SUY NIỆM NĂM B

SỰ THẬT MINH NHIÊN
(Lễ Vọng Phục Sinh – năm B)

CON CHÚA PHỤC SINH – TRỜI ĐẤT MỚI
THẾ NHÂN THAY ĐỔI – XÁC HỒN VUI

Xét về bản tính nhân loại, văn sĩ trào phúng Mark Twain (Mỹ) nói: “Người ta không lúc nào thành thật hơn lúc nhận biết mình là kẻ dối trá” (A man is never more truthful than when he acknowledges himself a liar). Một kiểu nói khôi-hài-nhức-buốt. Khi còn mặc xác phàm, Chúa Giêsu đã xác định: “Sự thật sẽ giải phóng quý vị” (Ga 8:32). Được giải thoát là không còn lệ thuộc, không còn bị bất cứ thứ gì kìm kẹp. Đó là sự giải phóng (hoặc giải thoát) đích thực, chứ không phải loại giải phóng ảo theo kiểu “bánh vẽ” mà người ta vẫn hô hào, khoe khoang.

Sự giải thoát khá đa dạng, cụ thể và dễ nhận biết là “thoát khỏi lao tù” (dù đó là nhà tù lớn hay nhỏ). Tù nhân rất hạnh phúc khi được phóng thích. Bệnh nhân rất hạnh phúc khi được phục hồi. Người đang khát rất hạnh phúc khi được giải khát. Người mong chờ rất hạnh phúc khi được mãn nguyện. Và còn nhiều dạng hạnh phúc khác khi chúng ta được như ý. Nhưng người ta rất hạnh phúc khi được “cải lão hoàn đồng”, và chắc chắn không có hạnh phúc nào lớn hơn khi được “cải tử hoàn sinh”. Vậy mà chúng ta sẽ được tận hưởng loại hạnh phúc đặc biệt này, loại hạnh phúc mà chính Chúa Giêsu đã hứa ban: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:3).

Theo tầm nhìn của nhân loại, Chúa Giêsu là người “thua cuộc”, thất bại ê chề, thế nhưng Ngài đã lật ngược thế cờ bằng cách phục sinh từ cõi chết, đúng như lời Ngài nói trước: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9:31).

Đỉnh cao của Mùa Chay là Tuần Thánh, đỉnh cao của Tuần Thánh là Tam Nhật Vượt Qua. Tuần Thánh đa sắc màu mà lại thấm đậm nỗi buồn, thế nhưng đêm cuối tuần lại chan hòa niềm vui nối tiếp nỗi mừng. Vì thế, trong bài Công bố Tin mừng Phục sinh (Exultet), Giáo hội nhiều lần mời gọi mọi người “mừng vui lên!”, vì Đức Kitô “đã thay thế chúng ta trả nợ của Adam với Chúa Cha muôn thuở, và đã lấy máu hồng quý giá rửa sạch án tổ tông xưa”, và “vì đây là lễ vượt qua, lễ mà Chiên thật bị sát tế, trong máu Chiên môi miệng tín hữu được thánh hiến đêm nay”.

Hạnh phúc diệu kỳ “tỏa sáng” đêm nay, bởi vì đêm nay “là đêm mà cha ông chúng ta, là con cháu Israel, thoát ly Ai Cập xưa, Chúa đã cho tiến qua Biển Đỏ vẫn khô chân; là đêm nhờ ánh sáng cột lửa thiêng xóa tan mọi bóng tối nhân gian; là đêm mà hết những ai có lòng tin Chúa Kitô khắp trên trần gian, được cứu thoát hết các vết nhơ và tối tăm tội khiên, được ơn thiêng đưa về hợp đoàn cùng các thánh nhân; và “là đêm mà xiềng xích bị bẻ tung, Đức Kitô khải hoàn chiến thắng vinh quang”.

Và đặc biệt đêm nay còn là đêm hạnh phúc vô cùng bởi vì “nếu không được ơn cứu chuộc khỏi tội khiên, chúng ta sinh ra nào có ích chi!”. Thật kỳ diệu đối với phàm nhân: “Ôi nhiệm mầu thay! Lòng Yêu Thương của Chúa không ai hiểu thấu!”. Niềm vui đêm nay được tính theo cấp số nhân bởi vì “tội Adam đã được tẩy xóa chính nhờ sự chết Chúa Kitô!”. Vớ niềm vui tột đỉnh như vậy, Giáo hội đã gọi Tội Nguyên Tổ là “tội hồng phúc”, chính tội hồng phúc đó “đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang”, và Giáo hội cũng gọi đêm nay là “đêm hồng phúc”, bởi vì đêm nay là “đêm nối kết trời đất”. Một “dấu cộng” tâm linh thật to lớn!

Thánh Vịnh gia xác định: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất. Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33:4-6). Có đau khổ mới biết hạnh phúc ngọt ngào thế nào, và muốn vinh quang thì phải biết chịu đựng đau khổ. Đức Kitô đã đau khổ tột cùng nên mới được vinh quang, vì thế: “Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể, hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp” (Tv 33:12). Đồng thời chúng ta phải luôn cầu nguyện với Chúa: “Xin đổ tình thương xuống trên chúng con như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22). Lời cầu đó cũng chính là lời hứa của mỗi chúng ta thân thưa với Ngài – vị Chúa Tể càn khôn duy nhất.

Lạ lùng biết bao, chính câu hỏi của Thánh Phaolô cũng chính là câu trả lời: “Anh em không biết rằng khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Ngài sao?” (Rm 6:3). Và rồi chính Thánh Phaolô đã giải thích rạch ròi: “Được dìm vào trong cái chết của Ngài là chúng ta đã cùng được mai táng với Ngài. Bởi thế, cũng như Ngài đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:4). Cụm từ “được dìm vào cái chết của Đức Kitô” cho thấy tình-trạng-thụ-động-hoàn-toàn-tín-thác, và đó chính là niềm hạnh phúc của chúng ta – những người tin nhận Đấng Cứu Thế Giêsu Kitô. Nghe có vẻ “ngược đời” lắm, chắc chắn những người không có niềm tin Kitô giáo sẽ không thể hiểu nổi, thế nhưng đó lại là sự thật trăm phần trăm, vừa mặc nhiên vừa minh nhiên.

Tình trạng “được dìm vào cái chết của Đức Kitô” không chỉ là hạnh phúc mà còn là sự may mắn của chúng ta, bởi vì “chúng ta đã NÊN MỘT với Đức Kitô NHỜ ĐƯỢC CHẾT như Ngài đã chết, thì chúng ta cũng sẽ NÊN MỘT với Ngài, NHỜ ĐƯỢC SỐNG LẠI như Ngài đã sống lại” (Rm 6:4). Việt ngữ “hay hơn” ngoại ngữ ở thể thụ động: cái gì “không tốt” thì nói BỊ, cái gì “tốt” thì nói ĐƯỢC. Và không chỉ vậy, “con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa” (Rm 6:6). Đó là cả một chuỗi kỳ diệu của cuộc đời người Công giáo.

Thật vậy, không kỳ diệu sao được, bởi vì bất kỳ “ai đã chết thì thoát khỏi quyền lực của tội lỗi” (Rm 6:7). Đúng như thế, “nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8). Thánh Phaolô xác quyết đó chính là NIỀM TIN của chúng ta. Từ 0 giờ đêm Thứ Năm rạng sáng Thứ Sáu Tuần Thánh, những kẻ thủ ác tưởng đã chiến thắng, và từ 3 giờ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, Tử thần cũng cho rằng nó đã chiếm ưu thế, nhưng rồi hắn đành “bó tay” từ Đêm Vọng Phục Sinh: “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Ngài chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Ngài. Ngài đã chết là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ” (Rm 6:9-10).

Sự thật minh nhiên: Đức Giêsu đã thực sự sống lại, đúng như lời Ngài đã nói trước. Ngài sống cho Thiên Chúa, và chắc chắn chúng ta cũng cùng sống lại với Ngài. Còn hạnh phúc nào hơn? Đó là điều “trên cả tuyệt vời”. Tuy nhiên, không thể cứ “khơi khơi”, không thể cứ “thấy sang bắt quàng làm họ”, hoặc sống kiểu “cục muối cắn đôi, cục đường ăn cả”, mà phải có điều kiện “ắt có và đủ”, nghĩa là ai đã sống Mùa Chay thì mới có thể cảm nhận trọn vẹn niềm vui phục sinh, và chỉ những ai đã “dám chết cho tội” thì mới xứng đáng cùng phục sinh với Đức Kitô: “Hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6:11).

Ngay thời điểm vừa hết ngày Sabát, bà Maria Mácđala với bà Maria – mẹ ông Giacôbê, và bà Salômê, họ mua dầu thơm để đi ướp xác Đức Giêsu. Đó là sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc, các bà ra mộ. Họ ngạc nhiên: “Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây?” (Mc 16:3), vì tảng đá lấp cửa mộ là tảng đá lớn lắm, có thể vài đàn ông lực lưỡng mới có thể lăn ra nổi, thế mà họ vừa ngước mắt lên đã thấy tảng đá lăn ra một bên rồi. Ngạc nhiên này tiếp theo ngạc nhiên khác. Họ vào trong mộ thì thấy một người thanh niên ngồi bên phải, mặc áo trắng. Là phụ nữ “yếu bóng vía” nên họ hoảng sợ. Nhưng người thanh niên liền trấn an: “Đừng hoảng sợ!” (Mc 16:6a), rồi người thanh niên đó xác định: “Các bà tìm Đức Giêsu Nadarét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Ngài đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa. Chỗ đã đặt Ngài đây này!” (Mc 16:6b). Chắc chắn rồi, rõ ràng rồi. Thế mà những kẻ thủ ác, vốn tâm địa xấu xa, quen thói ăn không nói có, dám hối lộ cho đám lính một số tiền để chúng phao tin tào lao! (x. Mt 28:13-14). Những kẻ xấu đó không ai xa lạ, mà chính là các thượng tế lừa đảo.

Sau đó, chính người-thanh-niên-áo-trắng đó còn căn dặn họ thêm: “Xin các bà về nói với môn đệ Ngài và ông Phêrô rằng Ngài sẽ đến Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Ngài như Ngài đã nói với các ông” (Mc 16:7). Chắc lúc đó các bà nhà ta run như cầy sấy, sợ quá nên chẳng nói được lời nào. Thảo nào vừa nghe người thanh niên kia nói xong, “họ vừa ra khỏi mộ liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía” (Mc 16:8a), thậm chí “chẳng nói gì với ai vì sợ hãi” (Mc 16:8). Thật hay mơ vậy ta? Thế là thế nào?

Ôi chao, thật tội nghiệp các chị em phụ nữ quá! Chiều Thứ Sáu, họ không sợ mà cứ lẽo đẽo tiễn Chúa Giêsu lên Đồi Can-vê như “đưa đám tang sống” và khóc hết nước mắt. Thế mà bây giờ, biết Chúa Giêsu đã sống lại, họ lại sợ hãi và chạy mất dép như ma đuổi. Phụ nữ là vậy, thông cảm! Việc cần quan tâm lúc này là: ĐỨC KITÔ ĐÃ PHỤC SINH. Hãy vui mừng lên – Alleluia!

Lạy Thiên Chúa hằng sinh và hằng hữu, tất cả là hồng ân vô biên của Ngài. Chúng con thật hạnh phúc được đắm mình trong Biển Hồng Ân Thương Xót vô biên của Ngài. Chúng con xin tạ ơn Thánh Phụ đã ban Thánh Tử Giêsu cho chúng con, xin trọn đời tạ ơn Đức Kitô đã cứu độ chúng con, và xin tạ ơn Thánh Linh luôn hướng dẫn chúng con trong mọi hoàn cảnh. Cúi xin Ba Ngôi gìn giữ, nâng đỡ và thánh hóa chúng con, đừng để chúng con phải thiếu vắng Chúa bao giờ. Xin cho mọi người cảm nhận được niềm vui phục sinh trong mọi hoàn cảnh của mình. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

KHẢI HOÀN
(Chúa Nhật Phục Sinh, năm B)

MỘ ĐÁ CHỨNG MINH ĐỨC CHÚA SỐNG LẠI
NHÂN GIAN LOAN BÁO TIN MỪNG PHỤC SINH

Chúa Giêsu đã phục sinh khải hoàn, tất cả tín nhân hân hoan hợp xướng “Alleluia!”, nhưng đồng thời cũng phải có trọng trách: “Anh em PHẢI CỞI BỎ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí Chúa đổi mới tâm trí anh em, và PHẢI MẶC LẤY con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:22-24). Hai mệnh lệnh “phải” rất quyết liệt!

Chúa Giêsu đã chiến thắng Tử Thần, niềm vui phục sinh đang tràn ngập lòng người, ánh sáng phục sinh đang chiếu tỏa chói ngời trên mỗi Kitô hữu. Chúng ta vô cùng vui mừng vì Đức Kitô đã sống lại thật và lòng chúng ta đầy tin tưởng nhờ Lời Chúa động viên: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:17-18). Chúa Giêsu sống lại là lời xác định về niềm tin của chúng ta: XÁC LOÀI NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI. Chắc chắn như vậy, nhưng phần chúng ta là phải cố gắng sống để hoàn tất lời hứa của Ngài: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:3).

Thiên Chúa là ĐẤNG CÔNG CHÍNH (Tv 11:7; Tv 35:28; Ga 17:25) nên Ngài cũng CÔNG MINH CHÍNH TRỰC (Dcr 9:9b; Hc 5:3; Br 2:6; Br 2:9; Đn 9:14; Tv 7:18; Tv 9:9; Tv 11:7; Tv 25:8; Tv 67:5; Tv 146:7). Ngài còn là ĐẤNG CẦM QUYỀN SINH TỬ (Đnl 32:39; 1 Sm 2:6; Kn 16:13) nhưng Ngài lại chẳng thiên vị bất kỳ ai, như Thánh Phêrô xác quyết: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào” (Cv 10:34). Đó là điều chắc chắn, dĩ nhiên cũng chẳng loại trừ ai, bởi vì MỌI NGƯỜI ĐỀU BÌNH ĐẲNG TRƯỚC MẶT CHÚA. Thế nên chớ cậy quyền ỷ thế hoặc ảo tưởng mình “ngon” hơn người khác!

Nói về Đấng Phục Sinh, Thánh Phêrô giải thích một loạt: “Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Ngài. Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Ngài” (Cv 10:37-38). Rút kinh nghiệm sau lần lỡ chối bỏ Sư Phụ Giêsu của mình chỉ vì quá khiếp nhược, và rồi nhận biết sự thông cảm của Thầy khi Thầy quay lại nhìn mình (Lc 22:61), ông Phêrô “thót tim” khi thấy ánh mắt ấy “rất lạ”, vừa nhân từ vừa trách móc, nhẹ nhàng mà có sức xoáy vào sâu vào lòng người, nên ông đã “khóc hết nước mắt”, khóc vì biết mình yếu đuối và khốn nạn. Nhưng điều đó lại là đại phúc. Không biết khóc cho tội mình mới là khốn nạn đời đời.

Ngay sáng sớm, được mấy phụ nữ báo “tin nóng”, ông Phêrô cũng đã ba chân bốn cẳng chạy tới mộ, thế là chắc chắn rồi. Từ khi biết chắc Thầy Giêsu đã thực sự sống lại, ông Phêrô mạnh dạn nói một lèo, nói như chưa bao giờ được nói: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Ngài đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Ngài lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy, và cho Ngài xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Ngài truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Ngài là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Ngài và nói rằng phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội” (Cv 10:39-43). Chẳng còn thứ gì có thể khiến ông lo sợ như trước nữa. Ông đã biến đổi thành một con người hoàn toàn mới.

Trước đây, một Phêrô-năng-động-và-cương-trực (trước mặt đám côn đồ mà ông dám rút gươm chém đứt tai một người đầy tớ thầy thượng tế cũng “liều mạng” lắm chứ – Ga 18:10) đã biến thành một Phêrô-khiếp-nhược (chối Thầy khi chỉ có mấy đứa tớ gái chân yếu tay mềm – Mt 26:69-75; Mc 14:66-72; Lc 22:56 -62; Ga 18:15-18, 25-27). Thế nhưng sau khi Chúa Giêsu phục sinh, một Phêrô-hèn-nhát-và-nhu-nhược đã biến thành một Phêrô-mạnh-mẽ-và-can-đảm, lại dám nói thẳng nói thật như xưa. Đó chính là nhờ sự tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng canh tân mọi sự.

Và rồi mỗi chúng ta cũng chẳng hơn gì Phêrô, cũng đã bao phen “chối” Chúa, thậm chí còn dám “bán” Chúa không văn tự. Nếu không tin cứ “sờ gáy” và thật lòng xét mình kỹ lưỡng mà xem. Nhưng dù chúng ta dã tâm với Ngài thì Ngài vẫn cho là “chuyện nhỏ”, và Ngài sẵn sàng “cho qua” hết, chỉ cần chúng ta thật lòng sám hối. Mặc dù tội lỗi và bất xứng, nhưng chúng ta hãy can đảm kêu gọi: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1). Cả Thánh Vịnh 136 cũng lặp đi lặp lại 26 lần điệp ca này: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Hãy vững lòng tin tưởng và tự thề hứa: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm” (Tv 118:21). Tại sao làm vậy? Đây là lý do minh nhiên:

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
Lại trở nên đá tảng góc tường
Đó chính là công trình của Chúa
Một công trình kỳ diệu vô thường
(Tv 118:22-23)

Với lòng nhiệt thành và sự ân cần, Thánh Phaolô căn dặn mỗi chúng ta: “Anh chị em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh chị em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. Thật vậy, anh chị em đã chết, và sự sống mới của anh chị em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3:1-3). Có lẽ sợ chúng ta nản chí sờn lòng nên Thánh Phaolô tiếp tục động viên: “Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh chị em sẽ được xuất hiện với Ngài, và cùng Ngài hưởng phúc vinh quang” (Cl 3:4). Đó là lời hứa chắc chắn và là niềm tin bất tử của tất cả chúng ta – những người đã, đang và sẽ hành động vì Đức-Kitô-Phục-Sinh.

Đây là tường thuật của người-môn-đệ-Chúa-yêu: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến.

Lo sợ và hoang mang, Cô Maria Mađalêna hốt hoảng thông báo: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20:2). Vì quá sợ bọn thủ ác mà ai cũng quên khuấy những gì Thầy mình đã nói trước. Con người thế đấy, nỗi sợ hãi khiến người ta hóa ngớ ngẩn. Nghe nói vậy, ông Phêrô và Gioan liền tức tốc chạy ra mộ, họ cùng chạy, chạy như bay. Nhưng chàng trai Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Chàng Gioan cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào, vì lịch sự và vì “kính lão đắc thọ”.

Sau đó, ông Phêrô cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ Gioan mới bước vào. Chàng Gioan “đã thấy và đã tin” (Ga 20:8). THẤY và TIN là hai động từ quan trọng. Thấy rồi mà không lòng tin thì cũng vô ích. Nếu thấy và tin rồi cũng chưa xong, mà còn có bổn phận phải làm chứng. Một “chiếc kiềng” vững chắc nhờ cả ba chân: Thấy – Tin – Thực Thi.

Dựa vào Kinh Thánh, chúng ta được biết rằng ĐỨC GIÊSU PHẢI TRỖI DẬY TỪ CÕI CHẾT. Nhưng trước đó, cả Phêrô và Gioan cũng chưa hiểu (Ga 20:9), dù cả hai ông đều là những đệ tử ruột của Chúa Giêsu. Thế nên người thời nay, tất nhiên không loại trừ mỗi chúng ta, cho rằng “không thấy thì rất khó tin” – theo kiểu thực nghiệm. Nhưng Chúa Giêsu lại xác định: “Phúc thay những người KHÔNG THẤY MÀ TIN!” (Ga 20:29). Không thấy mà vẫn tin, đó không phải là hồ đồ, mù quáng hoặc ảo tưởng, mà là đức tin do Thiên Chúa mặc khải.

Lạy Thiên Chúa uy linh cao cả, xin tạ ơn Ngài đã soi sáng cho chúng con nhận biết Ngài là Thiên Chúa duy nhất, nhận biết Đức Kitô là Đấng chịu chết và sống lại, xin ban thêm đức tin cho chúng con, xin giúp chúng con sống trọn niềm vui phục sinh ngay trên đường lữ hành trần gian này, đồng thời cũng giúp chúng con can đảm làm chứng nhân về Ngài trong suốt cuộc đời này. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng cứu độ duy nhất của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

THOÁT KHỎI MA QUỶ

Đêm Vọng Phục Sinh năm năm 2011, tại một nhà thờ ở New York (Hoa Kỳ), một số người vui mừng được gia nhập Công giáo. Như mọi năm, nghi thức chuyển từ bóng tối xung quanh Ngọn Lửa Phục Sinh qua các bài đọc Cựu Ước và Tân Ước, rồi công bố Tin Mừng Phục Sinh – nhắc mọi người nhớ rằng sự cai trị lâu dài của tội lỗi và tử thần đã chấm dứt.

Trong Đêm Phục Sinh, những người lớn trở thành tín hữu Công giáo qua bí tích Thánh Tẩy với các lời hứa liên quan đức tin và việc từ bỏ ma quỷ. Họ đã tin nhận Thiên Chúa và từ bỏ ma quỷ và các lời hứa hão huyền của chúng.

Đúng là vậy, nhưng một trong số đó đối với nhiều người có ý nghĩa quan trọng hơn đêm đó. Trước tiên, người đó là thành phần trong tổ chức phù thủy. Trong nhiều năm, người đó đã thực hiện các nghi thức báng bổ, và thấy những thứ mà người đó duy trì chỉ có thể xuất phát từ Hỏa Ngục bởi vì đó là nơi mà người đó đã tập trung.

Người đó là Fred Wolf. Dĩ nhiên không phải là Fred Wolf luôn theo giáo phái Satan. Ông sinh năm 1956, trong một gia đình người Do Thái ở New York. Gia đình ông không sùng đạo. Tuy nhiên, ông đã đến hội đường Do Thái và học trường Do Thái, rồi làm nhiệm vụ theo nghi lễ Bar Mitzvah (nghi lễ để người con trai Do Thái đến tuổi 13 được đảm đương trách nhiệm tôn giáo như người lớn). Ông xa rời đức tin khi 16 tuổi. Một năm sau, ông được giới thiệu về loại hình tôn thờ huyền bí.

Một người bạn đưa ông tới gặp một người anh em họ của người bạn. Người anh em họ này có một tiệm sách về loại hình tôn thờ huyền bí ở nơi Wolf đang cư ngụ. Tại đó, ông gặp các phù thùy, và rồi ông được giới thiệu gia nhập hội Wicca. Hội Wicca làm ra vẻ là loại ma thuật không làm hại ai. Khi nhìn lại, Wolf thấy hội này đã làm hại mình nên lo lắng tìm cách mở “kênh” với một loại hình khác sâu xa hơn, nguy hiểm hơn, đó là gặp ma quỷ.

Ở mức độ nào đó, cuộc sống của Wolf có vẻ bình thường. Năm 1977, ông gia nhập Không Quân và được đến nhiều nơi. Ở mức độc khác, cuộc đời của ông là gì thì là nhưng vẫn bình thường. Đi tới đâu ông cũng liên lạc với nhóm giáo phái huyền bí ở đó. Theo lời ông nói, các tổ chức như vậy lan rộng. Thật vậy, ngày nay nó còn phát triển mạnh mẽ hơn.

Rồi Wolf được chuyển tới California. Một người đàn ông đã đến gần ông. Khi đó, ông thấy người đàn ông mang chiếc cặp da có ngôi sao năm cánh (Pentagram). Đó là biểu tượng của sự tôn thờ ma quỷ, dấu chỉ điềm gở, vì người đàn ông đó theo giáo phái Satan. Ông ta mời Wolf đến tham dự Lễ Đen (Black Mass, lễ cầu xin ma quỷ) đầu tiên của ông ta.

Chuyện xảy ra tại San Francisco và khiến cho Wolf cảm thấy “sốc”. Ông chưa bao giờ biết chuyện như vậy, mặc dù ông đã tham dự nhiều nghi thức Wicca. Điều ông nhớ về Lễ Đen là người cử hành nghi thức phỉ báng đó lại là một linh mục Công giáo đã hồi tục.

Đây không là nơi để kể chi tiết về những điều xấu xa được chứng kiến đêm hôm đó vì Thánh Lễ bị xuyên tạc thành sự phạm thánh. Điều Wolf nhớ rõ là ông đã kinh hãi khi tham dự nghi thức ma quái đó. Nhưng, mặc dù ông cảm thấy sợ những gì xảy ra trước mắt mình, nhưng hình như vẫn có một sức mạnh vô hình giữ ông ở lại đó, không cho ông bỏ đi.

Sau khi giải ngũ vào năm 1981, Wolf trở về đời sống dân sự. Ông cũng trở lại thực hành theo cách thức tà giáo của ông. Ông mau chóng trở thành thượng tế của tổ chức địa phương tại Long Island. Người đàn ông kia (người có tiệm sách và giới thiệu Wolf với tổ chức Wicca) lại xuất hiện vào mùa Đông năm 1982. Ông ta đến với một yêu cầu kỳ lạ.

Người đàn ông đó tin mình đã tìm ra nghi thức và các lời cầu khẩn gọi hồn ma. Ông ta hỏi Wolf có muốn tham gia hay không. Vì hiếu kỳ, Wolf đã đồng ý. Tuy nhiên, điều xảy ra là cuộc đời của cả hai người đã thay đổi.

Một cái gọi là “vòng bde” đã được đánh dấu trên nền nhà. Người đàn ông nói với Wolf rằng nếu cả hai vẫn ở trong vòng đó thì họ “an toàn”. Họ bắt đầu đọc câu thần chú dài. Họ không biết rằng Satan và đồng bọn của nó có một mục đích: tiêu diệt tất cả những người giao tiếp với chúng – dù là bạn hay thù. Nhưng nghi thức vẫn tiếp tục.

Khi làm vậy, từ một góc phòng tối, một nhân vật xuất hiện. Khi người đó tới ánh sáng, Wolf nhớ đó là một phụ nữ đẹp nhất mà ông từng gặp, một nét đẹp hút hồn. Phụ nữ này ra dấu bảo ông rời vòng tròn. Với chút sợ hãi, hầu như ông không thể di chuyển. Trong vòng vài giây, phụ nữ này đã biến đổi từ nét xinh đẹp sang nét ghê tởm. Sau đó ông nghĩ rằng đó là điều khủng khiếp nhất mà ông đã từng thấy. Nhưng rồi ông nghĩ rằng “cuộc biểu diễn” mới chỉ bắt đầu thôi.

Những bức tường xung quanh hai người như tan chảy ra. Rồi có mùi hôi thối xông ra – mùi lưu huỳnh. Ngày nay Wolf nhận thấy mình đã được thoáng thấy Hỏa Ngục. Ông nói rằng khi ông nghe người ta nói không có Hỏa Ngục, ông biết họ sai lầm – chính ông đã thấy và ngửi mùi Hỏa Ngục.

Phản ứng khi thấy hình dạng ghê tởm đó là nỗi hoảng sợ, sợ cứng người. Ma quỷ nhìn thẳng vào hai người và cười nhạo họ, hỏi họ có nghĩ rằng vòng tròn kia có thực sự giữ họ an toàn hay không. Trước khi trả lời, những người bạn của Wolf được nâng lên khỏi nền nhà và bị ném vô góc tường cách xa gần 5m. Lúc đó, Wolf chạy vào phòng rồi khóa cửa lại.

Ông không nhớ đã chạy trong bao lâu. Khi nghĩ lại, ông nhận thấy có bàn tay quyền năng của Thiên Chúa che chở ông đêm hôm đó, nếu không thì ông chết rồi. Dĩ nhiên chắc chắn như vậy!

Khi Wolf trở lại căn phòng đã có nghi thức ma quái thì ông ngã xuống trên nền nhà, miệng sùi bọt. Cảnh sát và xe cứu thương đến cấp cứu. Cảnh sát không tin câu chuyện của Wolf, nhưng người ta không hề thấy có dấu vết của bạo lực hoặc ma túy, thế nên cảnh sát đi hết. Cuối cùng, người bạn của Wolf được đưa tới viện tâm thần ở Long Island. Sau đó, hắn chết vì những vết thương tự hành mình.

Cuối cùng, Wolf thấy nhiều và cảm thấy nguy hiểm. Ông nói với vài thành viên trong nhóm về ước muốn rời bỏ nhóm. Họ hăm dọa ông rằng không ai có thể thoát khỏi. Wolf vẫn tìm cách thoát khỏi “vùng ma quái” đó, nhưng xe hơi lại không nổ máy. Ông tìm cách sửa xe, may thay xe lại nổ. Bất ngờ ông thấy hai bóng người ra khỏi căn nhà, hình như họ là phù thủy. Nhìn vô kính chiếu hậu, ông thấy họ nhận ra xe của mình, có vẻ họ muốn ếm bùa mình. Ông vội đóng cửa xe và rồ ga chạy thật nhanh.

Hôm sau, ông đi sửa kính xe, có mấy người khen ông đã khôn khéo. Ông không hiểu họ có ý nói gì. Họ giải thích rằng ông đã quét sạch những miếng kính bể bên trong xe. Ông thấy lạ, và ông chắc rằng có điều gì đó hoặc ai nào đó đã bảo vệ ông khỏi tà thần để ông được bình an. Ông nghĩ điều này chỉ có thể xảy ra nhờ thiên thần bản mệnh che chở mà thôi.

Tại nơi làm việc, có một Kitô hữu thường tìm dịp nói chuyện với Wolf về Kitô giáo, nhưng ông không hề quan tâm. Bây giờ, khi gặp người này, ông vui vẻ nói chuyện và cùng nhau tới nhà thờ của Tin Lành Baptist, ông đã thực sự tin Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.
Sau đó, ông kết hôn, nhưng hôn nhân của ông tan vỡ và ông bị trầm cảm. Rồi ông ít khi đến nhà thờ và cũng không gắn bó với các nhóm Tin Lành mà ông từng tham gia. Trong các nhóm này luôn có ý tưởng là sợ Công giáo, họ thường chống lại hoặc phê bình tiêu cực về Công giáo. Thế nhưng, các cuộc tranh luận này tạo ảnh hưởng trái ngược đối với Wolf. Ông bắt đầu tìm đọc những cuốn sách của các tác giả như Scott Hahn, Patrick Madrid và các nhà biện giải Công giáo khác. Ông càng đọc thì càng có thể định hình nhận thức, nhưng có điều rất khác lạ so với những gì xảy ra vào đêm ma quái của nhiều năm trước. Điều này hoàn toàn khác, và với vẻ đẹp rất thật, bởi vì đó chính là Hiền Thê của Đức Kitô – Giáo hội của Ngài.

Cuối cùng, ngay đêm Vọng Phục Sinh năm 2011, trong một nhà thờ dâng kính cho “Đấng đạp giập đầu con rắn” (Đức Mẹ Vô Nhiễm), Wolf đã tham dự Thánh Lễ, xưng tội và đón nhận Đấng Cứu Độ qua việc rước lễ, nhờ đó mà ông được bình an và vui mừng, không còn lo sợ gì nữa. Tạ ơn Chúa. Alleluia!

K. V. TURLEY
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

Lễ Đức Thánh Giuse, 19-3-2018

 

Tìm Đấng Phục Sinh
(Đại Lễ Phục Sinh, năm B-2015)


Chuyện kể rằng... Tại một hội nghị tôn giáo, người ta đưa ra một câu hỏi thú vị: “Sau khi chết, thủ lĩnh tôn giáo của quý vị để lại di sản gì?”. Các vị lãnh đạo các tôn giáo lần lượt trả lời. Người thì nói di sản là chút “tro tàn”, người thì nói là “chút hài cốt”, người thì nói là “mấy cọng râu”, người thì nói là vật này hoặc vật nọ. Cuối cùng, vị lãnh đạo Công giáo trả lời: “Chúa Giêsu của chúng tôi để lại một di sản là NGÔI MỘ TRỐNG”.

Thật kỳ diệu, “ngôi mộ trống trơn” đó lại chứa đựng tất cả. Thiên thần đã nói với mấy phụ nữ đạo đức: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi” (Lc 24:5-6). Lời Đức Kitô nói trước, giờ đã ứng nghiệm. Vâng, Ngài đã sống lại thật rồi: “Alleluia! Lễ Vượt Qua của chúng ta là Ðức Kitô đã hiến tế, vậy chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa” (1 Cr 5:7b-8a).

Sự thật minh nhiên, không thể chối cãi, lịch sử và khoa khảo cổ đã cho thấy nhiều chứng cớ, chứng tỏ rằng thực sự có một Ông Giêsu bị đóng đinh, được mai táng và đã sống lại – dù sự thật này bị một số người bóp méo, vì họ cố chấp hoặc vô thần.

Đã và đang có các nhân chứng ở khắp nơi, điển hình nhất là ông Phêrô. Kinh Thánh cho biết: “Một hôm, tại nhà ông Co-nê-li-ô, ông Phêrô lên tiếng: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10:34-35). Chúng ta cũng nên nhớ rằng Kinh Thánh là bộ sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, và được bán chạy nhất thế giới, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản (1). Điều đó chứng tỏ rằng Kinh Thánh nói những điều có thật, chứ không hư cấu hoặc bịa đặt.

Một Phêrô hôm nay hoàn toàn khác một Phêrô hôm qua, con người khiếp đảm đã biến thành con người can đảm. Chính ông đã tới nơi chôn cất Đức Giêsu Kitô và ông thấy ngôi mộ trống trơn. Vì thế, ông tin và ông có trách nhiệm phải chia sẻ niềm tin đó với người khác. Ông hùng hồn rao giảng về Đức Kitô: “Quý vị biết rõ biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giuđê, bắt đầu từ miền Galilê, sau phép rửa mà ông Gioan rao giảng. Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10:37-38).

Và ông dẫn chứng cụ thể: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Ngườiđược ơn tha tội” (Cv 10:39-43). Tin mừng Chúa Giêsu Phục Sinh là sự thật của các sự thật, là sự thật hơn cả sự thật, không gì có thể chối cãi.

Thật hạnh phúc vì chúng ta có được đức tin tông truyền và vẫn đang cố gắng sống niềm tin đó. Hôm nay là dịp chúng ta xem lại đức tin của mình, và hãy xác định lại: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1). Chúng ta chỉ là con số “không” to lớn, vậy thì không thể không tạ ơn, vì “tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực” (Tv 118:16). Kinh Thánh đã nói: “Không thuốc nào chữa cho con người khỏi chết” (Kn 2:1). Nhưng chúng ta không phải chết tủi nhục, mà được sống mãi nhờ Đấng Phục Sinh. Như vậy, ngoài việc tạ ơn, chúng ta còn phải tự hứa: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm” (Tv 118:17)

Tác giả Thánh Vịnh nói rằng “tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”, và xác nhận “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Tv 118:22-23). Niềm vui nối tiếp nỗi mừng, với lý do vô thường: “Đây là ngày Chúa làm ra – Cùng nhau ta hãy reo ca vui mừng” (Tv 118:24).

Thánh Phaolô nói: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3:1-2). Thì phải thế thôi, không thể khác được, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 8:23). Chúng ta là môn đệ, là con cái, là những người đi tìm Đấng Phục Sinh, chắc chắn chúng ta cũng phải noi gương Ngài, một lòng một dạ chỉ “tìm kiếm và ái mộ những sự trên trời” mà thôi.

Thánh Phaolô cho biết lý do: “Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang” (Cl 3:3-4). Xác đất vật hèn, chúng ta chỉ là bùn đất nhơ nhớp, hôi thối hơn đống rác, ấy thế mà chúng ta lại được hưởng phúc vinh quang cùng với Đấng Phục Sinh Giêsu Kitô. Chuyện như huyền thoại mà lại là sự thật. Quá đỗi kỳ diệu!

Tuy nhiên, đừng vì thế mà ẢO TƯỞNG, ảo tưởng sinh KIÊU NGẠO, kiêu ngạo sinh CỐ CHẤP, cố chấp thì… “hết thuốc chữa”. Thánh Phaolô căn dặn: “Lý do khiến anh em vênh vang chẳng đẹp đẽ gì! Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao? Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men” (1 Cr 5:6-7). Vì thế, “chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ” (1 Cr 5:8).
Trình thuật Ga 20:1-9 ngắn gọn, nhưng vẫn đầy đủ các chi tiết, đặc biệt là chuyện người ta đi tìm Đấng Phục Sinh Giêsu Kitô.

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Chắc hẳn lúc đó bà hốt hoảng và quan ngại lắm, phụ nữ mà, thấy gì khác lạ là thấy lo lắng rồi. Thế nên bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà thông báo khẩn: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Nghe vậy, cả ông Phêrô và chàng Gioan cũng vội vã đi ra mộ. Họ không đi bộ mà chạy. Chắc hẳn họ cũng đang hoang mang, không biết kẻ nào to gan mà đưa thi hài Thầy đi đâu mất tiêu!

Cả hai đều ráng chạy cho mau, nhưng chàng Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Chàng Gioan cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Sau đó, ông Phêrô cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Rất gọn gàng. Thế thì không thể bị đánh cắp. Kẻ trộm nào cũng sợ, vội vàng vơ vét chứ đâu có bình tĩnh mà xếp gọn gàng khăn khố như thế chứ? Chắc chắn chẳng kẻ nào to gan mà lấy trộm xác Thầy được đâu!

Rồi Gioan cũng đi vào theo, chàng đã thấy và đã tin. Trước đó, hai ông còn lo sợ, chưa hiểu hết lời Kinh Thánh đã nói trước rằng Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Giờ đây, hai năm rõ mười, họ an tâm trở về, không chỉ hết lo sợ mà còn vui mừng khôn tả: Thầy đã phục sinh rồi, alleluia! (2)

Lạy Thiên Chúa Cha hằng hữu và hằng sinh, Con Một Yêu Dấu của Ngài là Đức Giêsu Kitô đã phục sinh vinh hiển, chúng con vô cùng hạnh phúc, và xin cho chúng con được sống lại thật về phần linh hồn, đồng thời cũng biết nhiệt thành làm nhân chứng giữa cuộc đời hôm nay. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(1) Có 10 cuốn sách được đọc nhiều nhất thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua, Kinh Thánh đứng hàng đầu: [1] Kinh Thánh (3,9 tỷ bản), [2] Các Trích Dẫn từ Mao Trạch Đông (820 triệu bản), [3] Harry Potter (400 triệu bản), [4] Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn (103 triệu bản), [5] Nhà Giả Kim: 65 triệu bản, [6] Mật Mã Da Vinci (57 triệu bản), [7] Bộ truyện Chạng Vạng (43 triệu bản), [8] Cuốn Theo Chiều Gió (33 triệu bản), [9] Suy Nghĩ và Làm Giàu (30 triệu bản), [10] Nhật Ký của Anne Frank (27 triệu bản). Kinh Thánh là cuốn sách cổ xưa nhất nhưng lại có tỷ lệ “vượt trội” hơn các sách khác.

(2) Nghe Hallelujah của nhà soạn nhạc Handel (1685-1759)

 

DỌC ĐƯỜNG EMMAU

(Lc 24:12-35)

Emmau một buổi chiều tà

Có hai môn đệ bước đi nặng sầu

Con đường thăm thẳm lo âu

Ngổn ngang trăm mối, nát nhàu tâm can

Hòng hôn buông xuống, tối dần

Hai ông sợ bởi xa xăm đường dài

Chợt người khách lạ hỏi ngay:

“Chuyện gì có thể cho tôi cùng bàn?”

Hai ông quá đỗi ngạc nhiên:

“Chắc ông là khách lạ thăm vùng này

Nên ông không biết không hay

Chuyện ở vùng này đã mấy ngày qua

Một người tên gọi Giêsu

Bị người ta giết rất là thảm thương”

Chúa liền nói với họ rằng:

“Các anh như vậy là không hiểu gì!

Chậm tin lời các tiên tri

Đấng Kitô phải ê chề khổ đau

Chịu nhiều nhục nhã, gian lao

Rồi sau đó mới được vào vinh quang”

Ba người đi tới gần làng

Hai ông nài ép khách cùng dừng chân

Khi Ngài cầm bánh tạ ơn

Hai ông tá hỏa, bội phần ngạc nhiên

Nhưng rồi Chúa biến mất liền

Hai ông trở lại Gia-liêm tức thì…

 

Cuộc đời cũng có lắm khi

Con không thấy được Chúa từ xung quanh

Trong luồng gió mát, trăng thanh

Khi mưa, nắng; giữa khúc quanh đời người

Trong nước mắt, giữa tiếng cười

Khi suy nghĩ, lúc bồi hồi sớm khuya

Trong câu hát, giữa lời thơ

Thành công, thất bại, hoặc là tang thương

Dẫu đời tám hướng, mười phương

Vẫn luôn có Chúa yêu thương đồng hành

TRẦM THIÊN THU

 

MỪNG CHÚA PHỤC SINH

Đây là ngày Chúa lập ra

Cùng nhau hợp xướng bài ca vui mừng

Trời cao, đất thấp một lòng

Loan tin Con Chúa oai hùng phục sinh

Cùng vào đời với lòng thành

Trao nhau chính Chúa-Phục-Sinh từng ngày

Tạ ơn Thiên Chúa Ngôi Hai

Cứu độ nhân loài thoát ách tội khiên

TRẦM THIÊN THU

Tuần Bát Nhật Phục Sinh – 2012

 

Alleluia ! Hãy vui lên !
(Lễ Vọng Phục Sinh, năm B)

Tù nhân rất hạnh phúc khi được phóng thích. Bệnh nhân rất hạnh phúc khi được phục hồi. Người đang khát rất hạnh phúc khi được giải khát. Người mong chờ rất hạnh phúc khi được mãn nguyện. Và còn nhiều dạng hạnh phúc khác khi chúng ta được như ý. Nhưng chắc chắn không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc được “cải tử hoàn sinh”.

Người Công giáo có một niềm hạnh phúc khác nữa là Chúa Giêsu phục sinh, đúng như lời Ngài nói trước: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9:31).

Tuần Thánh chồng chất nỗi buồn, nhưng đêm nay niềm vui nối tiếp nỗi mừng. Cho nên trong bài Công bố Tin mừng Phục sinh (Exultet), Giáo hội nhiều lần mời gọi mọi người “mừng vui lên!”, vì Đức Kitô “đã thay thế chúng ta trả nợ của Adam với Chúa Cha muôn thuở, và đã lấy máu hồng quý giá rửa sạch án tổ tông xưa”, “vì đây là lễ vượt qua, lễ mà Chiên thật bị sát tế, trong máu Chiên môi miệng tín hữu được thánh hiến đêm nay”.

Đêm nay còn là đêm hạnh phúc vì “là đêm mà cha ông chúng ta, là con cháu Israel, thoát ly Ai Cập xưa, Chúa đã cho tiến qua Biển Đỏ vẫn khô chân; là đêm nhờ ánh sáng cột lửa thiêng xóa tan mọi bóng tối nhân gian; là đêm mà hết những ai có lòng tin Chúa Kitô khắp trên trần gian, được cứu thoát hết các vết nhơ và tối tăm tội khiên, được ơn thiêng đưa về hợp đoàn cùng các thánh nhân; “là đêm mà xiềng xích bị bẻ tung, Đức Kitô khải hoàn chiến thắng vinh quang”.

Đặc biệt đêm nay còn là đêm hạnh phúc vì “nếu không được ơn cứu chuộc khỏi tội khiên, chúng ta sinh ra nào có ích chi!”. Thật kỳ diệu đối với phàm nhân: “Ôi nhiệm mầu thay! Lòng Yêu Thương của Chúa không ai hiểu thấu!”. Niềm vui đêm nay được nhân lên vì “tội Adam đã được tẩy xóa chính nhờ sự chết Chúa Kitô!”. Niềm vui tột đỉnh nên Giáo hội gọi Tội Nguyên Tổ là “tội hồng phúc”, chính tội hồng phúc đó “đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang”, và Giáo hội gọi đêm nay là “đêm hồng phúc”, vì đêm nay là “đêm nối kết trời đất”.

Tv 33:4-6 xác định: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất. Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú”. Có đau khổ mới biết hạnh phúc ngọt ngào thế nào, và muốn vinh quang thì phải biết chịu đựng đau khổ. Đức Kitô đã đau khổ tột cùng nên mới được vinh quang, vì thế: “Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể, hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp” (Tv 33:12). Đồng thời chúng ta phải luôn cầu nguyện với Chúa: “Xin đổ tình thương xuống trên chúng con như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22). Lời cầu đó cũng là lời hứa của chúng ta thân thưa với Ngài.

Câu hỏi của Thánh Phaolô cũng chính là câu trả lời: “Anh em không biết rằng khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Ngài sao?” (Rm 6:3). Thánh Phaolô giải thích: “Được dìm vào trong cái chết của Ngài là chúng ta đã cùng được mai táng với Ngài. Bởi thế, cũng như Ngài đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:4). “Được dìm vào cái chết của Đức Kitô” lại chính là niềm hạnh phúc của chúng ta. Nghe chừng quá “ngược đời”, người không có niềm tin sẽ không thể hiểu nổi. Nhưng đó lại là sự thật 100%.

“Được dìm vào cái chết của Đức Kitô” không chỉ là hạnh phúc mà còn là sự may mắn của chúng ta, vì “chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Ngài đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Ngài, nhờ được sống lại như Ngài đã sống lại” (Rm 6:4), không chỉ vậy, “con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa” (Rm 6:6). Đó là cả một chuỗi kỳ diệu của cuộc đời người Công giáo.

Không kỳ diệu sao được, vì “ai đã chết thì thoát khỏi quyền lực của tội lỗi” (Rm 6:7). Thật vậy, “nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8). Thánh Phaolô xác quyết đó là niềm tin của chúng ta. Từ 3 giờ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, Tử thần tưởng đã chiến thắng, nhưng hắn đành “bó tay” từ Đêm Vọng PhụcSinh: “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Ngài chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Ngài”. Ngài đã chết là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ” (Rm 6:9-10). Đức Giêsu sống lại thật, Ngài sống cho Thiên Chúa, và chắc chắn chúng ta cũng cùng sống lại với Ngài. Còn hạnh phúc nào hơn? Đó là điều “trên cả tuyệt vời”. Nhưng không thể cứ “khơi khơi”, không thể cứ “thấy sang bắt quàng làm họ”, hoặc “cục muối cắn đôi, còn cục đường ăn cả”, mà phải có điều kiện “ắt có và đủ”, nghĩa là ai đã sống Mùa Chay thì mới có thể cảm nhận niềm vui phục sinh, và ai đã “dám chết cho tội” thì mới xứng đáng cùng phục sinh với Đức Kitô: “Hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6:11).

Vừa hết ngày Sabát, bà Maria Mácđala với bà Maria mẹ ông Giacôbê, và bà Salômê, mua dầu thơm để đi ướp xác Đức Giêsu. Sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc, các bà ra mộ. Họ bảo nhau: “Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây?” (Mc 16:3), vì tảng đá lấp cửa mộ là tảng đá lớn lắm, đàn ông lực lưỡng mới có thể lăn ra nổi. Nhưng vừa ngước mắt lên, họ đã thấy tảng đá lăn ra một bên rồi. Ngạc nhiên này tiếp theo ngạc nhiên khác. Họ vào trong mộ thì thấy một người thanh niên ngồi bên phải, mặc áo trắng. Là phụ nữ “yếu bóng vía” nên họ hoảng sợ. Nhưng người thanh niên liền trấn an: “Đừng hoảng sợ!” (Mc 16:6a), rồi người thanh niên nói tiếp: “Các bà tìm Đức Giêsu Nadarét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Ngài đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa. Chỗ đã đặt Ngài đây này!” (Mc 16:6b).

Người thanh niên đó nói thêm: “Xin các bà về nói với môn đệ Ngài và ông Phêrô rằng Ngài sẽ đến Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Ngài như Ngài đã nói với các ông” (Mc 16:7). Chắc lúc đó các bà nhà ta run như cầy sấy, sợ quá nên chẳng nói được lời nào. Nghe người thanh niên kia nói xong, “họ vừa ra khỏi mộ liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía” (Mc 16:8a), thậm chí “chẳng nói gì với ai vì sợ hãi” (Mc 16:8).

Tội nghiệp các chị em phụ nữ quá! Chiều Thứ Sáu, họ không sợ mà cứ lẽo đẽo tiễn Chúa Giêsu lên Đồi Can-vê như “đưa đám tang sống” và khóc hết nước mắt. Thế mà bây giờ, biết Chúa Giêsu đã sống lại, họ lại sợ hãi và chạy mất dép như ma đuổi. Phụ nữ là vậy, thông cảm! Việc cần quan tâm là: ĐỨC KITÔ ĐÃ PHỤC SINH. Hãy vui mừng lên! Alleluia!

Lạy Chúa, tất cả là hồng ân vô biên của Ngài. Chúng con thật hạnh phúc được đắm mình trong Biển Hồng Ân nhờ Lòng Thương Xót vô biên của Ngài. Chúng con xin tạ ơn Chúa Cha đã ban Thánh Tử Giêsu cho chúng con, chúng con xin tạ ơn Đức Kitô đã cứu độ chúng con, và chúng con xin tạ ơn Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn chúng con trong mọi hoàn cảnh. Cúi xin Ba Ngôi gìn giữ, nâng đỡ và thánh hóa chúng con, đừng để chúng con phải thiếu vắng Chúa một tích tắc nào. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Ánh sáng Phục sinh
(Chúa Nhật Phục Sinh, năm B-2012)

Chúa Giêsu phục sinh khải hoàn, chúng ta hân hoan hợp xướng: “Alleluia!”, nhưng đồng thời chúng ta cũng có trọng trách: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí Chúa đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:22-24).

Ánh sáng Phục sinh đang chiếu tỏa chói ngời trên mỗi chúng ta. Chúng ta vô cùng vui mừng vì Đức Kitô đã sống lại thật và lòng chúng ta đầy tin tưởng nhờ Lời Chúa động viên: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:17-18).

Thánh Phêrô xác quyết: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào” (Cv 10:34). Đó là điều chắc chắn, và không loại trừ ai, vì mọi người đều bình đẳng trước mặt Chúa. Đừng cậy quyền ỷ thế hoặc ảo tưởng mình “ngon” hơn người khác!

Thánh Phêrô giải thích một loạt: “Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Ngài. Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Ngài” (Cv 10:37-38). Sau khi lỡ chối bỏ Sư phụ mình vì khiếp nhược và nhận biết sự thông cảm của Sư phụ Giêsu khi Ngài quay lại nhìn mình (Lc 22:61), ông Phêrô “thót tim” khi thấy ánh mắt ấy “rất lạ”, vừa nhân từ vừa trách móc, nhẹ nhàng mà có sức xoáy vào sâu vào lòng người, nên ông đã “khóc hết nước mắt”.

Sau khi biết Thầy Giêsu đã thực sự sống lại, ông Phêrô mạnh dạn nói một lèo, nói như chưa bao giờ được nói: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Ngài đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Ngài lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy, và cho Ngài xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Ngài truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Ngài là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Ngài và nói rằng phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội” (Cv 10:39-43).

Trước đây, một Phêrô-năng-động-và-thẳng-tính (trước mặt đám côn đồ mà ông dám rút gươm chém đứt tai một người đầy tớ thầy thượng tế – Ga 18:10) đã biến thành một Phêrô-khiếp-nhược. Nhưng sau khi Chúa Giêsu phục sinh, một Phêrô-nhát-đảm đã biến thành một Phêrô-can-đảm, lại dám nói thẳng nói thật như xưa. Đó là tác động của Chúa Thánh Thần!

Chúng ta cũng vậy, cũng đã bao phen “chối” Chúa và “bán” Chúa không văn tự. Nếu không tin cứ “sờ gáy” và thật lòng xét mình kỹ lưỡng mà xem. Nhưng dù chúng ta dã tâm với Ngài thì Ngài vẫn cho là “chuyện nhỏ”, và Ngài sẵn sàng “cho qua” hết. Vì thế, chúng ta can đảm kêu gọi: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1). Cả Thánh vịnh 136 cũng lặp đi lặp lại 26 lần điệp khúc: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Chúng ta tin tưởng và đoan hứa: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm” (Tv 118:21). Tại sao? Vì:

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
Lại trở nên đá tảng góc tường
Đó chính là công trình của Chúa
Một công trình kỳ diệu vô thường
(Tv 118:22-23)

Thánh Phaolô căn dặn mỗi chúng ta: “Anh chị em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh chị em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. Thật vậy, anh chị em đã chết, và sự sống mới của anh chị em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3:1-3). Sợ chúng ta nản chí sờn lòng, Thánh Phaolô khuyến khích: “Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh chị em sẽ được xuất hiện với Ngài, và cùng Ngài hưởng phúc vinh quang” (Cl 3:4). Lời hứa chắc chắn đó là niềm tin bất tử của tất cả chúng ta – những người đã, đang và sẽ hành động vì Đức-Kitô-Phục-Sinh.

Người-môn-đệ-Chúa-yêu (Gioan) tường thuật: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến.

Maria Mađalêna hốt hoảng thông báo: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20:2). Vì quá sợ bọn thủ ác mà ai cũng quên khuấy những gì Thầy mình nói trước. Nghe vậy, ông Phêrô và Gioan liền tức tốc đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào, vì lịch sự và vì “kính lão đắc thọ”.

Ông Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ Gioan mới bước vào. Ông “đã thấy và đã tin” (Ga 20:8). THẤY và TIN là hai động từ quan trọng. Thấy rồi, liệu có đủ lòng tin? Nếu thấy và tin rồi thì phải có bổn phận làm chứng.

Theo Kinh thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Nhưng trước đó, cả Phêrô và Gioan cũng chưa hiểu (Ga 20:9), dù cả hai ông đều là những đệ tử ruột của Chúa Giêsu. Thế nên người thời nay, kể cả chúng ta, không thấy thì rất khó tin. Nhưng Chúa Giêsu lại xác định: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29).

Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con và xin giúp chúng con sống trọn niềm vui phục sinh ngay trên cuộc lữ hành trần gian này, đồng thời giúp chúng con can đảm làm chứng nhân của Ngài suốt đời trong từng nhịp thở. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

March 28, 2018