dongcong.net
 
 


CN 3 PS-B : Trầm Thiên Thu

MỤC SỞ THỊ

(Chúa Nhật III Phục Sinh, Năm B-2018)

Mục Sở Thị nghĩa là “nhìn tận mắt”, đó là cách nói rút gọn của câu “thực mục sở thị”. Từ điển Hán Nôm giải thích: MỤC là con mắt; SỞ là rõ ràng, minh bạch; THỊ là thân cận, gần gũi. Người ta cũng dùng chữ “mục kích” (mục: mắt, kích: đập vào). Cách nói phổ biến là “nhãn tiền”. Chữ “nhãn tiền” (nhãn: mắt, tiền: trước – ý nói “thấy trước”) do câu “quả báo nhãn tiền”, ý nói về điều không tốt, nhưng ngày nay chữ này cũng được dùng khi nói về điều tốt.

Tình yêu thương là hiện thân của Thiên Chúa (1 Ga 4:8 và 16). Tình yêu đó cũng chính là Lòng Thương Xót của Ngài. Lòng Chúa Thương Xót luôn được nhắc đến suốt Năm Phụng Vụ, đặc biệt vào Mùa Phục Sinh – cách riêng là Chúa Nhật II Phục Sinh. Chẳng phải mới đây mà từ thuở khai thiên lập địa, Kinh Thánh đã nói đến tình yêu thương. Đây là vài câu cụ thể trong sách Sáng Thế:

St 19:19 – “Này, tôi tớ ngài đây đã được đẹp lòng ngài, và ngài đã tỏ LÒNG THƯƠNG lớn lao của ngài đối với tôi khi để cho tôi sống. Nhưng tôi không trốn lên núi được đâu, tai ương sẽ đuổi kịp, và tôi chết mất!”

St 24:14 – “Xin mời ông, con sẽ cho cả lạc đà của ông uống nữa", thì đó là người Chúa đã xe duyên cho tôi tớ Chúa là I-xa-ác; cứ đó, con sẽ biết rằng Chúa đã tỏ TÌNH THƯƠNG đối với chủ con”.

St 24:27 – “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa của ông Áp-ra-ham, chủ tôi, đã không ngừng tỏ TÌNH THƯƠNG và lòng thành tín của Người đối với chủ tôi; còn tôi, Đức Chúa đã dẫn dắt tôi trên đường đến nhà anh em họ hàng của chủ tôi”.

St 33:10 – “Tôi đã nhìn thấy mặt ngài như nhìn thấy mặt Thiên Chúa, và ngài đã tỏ LÒNG THƯƠNG với tôi”.

Bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 & 16) – cách định nghĩa của Thánh Gioan, thế nên Đạo (của) Chúa là Đạo Yêu Thương. Yêu thương, tình thương, tình yêu, hoặc lòng thương đều là một – có thể rút gọn còn một từ YÊU. Phàm ngôn có nhiều cách gọi, nhưng thực chất vẫn là Lòng Chúa Thương Xót. Ngay trong Việt ngữ cũng không thống nhất, khi thì Lòng Thương Xót Chúa, khi thì Lòng Chúa Thương Xót, đó là cách rút gọn của cách nói “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa”. Đôi khi Việt ngữ dễ gây hiểu lầm do cách “rút gọn” văn phạm! Cuộc sống đời thường có nhiều loại thực tế, cuộc sống tâm linh cũng vậy.

THỰC TẾ TỘI LỖI

Có lẽ không thực tế nào buồn và đáng sợ bằng thực tế tội lỗi. Nó không chỉ khiến người ta sa sút về tinh thần, nguy hiểm về phần rỗi, mà còn gây yếu đuối cả về thể lý.

Tội lỗi liên quan ma quỷ, nghĩa là đối lập với Thiên Chúa. Thánh Phêrô nói: “Thiên Chúa của các tổ phụ Ápraham, Isaác và Giacóp, Thiên Chúa của cha ông chúng ta, đã tôn vinh Tôi Trung của Ngài là Đức Giêsu, Đấng mà chính anh chị em đã NỘP và CHỐI BỎ trước mặt quan Philatô, dù quan ấy xét là phải tha. Anh chị em đã CHỐI BỎ ĐẤNG THÁNH và ĐẤNG CÔNG CHÍNH, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân. Anh chị em đã giết ĐẤNG KHƠI NGUỒN SỰ SỐNG, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết” (Cv 3:13-15). Chúng ta thật khốn nạn, dám “giao nộp” Chúa Giêsu, dám “chối bỏ” Ngài, dù biết rõ Ngài là “Đấng Thánh”, là “Đấng Công Chính”, là “Đấng khơi nguồn sống”. Tội to lắm!

Và rồi với “kinh nghiệm đau thương” về việc này (tội chối Thầy) nên vị giáo hoàng tiên khởi đã chân thành kêu gọi: “Thưa anh chị em, giờ đây tôi biết anh chị em đã hành động vì KHÔNG HIỂU BIẾT, cũng như các thủ lãnh của anh chị em. Nhưng, như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện những điều Ngài dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước, đó là: Đấng Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh chị em hãy SÁM HỐI và TRỞ LẠI cùng Thiên Chúa, để Ngài xoá bỏ tội lỗi cho anh em” (Cv 3:17-19). Ông Phêrô đã sám hối và được Thầy Giêsu xót thương. Tấm gương sám hối đáng để chúng ta noi theo mỗi khi sảy bước sa chân.

Từ ngàn xưa, có thể dân Do Thái hành động vì thiếu hiểu biết, bởi vì họ quá bất ngờ và quá bị “sốc” khi nghe chàng-thanh-niên-con-bác-thợ-mộc nói chính mình là Con Thiên Chúa. Nếu lúc đó chúng ta nghe được điều đó, chắc chắn chúng ta cũng thấy “chói tai” lắm đấy! Nhưng ngày nay, chúng ta không thể biện minh là chúng ta không hiểu biết – bởi vì chúng ta được dạy quá nhiều rồi.

Thế thì làm sao? Nếu thực sự không thể tự biện hộ, thực sự biết mình đã và đang phạm nhiều tội lỗi thì chúng ta phải biết thành tâm sám hối, chân thành trở lại, tin tưởng và khẩn cầu LCTX: “Lạy Thiên Chúa là đèn trời soi xét, khi con kêu, nguyện Chúa đáp lời. Lúc ngặt nghèo, Chúa đã mở lối thoát cho con, xin thương xót nghe lời con cầu khẩn” (Tv 4:2). Nên biết rằng Chúa biệt đãi người hiếu trung với Ngài; khi kêu cầu thì Ngài luôn nghe lời. Có thể chính chúng ta cũng đã bao lần thắc mắc: “Ai sẽ cho ta thấy hạnh phúc?” (Tv 4:7a). Chính trong câu hỏi đó đã mặc nhiên có câu trả lời – nghĩa là không ai khác, không một thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa. Và vì thế, chúng ta càng phải kêu cầu: “Lạy Chúa, xin toả ánh Tôn Nhan Ngài trên chúng con” (Tv 4:7b).

Cầu nguyện là khiêm hạ và hạnh phúc, chính lúc cầu nguyện là lúc chúng ta trở nên vĩ đại, bởi vì được thưa chuyện với Thiên Chúa và được Ngài lắng nghe chúng ta trút mọi nỗi niềm. Có ai như Thiên Chúa của chúng ta? Chắc chắn là không! Đó chính là thực tế về ân sủng.

THỰC TẾ HỒNG PHÚC

Thiên Chúa vô cùng đại lượng và hào phóng, hằng ngày Ngài luôn ban muôn vàn hồng ân cho chúng ta – từng phút, từng giây. Đơn giản nhất mà lại cần thiết nhất chính là KHÔNG KHÍ – vì thiếu không khí vài phút là chúng ta chết ngay! Mọi người, không trừ ai, đều đã và đang nhận lãnh hồng ân của Thiên Chúa – dù chúng ta chưa hề mở lời xin Ngài.

Chưa nói được lời tạ ơn thì cũng đừng đối kháng. Thánh Gioan khuyên chúng ta “đừng phạm tội”, và “láy” một câu: “Nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1 Ga 2:1). Thật quá tuyệt vời!

Chắc chắn chúng ta đều là những tội nhân khốn nạn, nhưng chúng ta lại vô cùng may mắn có Chúa Giêsu là luật sư biện hộ cho chúng ta trước Tòa Án Công Lý của Chúa Cha. Hơn nữa, “chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2:2). Nhận xét của Thánh Gioan rất “ăn khớp” với lời khẩn cầu trong Chuỗi LCTX: “Lạy Cha hằng hữu, con xin dâng lên Cha Mình và Máu, linh hồn và thần tính của Con rất yêu dấu Cha, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, để đền vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới”. Tha thiết lắm, Thiên Chúa không nỡ làm ngơ đâu!

Một thực tế khác: Nếu chúng ta tuân giữ các điều răn của Ngài, chúng ta nhận ra mình là những người biết Thiên Chúa. Nhưng “ai nói mình biết Ngài mà không tuân giữ các điều răn của Ngài, đó là kẻ nói dối, và Sự Thật không ở nơi người ấy” (1 Ga 2:4). Ngược lại, “ai giữ lời Ngài dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:5). Tình yêu và bổn phận luôn có mối quan hệ chặt chẽ. Thực tế thế thôi!

Chiều Chúa Nhật Phục Sinh, sau khi hai môn đệ nhận ra Sư phụ Giêsu trên đường Emmau khi Ngài bẻ bánh, họ vội vã trở lại Giêrusalem và thuật lại chuyện đã xảy cho các môn đệ khác biết. Các ông còn đang bàn tán thì chính Đức Giêsu hiện ra đứng giữa họ và bảo: “Bình an cho anh em!” (Lc 24:36). Thế nhưng các ông kinh hồn bạt vía, hồn xiêu phách lạc tưởng là thấy ma. Nhưng Ngài nói: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc 24:38-39). Lời-chúc-bình-an đó là Chúa Giêsu đã trao ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ lúc đó – và ban cho cả chúng ta ngày nay.

Vừa dứt lời, và để các môn đệ thấy thực tế minh nhiên, Ngài đưa tay chân ra cho các ông xem. Ấy thế mà họ còn chưa tin, có lẽ một phần vì quá vui mừng, một phần vì quá ngỡ ngàng. Mừng vì Thầy đã sống lại thật chứ không bị bọn ma mãnh lấy mất xác Thầy, mừng vì hai môn đệ kia (gặp Chúa trên đường Emmau) cũng nói thật chứ không hề “nổ” hoặc “xạo” chút nào. Và cũng là để cho “chắc cú”, Ngài hỏi rất thực tế: “Ở đây anh em có gì ăn không?” (Lc 24:43). Các ông đưa cho Ngài một khúc cá nướng thơm phức, thế là Ngài cầm lấy và ăn ngon lành trước mặt họ. Ôi, Sư phụ Giêsu thật chứ không phải tay nào khác giả dạng. Thế thì trên cả tuyệt vời luôn rồi!

Sau khi ăn khúc cá nướng, Ngài giải thích: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Môsê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (Lc 24:44). Vâng, Thánh Ý Chúa quá mầu nhiệm, vượt xa tầm hiểu biết của nhân loại – dù là những bậc thông thái. Bấy giờ, chính Ngài mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và Ngài nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24:46-47). Một thực tế minh nhiên và các môn đệ cũng đã “thực mục sở thị”. Rõ ràng và rạch ròi rồi.

Tất nhiên Chúa-Giêsu-phục-sinh biết rõ chúng ta luôn yếu đuối, luôn sai phạm, nên Ngài cũng luôn nhấn mạnh động thái “sám hối” và “tín thác”. Có được hai điều đó thì LCTX luôn chan hòa trên chúng ta. Và chính Ngài xác định bổn phận được trao cho chúng ta: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24:48). Bổn phận và trách nhiệm không của riêng bất kỳ ai!

Cuối cùng, Chúa Giêsu vừa hứa hẹn vừa dặn dò: “Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24:49). Lời hứa đó đã, đang và sẽ được Ngài thực hiện cho nhân loại chúng ta mãi cho tới khi niên tận thế cùng.

Lạy Thiên Chúa chí tôn chí thánh, xin thánh hóa và gia tăng ba đức đối thần cho chúng con, và cũng ban các đức đối nhân để chúng con làm người xứng đáng. Xin Ngài luôn ban Thần Khí để chúng con can đảm làm chứng về Lòng Thương Xót của Ngài và Đức Kitô phục sinh, hôm nay và mãi đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

THÁNH THIỆN TRONG MỌI ĐỘNG THÁI

Chúng ta đọc Phúc Âm thấy rằng Chúa Giêsu đã từ bỏ mọi sự khi Ngài đến sống giữa chúng ta. Chúng ta nhận thấy Lời Hằng Sống hóa thành nhục thể và tự hạ – tùy thuộc vào hậu quả của tình trạng tội nhân của chúng ta, nhưng Ngài không phạm tội. Chúng ta biết rằng Ngài tự hạ là muốn để lại điều gì đó và là người vĩ đại để sống giữa những điều và những con người nhỏ bé.
Thế thôi sao? Nếu vậy, không ai trong chúng ta có thể từ bỏ chính mình, vì chúng ta không thể đi từ cái gì đó to lớn tới cái gì đó nhỏ bé.
Vấn đề của chúng ta bao gồm trong cách phát triển theo tinh thần của Chúa Giêsu: nên giống như Ngài, suy nghĩ như Ngài, nhìn đời như Ngài, và từ bỏ chính mình. Ngài mặc lấy bản tính phàm nhân của chúng ta để chúng ta có thể trở nên con cái của Chúa Cha.

1. ĐIỀU RĂN MỚI
Vì chúng ta phải nên thánh trong hoàn cảnh sống của chúng ta, bất kể nơi chốn, bất kể tài năng, chúng ta cần tìm hiểu sâu về điều răn mới và tìm hiểu câu trả lời khi tiến thoái lưỡng nan.
Điều răn mới yêu cầu chúng ta yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta. Để giải quyết cách nên thánh, chúng ta chỉ nhìn vào một phương diện tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Thiên Chúa yêu thương chúng ta nhưng không bắt buộc chúng ta yêu mến Ngài mà muốn chúng ta biến đổi. Ngài canh giữ chúng ta, ấp ủ chúng ta, hướng dẫn chúng ta, tha thứ chúng ta, ban ơn cho chúng ta, mở rộng Lòng Thương Xót của Ngài khi chúng ta ăn năn sám hối và quyết định sống tốt hơn, Ngài sẽ soi sáng để chúng ta biến đổi.
Tình yêu của Ngài luôn phù hợp với ý muốn và cách sắp xếp của chúng ta. Ngài không đòi buộc nhiều hơn những gì chúng ta có thể cho đi, Ngài không ép buộc chúng ta đi xa hơn khoảng cách mà chúng ta muốn đi. Ngài tuôn tràn tình yêu và ân sủng trên chúng ta khi chúng ta trườn bò, bước đi, chạy nhảy hoặc bay thẳng tới Ngài.
Đó có phải là bí quyết từ bỏ chính mình? Đó có phải là cách yêu thương người lân cận? Đó có phải là cách chúng ta thay đổi và để cho sự thay đổi đó thay đổi người khác? Sự thánh thiện có phải là điều chúng ta cầu xin khi chờ đợi một biến cố lớn xảy ra, hoặc là nguồn sức mạnh để phát triển không ngừng?

2. SỰ THÁNH THIỆN và CÁC MỐI QUAN HỆ
Người ta sinh sống, làm việc, đi đây đi đó, vui chơi, mua sắm, học hành, và ăn uống với nhau. Có một số cư dân ở hoang địa sống cô đơn mà không lệ thuộc người khác theo cách nào đó. Các mối quan hệ đặt ra cách chướng ngại to lớn và cách trợ giúp lớn lao để nên thánh. Người ta ở đó, giới răn yêu thương được trao cho họ, nhưng chúng ta dùng lệnh truyền đó sơ sài lắm.
Đôi khi chúng ta nghĩ rằng yêu thương là cảm thấy có cảm xúc, nhưng Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta “cảm thấy”. Yêu thương là quyết định, nhưng trong quyết định đó là gì? Đó có phải là ý muốn nói rằng “tôi yêu bạn” và rồi quên tuốt luốt chăng? Đó có phải là thi thoảng tha thứ, hy vọng trường hợp như thế sẽ không xảy ra nữa và trở thành không yêu thương khi Lòng Thương Xót lại đòi hỏi?
Làm sao chúng ta từ bỏ mình để Chúa Giêsu có thể tỏa sáng qua chúng ta? Có thể có một từ mô tả đúng điều Chúa Giêsu đã làm và điều chúng ta phải làm, đó là chữ “thích nghi”. Mọi người chúng ta gặp đều khác với chúng ta. Các thành viên trong một gia đình cũng khác nhau. Bạn bè, vợ chồng, anh chị em, các quốc gia, tất cả đều khác nhau. Mọi sự khác biệt tạo nên tình trạng “cảm thấy” yêu thương khác biệt và khác với những người đặc biệt tùy theo sở thích và cá tính của họ.
Chúa Giêsu giúp đỡ nhiều cách, trong các cách đó là thực tế mà chúng ta phải làm tối thiểu, chúng ta phải làm cho Ngài. Nhưng điều này luôn khó làm, bởi vì chúng ta thấy khó nhận ra Chúa Giêsu trong tình huống khó chịu, nơi những con người bất toàn và những trường hợp bất khả dĩ. Chúng ta luôn chờ đợi người khác giống Đức Kitô, cho rằng cách phản ứng của mình sẽ bình an hơn. Tuy nhiên, chúng ta không thể cho phép mình đáp lại lời mời gọi nên thánh tùy thuộc vào sự hoán cải, sự biến đổi hoặc động thái của người khác. Điều gì xảy ra với chúng ta nếu chúng ta không chịu thay đổi, không hành động như Chúa Giêsu, không yêu thương và không hoán cải?

3. YÊU NGƯỜI KHÔNG THƯƠNG MÌNH 
Điều gì xảy ra với lời mời gọi nên thánh khi những tình huống khó xử xảy ra và nhưng người mình quan tâm lại khó ưa, cáu kỉnh và thù hằn? Chúa Giêsu có muốn chúng ta là cây sậy yếu đuối bị lung lay trước gió? Ngài có chết và đổ máu ra để chúng ta cho phép mình bị đày đọa đủ kiểu bởi tính khí và kiểu khó ưa của người khác?
Chúng ta có viện cớ vì thiếu nhân đức khi chúng ta than phiền rằng rõ ràng Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta nên thánh bởi vì chúng ta không sống trong cuộc đời không hề có các vấn nạn về con người? Chúng ta có nói rằng nếu không vì “người ta” thì chúng ta có thể nên thánh? Đúng, chúng ta là thế, và Chúa Giêsu biết điều đó khi Ngài truyền điều răn mới cho chúng ta.
Chúa Giêsu giải quyết với mọi người mà Ngài gặp theo ánh sáng, nhân đức và lòng quảng đại mà linh hồn họ đạt tới. Ngài biết người thanh niên giàu có kia có thể làm gì nên Ngài mới yêu cầu, nhưng anh ta không muốn từ bỏ. Chính người thanh niên đó buồn bã bỏ đi chứ không phải là Chúa Giêsu. Vì Nguồn Bình An của Chúa Giêsu là Chúa Cha, Ngài có thể hỏi, nhận lời từ chối, chấp nhận chính con người đó trong tình trạng hiện tại của linh hồn đó và vẫn yêu thương người đó.
Chúa Giêsu biết Giuđa sẽ làm gì khi Ngài kêu gọi ông, nhưng điều đó không ngăn cản Ngài kêu gọi ông. Ngài đối xử với Giuđa theo mức độ của ông vào lúc đó. Vào lúc đó, Giuđa là người nhiệt thành, hăng hái và tìm cách vào Nước Trời. Chúa Giêsu chấp nhận ông như chính con người của ông. Ngài vẫn yêu thương ông bằng cách soi sáng cho ông, cảnh báo chúng ta không được làm tôi hai chủ và chịu đựng tính xấu của ông.
Cách phản ứng của chúng ta đối với tha nhân khác với cách của Chúa Giêsu. Chúng ta phê phán động lực chúng ta không thấy, có thể bị lừa vì cứ nhớ chuyện quá khứ và rồi không còn hy vọng để thay đổi trong tương lai.

4. CHÚA GIÊSU YÊU THƯƠNG CÁC MÔN ĐỆ 
Chúng ta đã thấy cách Chúa Giêsu yêu thương ông Phêrô. Ngài kêu gọi ông, nhẹ nhàng sửa lỗi ông, cảnh báo ông về việc chối bỏ Ngài, nhìn ông và tha thứ, và rồi hỏi ông để ông xác định lòng mến ba lần. Chúa Giêsu không bao giờ nghĩ tới việc tước quyền cai quản Giáo hội mà Ngài đã trao cho ông. Ngài biết nhược điểm (điểm yếu, sở đoản) của ông, sống với ông, lập kế hoạch, dùng các kế hoạch đó để làm cho Phêrô tiến bộ và tin tưởng giao quyền quản lý cho ông. Đó là yêu thương.
Chúng ta có thể chắc chắn rằng các tông đồ không phải lúc nào cũng làm cho Chúa Giêsu thoải mái. Họ đã không hiểu biết sứ vụ cứu độ của Ngài. Ngài dùng các dụ ngôn vượt ngoài tầm hiểu của họ, Ước muốn chịu đau khổ của Ngài là điều mầu nhiệm, khó hiểu các mặc khải của Ngài, giáo huấn của Ngài quá sâu xa đối với trí hiểu của họ. Đôi khi Ngài hiền từ tới mức họ cảm thấy muốn nói với Ngài điều gì đó nhưng họ e ngại, có lúc Ngài lại nổi nóng đánh đuổi những người buôn bán trong Đền Thờ. Mệnh lệnh của Ngài có vẻ nghiêm khắc và khó thực hiện trong khi Ngài sống gương mẫu các lệnh truyền đó. Nhưng những họ vẫn theo Ngài, hy sinh vì Ngài và yêu mến Ngài lắm.
Chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu trưởng thành trong sự hiểu biết thục nghiệm, các môn đệ của Ngài tiến bộ trong ân sủng và khôn ngoan bằng cách chấp nhận lẫn nhau và thích nghi với nhau.
Chúa Giêsu dần dần đem ý nghĩa của các giá trị tới mức cao hơn bằng cách chính Ngài sống theo cách giá trị đó. Ngài dùng dụ ngôn để làm cho họ thấm nhuần. Ngài thường xuyên tha thứ cho họ và yêu cầu họ phải tha thứ 70 lần 7. Biết họ “sốc” khi nghe nói về sự đau khổ, Ngài đề cập cuộc khổ nạn của Ngài sẽ đến và an ủi họ bằng cách tiên báo về sự phục sinh của Ngài. Khi họ hỏi thì Ngài trả lời, Ngài đưa ra các chân lý cao siêu mà không làm cho họ ngơ ngẩn. Ngài làm cho họ kiên nhẫn bằng cách bảo họ cho năm ngàn người ăn với vài chiếc bánh và vài con cá, rồi chính Ngài hóa bánh ra nhiều để họ vui vẻ làm điều “không thể”.
Ngài tin họ và kiên nhẫn chờ đợi những điều đó đơm hoa kết trái, nhưng lúc đó Ngài gặp họ ở chính con người của họ, Ngài biết rằng ân sủng sẽ đem lại những phẩm chất tốt ẩn giấu bên trong họ.
Sự thánh thiện của Ngài phá tan bóng tối, và bóng tối tan biến trong ánh sáng thánh thiện của Ngài. Khi họ biết cách làm cho người khác như Ngài đã làm cho họ, chính họ cũng trở nên ánh sáng trong bóng tối, có thể tạo ra các phẩm chất tốt đẹp của linh hồn, và chính họ cũng trở nên thành phần của “ánh sáng chiếu soi mọi người” (Ga 1:9).

5. HIỂU BIẾT TÍNH THÍCH NGHI
Chúng ta có thể gọi khả năng này là “hiểu biết tính thích nghi”. Nó nhận ánh sáng từ Chúa Giêsu và vì nguồn ánh sáng đó vô tận, ánh sáng đó bừng sáng và chạm vào người khác. Thánh Phaolô mô tả “tính thích nghi” đó khi khuyên mọi người phải từ bỏ mình vì người khác: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:3-7).
Bí quyết từ bỏ mình, yêu thương tha nhân như Thiên Chúa yêu thương chúng ta và sống các mối phúc, đó là:
– Chấp nhận Thiên Chúa theo điều kiện của Ngài.
– Chấp nhận chúng ta là chính mình.
– Chấp nhận người khác là chính họ.
Khi chúng ta chấp nhận Thiên Chúa, chúng ta sẽ làm theo Ý Ngài – khi nhận chúng ta là chính mình, chúng ta nhận ra sự yếu đuối của mình và sự lệ thuộc vào ân sủng của Ngài. Sự lệ thuộc này làm cho chúng ta nhận ra rằng Ý Chúa cao siêu đối với chúng ta, và thực tế này cho phép chúng ta nhìn tha nhân theo ánh sáng mới. Chúng ta chấp nhận chính con người của người đó. Khi người khác tức giận, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi cách cư xử tế nhị vào lúc đó, vì họ cần nhận ra sự hiều từ – nghĩa là chúng ta khiêm tốn.
Khi tính của người khác “khó khăn”, chúng ta thể hiện tình yêu thương bằng cách tránh làm cho họ “khó chịu”. Kinh nghiệm cho chúng ta biết điều gì làm người khác không vừa lòng vì chúng ta không cẩn thận làm hoặc nói những điều khiến họ tức giận. Chúng ta phải từ bỏ mình, chấp nhận sự yếu đuối của người khác và cố gắng phản ứng như Chúa Giêsu. Nghĩa là “từ bỏ mình và tự nhận mình mang thân phận nô lệ”, như Thánh Phaolô nói: “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô” (Gl 6:2). Chúng ta cẩn trọng và lưu ý những điều làm vui lòng người khác – với điều kiện điều đó không là tội lỗi, cố gắng tránh những điều làm phiền người khác, tự thích nghi với sở thích của người khác và cách cư xử của người khác.
Điều này đặt chúng ta vào tình yêu thương từ bỏ chính mình. Chúng ta trở nên tấm gương sống động về các mối phúc. Thánh Phaolô nói: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, ANH EM LẠI LÀ ÁNH SÁNG. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5:8-9).
Khi chúng ta thích nghi cách nói chuyện, tính khí, kiến thức, nhân đức, sở thích của chúng ta với tình trạng của người khác, đó là chúng ta yêu thương họ như Chúa Giêsu – chúng ta là ánh sáng trong bóng tối, là con cái của Thiên Chúa. Như vậy là chúng ta sống theo lời khuyên của Thánh Phaolô: “Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5:1-2).
Đó là chết cho chính mình, từ bỏ mình vì người khác, đó là sự thánh thiện trong chính con người thật của chúng ta: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Một số người được mời gọi quên mình vì người khác, nhưng chúng ta cũng có thể từ bỏ mình vì cách phản ứng của chúng ta, chiến thắng tính yếu đuối của chúng ta, quên chính mình và chấp nhận chính con người của người khác – đó là cái chết về tinh thần.
Không phải là lúc nào Chúa Giêsu cũng bằng lòng với cách hành xử của các môn đệ, nhưng Ngài tự thích nghi với tính khí của họ, cầu nguyện cho họ, làm gương cho họ. Ngài yêu thương họ và vui mừng khi họ thay đổi.
Chúng ta thấy các môn đệ và các Kitô hữu đầu tiên làm điều này sau Lễ Ngũ Tuần: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. KHÔNG một ai coi bất cứ cái gì mình có là CỦA RIÊNG, nhưng đối với họ, MỌI SỰ ĐỀU LÀ CỦA CHUNG” (Cv 4:32). Sự kết hiệp của tâm hồn và linh hồn là bất tử nếu người đó từ bỏ chính mình, nghĩ về cách làm vui lòng người khác hơn là làm vui chính mình.
Chúa Giêsu đã đề cập điều đó khi Ngài nói với các môn đệ: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15). Đó là Ngài nói về mỗi chúng ta, những người có tinh thần yêu thương và khiêm nhường khi chúng ta phục vụ lẫn nhau. Sự phục vụ đó không chỉ về thể lý, mà còn về cách nhẫn nhục và chịu đựng, bằng cách cẩn thận liệu trước tính khí và sự yếu đuối của người khác, và bằng tình yêu thương từ bỏ chính mình.
Để kiên nhẫn trong nhiệm vụ cay đắng và ngọt ngào của tình yêu thương thánh đức, chúng ta phải duy trì mối quan hệ mật thiết với Thiên Chúa, nền tảng của đức khiêm nhường và sự tự biết mình.

6. ĐẾN VỚI THA NHÂN
Sức mạnh tinh thần không thể có trong chính nó, mà nó phải đi đến với người khác. Như vậy là chúng ta được Thiên Chúa truyền lệnh phải yêu mến Thiên Chúa hết sức và hết lòng, và yêu thương tha nhân như Ngài yêu thương – đó là tình yêu thương tuôn chảy giữa Thiên Chúa và linh hồn chúng ta, giữa linh hồn chúng ta và tha nhân.
Khó lắm, nhưng sức nặng thập giá đó còn nhẹ nhà khi so sánh với sức nặng của những cơn giận không được kiểm soát, sự cố chấp ý kiến, sự không cố gắng biến đổi chính mình, sự oán giận, sự hối tiếc và tội lỗi. Chấp nhận hiện tại như Chúa Giêsu sẽ làm cho gánh nặng trở nên nhẹ nhàng: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:29-30).
Ân sủng ở ngay trong những gì xảy ra cho bạn vào thời điểm đó. Sử dụng điều đó như thế nào? Ủng hộ hay chống đối? Thánh Phaolô nói: “Anh em là những người trong dân thánh, những người được hưởng chung ơn gọi bởi trời, anh em hãy ngắm nhìn Đức Giêsu là Sứ Giả, là Thượng Tế, là Trung Gian cho chúng ta tuyên xưng đức tin” (Dt 3:1).
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nên thánh trong mọi thứ xảy ra. Hãy để cho cuộc đời mình reo vang như tiếng chuông trong trẻo để nói với người khác: “Đức Giêsu là Thiên Chúa. Chúa Giêsu yêu thương bạn”.

MẸ ANGELICA
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Chúa Nhật III PS – 2018

 

Nhãn tiền
(Chúa Nhật III Phục Sinh, Năm B)

Chúng ta vừa mừng Đại lễ Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) vào Chúa Nhật tuần trước – Chúa Nhật II Phục Sinh. LCTX luôn được nhắc đến suốt năm Phụng vụ, đặc biệt vào Mùa Phục Sinh. Ngay từ thuở hồng hoang, thuở khai thiên lập địa, Kinh thánh đã nói đến lòng yêu thương:

– Này, tôi tớ ngài đây đã được đẹp lòng ngài, và ngài đã tỏ lòng thương lớn lao của ngài đối với tôi khi để cho tôi sống. Nhưng tôi không trốn lên núi được đâu, tai ương sẽ đuổi kịp, và tôi chết mất! (St 19:19);

– Xin mời ông, con sẽ cho cả lạc đà của ông uống nữa", thì đó là người Chúa đã xe duyên cho tôi tớ Chúa là I-xa-ác; cứ đó, con sẽ biết rằng Chúa đã tỏ tình thương đối với chủ con (St 24:14);

– Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa của ông Áp-ra-ham, chủ tôi, đã không ngừng tỏ tình thương và lòng thành tín của Người đối với chủ tôi; còn tôi, Đức Chúa đã dẫn dắt tôi trên đường đến nhà anh em họ hàng của chủ tôi (St 24:27);

– Tôi đã nhìn thấy mặt ngài như nhìn thấy mặt Thiên Chúa, và ngài đã tỏ lòng thương với tôi (St 33:10).

Đạo (của) Chúa là Đạo Yêu thương, vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4::8 & 16). Yêu thương, tình thương, tình yêu, hoặc lòng thương đều là một. Cách gọi khác theo ngôn ngữ, nhưng thực chất vẫn là Lòng Chúa Thương Xót. Ngay trong Việt ngữ cũng không thống nhất, khi thì Lòng Thương Xót Chúa, khi thì Lòng Chúa Thương Xót. Khi chúng ta nói “Lòng Thương Xót Chúa” tức là “Lòng Thương Xót của Chúa”. Thực ra vẫn giống nhau, chỉ vì Việt ngữ không rõ ràng do “rút gọn” văn phạm, và dễ gây hiểu lầm!

TỘI LỖI NHÃN TIỀN
Thánh Phêrô nói: “Thiên Chúa của các tổ phụ Ápraham, Isaác và Giacóp, Thiên Chúa của cha ông chúng ta, đã tôn vinh Tôi Trung của Ngài là Đức Giêsu, Đấng mà chính anh chị em đã nộp và chối bỏ trước mặt quan Philatô, dù quan ấy xét là phải tha. Anh chị em đã chối bỏ Đấng ThánhĐấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân. Anh chị em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết” (Cv 3:13-15). Chúng ta thật khốn nạn, dám “giao nộp” Chúa Giêsu, dám “chối bỏ” Ngài, dù biết rõ Ngài là “Đấng Thánh”, là “Đấng Công Chính”, là “Đấng khơi nguồn sống”.

Giáo hoàng tiên khởi đã có “kinh nghiệm đau thương” về việc này nên kêu gọi: “Thưa anh chị em, giờ đây tôi biết anh chị em đã hành động vì không hiểu biết, cũng như các thủ lãnh của anh chị em. Nhưng, như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện những điều Ngài dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước, đó là: Đấng Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh chị em hãy sám hốitrở lại cùng Thiên Chúa, để Ngài xoá bỏ tội lỗi cho anh em” (Cv 3:17-19).

Ngày xưa, có thể dân Do Thái hành động vì thiếu hiểu biết, vì họ quá bất ngờ và quá bị “sốc” khi nghe chàng-thanh-niên-con-bác-thợ-mộc nói là Con Thiên Chúa, “khó nghe” thật! Nhưng ngày nay, chúng ta không thể biện minh là chúng ta không hiểu biết.

Nếu thực sự không thể tự biện hộ, thực sự biết mình đã và đang phạm nhiều tội lỗi nhãn tiền thì chúng ta phải biết sám hối, trở lại, và khẩn cầu LCTX: “Lạy Thiên Chúa là đèn trời soi xét, khi con kêu, nguyện Chúa đáp lời. Lúc ngặt nghèo, Chúa đã mở lối thoát cho con, xin thương xót nghe lời con cầu khẩn” (Tv 4:2). Chúng ta phải biết rằng Chúa biệt đãi người hiếu trung với Ngài; khi kêu cầu thì Ngãi Chúa luôn nghe lời. Biết bao kẻ từng thắc mắc: “Ai sẽ cho ta thấy hạnh phúc?” (Tv 4:7a). Trong câu hỏi đó đạ mặc nhiên có câu trả lời, nghĩa là không ai khác, không một thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta càng phải kêu cầu: “Lạy Chúa, xin toả ánh Tôn Nhan Ngài trên chúng con” (Tv 4:7b).

HỒNG ÂN NHÃN TIỀN
Chúa luôn ban vô vàn hồng ân hằng ngày. Đơn giản nhất mà lại cần nhất là không khí – thiếu không khí vài phút là chúng ta chết ngay! Mọi người, không trừ ai, đều đã và đang nhận lãnh hồng ân của Thiên Chúa – dù chúng ta chưa hề mở lời xin Ngài.

Thánh Gioan khuyên chúng ta “đừng phạm tội”, và “láy” một câu: “Nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1 Ga 2:1). Quá tuyệt vời! Chắc chắn chúng ta đều là những tội nhân khốn nạn, nhưng chúng ta lại vô cùng may mắn có Chúa Giêsu là luật sư biện hộ cho chúng ta trước Tòa Án Công Lý của Chúa Cha. Hơn nữa, “chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2:2). Nhận xét của Thánh Gioan rất “ăn khớp” với lời khẩn cầu trong Chuỗi LCTX: “Lạy Cha hằng hữu, con xin dâng lên Cha Mình và Máu, linh hồn và thần tính của Con rất yêu dấu Cha, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, để đền vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới”.

Nếu chúng ta tuân giữ các điều răn của Ngài, chúng ta nhận ra mình là những người biết Thiên Chúa. Nhưng “ai nói mình biết Ngài mà không tuân giữ các điều răn của Ngài, đó là kẻ nói dối, và Sự Thật không ở nơi người ấy” (1 Ga 2:4). Ngược lại, “ai giữ lời Ngài dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:5). Tình yêu và bổn phận luôn có mối quan hệ chặt chẽ.

Sau khi hai môn đệ nhận ra Sư phụ Giêsu trên đường Emmau khi Ngài bẻ bánh, họ thuật lại chuyện đã xảy cho các môn đệ khác biết. Các ông còn đang bàn tán thì chính Đức Giêsu hiện ra đứng giữa họ và bảo: “Bình an cho anh em!” (Lc 24:36). Thế nhưng các ông kinh hồn bạt vía, hồn xiêu phách lạc tưởng là thấy ma. Nhưng Ngài nói: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc 24:38-39). Lời-chúc-bình-an đó là Chúa Giêsu đã trao ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ lúc đó và chúng ta ngày nay.

Nói xong, để các môn đệ thấy nhãn tiền, Ngài đưa tay chân ra cho các ông xem. Ấy thế mà họ còn chưa tin, phần vì mừng quá đỗi, phần vì quá ngỡ ngàng. Mừng vì Thầy đã sống lại thật chứ không bị bọn ma mãnh lấy mất xác Thầy, mừng vì hai môn đệ kia (gặp Chúa trên đường Emmau) nói thật chứ không… “xạo”. Và để cho “chắc cú”, Ngài hỏi: “Ở đây anh em có gì ăn không?” (Lc 24:43). Các ông đưa cho Ngài một khúc cá nướng thơm phức, thế là Ngài cầm lấy và ăn ngon lành trước mặt họ. Ôi, Sư phụ Giêsu thật chứ không phải tay nào khác giả dạng. Trên cả tuyệt vời luôn!

Ăn cá xong, Ngài giải thích: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Môsê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (Lc 24:44). Vâng, Thánh Ý Chúa quá mầu nhiệm, vượt xa tầm hiểu biết của nhân loại – dù là những bậc thông thái. Bấy giờ, chính Ngài mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và Ngài nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24:46-47).

Ngài biết chúng ta luôn yếu đuối, luôn sai phạm, nên Ngài luôn nhấn mạnh động thái “sám hối” và “tín thác”. Có hai điều đó thì LCTX luôn đổ tràn trên chúng ta. Và Ngài xác định bổn phận được trao cho chúng ta: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24:48).

Cuối cùng, Chúa Giêsu vừa hứa vừa dặn dò: “Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24:49). Lời hứa đó đã, đang và sẽ được Ngài thực hiện cho nhân loại chúng ta.

Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con, xin luôn ban Thần Khí Chúa cho chúng con để chúng con can đảm làm chứng về LCTX và Đức Kitô phục sinh, hôm nay và mãi đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Tỉnh ngộ
(Chúa Nhật III PS, năm B)
Cuộc đời là bến mê lầm. Sai một ly, đi một dặm. Phải luôn cố gắng tỉnh thức để thoát khỏi mọi cạm bẫy. Thoát ly như vậy là tỉnh ngộ – thoát khỏi ngu muội. Điều này vô cùng cần thiết, vì chính Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:41; Mc 14:38).
Phật giáo dùng từ “giác ngộ” (zh. 覺悟, sa., pi. bodhi). Danh từ này được dịch nghĩa từ chữ “bodhi” (bồ-đề) trong Phạn ngữ. Từ ngữ này chỉ trạng thái tỉnh thức, lúc con người bỗng nhiên trực nhận tính KHÔNG, bản thân nó là “không” như toàn thể vũ trụ cũng là “không” vậy.
Và chỉ với trực nhận đó, con người mới thấu hiểu được “thể tính mọi hiện tượng”. Tính “không” ở đây KHÔNG phải sự trống rỗng thông thường mà nói về một thể tính vô biên, không thể dùng suy nghĩ hoặc cảm nhận để đo lường, vì điều đó nằm ngoài cặp đối “có – không”. Tính “không” này không phải là một đối tượng để một chủ thể tiếp cận, vì bản thân chủ thể cũng thuộc về nó. Do đó, giác ngộ là một kinh nghiệm không thể giãi bày.
Kinh Thánh nhắc lại Người Tôi Tớ Đau Khổ và cũng “chạm” vào ký-ức-buồn của chúng ta, tức là sự ngu muội của chúng ta: “Thiên Chúa của các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, Thiên Chúa của cha ông chúng ta, đã tôn vinh Tôi Trung của Người là Đức Giêsu, Đấng mà chính anh em đã nộpchối bỏ trước mặt quan Philatô, dù quan ấy xét là phải tha. Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân. Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết: về điều này, chúng tôi xin làm chứng” (Cv 3:13-15).
Thánh Phêrô dõng dạc làm chứng về Đức Giêsu Kitô và thông cảm với sự ngu muội của chúng ta: “Thưa anh em, giờ đây tôi biết anh em đã hành động vì không hiểu biết, cũng như các thủ lãnh của anh em. Nhưng, như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện những điều Người dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước, đó là: Đấng Kitô của Người phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy sám hốitrở lại cùng Thiên Chúa, để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em” (Cv 3:17-19). Thiên Chúa nhân từ và giàu lòng thương xót, Ngài chỉ cần chúng ta hối hận thật lòng thì Ngài sẽ tha thứ ngay. Điều này đã được Thiên Chúa hứa từ ngàn xưa rồi: “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông” (Is 1:18). Và chính tướng cướp Diasmas đã được hưởng lời hứa đó ngay trên Núi Sọ: Theo Chúa Giêsu vào thẳng Thiên Đàng (Lc 23:43), dù “đại ca” này chưa hề biết gì về Chúa Giêsu và chưa lãnh nhận Bí tích Rửa tội.
Thiên Chúa quá đỗi nhân lành, nhất là với những người thành tâm sám hối: “Lạy Thiên Chúa là đèn trời soi xét, khi con kêu, nguyện Chúa đáp lời. Lúc ngặt nghèo, Chúa đã mở lối thoát cho con, xin thương xót nghe lời con cầu khẩn” (Tv 4:2). Ngoài Thiên Chúa, chắc chắn chẳng có thần linh nào hoặc phàm nhân nào khả dĩ cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc. Hãy cầu nguyện liên lỉ, hãy không ngừng nài xin: “Lạy Chúa, xin toả ánh tôn nhan Ngài trên chúng con” (Tv 4:7).
Khi có Ngài rồi thì cứ “vô tư” mà sống. Chả lo lắng chi cho già người đi. Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh đã chia sẻ kinh nghiệm thoải mái này: “Thư thái bình an vừa nằm con đã ngủ, vì chỉ có mình Ngài, lạy Chúa, ban cho con được sống yên hàn” (Tv 4:9). Mèn ơi! Thế thì thật là hạnh phúc, sướng ơi là sướng!
Thánh Gioan muốn chúng ta tỉnh ngộ nên đã nhắn nhủ: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi, tôi viết cho anh em những điều này, để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính“” (1 Ga 2:1). Không nên phạm tội, đó là điều chính đáng, nhưng tay lỡ “nhúng chàm” thì lại được Luật Sư uy tín biện hộ cho chúng ta, đó là chính Chúa Giêsu. Thế thì còn gì sướng hơn nữa chứ?
Thánh Gioan cho biết: “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2:2). Trên cả tuyệt vời, vì chính Chúa Giêsu cũng đã mặc khải cho Thánh nữ Faustina: “Lòng thương xót của Ta lớn hơn tội lỗi của con và toàn thế giới” (Nhật Ký, số 1485). Mọi diễn biến từ Cựu Ước tới Tân Ước đều lô-gích, chính xác, không chút sai lệch. Thật là mầu nhiệm biết bao!
Điều kiện thứ nhất là “đừng phạm tội”, điều kiện thứ hai là “tuân giữ các điều răn” – nhất là điều răn bác ái. Đức ái là một trong ba đức đối thần, nhưng là nhân đức quan trọng nhất. Tại sao? Vì đức mến còn mãi mãi, trên Thiên Đàng chỉ còn đức mến, không còn đức tin và đức cậy (hy vọng).
Thánh Gioan phân tích: “Căn cứ vào điều này, chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa: là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người. Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy. Còn hễ ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:3-5). Thánh Phaolô cũng nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13:8-10). Người biết yêu mến là người chu toàn lề luật của Thiên Chúa, đó là người mặc lấy con người mới, sống niềm vui phục sinh, tức là đã tỉnh ngộ.
Sau khi phục sinh, một hôm ở trên đường Emmaus (*), Chúa Giêsu gặp hai môn đệ và giải thích cho họ những gì liên quan đến Ngài trong tất cả Sách Thánh, bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ. Họ không hề biết đó là Chúa-Giêsu-phục-sinh. Khi đồng bàn với họ, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ đã mở ra, tỉnh ngộ, và nhận ra Ngài, thế nhưng Ngài lại biến mất (Lc 24:27-30).
Lần khác, khi các môn đệ còn đang nói, chính Đức Giêsu đứng giữa các ông và chúc bình an cho họ. Các ông kinh hồn bạt vía, cứ tưởng là thấy ma. Tá hỏa tam tinh. Run sợ thật đấy! Nhưng Ngài cười và bảo: “Này các cậu, sao lại hoảng hốt thế nhỉ? Sao lòng anh em còn ngờ vực chứ? Này, nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc 24:38-48). Rồi Ngài đưa tay chân ra cho các ông xem. Ừ nhỉ! Ma đâu có thế này, đúng là thần hồn nhát thần tính. Chán thật!
Các ông còn bán tín bán nghi, chưa dám tin thật, phần vì mừng quá, phần vì ngỡ ngàng. Chúa Giêsu thấy mắc cười lắm, Ngài hỏi: “Ở đây anh em có gì ăn không nào? Đem ra đây cho Thầy ăn!”. Các ông đưa cho Ngài một khúc cá nướng. Ngài cầm lấy và ăn ngon lành trước mặt các ông. Mấy ông nhéo nhau, ai cũng la oái, thế thì không phải mơ, tỉnh thật đấy.
Rồi Ngài ôn tồn: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Môsê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (Lc 24:44). Bấy giờ Ngài mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh. Ngài nhấn mạnh: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24:46-48).
Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin mở lòng trí chúng con để chúng con đủ sức hiểu rõ lời Kinh Thánh, xin giúp chúng con biết tỉnh ngộ để chúng con chân tín Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ chúng con, đồng thời cũng luôn biết sống yêu thương và can đảm làm chứng về Đấng Phục Sinh. Ngài là Đấng hằng sinh và hằng hữu, hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.
TRẦM THIÊN THU
(*) Emmaus là viết theo tiếng Latin, tiếng Hy Lạp là Ἐμμαούς, tiếng Ả Rập là عِمواس‎ (Imwas), tiếng Do Thái là חמת‎ (Hammat), có nghĩa là “mùa xuân ấm áp”. Emmaus cách Giêrusalem 7 dặm, khoảng 11 km.

 

DongCongNet 2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)