dongcong.net
 
 


Mùa Chay Năm B: Trầm Thiên Thu

LUẬT VĨNH HẰNG

(Chúa Nhật III Mùa Chay, năm B)

Văn hào Victor Marie Hugo (1802-1885, Pháp) phân biệt: “Đối với nhân dân, quyền lực duy nhất là pháp luật; đối với cá nhân, quyền lực duy nhất là lương tâm”. Còn văn thi sĩ Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832, Đức) nói: “Có hai sức mạnh mang đến sự yên ổn: pháp luật và đạo đức”. Những ý tưởng thật hay! Kinh Thánh xác định: “Chính nhân cầm quyền, dân mừng rỡ. Ác nhân cai trị, dân oán than” (Cn 29:2). Và chắc chắn chỉ có luật Chúa là tuyệt đối, được đề cập trong Tv 119 (rất dài, với 176 câu). Thật vậy, “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn” (Tv 19:8).

Trong xã hội loài người, bất cứ một quốc gia nào, một tổ chức nào, một gia đình nào, một nhóm nào, dù chỉ là một “nhóm” vài người,… cũng đều phải có luật lệ, nội quy, quy tắc, hoặc nguyên tắc để bảo đảm trật tự – ở phạm vi lớn gọi là an ninh, ở phạm vi thế giới gọi là hòa bình. Vì con người làm hư trật tự Thiên Chúa đã thiết lập nên cần phải có luật để tái lập trật tự.

Bởi vì luật có sau con người nên luật được lập ra cốt để phục vụ con người, giúp xã hội tốt hơn, gọi là “luật vị nhân sinh” – luật vì con người, chứ con người không câu nệ hoặc quá lệ thuộc vào luật. Tuy nhiên, lề luật của Thiên Chúa là Thập Giới, tức là Mười Điều Răn. Luật Chúa là Thánh luật, là Thánh chỉ, là luật giao ước, là Ý Chúa. Luật của Thiên Chúa là luật vĩnh hằng và bất biến. Còn luật của con người có thể thay đổi cho phù hợp, ngay cả luật của Giáo hội cũng thay đổi – trước đây là SÁU Điều Răn, nhưng nay là NĂM Điều Răn.

Xin “mở ngoặc” nho nhỏ: Vào các ngày Chúa nhật (và Lễ Trọng), nhiều nơi vẫn đọc “Hội thánh có SÁU điều răn…” thay vì Năm Điều Răn (*). Như vậy là không kịp cập nhật thông tin cần thiết về giáo huấn của Giáo hội. Trách nhiệm của ai đây? Có những nơi đã sử dụng kinh Năm Điều Răn Hội Thánh, nhưng kinh Nghĩa Đức Tin (Ngày Chúa Nhật hôm nay chúng con họp nhau kính lạy thờ phượng Chúa…) vẫn thấy đọc “…song phải giữ Mười Điều Răn Đức Chúa Trời cùng SÁU Luật Điều Hội Thánh…” chứ không sửa là “năm”. Chuyện nhỏ mà… không nhỏ. Lệch pha!

BIẾT LUẬT

Cựu Ước có đề cập Thập Giới (Xh 20:3-17; Đnl 5:7-21). Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng con người, đồng thời trao quyền tự do cho con người, bởi vì chính Ngài đã “đưa dân Chúa ra khỏi đất Ai Cập, để thoát khỏi cảnh nô lệ” (Xh 20:2). Thoát khỏi nô lệ là được tự do. Tự do rất cần, mà Thiên Chúa đã cho con người tự do, nhưng đồng thời Ngài cũng có luật đòi hỏi con người phải thực hành: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ” (Xh 20:3-4).

Các Phúc Âm nhất lãm lặp lại Giới Răn thứ nhất: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (Mt 22:37; Mc 12:30; Lc 10:27), hoặc như tiên tri Samuel xác định: “Hãy phụng thờ Đức Chúa hết lòng” (1 S 12:20). Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất (Mt 22:39). Theo kinh Mười Điều Răn, chúng ta quen đọc là “thứ nhất, thờ phượng và kính mến Người trên hết mọi sự”.

Tiếp theo, Thiên Chúa nghiêm cấm: “Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Xh 20:5a). Ngài không ngần ngại tự nhận Ngài là “một vị thần ghen tương” (Xh 20:5b), và Ngài nhấn mạnh: “Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông” (Xh 20:5c). Có phải vì Thiên Chúa đã “ấn định” như vậy nên ngày xưa người ta cũng “bắt chước” mà ra luật “tru di tam tộc” chăng?

Có lẽ chúng ta cảm thấy cách nói của Chúa có vẻ “gay gắt”, nhưng thật ra không phải như vậy. Ngài là Đấng giàu lòng thương xót thì chắc chắn không độc đoán, và vì yêu thương mà Ngài hứa chắc chắn: “Những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời” (Xh 20:6). Ôi, Ngài quả là rất tâm lý và công bằng, Ngài “bắt buộc” về lĩnh vực này thì Ngài lại “thưởng công” về lĩnh vực khác. Đó là công lý. Chính Thánh Vịnh gia đã xác định: “Chúa giữ gìn những ai thành tín, nhưng thẳng tay trừng trị người ăn ở kiêu căng” (Tv 31:24). Thiên Chúa còn giải thích rất rõ ràng: “Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì Đức Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng” (Xh 20:7). Và đó chính là Giới răn thứ hai: “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”.

Đối với các Giới răn từ thứ ba tới thứ mười, trình thuật Xh 20:9-17 “liệt kê” chi tiết: “Ngươi HÃY nhớ ngày Sa-bát, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày Sa-bát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi KHÔNG được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày Sa-bát và coi đó là ngày thánh. Ngươi HÃY thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi. Ngươi KHÔNG được giết người. Ngươi KHÔNG được ngoại tình. Ngươi KHÔNG được trộm cắp. Ngươi KHÔNG được làm chứng gian hại người. Ngươi KHÔNG được ham muốn nhà người ta, ngươi KHÔNG được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta”. Trong tám Giới răn đó có hai cái HÃY và bảy cái KHÔNG. Rất rõ ràng, rất rạch ròi.

Là Kitô hữu, ai cũng biết luật của Thiên Chúa và luật của Giáo hội. Biết thì phải giữ. Không biết thì không có tội, biết mà không giữ thì có tội (x. Ga 9:40-41).

GIỮ LUẬT

Giữ luật không chỉ là duy trì và bảo vệ luật mà còn phải thi hành – nghiêm túc chứ không lơ là, gặp chăng hay chớ. Vô tri bất mộ – không biết nên không yêu thích. Ngược lại, càng hiểu biết thấu đáo điều gì thì người ta càng yêu quý. Hiểu biết sâu sắc về Luật Chúa, Thánh Vịnh gia đã vui mừng thốt lên: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh Ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn” (Tv 19:8). Luật pháp khiến người ta “sáng mắt” để khả dĩ phân biệt đâu là đúng và đâu là sai. Còn Luật Chúa khiến “người dại hóa khôn”. Chính các “huấn lệnh Chúa hoàn toàn ngay thẳng” có thể “làm hoan hỷ cõi lòng” và “mệnh lệnh Chúa minh bạch” để làm cho “đôi mắt rạng ngời” (Tv 19:9).

Thánh Vịnh gia cũng chân nhận rằng “quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh” nên thực sự “quý báu hơn vàng ròng muôn lượng” và “ngọt ngào hơn mật ong nguyên chất” (Tv 19:10-11). Như vậy, luật làm cho người ta hạnh phúc hơn chứ không làm cho người ta bị gò bó, chịu lệ thuộc hoặc đau khổ. Luật phải hợp lòng dân, phải bắt nguồn từ yêu thương chứ không vì tư lợi, nếu không thì đó chỉ là ác luật để hành dân, là luật không hợp lý, và luật đó khiến người dân khổ sở. Tất nhiên luật đó trái với Ý Chúa. Và người ta thường nói: “Quan nhất thời, dân vạn đại”.

Trong cuộc sống đời thường, chúng ta thấy luôn có những điều trái ngược, như người ta thường nói rằng chín người mà có tới mười ý, và đôi khi có những tình huống rất khó xử. Không ai chịu nghe ai, nếu không có nghiêm luật thì xã hội sẽ rối loạn. Thánh  Phaolô nói: “Người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan” (1 Cr 1:22). Hai thái cực khác nhau. Còn những người tin yêu Chúa, như thánh Phaolô, thì “lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1:23). Người ta chỉ theo những người có uy tín – dù “uy tín” đó chỉ là vàng bạc, chức tước, địa vị, quyền hành,… chứ ai lại ủng hộ người “nghèo rớt mồng tơi”, không có cục đất chọi chim? Thậm chí người ta còn “chửi xéo” là kẻ “thừa nói thiếu ăn”! Những người “chịu” theo Chúa chắc chắn cũng bị người ta cho là “tâm thần”, là “ngu xuẩn”, là “dại dột”, hoặc chí ít cũng là “khờ khạo”. Tuy nhiên, “đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1:24). Thật tuyệt vời!

Quả thật, Chúa Giêsu là “dị nhân” đúng nghĩa, bởi vì Ngài có những động thái “ngược đời”, hoàn toàn khác loài người. Trong xã hội cũng vậy (cả đạo lẫn đời), những người có tư tưởng “mới lạ” là những người “đi trước thời đại”, có khả năng “nhìn xa, hiểu rộng”, nhưng họ thường bị coi là cấp tiến, bị xa lánh, bị cô lập, bị ghét bỏ, thậm chí là bị hại. Thật phũ phàng! Thực tế cho thấy đã có những người chỉ được chấp nhận là vĩ nhân sau khi họ chết từ lâu rồi – đơn vị thời gian có thể tính bằng thế kỷ. Thật đáng buồn! Những người có tư tưởng mới mà “yếu bóng vía” sẽ ái ngại, và rồi có thể “bỏ của chạy lấy người”. Còn những người “dị ứng” với những tư tưởng mới thì chỉ là những người không theo kịp thời đại, thậm chí có thể là “tiểu nhân”, không muốn người khác hơn mình, hoặc cố chấp, không muốn thay đổi nếp nghĩ dù vẫn biết mình cổ hủ, lỗi thời. Ngày nay người ta gọi loại người đó là “đầu đất” hoặc “đầu tôm”. Tồi tệ thật!

Đối với “nhà thông thái” Saolê, sau lần ngã-ngựa-chí-tử, ngài chợt nhận ra cái “ngược-đời-xem-chừng-nghịch-lý” kia, và hóa thành Phaolô, và ông đã can đảm xác nhận: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Thật vậy, có lần Thiên Chúa đã xác định: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55:8-9). Khoảng cách biệt quá lớn, và chẳng bao giờ phàm nhân có thể hiểu hết Thánh Ý của Ngài. Nhưng Ngài rất công minh chính trực, công bằng tuyệt đối, chắc chắn sẽ “bù lỗ” cho những người chịu thua thiệt ở đời này.

HƯỞNG LUẬT

Trình thuật theo Thánh sử Gioan cho biết rằng…

Gần dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem, Ngài hết sức ngạc nhiên khi thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Ngài liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Ngài đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.

Bản tính thẳng thắn và nghiêm túc, Chúa Giêsu nói thẳng với những kẻ buôn bán: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2:16). Lúc đó, các môn đệ “giật mình” nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân” (Ga 2:17; Tv 69:10). Thấy Chúa Giêsu “nổi nóng” và dám chê họ sai, người Do Thái ấm ức nên chất vấn Ngài: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (Ga 2:18). Nhưng Ngài vẫn thản nhiên: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2:19).

Ui da! Ngôi Đền Thờ Giêrusalem phải mất 46 năm mới xây xong, thế mà Chúa Giêsu nói có thể xây lại chỉ nội trong 3 ngày. Ai cũng lắc đầu và nói: “Bó tay luôn!”. Bó toàn thân luôn chứ bó tay là chuyện nhỏ. Đối với họ thì đúng là Chúa Giêsu sinh sống gần kho đạn, “nổ” hết mức, hoặc là “tâm thần” thật. Tuy nhiên, Ngài muốn nói về chính thân thể Ngài mà họ không thể nghĩ kịp tư tưởng của Ngài. Ngay cả các môn đệ, dù đã từng rong ruổi với Ngài khắp nơi, cùng chia ngọt sẻ bùi với Ngài, đúng ra là họ phải hiểu Ngài, thế mà các ông cũng đã “miệng chữ A, mắt chữ O” khi nghe Sư phụ mình nói như vậy. Và chúng ta cũng chẳng hơn gì!

Tất cả còn trong “bức màn bí ẩn”. Mãi đến khi Chúa Giêsu từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ mới “tá hỏa tam tinh” mà nhớ lại điều Ngài đã nói thì mới đủ tin vào Kinh Thánh và lời Ngài nói. Trong lúc Ngài ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều người tin Ngài vì đã chứng kiến các dấu lạ Ngài làm. Thế nhưng chính Đức Giêsu chưa đủ tin họ, vì Ngài biết rõ có gì trong lòng con người.

Chắc chắn chúng ta cũng chẳng hơn gì người Do Thái. Thật vậy, thấy cái gì lạ thì tin ngay, nhưng rồi “đâu lại vào đấy”, xin và được ơn thì tin lắm, xin không được thì “nhăn mặt” và muốn “đặt vấn đề” hoặc lung lay niềm tin. Thậm chí, đôi khi chúng ta cầu nguyện mà kỳ thực chúng ta đang “ngã giá”, “hối lộ” hoặc “mua chuộc” Chúa và các vị thánh mà chúng ta cho là “thiêng lắm”. Quả thật, đó là điều chúng ta phải suy tư nhiều, bởi vì ngày xưa chính Thiên Chúa cũng đã từng đặt vấn đề: “Cho đến bao giờ nữa quý vị từ chối, không tuân giữ các mệnh lệnh và luật lệ của Tôi?” (Xh 16:28). Coi bộ “căng” dữ nghen!

Lạy Thiên Chúa duy nhất mà con tôn thờ, con chẳng khác những kẻ bơ vơ, lạc hướng trong thế giới ngày nay, vì khó tìm được người thực sự đáng tin cậy, trong khi xung quanh con có nhiều loại thần ô uế, thần tài, thần nhục dục, thần danh vọng, thần địa vị, thần quyền lực,… nhất là thần hóa “cái tôi”. Đôi khi con còn mắc những chứng bệnh trầm kha trong cách nhìn, trong nếp nghĩ, và trong lối sống, thế nên con vẫn làm ngơ những người sống bên lề xã hội, mặc họ bị bóc lột, bị áp bức, bị khinh miệt, bị tước đoạt nhiều thứ… Con chân thành xin lỗi Chúa, cầu xin Ngài thương giúp con nhận diện chính mình để có thể nhìn rõ tha nhân mà chạnh lòng thương xót họ bằng chính trái tim của Đức Kitô, đồng thời cũng xin giúp con can đảm chấp nhận mọi thứ dù trong hoàn cảnh nào. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Hội Thánh có năm điều răn:
– Thứ nhất: Dự lễ và kiêng việc xác ngày Chúa Nhật cùng các ngày lễ buộc;
– Thứ hai: Xưng tội trong một năm ít là một lần;
– Thứ ba: Rước Mình Thánh Chúa trong mùa Phục Sinh;
– Thứ bốn: Giữ chay và kiêng thịt những ngày Hội Thánh buộc;
– Thứ năm: Góp công góp của xây dựng Hội Thánh, tùy theo khả năng của mình.

 

DI TÍCH CUỘC XUẤT HÀNH

Vào những ngày cuối tháng 2 năm 2018, Bộ Khảo Cổ Ai Cập đã chính thức công bố việc phát hiện di tích quân Ai Cập dưới Vịnh Suez, cách thành phố Ras Gharib 1,5 km. Đội khảo cổ dưới nước tìm kiếm tại Biển Đỏ thì thấy một đống xương người có niên đại từ thế kỷ 14 trước công nguyên.

Nhóm khảo cổ do giáo sư Abdel Muhammad Gader làm trưởng, thuộc khoa khảo cổ của đại học Cairo, đã phát hiện hơn 400 bộ xương. Người ta còn phát hiện hàng trăm vũ khí và những mảnh áo giáp của hai chiến binh vương vãi trên một vùng rộng gần 200 m2. Theo các nhà khảo cổ, hơn 5.000 thi thể khác nằm rải rác tại một vùng rộng lớn hơn, cho thấy rằng có thể có một đội quân lớn đã biến mất tại vùng này.

Hình ảnh cho thấy một loại vũ khí của người Canaan là khopesh – có lưỡi cong như liềm (hình nhỏ trong hình lớn) có từ kỷ nguyên Sumer thứ ba, loại vũ khí này rất quan trọng vào thời đó. Khi nó được phát hiện bên cạnh một chiến binh, nhóm khảo cổ cho rằng có thể là của một hoàng tử hoặc một nhà quý tộc nào đó.

Có nhiều gợi ý khiến giáo sư Gader và nhóm khảo cổ tin rằng những gì được phát hiện đều liên quan Cuộc Xuất Hành nổi tiếng ngày xưa. Nghĩa là các chiến binh xưa có lẽ chết trên đất liền, bởi vì các nhà nghiên cứu không thấy dấu vết của tàu thuyền ở vùng này. Thêm vào đó, vị trí phát hiện các bộ xương và các vật dụng đều bám vào đất và đá, chứng tỏ rằng các chiến binh có thể đã chết trong bùn hoặc thủy triều.

Tương tự, đa số những thứ được phát hiện chứng tỏ liên quan một đoàn quân đông đảo. Tất cả những thứ đó đều phù hợp với Kinh Thánh liên quan cuộc Vượt Qua Biển Đỏ khi quân Pharaô bị tiêu diệt trong dòng nước ập lại sau khi Môsê rẽ đôi dòng nước.

Các phát hiện mới đây cũng xác định rằng triều đại vua Akhenaten thực sự có đoàn quân Ai Cập rất đông đã bị nhận chìm trong nước Biển Đỏ.

Từ nhiều thế kỷ qua, câu chuyện trong Kinh Thánh về cuộc Vượt Qua Biển Đỏ đã được đa số các học giả và sử gia coi là ngụ ý hơn là lịch sử. Tuy nhiên, việc phát hiện này đã xác định thời kỳ nổi tiếng nhất thời Cựu Ước, chứng tỏ rằng câu chuyện đó thực sự dựa trên sự kiện thực tế.

Vị trí khảo cổ này vẫn đang được tìm kiếm thêm vào những năm tới, các nhà khảo cổ hy vọng sẽ phát hiện thêm phần còn lại của đoàn quân.

Người dịch chợt nhớ lời Chúa Giêsu: “Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5:18). Đó là Ngài nói về luật, nhưng chúng ta cũng có thể chắc chắn rằng những gì được ghi chép trong Kinh Thánh đều có thật, và sự thật cho thấy càng ngày người ta càng phát hiện nhiều thứ đúng y như Kinh Thánh đã ghi chép.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ SpiritEgg.com)

 

CÔNG LÝ

Công lý là một khái niệm xuất hiện trong lĩnh vực triết học từ thời Hy Lạp cổ đại và được phát triển mạnh mẽ trong nền khoa học pháp lý ngày nay. Công lý là sự công bằng của xã hội, là phán quyết đúng theo luật pháp, đặc biệt là thi hành Thánh Luật của Thiên Chúa.

Alexander Hamilton (1755-1804, “cha đẻ” nước Mỹ) xác định: “Nghĩa vụ đầu tiên của xã hội là công lý” (The first duty of society is justice). Ai cũng phải thực hiện công lý, can đảm thực hiện công lý với tha nhân và với cả chính mình. Người ta vì sợ liên lụy mà không dám đòi công lý cho tha nhân, cao lắm thì chỉ dám đòi công lý cho mình – nhưng vẫn… run! Hàng ngày, bất công vẫn không ngừng xảy ra khắp nơi trên thế giới, thậm chí còn xảy ra ngay trong các giáo xứ và các hội đoàn, vì thế mà càng phải mạnh mẽ lên án bất công, đòi lại công lý và đừng bao giờ hèn nhát hoặc kỳ thị nhau! Đó chính là sống Luật Yêu mà Chúa Giêsu truyền dạy!
Một lần nọ, khi lên Đền Thờ, thấy cảnh nhố nhăng, Chúa Giêsu đã “ngứa mắt” nên mới nổi nóng và nói ngay: “Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp” (Lc 19:46). Ngài nổi nóng vì Ngài là Đấng Chí Thiện, không chấp nhận cái xấu, và Ngài muốn người ta phải cố gắng hoàn thiện hơn. Thấy cảnh trái tai gai mắt, những người yêu thích Chân-Thiện-Mỹ không thể làm ngơ được, dù biết rằng nói ra sẽ bị người ta ghét, vì người ta “chạm tự ái”. Quả thật, rất cần can đảm. Đừng mạnh miệng xó bếp! Nếu không can đảm hành động vì ích lợi chung (Giáo huấn Xã hội của Giáo hội Công giáo gọi là “công ích”) thì làm sao có những vĩ nhân và thành nhân mà chúng ta thấy xuất hiện trong lịch sử đời và đạo? Dân oan làm sao ngước đầu lên nổi? Chúa Giêsu đến không chỉ cứu thoát những tội nhân mà còn bảo vệ công lý của đám dân đen khốn khổ bị áp bức, bị bóc lột tận xương tủy, bị lũ “đỉa” có chức quyền hút hết máu sống!

Chính trị gia kiêm sử gia Horace Walpole (1717-1797, Anh quốc) phân tích: “Công lý là hành động của sự thật hơn là đạo đức. Sự thật cho chúng ta biết điều gì do người khác, và công lý thực hiện sự thích đáng đó. Sự bất công là hành động của dối trá” (Justice is rather the activity of truth, than a virtue in itself. Truth tells us what is due to others, and justice renders that due. Injustice is acting a lie). Rất rõ ràng, chính xác. Còn John Adams (1735-1826, tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ) nhận định: “Hãy để công lý được thực hiện cho dù bầu trời có sụp đổ” (Let justice be done though the heavens should fall). Hãy vắt tay lên trán mà suy tư thật nhiều!

Chiến tranh cũng có “bóng dáng” của công lý. Người ta bị áp bức nên phải đấu tranh để đòi lại công lý. Con chó bị dồn vào góc tường thì nó cũng cắn lại, dù đó là chủ nó. Bị dồn vào thế cùng, người ta có thể nổi loạn. Mỗi người phải “sống” ba dạng người mà Hiền triết Khổng Tử đề cập: “Người nhân không lo buồn, người trí không nghi kỵ, người dũng không sợ hãi”.

Khi quân Amalếch đến đánh Ítraen tại Rơphiđim, ông Môsê bảo ông Giôsuê: “Anh hãy chọn một số người, và ngày mai ra đánh Amalếch. Còn tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm cây gậy của Thiên Chúa” (Xh 17:9). Ông Giôsuê làm như ông Môsê đã bảo: Ông giao chiến với Amalếch, còn các ông Môsê, Aharon và Khua lên đỉnh đồi. Khi nào ông Môsê giơ tay lên, thì dân Ítraen thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalếch thắng thế. Giơ tay lâu quá, ông Môsê mỏi tay, người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông Aharon và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên.

Giơ tay hoặc dang tay là một chút hy sinh kết hợp với lời cầu nguyện, Giáo hội vẫn dùng dạng này khi dâng lời cầu nguyện. Và rồi Kinh Thánh cho biết: “Ông Giôsuê đã dùng lưỡi gươm đánh bại Amalếch và dân của ông ta” (Xh 17:13).

Chúng ta đều là những tội nhân, bị ma quỷ kiềm chế, bị thế lực đen áp đảo, bị điều xấu lôi kéo, và bị cái ác bóc lột, vì thế mà chúng ta rất cần Chúa giải nguy, cứu độ. Cầu nguyện mãi mà thấy vẫn khổ, có thể có lúc chúng ta cũng tự nhủ: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao?” (Tv 121:1). Và rồi với đức tin, chúng ta xác nhận nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần: “Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời” (Tv 121:2).

Thiên Chúa trao ban cho chúng ta một “vũ khí” rất hữu hiệu: Cầu nguyện. Thật vậy, cầu nguyện là sức mạnh của loài người, khiến Thiên Chúa phải “mềm lòng”. Càng kiên trì cầu nguyện liên lỉ thì Thiên Chúa càng “mềm lòng”. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. Đấng gìn giữ Ítraen, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!” (Tv 121:3-4). Điều đó không chỉ là điều mơ ước hoặc lời cầu chúc, mà là sự thật minh nhiên: “Chính Chúa là Đấng canh giữ bạn, chính Chúa là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ, đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi. Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào, lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời” (Tv 121:5-8). Thiên Chúa thật tuyệt vời biết bao, nhưng Ngài chưa được người ta tín thác thật lòng vì người ta không thấy nhãn tiền. Đôi khi lời cầu nguyện chỉ vì ích kỷ và tư lợi chứ chưa thật lòng vì tin tưởng và yêu mến Chúa. Lại phải xét mình và “nghĩ ngợi” nhiều lắm, vì nếu không thì Chúa sẽ đòi công lý ở chính mỗi chúng ta!

Thánh Phaolô nói với Thánh Timôthê: “Phần anh, hãy giữ vững những gì anh đã học được và đã tin chắc. Anh biết anh đã học với những ai. Và từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Kitô Giêsu” (2 Tm 3:14-15). HỌC để BIẾT, BIẾT để TIN, TIN thì mới YÊU, YÊU thì cần DẠY (cho biết), DẠY thì phải GIỮ. Một chuỗi nối kết tuyệt vời biết bao! Không thể cho cái mình không có, nếu không có mà cho thì chỉ là “bánh vẽ”, là “hôn gió”, là “quà ảo”. Nói hay mà không thực hiện thì là “lẻo mép”, viết hay mà không thực hiện thì là “lẻo bút”.

Cái “lẻo” nào cũng nguy hiểm, chỉ là nói phét, là lừa dối, là giả hình: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!” (Mt 23:27-28).

Lời Chúa có lúc làm chúng ta vui mừng, nhưng có lúc làm chúng ta đau nhói. Thuốc đắng “đã” tật. Nhưng liệu chúng ta có dám “uống” không? Thánh Phaolô xác định: “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành” (2 Tm 3:16-17). Những lời nhẹ nhàng mà như xoáy vào tận đáy tim vậy!

Cuối cùng, Thánh Phaolô đề nghị như một mệnh lệnh: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4:2). Cứ đọc kỹ và “nuốt” từng chữ thì ai cũng đủ sức hiểu, vì không có gì phức tạp. Quả thật, người ta phải thực sự can đảm mới có thể sống tốt và bảo vệ chân lý, bảo vệ một cách tích cực chứ không nói suông, nói sau lưng, hoặc lơ là, chỉ mong hai chữ bình an cho mình – đó là HÈN NHÁT.
Một hôm, Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn để dạy các ông phải cầu nguyện luôn và không được nản chí (Lc 18:1-8). Dụ ngôn nói rằng trong một thành nọ có một ông quan toà không kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì, và có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho” (Lc 18:3). Một thời gian khá lâu, ông không chịu xét xử cho dân oan này. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc” (Lc 18:4-5).

Cán cân công lý đã bị lệch. Thẩm phán ác ôn muốn làm ngơ đơn kiện của bà góa kia, muốn bỏ qua hồ sơ dân oan, có thể vì bên bị đơn đã “đi cửa sau” với cái “phong bì” dày cộm. Thế nhưng bà góa biết chắc mình bị oan nên liên tục đưa đơn kiện, quyết đòi lại công lý.

Rồi Chúa nói: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ” (Lc 18:6-8a).

Quan tòa kia là ác nhân mà còn sợ bị quấy rầy nên xử cho xong, huống chí Thiên Chúa là Đấng Thánh. Chắc chắn Ngài không để ai chịu oan uổng lâu, vấn đề là chúng ta đừng nản chí thất vọng, hãy kiên tâm cầu nguyện liên lỉ. Đức Maria đã tuyên xưng: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1:51-52). Chúa rất thích chúng ta “quấy rầy” Ngài bằng cách cầu nguyện không ngừng.

Cuối cùng, chúng ta phải lưu ý câu hỏi của Chúa Giêsu: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8b). Mỗi người phải tự trả lời thành thật, không thể lươn lẹo hoặc “đánh trống lảng”, cũng không thể ỷ mình có chức có quyền, vì Ngài là “Đấng thấu suốt mọi sự” (2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 15:2; 1 Cr 2:10), dù chúng ta có trốn lên trời hoặc chui xuống âm ty cũng không thoát Ngài (Tv 139:8), và bất kỳ ai cũng bình đẳng trước mặt Chúa về nhân vị, nhân phẩm, và nhân quyền, với ba thiên chức (vương đế, tư tế và tiên tri).

Lạy Thiên Chúa chí minh, chí công và chính trực, xin giúp chúng con cam đảm thực sự, không hèn nhát, không nghi kỵ, sống công bằng và thể hiện đức bác ái đúng mức để kiến tạo hòa bình đích thực, có thể sống như thiên đàng ngay trên thế gian này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Thánh luật

(Chúa Nhật III Mùa Chay, năm B)

Bất cứ một quốc gia nào, một tổ chức nào, một gia đình nào, một nhóm nào, dù chỉ là một “nhóm” vài người,… cũng đều phải có luật lệ, nội quy, quy tắc, hoặc nguyên tắc để bảo đảm trật tự – ở phạm vi lớn gọi là an ninh, ở phạm vi thế gới gọi là hòa bình.

Luật vị nhân sinh – luật vì con người, chứ con người không lệ thuộc luật, bởi vì luật có sau con người nên luật được lập ra cốt để phục vụ con người, giúp xã hội tốt hơn. Còn lề luật của Thiên Chúa là Thập Giới, tức là Mười Điều Răn. Luật Chúa là Thánh luật, là Thánh chỉ, là luật giao ước, là Ý Chúa.

THẬP GIỚI

Thiên Chúa đã tạo dựng con người, cho con người tự do, vì chính Ngài “đưa dân Chúa ra khỏi đất Ai Cập, để thoát khỏi cảnh nô lệ” (Xh 20:2). Thoát khỏi nô lệ là được tự do. Tự do rất cần, mà Thiên Chúa đã cho con người tự do, nhưng đồng thời Ngài cũng có luật đòi hỏi con người phải thực hành: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ” (Xh 20:3-4).

Phúc âm nhất lãm lặp lại Giới răn thứ nhất: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (Mt 22:37; Mc 12:30; Lc 10:27), hoặc như tiên tri Samuel xác định: “Hãy phụng thờ Đức Chúa hết lòng” (1 S 12:20). Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất (Mt 22:39). Theo kinh Mười Điều Răn, chúng ta quen đọc là “thứ nhất, thờ phượng và kính mến Người trên hết mọi sự”.

Rồi Thiên Chúa nói tiếp: “Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Xh 20:5a). Ngài không ngần ngại tự nhận Ngài là “một vị thần ghen tương” (Xh 20:5b), và Ngài nhấn mạnh: “Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông” (Xh 20:5c). Có phải vì Thiên Chúa đã “ấn định” như vậy nên ngày xưa người ta cũng có luật “tru di tam tộc” chăng?

Nghe cách nói của Chúa có vẻ “gay gắt” nhưng thực ra không phải vậy. Ngài không độc đoán, vì Ngài luôn yêu thương và hứa chắc chắn: “Những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời (Xh 20:6). Ngài rất tâm lý và công bằng, Ngài “bắt buộc” cái này thì Ngài lại “thưởng công” cái khác. Công lý là thế. Chính tác giả Thánh vịnh đã xác định: “Chúa giữ gìn những ai thành tín, nhưng thẳng tay trừng trị người ăn ở kiêu căng” (Tv 31:24). Thiên Chúa còn giải thích rõ ràng: “Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì Đức Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng” (Xh 20:7). Đó chính là Giới răn thứ hai: “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”.

Sách Xuất hành, chương 20, câu 9-17 “liệt kê” các Giới răn từ thứ ba tới thứ mười: “Ngươi hãy nhớ ngày Sa-bát, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày Sa-bát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc cho ngày Sa-bát và coi đó là ngày thánh. Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi. Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được làm chứng gian hại người. Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta”.

VUI, BUỒN VÌ LUẬT

Vô tri bất mộ – không biết nên không yêu thích. Càng hiểu biết thấu đáo điều gì thì người ta càng yêu quý. Tác giả Thánh vịnh đã vui mừng thốt lên: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh Ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn” (Tv 19:8). Luật pháp khiến người ta “sáng mắt” để khả dĩ phân biệt đâu là đúng và đâu là sai. Còn Luật Chúa khiến “người dại hóa khôn”. Chính các “huấn lệnh Chúa hoàn toàn ngay thẳng” có thể “làm hoan hỷ cõi lòng” và “mệnh lệnh Chúa minh bạch” để làm cho “đôi mắt rạng ngời” (Tv 19:9). Tác giả Thánh vịnh chân nhận “quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh” nên thực sư “quý báu hơn vàng ròng muôn lượng” và “ngọt ngào hơn mật ong nguyên chất” (Tv 19:10-11). Như vậy, luật làm cho người ta hạnh phúc hơn chứ không làm cho người ta bị gò bó, lệ thuộc, hoặc đau khổ. Luật phải hợp lòng dân, phải bắt nguồn từ yêu thương chứ không vì tư lợi, nếu không thì đó chỉ là ác luật để hành dân, là luật không hợp lý, và luật đó khiến người dân khổ sở. Tất nhiên luật đó trái với Ý Chúa. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, người ta thường nói vậy.

Cuộc sống luôn có những điều trái ngược, như người ta thường nói: “Chín người mười ý”, và đôi khi có những tình huống rất khó xử. Không ai chịu nghe ai, nếu không có nghiêm luật thì xã hội sẽ rối loạn. Thánh  PhaoLô nói: “Người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan (1 Cr 1:22). Hai thái cực khác nhau. Còn những người tin yêu Chúa, như thánh Phaolô, thì “lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1:23). Người ta chỉ theo những người có uy tín – dù “uy tín” đó chỉ là vàng bạc, chức tước, địa vị, quyền hành,… chứ ai lại ủng hộ người “nghèo rớt mồng tơi”, không có cục đất chọi chim? Người ta còn “chửi xéo” là kẻ “thừa nói thiếu ăn”! Những người “chịu” theo Chúa chắc chắn cũng bị người ta cho là “tâm thần”, là “ngu xuẩn”, là “dại dột”, hoặc chí ít cũng là “khờ khạo”. Tuy nhiên, “đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnhsự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1:24).

Thiên Chúa là “dị nhân” đúng nghĩa, với những động thái “ngược đời”, hoàn toàn khác loài người. Trong xã hội cũng vậy (cả đạo lẫn đời), những người có tư tưởng “mới” là những người “đi trước thời đại”, có khả năng “nhìn xa, nhìn rộng”, nhưng họ thường bị coi là cấp tiến, bị xa lánh, bị cô lập, bị ghét bỏ, thậm chí là bị hại. Thức tế cho thấy đã có những người chỉ được chấp nhận là vĩ nhân sau khi họ đã chết lâu rồi – đơn vị thời gian có thể tính bằng thế kỷ. Thật là buồn! Những người có tư tưởng mới mà “yếu bóng vía” sẽ ái ngại rồi có thể “bỏ của chạy lấy người”. Còn những người “dị ứng” với những tư tưởng mới thì chỉ là những người không theo kịp thời đại, thậm chí có thể là “tiểu nhân”, hoặc không muốn người khác hơn mình!

Riêng thánh Phaolô, sau lần ngã-ngựa-chí-tử, ngài chợt nhận ra cái “ngược-đời-xem-chừng-nghịch-lý” kia, và đã can đảm xác nhận: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Cũng có lần Thiên Chúa đã nói: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55:8-9).

THỰC HÀNH LUẬT
Thánh sử Gioan kể: Gần dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem, Ngài hết sức ngạc nhiên khi thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Ngài liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Ngài đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.

Ngài nói thẳng với những kẻ buôn bán: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2:16). Lúc đó, các môn đệ “giật mình” nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân” (Ga 2:17; Tv 69:10). Thấy Chúa Giêsu “nổi nóng” và dám chê họ sai, người Do Thái ấm ức hỏi: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (Ga 2:18). Đức Giêsu thản nhiên đáp: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2:19). Đền Thờ Giêrusalem phải mất 46 năm mới xây xong, thế mà Chúa Giêsu nói có thể xây lại chỉ nội trong 3 ngày. Đối với họ thì đúng là Chúa Giêsu sinh sống gần kho đạn, “nổ” hết mức, hoặc là “tâm thần” thật. Tuy nhiên, Ngài muốn nói về chính thân thể Ngài mà họ không thể nghĩ kịp tư tưởng của Ngài. Ngay cả các môn đệ, dù đã từng rong ruổi với Ngài khắp nơi, cùng chia ngọt sẻ bùi với Ngài, hẳn là phải hiểu Ngài, thế mà các ông cũng đã “miệng chữ A, mắt chữ O” khi nghe Sư phụ mình nói như vậy!

Mãi đến khi Chúa Giêsu từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ mới “tá hỏa tam tinh” mà nhớ lại điều Ngài đã nói thì mới đủ tin vào Kinh Thánh và lời Ngài nói. Trong lúc Ngài ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều người tin Ngài vì đã chứng kiến các dấu lạ Ngài làm. Thế nhưng chính Đức Giêsu chưa đủ tin họ, vì Ngài biết rõ có gì trong lòng con người.

Chúng ta cũng chẳng hơn gì người Do Thái, thấy cái gì lạ thì tin ngay, nhưng rồi “đâu lại vào đấy”, xin và được ơn thì tin lắm, xin không được thì “nhăn mặt” và nghĩ: “Kỳ vậy ta?”. Thậm chí, đôi khi chúng ta cầu nguyện mà kỳ thực chúng ta đang “ngã giá”, “hối lộ” hoặc “mua chuộc” chính Chúa và các vị thánh mà chúng ta cho là “thiêng lắm”! Thật đáng để chúng ta phải trầm tư suy nghĩ nhiều với câu hỏi của Chúa: “Cho đến bao giờ nữa quý vị từ chối, không tuân giữ các mệnh lệnh và luật lệ của Tôi?” (Xh 16:28).

Lạy Chúa, chúng con chợt thấy mình như những kẻ bơ vơ, lạc hướng trong thế giới ngày nay, vì khó tìm được người đáng tin cậy, trong khi xung quanh chúng con có nhiều thần ô uế, thần bạc tiền, thần nhục dục, thần danh vọng, thần địa vị, thần quyền lực,… Đôi khi chúng con còn mắc những bệnh trầm kha trong cách nhìn, trong nếp nghĩ, và trong lối sống, thế nên chúng con vẫn bỏ mặc những người sống bên lề xã hội, mặc họ bị bóc lột, bị áp bức, bị khinh miệt, bị tước đoạt nhiều thứ… Chúng con xin lỗi Chúa. Xin Ngài thương giúp chúng con nhận ra chính mình để có thể nhìn rõ tha nhân mà chạnh lòng thương họ bằng chính trái tim của Đức Kitô, đồng thời giúp chúng con dám chấp nhận mọi thứ dù phải thiệt thân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU (8 tháng Ba 2012)

 

Người tử tù (suy tư mùa chay)

­­Quốc gia nào cũng có những tù nhân, đặc biệt là tử tù. Nhưng có một tử tù đặc biệt nhất và là tử tội độc nhất vô nhị: Đức Giêsu Kitô. Nếu ở thời nay thì hẳn là người ta xử bắn Ngài, còn luật Do Thái thời đó là đóng đinh vào Thập giá.

Biết mình sắp chết thì đa số đều thấy run sợ, nhưng xử bắn “đùng” một cái thì cũng… không đáng sợ lắm. Vả lại, ngày nay người ta còn cho tử tội ăn thỏa thích trước khi chết. Còn Chúa Giêsu, không được ăn, có chăng là chút giấm chua, lại còn bị sỉ nhục, hành hạ, vác thập giá khi bụng đói – vì bị bắt từ đêm hôm trước, sáng hôm sau bị xử, rồi tự vác thập giá đi đến chiều, không hề được ăn uống gì. “Đặc biệt” hơn là Ngài phải vác thập giá, còn các tử tù khác đâu phải vác. Người ta quá ghét Chúa Giêsu, ghét hết mức, ai cũng ghét!

Người Do Thái nói: “Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng: Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga 10:33), và “Chúng tôi có Lề Luật, chiếu theo Lề Luật thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19:7). Có lẽ chúng ta chê dân Do Thái cứng lòng tin và độc ác, nhưng nếu là chúng ta ngày nay thì hẳn là Chúa Giêsu bị đánh tại chỗ chứ không tìm cách bắt lúc khác như dân Do Thái đâu. Họ làm sao hiểu ngay khi con hai ông bà thợ mộc ở một xóm lao động nghèo mà lại bảo là Con Thiên Chúa? Khó tin lắm chứ! Thế nên họ cho là Chúa “lộng ngôn”. Thanh niên ngày nay sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay hoặc rút dao đâm ngay nếu ai đó nói “sốc”, thậm chí có người “ra tay” chỉ vì nhìn ngứa mắt, nghĩa là họ không làm gì nên tội cũng đánh chơi vậy!

Người ta luôn nói: “Đa số hơn thiểu số”. Nhiều người đồng ý thì đó là đúng, ít người đồng ý thì đó là sai. Đó là luật bất thành văn mà mọi người đều công nhận. Nhưng thực ra đâu phải đa số là đúng. Hạnh tích các thánh cho chúng ta biết đa số vẫn sai, sai vô cùng.

Có những con người đầy ác ý. Vì không thỏa mãn nhục dục, hai kỳ mục làm chứng gian cho bà Su-san-na, nhưng Thiên Chúa đã dùng Đa-ni-en minh oan cho bà (x. Đn 13:1-62). Nhiều nhân chứng cũng đâu hẳn là đúng. Người trên muốn đè bẹp người dưới, người ỷ quyền cậy thế muốn chứng tỏ thế lực. Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Nhưng họ quên rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu” (ngậm máu phun người thì miệng mình dơ trước).

Ðn 3:1-20 thuật lại: Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo làm một pho tượng bằng vàng cao sáu mươi thước, ngang sáu thước, sai người triệu tập các thống đốc, thủ lãnh, tổng trấn, các cố vấn, các quan coi ngân khố, các luật sĩ, thẩm phán và tất cả các quan chức hàng tỉnh đến khánh thành pho tượng. Chính đức vua đã truyền rằng khi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn dây, đàn sắt, đàn cầm, tiếng kèn và đủ thứ nhạc cụ, mọi người phải sấp mình thờ lạy pho tượng vàng, và kẻ nào không sấp mình thờ lạy sẽ bị ném vào đống lửa đang cháy phừng phực. Nhưng Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô không thờ lạy pho tượng vàng nên vua Na-bu-cô-đô-nô-xo thịnh nộ. Vua lên tiếng truyền đốt lò lửa mạnh hơn gấp bảy lần và ném họ vào lò lửa, nhưng Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô không hề hấn gì.

Và rồi vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cất tiếng nói: “Chúc tụng Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, Người đã sai thiên sứ đến giải thoát các tôi tớ của Người là những kẻ đã tin tưởng vào Người”.

Bà Su-san-na được Đa-ni-en minh oan. Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô được tự do nhờ vua Na-bu-cô-đô-nô-xo nhận ra Thiên Chúa, và ông đã tuyên bố: “Ta truyền rằng bất cứ người nào thuộc bất cứ dân tộc, giống nòi, ngôn ngữ nào dám nói điều gì sai quấy, phạm đến Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, sẽ bị xử lăng trì, và nhà chúng sẽ trở thành đống bùn, bởi vì không có thần nào khác có thể cứu được như thế”. Những người như vậy được Chúa cứu nhãn tiền.

Còn Chúa Giêsu không được minh oan. Mà còn ai dám minh oan, vì ngay các môn đệ thân tín nhất cũng sợ bị liên lụy mà bỏ rơi Ngài rồi. Thế nên, ai có hỏi gì thì Ngài cũng chỉ im lặng, đến nỗi vị thượng tế nói: “Ông không nói lại được một lời sao?” (Mt 26:62). Nói gì khi người ta không muốn nghe, không muốn biết, không muốn hiểu? Làm đúng bị coi là sai, làm gì cũng bị xét nét, cầu nguyện thì như bị làm ngơ, nên Chúa Giêsu đã thốt lên: “Cha ơi! Sao Cha nỡ bỏ rơi con?” (Mt 27:45), nhưng Ngài vẫn nhận ra Ý Cha và sẵn sàng tuân phục. Chỉ khi được hỏi có phải là Con Thiên Chúa hay không thì Chúa Giêsu mới trả lời: “Chính ngài vừa nói” (Mt 26:64).

Người ta ghét cay ghét đắng Chúa vì cho rằng Ngài xúi giục dân chúng nổi loạn, xách động dân chúng. Họ sợ bị lấn quyền mà đổ oan cho Chúa. Cai-pha xác định: Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11:50). Thật vô lý! Tuy nhiên, đó lại là Thánh Ý Thiên Chúa mầu nhiệm: Đức Giêsu phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, mà còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối (Ga 11:51-52).

Trước mắt con người, Giêsu Kitô là một tử tội đáng khinh bỉ, đáng nguyền rủa, đáng bị trừng phạt và “đáng đời” – vì Ngài không bằng tên cướp tử tội Baraba. Nếu chúng ta ở thời đó thì chắc gì chúng ta đã hơn dân Do Thái? Nếu vậy thì thật may là chúng ta có được một đức tin tông truyền hằng ngàn đời qua, thế mà đôi khi chúng ta vẫn không tránh được những lúc chao đảo!

Chết không là hết. Chết không là thất bại. Chết là sống muôn đời (Thánh Phanxicô Khó nghèo). La-da-rô đã chết 4 ngày, nặng mùi rồi, thế nhưng ông liền ra khỏi mồ khi Chúa Giêsu gọi đích danh. Và rõ ràng nhất là “người tử tội” Giêsu khả dĩ phục sinh khải hoàn – dù có những người không muốn tin và phao tin đồn nhảm!

Lạy Chúa Giêsu, vì vâng lời Chúa Cha và vì muốn cứu độ chúng con mà Ngài phải chết nhục nhã ê chề, xin nâng đỡ và hướng dẫn chúng con biết chết cho chính tội lỗi của mình để cùng phục sinh với Ngài. Xin hiệp nhất chúng con và quy chúng con về một mối. Xin cho chúng con nhận ra nhiều cách phụng sự Chúa, và xin đừng để những cách đó trở thành vô ích. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU (8 tháng Ba 2012)

 

DongCongNet 8-3-2012

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)