dongcong.net
 
 


Mùa Chay năm B: Trầm Thiên Thu

 

Chuyện sống – chết
(Chúa Nhật V Mùa Chay, năm B)

Tục ngữ Việt Nam nói: “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”. Có nhiều cách chết, có cái chết đáng khâm phục và có cái chết “lãng nhách”, do đó cái “tiếng” cũng có thể tốt hoặc xấu. Người Công giáo gọi là chết lành hoặc chết dữ. Phàm cái gì có khởi đầu thì có kết thúc. Cũng vậy, có sinh ắt có tử.
Thánh Phaolô là người đã từng hăng hái và quyết ra tay triệt tiêu Ông Giêsu, nhưng rồi cuối cùng ông đã hoàn toàn biến đổi và phải thú nhận: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1:21), và ông nói về “Người Ấy”: “Đức Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến chết trên cây thập tự” (Pl 2:8).

SỐNG LÀ YÊU
Sống là yêu, và yêu là sống. Sấm ngôn của Chúa nói qua miệng ngôn sứ Giêrêmia: “Này sẽ đến những ngày Ta lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giuđa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai Cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng” (Gr 31:31-32). Giao-ước-mới này khác giao ước đã ký kết với cha ông. Giao ước đó là gì? Là giao ước Thiên Chúa lập với nhà Ít-ra-en, chính Ngài ghi vào lòng dạ dân chúng, khắc vào tâm khảm dân chúng Lề Luật của Ngài. Ngài là Thiên Chúa của họ, còn họ là dân của Chúa. Họ sẽ không còn phải dạy bảo nhau, và họ truyền miệng nhau: “Hãy học cho biết Đức Chúa” (Gr 31:34a). Học cho biết Đức Chúa về nhiều thứ, trong đó có việc học yêu. Do đó mà mọi người từ nhỏ đến lớn đều nhận biết Chúa. Điều tuyệt vời nhất là “Thiên Chúa sẽ tha thứ tội ác cho họ và không còn nhớ đến lỗi lầm của họ nữa” (Gr 31:34b). Là tử tội mà được tha bổng, được trắng án, có ai lại không hạnh phúc? Được sống thì phải biết yêu!
Giao-ước-mới đó gọi là Tân ước, là Luật Yêu Thương – không chỉ yêu người yêu mình mà phải yêu cả kẻ thù (x. Mt 5:44; Lc 6:27 & 35). Khó quá! Vâng, không dễ chút nào. Nhưng yêu thương và tha thứ có hệ lụy lẫn nhau, không thể có cái này mà thiếu cái kia. Chúa Giêsu đã nói: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7:12). Ai có lỗi cũng muốn được bỏ qua, nhưng muốn được tha thì phải biết tha cho tha nhân, và thành tâm xin Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:3-4). Thành tâm cầu xin như thế thì Chúa không thể không tha, vì Ngài chỉ chờ mong giây phút được tha thứ cho tội nhân biết sám hối.
Được tha rồi, nhưng “vết chàm” chưa sạch, thế nên chúng ta phải xin Chúa “đại tu” tâm hồn mình, và xin Ngài không ngừng nâng đỡ, nếu không thì chúng ta lại sa ngã ngay: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con Thần Khí Thánh của Ngài” (Tv 51:12-13). Phần riêng Chúa ban cho chúng ta nhưng chúng ta đã “phung phí” hết, cho nên chúng ta lại phải tiếp tục kêu cầu: “Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con; đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài” (Tv 51:14-15).

CHẾT LÀ YÊU
Sống là yêu, sống để yêu, sống vì yêu, đó là chuyện dễ hiểu. Chết cũng là yêu, để yêu và vì yêu lại là điều khó hiểu, thậm chí nghe chừng nghịch lý. Nhưng đó là sự thật hiển nhiên.
Muốn gì thì phải nói, chứ ai biết “ngứa” chỗ nào mà “gãi”? Chính Đức Giêsu, khi còn sống kiếp phàm nhân, đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời, vì Ngài có lòng tôn kính. Ngài “được nhậm lời” không có nghĩa là không phải đau khổ và không phải chết. Nhưng Ngài “được nhậm lời” để “thoát chết” là được Chúa Cha cho sống lại vinh quang. Hành-trình-sống-chết của Đức Kitô là để củng cố đức tin cho chúng ta.
Thánh Phaolô xác định: “Dầu là Con Thiên Chúa, Ngài đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8). Vậy đó, cái gì cũng phải khổ luyện, không thể cứ “khơi khơi” mà có thể uyên thâm, hiểu sâu và biết rộng. Học thì phải hành, không thực hành thì chỉ là mớ lý thuyết suông, không thực tế, vô ích. Học đàn phải luyện ngày đêm thì mới nhuần nhuyễn, văn thơ thi phú cũng phải làm nhiều thì mới “lên tay”, làm bếp cũng phải nấu hằng ngày mới có thể nấu ăn ngon,… Và mọi thứ đều cần kinh nghiệm. Lười biếng thì chỉ có nước “bó tay”. Ngay cả Chúa Giêsu cũng đã theo đúng “quy trình” đó: “Khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9).
(Ga 12:20-33) Trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy Lạp. Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin rằng: “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu” (Ga 12:21). Một ước muốn tuyệt vời. Người Pháp nói: “Vouloir, c’est pouvoir” (muốn là có thể được). Ông Philípphê nói với ông Anrê, ông Anrê cùng với ông Philípphê đến thưa với Đức Giêsu. Và Ngài trả lời: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!” (Ga 12:23).
Rồi Ngài trầm giọng: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12:24). Một hình tượng giản dị và rất thực tế. Có lẽ Ngài biết có người không kịp hiểu nên Ngài giải thích luôn: “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12: 25). Ngài biết “giờ G” sắp đến, lòng Ngài cũng bồn chồn lo lắng vì thấy thương các đệ tử còn “non nớt”, nên Ngài nói như trút lòng ra: “Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” (Ga 12:26).
Theo nhân tính, Chúa Giêsu cũng cảm thấy xốn xang nên tâm sự với các đệ tử: “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây?” (Ga 12:27). Rồi Ngài thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (Ga 12:28a). Ngài cảm thấy sợ, nhưng Ngài biết trọng trách của mình và muốn Chúa Cha được tôn vinh mà thôi. Và rồi có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (Ga 12:28b).
Nghe tiếng vọng từ trời, dân chúng đứng ở đó nghe vậy có người cứ tưởng là “tiếng sấm”, người khác lại cho là “tiếng một thiên thần” nói với Ngài. Đức Giêsu biết họ xì xầm nên nói: “Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người” (Ga 12:30). Giờ của Ngài sắp đến, “giờ” mà Ngài gọi là “giờ của kẻ ác”, là “thời của quyền lực tối tăm” (x. Lc 22:53). Thế nhưng chính “giờ” ấy lại là lúc “diễn ra cuộc phán xét thế gian này, lúc thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài!” (Ga 12:31). Một sự hoán vị ngoạn mục, chiến bại mà chiến thắng!
Chúa Giêsu bình tĩnh và hứa: “Phần Tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi” (Ga 12:32). Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào, nhưng đầu óc phàm nhân của các đệ tử – dù thân tín nhất – cũng không đủ hiểu ý Ngài muốn nói. Và đó chính là lời-hứa-kỳ-diệu!
Có lẽ chưa bao giờ Ngài nói nhiều như lần này. Nói để chia tay. Nói để từ giã. Nói để trăng trối. Nói như không còn dịp để nói. Nhưng Ngài muốn nói nhiều để mọi người biết yêu thương nhau, yêu cả lúc sống và khi chết.

Lạy Chúa Giêsu, xin tái tạo trái tim chúng con nên giống Ngài hơn, để chúng con có thể kính mến Chúa và yêu thương tha nhân trong từng hơi thở của cuộc sống. Xin giúp chúng con dám chết với Ngài để xứng đáng cùng Ngài phục sinh. Ngài hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Chia tay hoàng hôn

Chia ly là điều buồn, càng xa và càng khó gặp nhau thì nỗi buồn càng tăng. Buồn khôn tả. Buồn đến chết được. Còn gì buồn hơn lời “chia tay hoàng hôn”? Giây phút chia ly càng gần thì nỗi lưu luyến càng tăng. Có người nói trong nghẹn ngào nước mắt, có người không nói nên lời, chỉ biết nước mắt thay lời muốn nói. Nhưng sinh ly tử biệt là điệu ru buồn thảm nhất!
Chúa Giêsu không chỉ trong cảnh sinh ly tử biệt bình thường mà còn đối mặt với nhục hình và cái chết thảm thương. Người ta vui mừng thì Ngài đau khổ. Nhưng khi người ta khóc thì Ngài rất “cứng rắn”. Sau khi chịu nhiều đau khổ cùng cực, cả tinh thần và thể lý, Ngài vẫn bình thản nói những lời cuối đầy yêu thương tha thiết – gọi là “bảy viên ngọc quý”, hoặc thường quen gọi là “bảy lời cuối” của Chúa Giêsu trên Thập giá.

1. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không hiểu việc họ làm” (Lc 23:24).
Cả đời Chúa Giêsu dạy yêu thương. Yêu thương thì phải tha thứ. Nói yêu thương mà không tha thứ là nói dối, tự lừa dối chính mình. Ngài đã không dạy suông mà Ngài còn làm gương: Không phê phán người phụ nữ ngoại tình, thăm hỏi phụ nữ Samari, vui với trẻ em, không đòi hỏi được phục vụ, chữa khỏi nhiều bệnh tật, nâng đỡ người yếu kém, cho người đói được ăn no, giúp đỡ người nghèo hèn, hạ mình rửa chân cho người khác, tha thứ kẻ lầm lỗi, tha thứ cho chính những kẻ đã đang tâm bán đứng Ngài và giết chết Ngài.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết yêu thương tha nhân vô điều kiện, không chỉ mở rộng tấm lòng mà còn mở rộng cả đôi tay, biết NÓI và biết LÀM như Ngài. Đây đó còn biết bao người khốn khổ về tinh thần và thể lý, thiếu thốn ngay cả những điều kiện sống cơ bản nhất, xin Chúa thương xót họ cách đặc biệt.

2. “Ngay hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng cùng Tôi” (Lc 23:43).
Không ai may mắn và hạnh phúc như tử tội Dimas, kẻ chịu đóng đinh cùng với Chúa Giêsu và một tử tội khác. Dimas là một tội-nhân-thánh-thiện, là người đầu tiên được hưởng ơn cứu độ và được đặt chân vào Thiên quốc. Sớm muộn gì thì ai cũng “lĩnh lương” đồng đều: Một đồng, nhưng là một-đồng-vô-giá.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết quên mình, bằng lòng với những gì mình có để không ghen tương đố kỵ người khác, và biết chân nhận rằng tất cả đều là hồng ân Chúa ban, ngay cả những gì chúng con sở hữu cũng có liên đới người khác: Vật chất, điều tốt và điều xấu, thậm chí là tội lỗi.

3. “Thưa Mẹ, đây là con của Mẹ” (Ga 19:26).
Tình Mẫu Tử luôn thiêng liêng mặc vẻ bí ẩn, không dễ gì hiểu hết. Nhóm Mười Hai chỉ còn Gioan sát cánh bên Mẹ và cùng Mẹ đứng ngậm ngùi dưới chân Thập tự chứng kiến Chúa Giêsu hấp hối. Mẹ thương con mà không thể làm gì hơn, nhìn con mà Mẹ chết lặng. Con cũng thương Mẹ lắm, vì “lá xanh rụng trước” mà chữ hiếu chưa tròn. Ngài không muốn Mẹ buồn nhiều nên xin Mẹ nhận Gioan làm con để thay Ngài an ủi và chăm sóc Mẹ. Lòng Mẹ và lòng Con đều trăm mối tơ vò, đều tan nát. Thánh Gioan thật diễm phúc, nhưng trọng trách rất cao.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết quan tâm và sống chan hòa với mọi người trong đại gia đình nhân loại, không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo, giai cấp, địa vị. Xin giúp chúng con luôn biết sẵn sàng chia sẻ mọi sự với mọi người, nhất là những người gặp khó khăn nhất.

4. “Cha ơi! Sao Cha bỏ rơi con?” (Mt 27:46).
Khi vui người vỗ tay vào, khi buồn chẳng thấy ma nào hỏi han! Đó là chuyện thường tình trong thế giới loài người. Chúa Giêsu cũng đồng cam số phận như chúng ta. Paul Claudel nhận định: “Chúa xuống thế không để diệt trừ khổ đau, cũng không giải nghĩa khổ đau, mà để chia sớt khổ đau”. Ở Chúa Giêsu, tất cả những nỗi đau khổ, nhục nhã, cô đơn,… đều tới mức tột đỉnh. Chúng ta không thể nào chịu nổi, và Ngài biết rõ như vậy. Lời Ngài thốt lên tưởng chừng tuyệt vọng đó lại chính là lời động viên chúng ta phải nỗ lực không ngừng, như thánh Phaolô khuyên: “Dù hoang mang nhưng đừng tuyệt vọng” (x. 2 Cr 4:8).
Lạy Chúa, xin dạy chúng con kiên vững đức tin trong mọi hoàn cảnh, không nản chí sờn lòng, luôn cầu nguyện thành tâm và liên lỉ. Xin giúp chúng con giữ vững hy vọng ngay trong những lúc thất vọng nhất để đồng lao cộng khổ với Ngài, lập công cho chính chúng con và cứu rỗi các linh hồn.

5. “Tôi khát” (Ga 19:28).
Nhịn ăn nhịn uống từ sau Bữa Tiệc Ly tối hôm trước cho đến chiều hôm sau, sức kiệt hơi tàn, Chúa Giêsu kêu “khát” thì người ta lại cho Ngài nếm giấm chua! Ngài khát đến kiệt sức về thể lý, nhưng điều khiến Ngài “khát” đến tột cùng là động thái đáp lại Tình Ngài đã dành cho chúng ta một cách trọn vẹn và vô điều kiện, ngay khi chúng ta hoàn toàn bất xứng: Tội nhân!
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết sẵn sàng và mau mắn theo tiếng gọi của trái tim là yêu mến Ngài hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Xin giúp chúng con biết khao khát yêu thương và thể hiện tình yêu ấy qua tha nhân.

6. “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19:30).
Có khởi đầu thì có kết thúc. Mọi sự đều qua đi, chỉ có tình yêu là bền vững. Ngay chính ba đức đối thần (tin, cậy, mến) thì cuối cùng cũng chỉ còn đức mến. Yêu mến hoặc yêu thương không chỉ quan yếu ở đời này mà còn quan yếu cả trên Nước Trời, khi tất cả chúng ta đã thuộc trọn về Chúa. Chúa Giêsu hoàn tất công trình cứu độ, Ngài cũng muốn chúng ta hoàn tất công việc thường nhật, dù là những việc nhỏ nhất, việc đạo hay việc đời, hoàn tất trong ý thức trách nhiệm chứ không làm chiếu lệ cho qua lần. Đó là bổn phận sống với chính mình và với tha nhân. Lm Pièrre xác định: “Con người chỉ được cứu độ khi trở thành người cứu độ”.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết sống đúng bổn phận từng ngày và hoàn tất bằng chính nỗ lực của chính mình chứ không ỷ lại mà cậy vào người khác, nhất là đừng bao giờ lợi dụng công sức của người khác để nhận là công lao của mình.

7. “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46).
Giây phút cuối còn trên cõi đời, Chúa Giêsu không hề lưu luyến thế gian, Ngài tín thác và hạnh phúc trao phó linh hồn cho Chúa Cha. Ngài thanh thản về cùng Chúa Cha sau khi sứ vụ cứu độ đã được Ngài hoàn tất vẻ vang. Đó là bài học Ngài dạy chúng ta về niềm tín thác nơi Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa, tín thác trong mọi sự, tín thác vô điều kiện, tín thác như Abraham ra đi theo tiếng Chúa gọi dù tay trắng và sẵn sàng hiến tế chính đứa con yêu dấu của mình. Chắc chắn rằng “ai tín thác vào Ngài sẽ không phải thất vọng” (x. Rm 10:11; 1 Pr 2:16).
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết tín thác và dấn thân phụng sự Ngài và phục vụ tha nhân, không ngần ngại “vác tù và hàng tổng” vì Danh Chúa, để Ngài càng LỚN lên thì chúng con càng NHỎ lại.
Chúng con thật lòng cảm tạ Thiên Chúa đã cho chúng con nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ, cảm tạ Đức Kitô đã đến, đã chịu chết và phục sinh “để cho chúng con được sống và được sống dồi dào” (Ga 10:10), và cảm tạ Chúa Thánh Thần đã soi lòng mở trí chúng con. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU

 

Di chúc

Di chúc là điều được người ta trăng trối trước khi chết, thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc là việc làm nhân văn, vừa thể hiện tình cảm và nguyện vọng của chúng ta vừa tránh cho những người thân còn sống phát sinh những mâu thuẫn vì tranh chấp.
Người lập di chúc phải là người thành niên. Những người vị thành niên, đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, cũng được lập di chúc nếu được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Một di chúc được coi là hợp pháp phải hội đủ các điều kiện: (1) Người lập di chúc còn minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; (2) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; và (3) Hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Di chúc phải được lập thành văn bản, cũng có thể di chúc miệng trong các trường hợp đặc biệt. Trong trường hợp tài sản thừa kế là tài sản có đăng ký quyền sở hữu (như bất động sản, ô tô, xe máy,…), di chúc nên được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực để tránh phức tạp về thủ tục thừa hưởng di sản thừa kế về sau.
Người lập di chúc có các quyền sau đây: (1) Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; (2) Phân định nguồn di sản cho từng người thừa kế; (3) Dành một phần trong khối di sản để di tặng hoặc thờ cúng; (4) Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản; (5) Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Đó là những quy định về di chúc của xã hội loài người, có thể khác nhau tùy mỗi quốc gia. Người giàu thì di chúc về tài sản, người nghèo không có tài sản nên thường di chúc về những giáo huấn. Ca dao, tục ngữ, và những câu danh ngôn cũng là những di sản được người xưa di chúc cho hậu thế.
Chúa Giêsu là người yêu thích phục vụ, và chỉ biết phục vụ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45). Đồng thời Ngài cũng là người nghèo nhất: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20).
Vì thế, Ngài không di chúc bất cứ tài sản vật chất nào, mà là một “Giới luật Yêu thương” duy nhất: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34).
Điều răn của Chúa Giêsu mệnh danh là “điều răn mới” vì khác hẳn luật Cựu ước: “Mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân” (Xh 21:24); “Chỗ gãy đền chỗ gãy, mắt đền mắt, răng đền răng; nó đã làm cho người khác mang tật thế nào, thì người ta cũng sẽ làm cho nó như vậy” (Lv 24:20); “Mắt anh em đừng nhìn mà thương hại. Luật báo phục tương xứng: Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân” (Đnl 19:21).
Sống yêu thương là sống Lời Chúa, là thi hành Thánh Ý Chúa, là giữ điều răn Chúa dạy, nhưng những người sống như vậy có thể bị coi là “ngược đời”, là “không giống ai”, là “chảnh”, và có thể bị ghét bỏ hoặc bị hại. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau (Ga 13:35).
Yêu thương là luật tối quan trọng, vì Đạo Chúa mệnh danh là Đạo Yêu Thương. Mến Chúa và Yêu Người tuy hai mà một, như Thánh Gioan nói: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh chị em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh chị em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20).
Yêu thương không là chuyện đùa, không hề đơn giản, vì nói thì quá dễ mà làm thì quá khó, và không như chúng ta tưởng: “Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó” (1 Ga 3:15). Thánh Gioan còn nói thẳng: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?” (1 Ga 3:17).
Vì đức ái là quan trọng nhất trong 3 đức Tin-Cậy-Mến, các thánh cũng thường nói về đức yêu thương. Thánh Tiến sĩ Thomas Aquinas so sánh: “Nếu không có đức ái thì không có bất kỳ đức hạnh nào, giống như nếu không có mặt trời thì cũng không có một tinh tú nào cả”. Thánh Tiến sĩ Têrêse Avila nói: “Một người càng yêu người thì họ cũng nhất định càng yêu mến Thiên Chúa; nhìn người yêu người như thế nào thì biết họ cũng yêu Thiên Chúa như vậy. Đó là thước đo đáng tin cậy”. Còn Thánh Bênađô nhận định: “Yêu là chiến thắng Thiên Chúa”.
Ngoài di chúc “luật yêu thương”, Chúa Giêsu còn có một di chúc “đệ nhất độc chiêu” là Thánh Thể. Không ai có loại di sản độc đáo như vậy để “hồi môn” cho con cháu.
Trước khi chịu khổ nạn và chịu chết vì yêu, Đức Giêsu cùng 12 môn đệ ăn Tiệc Vượt Qua lần cuối cùng. Đang khi dùng bữa, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy” (Mt 26:26). Rồi Ngài cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:27-28). Hẳn là các môn đệ quá bất ngờ, và chắc là cũng thật khó tin đó lại là sự thật – thật 100%.
Di chúc xong, Ngài còn thể hiện yêu thương để làm gương: Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn mà thắt lưng và rửa chân cho các đệ tử (Ga 13:3-4). Ngài chia tay: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do Thái: “Nơi Tôi đi, các người không thể đến được”, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy” (Ga 13:33).
Ngài đi đâu mà “bí mật” đến nỗi “không ai đến được”? Thế thì chỉ có chết thôi. Thảo nào Ngài trăng trối và di chúc! Nhưng không ai biết chính xác, dù có lần Ngài đã nói rõ. Ông Phêrô “đại diện” chúng ta mà nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được? Con sẽ thí mạng con vì Thầy!” (Ga 13:37). Đức Giêsu đáp: “Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư? Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần” (Ga 13:38).
Hằng ngày chúng ta cũng chẳng “ngon” gì hơn ông Phêrô. Nói mạnh mà rồi lại chối ngay. Chúng ta cũng chỉ là những “Chú Cuội” mà thôi! Di chúc Chúa Giêsu để lại mà chúng ta chưa thực hiện đúng mức!
Lạy Thiên Chúa, xin tha thứ cho chúng con, xin giúp chúng con can đảm thực hiện di chúc mà Đức Kitô đã để lại cho chúng con, vì đó là trách nhiệm của chúng con. Xin thắp Lửa Yêu trong tâm hồn chúng con để chúng con biết yêu mến Thánh Thể và yêu thương mọi người. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Mùa Chay – 2012

 

Tam Nhật Vượt Qua

Tam Nhật Vượt Qua (Paschal Triduum), cũng gọi là Tam Nhật Thánh (Holy Triduum) hoặc Tam Nhật Phục Sinh (Easter Triduum). Đó là trung tâm điểm của đức tin: Sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô.
GIỚI THIỆU
Tam nhật Vượt qua – gồm Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday), Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday), Thứ Bảy Tuần Thánh (Holy Saturday), và Lễ Phục Sinh (Easter). Điều này bao gồm Đêm Vọng Phục Sinh (Great Easter Vigil), đỉnh cao của Tam Nhật Thánh. Từ Triduum có gốc tiếng Latin nghĩa là “ba ngày”. Tam Nhật Thánh bắt đầu từ bắt đầu từ chiều Thứ Năm Tuần Thánh và kết thúc vào kinh chiều (Evening Prayer) của Chúa Nhật Phục Sinh. Như vậy, Tam Nhật Thánh gồm 3 ngày trọn vẹn bắt đầu và khết thúc vào chiều tối. Tam Nhật Thánh là một phần của Mùa Chay (ít là theo phụng vụ), nhưng Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy Tuần Thánh vẫn được tính vào 40 ngày Mùa Chay truyền thống. Tam Nhật Thánh cử hành trung tâm điểm của đức tin và ơn cứu độ: Sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Như vậy, Tam Nhật Thánh tưởng niệm Bí tích Thánh Thể (Bí tích của các Bí tích), cuộc khổ nạn, sự đóng đinh, sự chết và sự phục sinh vinh quang của Chúa Giêsu vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh. Cùng với việc Thăng Thiên, các sự kiện quan trọng này tạo nên Mầu nhiệm Vượt Qua (Paschal Mystery).
Mặc dù năm phụng vụ khởi đầu vào Mùa Vọng nhưng vẫn đạt tới đỉnh cao trong Tam Nhật Thánh, đặc biệt vào Lễ Phục Sinh, lễ trọng của các lễ trọng, gọi là đại lễ. Giáo lý Công giáo mô tả tầm quan trọng của Tam Nhật Thánh thế này:
Bắt đầu bằng Tam Nhật Thánh như nguồn ánh sáng, thời đại mới của sự phục sinh đổ đầy cả năm phụng vụ bằng sự rực rỡ của ánh sáng. Dần dần, về phương diện khác của nguồn gốc này, năm được tôn lên bằng phụng vụ. Đây thực sự là “năm của ân sủng Thiên Chúa”. Sự cứu độ hoạt động trong khung thời gian, nhưng vì sự viên mãn trong cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu và sự tràn đầy Thánh Thần, đỉnh cao của lịch sử được tiên báo là “sự nếm trước” và Vương quốc của Thiên Chúa đến trong thời đại của chúng ta (Giáo lý Công giáo, số 1168).
LỊCH SỬ
Các Kitô hữu tưởng niệm cuộc tử nạn và sự phục sinh của Chúa Giêsu từ thời các Tông đồ, vì sự chết và sự sống lại của Ngài là trung tâm ơn cứu độ Kitô giáo. Ít là vào thế kỷ II, các Kitô hữu đã cử hành Đêm Vọng Phục Sinh, bắt đầu đêm thứ Bảy, tiếp tục đến sáng lễ Phục Sinh. Trong Đêm Vọn Phục Sinh, các Kitô hữu tưởng niệm lịch sử ơn cứu độ, chờ đợi sự trở lại của Chúa Giêsu, và cử hành sự phục sinh của Chúa Giêsu vào sáng sớm Chúa Nhật Phục Sinh. Trong Đêm Vọng Phục Sinh, các tân tòng lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy và Bí tích Thánh Thể lần đầu tiên.
Từ việc cải cách phụng vụ của Công đồng Vatican II, Đêm Vọng Phục Sinh và Tam Nhật Thánh lại đạt được vị thế ưu tiên trong lịch Phụng vụ Công giáo Tây phương. Luật năm Phụng vụ và lịch Phụng vụ đã tái tiết lập Tam Nhật Thánh là mùa sau Mùa Chay trong Giáo hội Công giáo. Nhiều Giáo hội Tin Lành không coi Tam Nhật Thánh là mùa phụng vụ, và cử hành Mùa Chay cho tới trước Đêm Vọng Phục sinh.

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ ChurchYear.net)

Nghi thức Mùa Chay Cutud

Chuyện lạ ngỡ chỉ có trong truyền thuyết, thế nhưng lại là chuyện thật 100%.
Mỗi lần Mùa Chay về, TP San Fernando ở Pampanga lại náo nức chuẩn bị “Nghi thức Mùa Chay Cutud” nổi tiếng ở TP San Pedro (nghĩa là Thánh Pedro), thuộc tỉnh Languna, Philippine. Nghi thức này còn gọi là Maleldo. Người ta không quan tâm cái nắng nóng gay gắt mà chỉ muốn tận mắt chứng kiến sự kiện độc đáo này diễn ra trong Tuần Thánh.
Lịch sử
Ricardo Navarro, nhà biên kịch không chuyên ở địa phương, đã viết kịch bản Via Crucis (Đường Thập Giá), tái diễn cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Vở kịch thương khó được các cư dân địa phương diễn và đỉnh điểm là Thứ Sáu Tuần Thánh. Vở kịch không được diễn bình thường mà các diễn viên bị đóng đinh thật (cả chân tay) vào thập giá gỗ trên đồi Can-vê (đồi nhân tạo). Sự kiện bắt đầu từ 10 giờ đến 11 sáng sau khi đoàn người đi bộ 4 km tới “Đồi Gôn-gô-tha”. Nhiều người sám hối bằng cách tự đánh mình bằng roi da vào tấm lưng trần của mình trong khi đi theo “Chúa Giêsu” – một thanh niên Philippine vác Thập giá gỗ nặng suốt chặng đường đó, tái diễn đầy đủ cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu.
Lòng sùng kính này được thánh Phanxicô Assisi khởi xướng từ thời Trung cổ và được lan rộng khắp Giáo hội Công giáo La Mã. Hơn 50 năm trước, vở Via Crucis được các nghệ sĩ tình nguyện ở địa phương diễn lần đầu tiên, từ đó người ta gọi là San Pedro Cutud. Năm 1962, Artemio Anoza là người đầu tiên tình nguyện chịu đóng đinh vào Thập giá, đã “gợi hứng” cho nhiều người đạo đức noi theo. Lòng sùng kính này được diễn ra hằng năm, rất nhiều người tự đánh mình để tỏ lòng sám hối tội lỗi. Năm 1965, vở Via Crucis được tổ chức tại Betis, Guagua, Pampanga, gây sự chú ý tới cả nước Philippine, và từ đó đã thu hút các du khách quốc tế.
Sự kiện
Hằng năm, người Kapampanga duy trì Nghi thức San Pedro Cutud Lenten để kính nhớ cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Năm 1985, Ruben Enaje, 54 tuổi, là thợ mộc và đóng vai Chúa Giêsu bị đóng đinh trên Thập giá cùng với 25 người khác, trong đó có 2 phụ nữ. Họ được đem tới khu đồng ruộng ở San Pedro Cutud, nơi người ta đã tạo đồi Can-vê. Họ đi bộ 3 km để đến đồi Can-vê và chịu đóng đinh vào Thập giá với những chiếc đinh dài 5 cm (đã được nhúng cồn để tẩy trùng). Hàng ngàn người địa phương và ngoại quốc đến để xem. Enaje thề sẽ làm nghi thức này sau khi thoát chết vì rơi từ lầu 3 năm trước. Từ đó, anh tình nguyện đóng đinh thật hằng năm.
Có 2 phụ nữ đã chịu đóng đinh là Amparo Santos người Bulacan và một nữ tu người Bỉ. Nữ tu này chịu đóng đinh 1 lần hồi cuối thập niên 1990, còn Amparo Santos đã chịu đóng đinh năm 2004. Nghi thức San Pedro Cutud nổi tiếng về “nghi thức đóng đinh” này, các thành phố khác như Sta. Lucia và San Jose ở San Fernando, và Lourdes Sur ở Angeles City cũng tổ chức sự kiện này.
San Pedro Cutud xa TP Manila khoảng 70 km về hướng Bắc, và cách trung tâm TP San Fernando chỉ 3 km. Chính quyền TP San Fernando, với sự hỗ trợ của ngành du lịch có những dạng du lịch “trọn gói” để bảo đảm cho du khách khắp nơi đến tham dự nghi thức “độc nhất vô nhị” vào Mùa Chay này.
Ai có điều kiện thì đây là dịp du lịch thú vị và đạo đức. Những người chịu đóng đinh thật như thế thật đáng khâm phục, chí ít cũng là sức chịu đựng! Chịu đóng đinh như vậy hẳn là họ mới cảm nghiệm cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu đến mức nào để có thể sống tốt hơn vậy!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ FestivalsInThePhilippines.com)

 

Chứng nhân của Chúa

CatholicCulture (22-3-2012) – Theo thông tấn xã của Thánh bộ Phúc âm hóa các Dân tộc, đã có ít nhất 1.000 nhà truyền giáo Công giáo và các nhà hoạt động mục vụ bị sát hại trong những năm từ 1980 tới 2011.
Có 115 người bị giết trong thập niên 1980, 604 người bị giết trong thập niên 1990, trong đó có 248 người bị giết trong chiến dịch “Diệt chủng Rwanda” (Rwandan Genocide) và 281 bị giết từ năm 2000.
Chúa Giêsu đã nói trước: “Vì danh Thầy, anh chị em sẽ bị mọi người thù ghét, nhưng ai bền chí tới cùng sẽ được cứu thoát” (Mc 13:13), thế nên “vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây phải thiệt thân” (Tv 69:10; Ga 2:17). Máu của các chứng nhân của Chúa vẫn đổ ra vì chính nghĩa và công lý của Thiên Chúa…
TRẦM THIÊN THU

 

Thề hứa
(Chúa Nhật V Mùa Chay, năm B-2015)

Trong cuộc sống có nhiều dạng thề hứa. Thế hứa là giao ước thực hiện điều gì đó. Những người sống đời sống hôn nhân có lời hứa chung thủy phu thê, nhưng người sống đời sống tu trì có lời hứa mà chúng ta gọi là lời khấn – ít nhất là ba lời khấn: Vâng lời, nghèo khó, khiết tịnh. Lời thề hứa nào cũng rất cần chữ TÍN.
Giữa các quốc gia có các hiệp ước, các công ty có hợp đồng, giữa các cá nhân cũng có giao kèo. Trẻ em cũng thường ngoéo tay nhau mỗi khi thề hứa với nhau. Trong nhạc phẩm “Ngoéo Tay Nhau Thề”, tác giả Vinh Sử và Cô Phượng mô tả: “Ngoéo tay nhau thề lòng không dối lòng, ngoéo tay nhau thề tình nghĩa mênh mông…”. Chính tình yêu cũng có lời nguyện ước giữa hai người yêu nhau.
Tuy nhiên, hứa thì dễ, giữ mới khó. Lời hứa cũng nhiêu khê. Sử gia Thomas Fuller (1608-1661) nói: “Lời thề trong giông bão bị lãng quên lúc bình yên”. Triết gia Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) nhận định: “Những người chậm chạp khi đưa ra lời hứa là những người trung thành với việc thực hiện nó nhất”.
Chuyện kể rằng…
Một anh chàng giật mình khi nghe một giọng nói khàn khàn, run run. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.
– Ăn hộ tôi mớ rau…!
Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người để tới chỗ làm sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh:
– Dạ, con không ăn, bà ạ!
Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi gã quên rất nhanh cái cảm giác ấy. “Mình thương người thì ai thương mình?” – ý nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.
– Ăn hộ tôi mớ rau, cô ơi! – Tiếng bà cụ yếu ớt.
– Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn! – Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.
Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày, đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:
– Rau này bà bán bao nhiêu?
– Hai nghìn một mớ – Bà cụ mừng rỡ.
Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.
– Sao chú mua nhiều thế?
– Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!
Rồi gã nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy lòng mình vui vui...
Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, và gã nghĩ đến bà cụ…
– Nghỉ ngơi thế đủ rồi đấy!
Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.
Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ rồi.
Chiều Chúa Nhật, gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy, có lẽ gã thích thế. Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang “buôn chuyện”.
Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:
– Bà bán rau chết rồi.
– Bà cụ hay đi qua đây hả chị? – chị bán nước khẽ hỏi.
– Tội nghiệp bà cụ! Cách đây mấy tuần, bà cụ giở chứng, cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng bà nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh mà... chết!
Câu chuyện khiến lòng chúng ta chùng xuống, nỗi bâng khuâng rất lạ, rất khó tả. Bà cụ là người chân thật, trọng chữ tín. Mấy mớ rau chẳng đáng gì, nhưng với bà cụ, lời hứa rất đáng giá. Lời hứa nào cũng vô giá – dù lớn hay nhỏ, và phải được thực hiện bằng mọi giá!
Giữa Thiên Chúa và con người cũng có những lời thề hứa, chúng ta gọi là giao ước. Thời Cựu Ước, Đức Chúa đã tuyên phán: “Này sẽ đến những ngày Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31:31-33). Thiên Chúa đã hứa gì thì chắc chắn được làm, làm đến nơi đến chốn.
Chúng ta chỉ là tội nhân, chẳng đáng gì để được Ngài hứa, nhưng vì lòng thương xót mà Ngài dành cho chúng ta những giao ước kỳ diệu và vô giá: “Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: ‘Hãy học cho biết Đức Chúa’, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (Gr 31:34). Quả thật, tác giả Thánh Vịnh đã phải thốt lên: “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130:3).
Thiên Chúa không đòi buộc gì nhiều, Ngài chỉ cần chúng ta thành tâm sám hối. Thế thôi, mọi thứ sẽ ô-kê ngay! Thế nhưng chúng ta là phàm nhân, không chỉ có máu Pharisêu mà còn có máu Cuội. Quá quắt lắm, vừa giả hình vừa hứa lèo. Mùa Chay về, dịp thuận tiện để chúng ta nghiêm túc xét lại chính mình, và rồi hãy sám hối: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:3-4).
Chút tro rắc trên đầu (hoặc vẽ trên trán) cũng chỉ vô ích nếu chúng ta không “xức tro” tâm hồn và “xé lòng” vì tự cảm thấy bất xứng với Thiên Chúa là Đấng chí thánh. Chắc chắn Ngài xót thương mà bỏ qua hết nếu chúng ta thành tâm đấm ngực chính mình, đấm vào chỗ sâu thẳm nhất của con tim, chứ đừng đấm ngực người khác. Không chỉ vậy, chúng ta còn phải cầu xin Thiên Chúa biến đổi chúng ta bằng cách “đại tu” linh hồn chúng ta: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con; đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài” (Tv 51:12-15). Lời cầu nguyện chân thành như thế này là lời cầu nguyện có màu tím nhưng lại lung linh sắc hồng. Đẹp biết bao!
Sinh hữu hạn, tử bất kỳ. Cái khổ nhiều hơn cái sướng, cái buồn nhiều hơn cái vui, nước mắt nhiều hơn nụ cười. Đời phàm nhân là thế. Khi xuống thế làm người, Chúa Giêsu cũng phải chịu trăm cay ngàn đắng. Cay đến xé lòng, đắng đến cứng miệng. Còn con đường nào đau thương hơn Đường Thập Giá?
Thánh Phaolô cho biết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:7-9). Đức vâng lời rất cần thiết, cần thiết hơn cả lễ tế, thế nhưng lại là bài học khó học và khó áp dụng nhất.
Một hôm, trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy-lạp. Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin được gặp Chúa Giêsu. Ông Philípphê đi nói với ông Anrê, ông Anrê cùng với ông Philípphê đến thưa với Đức Giêsu. Ngài không trả lời thẳng vấn đề mà lại nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” (Ga 12:23-26).
Đó là “giao ước” mà nghe lại như không là giao ước: Nếu thế này thì sẽ thế kia, nếu thế kia thì sẽ thế nọ. Rất bình thường mà lại rất lạ. Cũng với tinh thần đó, Thánh Phanxicô Assisi đã xác định: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Kinh Hòa Bình). Quả thật, vô cùng kỳ diệu! Người ta phải tìm hiểu thấu đáo, rồi phải can đảm sống, nhờ đó mới có kinh nghiệm, có kinh nghiệm rồi thì mới cảm nghiệm được dạng giao ước “ngược đời” như vậy.
Thiên Chúa đã giao ước với nhân loại sau khi Ông Bà Nguyên Tổ sa ngã. Ngài đã hứa chắc chắn: “Một khi đã thề với danh nghĩa là Đấng Thánh, thì cùng Đa-vít, Ta chẳng thất tín đâu” (Tv 89 :36). Ngài hứa ban Con Một làm Đấng Cứu Độ, và Ngài thực hiện đến cùng. Chúa Cha cương quyết đến mức Chúa Giêsu, theo nhân tính, còn tưởng Ngài bị Chúa Cha bỏ rơi trong nỗi đau khổ tột cùng và thốt lên: “Sao Cha nỡ bỏ con?” (Mt 27:45; Mc 15:34).
Vâng, lời hứa phải được thực hiện, Ý Cha phải được thể hiện. Nhưng với nhân tính, Chúa Giêsu cũng cảm thấy lo sợ nên Ngài đã tâm sự với các môn đệ: “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây?” (Ga 12:27a). Và rồi Ngài thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (Ga 12:27b-28). Dù sợ nhưng Ngài vẫn chỉ mong Ý Cha nên trọn mà thôi. Ngay lúc đó có tiếng xác nhận từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (Ga 12:29). Dân chúng đứng ở đó nghe vậy, người thì bảo đó là tiếng sấm, người thì bảo đó là tiếng của một thiên thần. Người trần mắt thịt làm sao hiểu nổi! Và rồi Đức Giêsu nói: “Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài!” (Ga 12:30-31).
Giờ G đã điểm. Sự giằng co rất gay go. Thời đại chúng ta đang sống cũng là thời điểm “tranh tối, tranh sáng”, Thánh Phaolô đã có lần thốt lên: “Mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7). Nhưng dù thế nào, Chúa Giêsu vẫn muốn thực hiện trọn đức tuân phục, và dù đau khổ tột cùng, Ngài vẫn hứa với chúng ta: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12:32). Ngài nói thế để ám chỉ Ngài sẽ phải chết cách nào: Chết treo trên Thập Giá. Chúa Giêsu chịu chết để hoàn tất lời hứa của Chúa Cha.
Chúng ta được Thiên Chúa giao ước, chúng ta cũng phải thề hứa với Ngài và tha nhân, nhưng phải thực hiện đúng. Bằng cách nào? Đồng lao cộng khổ với Chúa Giêsu qua những điều trái ý mình hằng ngày. Mùa Chay, Mùa Thương Khó, chúng ta hãy noi gương Thánh nữ Faustina cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Ngài về những đau khổ nội tâm, về sự khô khan, về sự sợ hãi, về nước mắt, về sự lưỡng lự, về sự tăm tối nội tâm, về sự cám dỗ, về sự thử thách, về sự giày vò mà con không thể diễn tả, nhất là về những điều mà không ai hiểu, về giờ chết với sự chiến đấu dữ dội và cay đắng. Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Ngài về những thập giá nho nhỏ hằng ngày, về sự đối nghịch với các nỗ lực của con, về sự gian khó của đời sống cộng đoàn, về sự hiểu lầm, về sự bẽ mặt vì người khác, về sự khó chịu mà người ta đối xử với con, về sự nghi oan, về sức khỏe yếu kém của con, về sự hy sinh, về sự chết cho chính con, về sự kém hiểu biết, về các kế hoạch thất bại của con” (Nhật Ký, số 343).
Ý nguyện thật là cao đẹp vì hoàn toàn muốn tuân phục Ý Chúa, nhưng để thực hiện thì chúng ta phải cố gắng lắm mới có thể hoàn tất lời ước nguyện, lờ thề hứa. Thật không dễ dàng chút nào! Nhưng với ơn Chúa, người yếu đuối nhất cũng khả dĩ thực hiện.
Hành trình giao ước rất gian khổ, đầy máu đỏ tươi và nước mắt mặn chát, hành trình lời thề hứa là Hành Trình Thập Giá, phải qua Đường Thập Giá mới tới được Miền Ánh Sáng – Per Crucem ad Lucem.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết chọn Chúa là cùng đích cuộc đời, xin giúp chúng con can đảm thực hiện mọi lời thề hứa với Ngài và với tha nhân. Đã biết bao lần chúng con lỗi lời thề với Ngài, xin Ngài thương tha thứ; đã bao lần chúng con sai lời hứa với nhau, nhưng chúng con không cho đó là tội phạm tới tha nhân, chúng con thành tâm sám hối và quyết tâm chấn chỉnh, xin Ngài đại lượng thương xót. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

DongCongNet 12-3-2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)