm chống lại mọi cám dỗ. Hãy khó với chính mình, đừng để “cái tôi” vùng lên kẻo sập bẫy của ba thù (xác thịt, thế gian, ma quỷ). Trong ba thù, “xác thịt” là đối thủ ở gần chúng ta nhất, vì thế mà cũng nguy hiểm nhất – nghĩa là chúng ta phải cảnh giác với nó nhiều nhất.
Thánh sử Mátthêu cho biết: Bấy giờ Đức Giêsu đi cùng với các môn đệ đến một thửa đất gọi là Ghết-sê-ma-ni. Ngài nói với các môn đệ: “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện”. Rồi Người đưa ông Phêrô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến. Bấy giờ Người nói với các ông: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy”. Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:36-39). Thánh sử Luca nói chi tiết: “Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22:44).
Khi cầu nguyện với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã tìm được sức mạnh và niềm tin, và rồi các thiên thần đã tới an ủi Ngài. Chúa Giêsu sẽ an ủi và nâng đỡ chúng ta, đồng thời Ngài cũng ân cần nói với chúng ta: “Tại sao con lại lo lắng trong những lúc khó khăn? Hãy tín thác và vững mạnh trong Thầy. Hãy hướng lên Thiên Chúa của con trong những lúc con gặp khó khăn nhất, và con sẽ chiến thắng”. Chúng ta hãy phó thác cuộc đời cho Chúa, và cứ để Ngài hành động theo Thánh Ý Ngài, như Chúa Giêsu đã cầu nguyện trong lúc “căng thẳng” nhất: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha. Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:39 và 42).

2. Chúa Giêsu chịu đánh đòn (Mt 27:26). Chúng ta cầu xin ơn biết “hãm mình, chịu khó bằng lòng”. Đó là chấp nhận sự khốn khó với niềm tín thác chứ không than thân trách phận, không tự so sánh hoàn cảnh của mình với hoàn cảnh của người khác.
Vừa tảng sáng, các thượng tế đã họp bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng. Sau đó, họ trói Đức Giêsu lại và giải đi nộp cho ông Philatô (Mc 15:1). Các thượng tế tố cáo Chúa Giêsu nhiều tội, nhưng Ngài không nói gì. Tổng trấn Philatô hỏi ý kiến đám đông, họ la to: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Mà Baraba là một tên cướp khét tiếng. Và rồi ông Philatô truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Ngài (Ga 19:1).
Chúa Giêsu im lặng khi được tra xét, Ngài cũng im lặng khi chịu đánh đòn dã man. Và Ngài dịu dàng nói với mỗi chúng ta: “Con ơi, các nhục hình họ áp dụng thật khủng khiếp, nhưng Ta vẫn có thể cam chịu vì yêu thương con, vì thương xót con. Tại sao con không thể yêu mến Ta mà chịu các nỗi đau khổ ở thế gian? Mà các nỗi đau khổ đó có đáng gì so với đau khổ mà Ta đã phải chịu đâu? Hãy chấp nhận mọi đau khổ vì yêu mến Ta, Ta không bỏ con một mình đâu, họ gây đau khổ cho con cũng là gây đau khổ cho Ta thêm nhiều lần nữa. Con oan một thì Ta oan mười. Con đau một thì Ta đau mười. Con hãy cố gắng lên!”.
William Arthur Ward (1921-1994) nói: “Cũng như thung lũng cho ngọn núi chiều cao, đau khổ tạo ý nghĩa cho lạc thú; cũng như mạch nước là nguồn của suối, nghịch cảnh sâu sắc có thể là châu báu”. Thật dễ để dùng ống tay áo lau khô những giọt lệ rơi, nhưng phải biết cách để xóa dấu nước mắt khỏi trái tim mình. Những con người đẹp nhất là những người từng bị đánh bại, từng đau khổ, từng tranh đấu, từng mất mát, và họ đã tìm được đường ra khỏi vực sâu. Họ có lòng can đảm, sự nhạy cảm và sự thấu hiểu đối với cuộc đời. Chính cuộc đời đã làm cho họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và quan tâm yêu thương sâu sắc. Người đẹp không thể tự nhiên mà có. Đau khổ có vẻ đẹp riêng của nó, chẳng vậy mà Chúa Giêsu luôn động viên chúng ta chịu đau khổ – tinh thần và thể lý.

3. Chúa Giêsu chịu đội mão gai (Mt 27:27-31). Chúng ta cầu xin ơn biết “chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng”. Cũng như chịu đau khổ, chúng ta phải biết “nuốt nó vào trong”. Khi bị người khác sỉ nhục, “cái tôi” sẽ đòi nổi dậy chống lại đối phương. Người xấu có thể tìm cách lăng nhục người khác bằng cách gieo oan giáng họa, bịa đặt, vu khống. Bị sỉ nhục oan mà có thể dằn lòng thì tốt, nhưng nếu bị sỉ nhục vì đáng bị như vậy thì không oan. Kinh Thánh nói: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường” (Cn 11:2). Coi chừng “cái tôi” là cảnh giác với tính kiêu ngạo – đầu mối các thứ xấu xa khác.
Thánh sử Mátthêu cho biết: Bấy giờ, lính của tổng trấn đem Đức Giêsu vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng: “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái!”. Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá (Mt 27:27-31).
Hãy nghĩ về sự sỉ nhục, sự xúc phạm, và nỗi đau khổ mà Chúa Giêsu đã chịu. Họ tước đoạt nhân phẩm của Ngài, chà đạp nhân vị của Ngài, coi Ngài như một tội nhân ghê gớm nhất. Ngài nhìn và nói với chúng ta: “Tại sao con thất vọng khi gặp đau khổ? Đó không là cách con yêu mến Ta sao? Con hãy suy về nỗi thống khổ của Ta và tìm kiếm sự phong phú kỳ diệu trong nỗi đau khổ đó”. Chúng ta hãy nghĩ về Chúa Giêsu chịu đau khổ vì chúng ta, và hãy cầu xin Ngài ban thêm sức mạnh để chúng ta khả dĩ chấp nhận mọi điều sỉ nhục ở đời này – cả tinh thần lẫn thể lý.
Văn sĩ Auguste Villier de l’Isle Adam (1838-1889, Pháp quốc) nhận xét: “Người nhục mạ bạn, họ chỉ nhục mạ ý tưởng của họ nghĩ về bạn, tức là họ nhục mạ chính họ!”. Như vậy, khi mình bị nhục mạ mà lại không bị, nếu mình nhịn nhục thì họ càng tức, vì sự im lặng của chúng ta như cục than hồng đặt vào họ. Thật là hay, thế thì rất đáng để thực hành noi gương Đức Giêsu Kitô: Nhịn nhục.

4. Chúa Giêsu vác Thánh Giá (Mt 27:27-32). Chúng ta cầu xin ơn vui lòng “vác Thánh Giá theo chân Chúa”. Chúa Giêsu nhiều lần bảo chúng ta phải từ bỏ mình, vì có thể từ bỏ chính mình thì mới khả dĩ theo Ngài, mà theo Ngài thì không được sung sướng, không an nhàn, không thảnh thơi, mà ngược lại, theo Ngài thì phải vác thập giá, nghĩa là luôn phải chịu thiệt thòi, luôn gặp khốn khó, xui tận mạng. Chắc chắn ai theo Ngài thì phải can đảm lắm!
Khi điệu Đức Giêsu đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simôn, gốc Kyrênê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu. Dân chúng đi theo Người đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người. Đức Giêsu quay lại phía các bà mà nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu. Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói: ‘Phúc thay đàn bà hiếm hoi, người không sinh không đẻ, kẻ không cho bú mớm!’. Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: ‘Đổ xuống chúng tôi đi!’, và với gò nống: ‘Phủ lấp chúng tôi đi!’. Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?”. Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người (Lc 23:26-32). Chúa Giêsu cũng đang nói với chúng ta những lời như vậy: “Con hãy thật lòng than khóc vì tội con chứ Ta không cần con thương khóc gì Ta đâu!”.
Mặc dù Chúa Giêsu chịu đau khổ vì chúng ta, nhưng Ngài vẫn chấp nhận gánh nặng vì thương xót chúng ta, tình yêu của Ngài hoàn toàn dành cho chúng ta vô điều kiện. Thập Giá gồm hai thanh gỗ ghép lại, nặng cả trăm ký, kéo lê đi thì sức nặng cũng còn khoảng 80 kg. Không phải dễ vác đi lên đồi cao trên con đường gồ ghề.
Trên đường từ dinh Philatô tới Đồi Sọ, Đức Maria chứng kiến nỗi đau khổ và nhục nhã mà Con Trai phải chịu. Chúng ta có thể tưởng tượng đôi mắt và khuôn mặt của Đức Mẹ thế nào? Chắc chắn Mẹ đau đớn lắm. Chúng ta hãy cầu xin Chúa thêm sức cho chúng ta đủ sức vác thập giá đời mình đến cuối đường trần, và cầu xin Đức Mẹ nâng đỡ chúng ta trên con đường thập giá trần thế này.

5. Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào Thánh Giá (Mt 27:33-35; Ga 19:31-37; Lc 23:33-46). Chúng ta cầu xin ơn biết “đóng đinh tính xác thịt vào Thánh Giá Chúa”. Tính xác thịt chính là “cái tôi”. Nó là một trong ba kẻ thù nguy hiểm nhất (xác thịt, thế gian, ma quỷ). Nhưng “tính xác thịt” nguy hiểm hơn, vì nó là chính chúng ta. Kẻ thù này ở gần nhất và dễ thấy nhất, nhưng lại là kẻ thù khó chiến thắng nhất.
Nó chỉ chết thật khi chúng ta dám “đóng đinh” nó vào Thánh Giá của Đức Giêsu Kitô. Ghim chặt được nó rồi cũng chưa an tâm, phải đợi cho nó chết thật thì chúng ta mới có thể thanh thản bước theo Thầy Chí Thánh Giêsu. Nó nhỏ mà to, bé mà sống dai. Nó chẳng là gì nhưng nó có thể làm sụp đổ mọi lâu đài mà chính chúng ta dày công xây dựng cả đời. Ghê sợ thật!
Thánh sử Gioan tường thuật: Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu: “Thưa Mẹ, đây là con của Mẹ”. Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình (Ga 19:25-27).
Chúa Giêsu nhận chúng ta là con cái của Đức Mẹ, đồng thời Ngài cũng muốn chúng ta gần gũi và thân mật với Đức Mẹ. Ngài muốn chúng ta với tư cách là con cái, chúng ta hãy nắm chặt lấy tay Đức Mẹ. Ngài cũng muốn chúng ta hãy trao phó cuộc đời mình cho Đức Mẹ, để nhờ Mẹ mà chúng ta đến với Con Yêu Dấu của Mẹ là Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta. Đức Mẹ là Đấng Vô Nhiễm và khiêm nhường, chúng ta cầu xin Mẹ giúp chúng ta chiến thắng tội lỗi nhờ ơn Vô Nhiễm của Mẹ, và cầu xin Mẹ giúp chúng ta triệt tiêu thói kiêu ngạo nhờ đức khiêm nhường của Mẹ. Được như vậy thì chúng ta chắc chắn được gần kề bên Chúa Giêsu, thanh thản nghỉ ngơi trong Thánh Tâm Ngài.
Suy niệm sự thương khó của Chúa Giêsu nhưng lòng chúng ta lại cảm thấy nhẹ nhàng chứ không trĩu nặng. Quả thật, đời sống Kitô hữu thực sự là chuỗi Mầu Nhiệm Thương kéo dài, đặc biệt trong Mùa Chay Thánh này…

TRẦM THIÊN THU


Nếu Chúa Giêsu tư vấn hôn nhân
Nếu Chúa Giêsu là nhà tư vấn hôn nhân, Ngài sẽ khuyên bạn làm gì?
1. PHỤC VỤ
Chắc hẳn Chúa Giêsu sẽ khuyên vợ chồng phải phục vụ lẫn nhau, như Thánh Phaolô nói: “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình” (Ep 5:21-28).
2. TRAO TẶNG và BIẾT ƠN
Hãy trao tặng cả con người của mình, vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35). Mối quan hệ phu thê luôn cần nhiều sự quan tâm, chăm sóc, cả tinh thần và thể lý. Một bữa ăn, một ly cà phê, một lời cảm ơn,… đó là thể hiện tình yêu dành cho nhau: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ. Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:4-6). Thánh Phaolô nói: “Ở đâu và lúc nào chúng tôi cũng đón nhận những ân huệ ấy với tất cả lòng biết ơn” (Cv 24:3).
3. YÊU THƯƠNG và THA THỨ
Yêu thương và tha thứ luôn liên quan với nhau. Có yêu thương thì mới khả dĩ tha thứ. Thánh Phaolô nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13:8-10). Thánh Phaolô phân tích: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13:4-7).
4. ĐỪNG ÍCH KỶ
Ích kỷ là tính xấu, là hoa trái không tốt lành. Chúa Giêsu muốn mọi người biết tôn trọng nhau và yêu thương nhau, huống chi là vợ chồng với nhau. Ngài biết chúng ta bất toàn, thế nên Ngài ở giữa để lấp đầy khoảng cách đó. Tuy nhiên, chúng ta có thể gieo hạt để có thể thu hoạch trong mối quan hệ phu thê. Thánh Giacôbê nói: “Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:13).
5. ĐỪNG NÓNG GIẬN
Cơn giận khiến người ta mất khôn và khiến xa cách nhau. Do đó, hãy cố gắng làm hòa trước khi đi ngủ. Nóng giận là một trong những điều do tính xác thịt gây ra (Gl 5:19-20), không nóng giận là thể hiện đức mến (1 Cr 13:5). : “Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói, và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa” (Gc 1:19-20). Không nóng giận sẽ làm cho gia đình ngập tràn niềm vui.
TRẦM THIÊN THU (Theo Beliefnet.com)

 

DongCongNet - January 16, 2018

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)