dongcong.net
 
 


mùa Phục sinh : Trầm Thiên Thu

QUEN và LẠ
Chúa nhật 6 phục sinh, năm  B

Khi một người bị chứng bệnh thể lý trầm kha, người ta sợ bệnh nhân bị sốc về tâm lý nên không dám cho biết ngay, nhưng rồi dù muốn dù không thì cũng vẫn phải cho biết. Khi một người bị chứng bệnh tâm linh trầm kha, người đó không chỉ CẦN biết mà còn PHẢI biết.
Chúa Nhật IV Phục Sinh cũng được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, và là ngày cầu nguyện cho ơn gọi dâng hiến (linh mục và tu sĩ).
Người ta thường nói: “Cờ đến tay ai người nấy phất”. Chưa cầm được “cờ” thì quyết tâm đủ điều, hứa hẹn đủ thứ; cầm được “cờ” rồi thì chẳng cần chi nữa, trời cũng chỉ nhỏ như nắp bia mà thôi. Người ta “giết” nhau bằng mọi cách (kiểu người đời gọi là “thủ đoạn”).
Kể cũng lạ, người ta có những “chứng sợ hãi” kỳ lạ và vô lý. Chẳng hạn một số hội chứng phổ biến này: Sợ thực phẩm hoặc sợ ăn (sitophobia, citophobia hoặc sitiophobia), sợ hình ngôi sao (siderophobia, astrophobia), sợ sao chổi (cometophobia), sợ hiện tượng vũ trụ (kosmikophobia), sợ khì tượng (meteorophobia), sợ thời gian (chronophobia), sợ không gian (spacephobia), sợ độ cao (acrophobia), sợ đơn độc (isolophobia), sợ cô đơn hoặc sợ bị bỏ rơi (autophobia), sợ tắm rửa (ablutophobia), sợ nước (aquaphobia), sợ mèo (ailurophobia, felinophobia), sợ chó (cynophobia), sợ nói trước đám đông (glossophobia), sợ yêu (philophobia), sợ kết hôn (gamophobia), sợ đàn ông (androphobia), sợ mỹ nhân (venustraphobia),… Có người sợ ma mà lại thích nghe chuyện ma. Oái oăm thế đấy! Tương tự, người ta nói một đàng mà phang một nẻo. Vì thế, cần lắm ơn khôn ngoan: “Trí khôn ngoan là cội rễ không thể nào hư hoại” (Kn 3:15).
Ngày xưa, Thánh vương Sa-lô-môn đã có cách xử độc đáo trong vụ một đứa con và hai người mẹ. Người mẹ thật đồng ý để người mẹ kia làm mẹ vì bà muốn đứa con sống, còn người mẹ giả chấp nhận xẻ đứa con làm đôi chứ không hề động lòng thương của tình mẫu tử. Mục tử thật hoặc giả cũng vậy. Mục tử thật thì yêu thương chiên hết lòng, dám xả thân vì chiên; còn mục tử giả hoặc người chăn thuê thì bỏ mặc chiên, không hề quan tâm chăm sóc chiên.
Trình thuật Ga 10:22-30 cho biết: Một hôm, tại Giêrusalem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ, Đức Giêsu đi đi lại lại trong Đền Thờ tại hành lang Sa-lô-môn. Người Do-thái vây quanh Đức Giêsu và nói: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô thì xin nói công khai cho chúng tôi biết” (Ga 10:24). Đức Giêsu đáp: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì NGHE tiếng tôi; tôi BIẾT chúng và chúng THEO tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10:25-30).
NGHE, BIẾT và THEO là “chiếc kiềng” vững vàng xác định mối quan hệ thật giữa chủ chiên và đàn chiên. Chúa Giêsu là Mục Tử đích thực và nhân lành vì Ngài BIẾT RÕ từng con – dù khỏe hay yếu, biết tên tuổi và biết tính cách mỗi con; Ngài YÊU THƯƠNG mọi con chiên – nhất là những con bệnh tật hoặc yếu đuối; và Ngài DÁM THÍ MẠNG vì chiên. Ba đặc điểm đó xác định “người thật, việc thật”, nếu không thì chỉ là “người làm thuê” mà thôi.
Sống trong xã hội Việt Nam ngày nay, người ta đã chán ngán những người lãnh đạo chỉ NÓI mà KHÔNG LÀM, nói để mị dân, rồi hành động trái ngược. Thấy họ như vậy thì chúng ta không thể theo “phong cách” của họ.
Chúa Giêsu là Mục Tử vô cùng nhân hậu, Thánh Phêrô xác định: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành. Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (1 Pr 2:24-25).
Vô tri bất mộ. Nhưng đã NGHE và BIẾT rồi thì sẵn sàng THEO ngay. Mục Tử Giêsu đã nêu gương, các mục tử khác không thể khác được. Theo Thầy Giêsu thì không còn lo sợ chi nữa: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người” (Tv 23:1-3).
Chúa Giêsu là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống, đồng thời Ngài còn là Cửa (Ga 10:9), chính Cửa này dẫn vào Nguồn Sống Viên Mãn của Thiên Chúa: “Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ” (Ga 10:1-5). Nghe Đức Giêsu nói vậy, người ta không hiểu Ngài nói gì.
Dám nhìn thẳng vào sự thật mới là người yêu sự thật, vì Chúa Giêsu là sự thật. Ngài căn dặn: “Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10:10; Lc 9:3; Lc 10:4). Nhưng thực tế ngày nay, có những linh mục quá “chăm chú” vào vật chất, chỉ gần chiên béo và thích lễ béo, họ làm cho giáo dân thất vọng nên không muốn nghe những gì các linh mục đó nói. Truyền giáo hóa ra phản tác dụng. Nói ra thì bị ghét, không nói thì họ làm tới.
Là Mục Tử Nhân Lành, là Chúa Chiên Lành, Đức Giêsu xác định: “Tôi là CỬA cho chiên ra vào. Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe họ. Tôi là CỬA. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. KẺ TRỘM chỉ đến để ĂN TRỘM, GIẾT HẠI và PHÁ HUỶ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên ĐƯỢC SỐNG và SỐNG DỒI DÀO” (Ga 10:7-10). Mục Tử Nhân Lành là vậy, luôn sống và hành động vì người khác, vì đoàn chiên, chứ không biện hộ hoặc chỉ bảo vệ mình, còn chiên ra sao thì ra.
Mục Tử Giêsu giàu lòng thương xót, yêu thương mọi người đến cùng (Ga 13:1), dù đó là tội nhân – chiên ốm yếu, ghẻ lở, hôi hám. Thật vậy, “ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5:20). Ngài sẵn sàng bỏ 99 con chiên béo tốt, lông dài trắng mịn, để chỉ tìm cho được 1 con chiên đen đủi, xấu xí. Ngài hành động đúng như lời Ngài nói: “Con Người đến để TÌM và CỨU những gì ĐÃ MẤT” (Lc 19:10).
Thật buồn khi thấy có một số linh mục giảng cộc cằn, thô lỗ, gay gắt, chỉ trích, xỉa xói, áp bức,… “Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”. Về bí tích (xức dầu), gia đình bệnh nhân phải có “phong bì”. Ôi, lạy Chúa, bí tích phải được TRAO BAN, chứ sao lại TRÁO và BÁN như thế?
Chuyện buồn rồi cũng có chuyện vui. Không đâu xa, ngay tại Việt Nam cũng đã có những mục tử nhân hậu như lòng Chúa mong ước, đó là ai? Một ĐGM Cassaigne – quen gọi thân thương là Cha Sanh (1), và một LM P.X. Trương Bửu Diệp (2). Linh mục cho rằng giáo dân chống đối, không hợp tác, nhưng có khi nào họ xem lại chính mình có “nói tiếng lạ” không mà sao chiên không hiểu hoặc không nghe?
Người Pháp có câu thật hay: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống đối người khác”. Hãy hiểu theo nghĩa tích cực chứ đừng tiêu cực. Chúng ta cũng không nên thần thánh hóa bất cứ ai, hãy cứ bình thường, và hãy làm người trước khi cách cư xử với tư cách “ông kia, bà nọ”.
ĐGH Phanxicô đã cảnh báo các giám mục: “Mục tử có nguy cơ bị mê hoặc bởi viễn tượng nghề nghiệp, bởi cám dỗ về tiền bạc, và những thoả hiệp theo tinh thần thế gian”. Có lần ngài nhấn mạnh rằng giám mục là người được chọn để phục vụ một Giáo hội duy nhất, vì thế KHÔNG ĐƯỢC tìm kiếm một việc gì khác ngoài việc PHỤC VỤ GIÁO HỘI. Ngài đã nói thẳng: “Nếu tìm kiếm một việc gì khác thì chính giám mục đó đang ngoại tình”. Dịp tấn phong 19 hồng y hồi tháng 2-2014, ĐGH Phanxicô đã nói với các tân chức: “Chư huynh là các tôi tớ chứ không là những nịnh thần” (servants, not courtiers).
Chuyện vui rồi lại có chuyện buồn: Giám mục xa hoa người Đức Franz Peter Tebartz van Elst (bị đình chỉ nhiệm vụ hồi tháng 10-2013) đã bị cáo buộc chi tiêu 31 triệu euro (gần 40 triệu USD, gấp 6 lần so với kế hoạch ban đầu) để nâng cấp và xây dựng mới dinh thự của mình và văn phòng giáo phận, đồng thời cũng bị cáo buộc đã khai sai sự thật trước tòa. Nói ra thì “đụng chạm”. Có người nói rằng sợ “làm gương xấu”. Nếu sợ như vậy thì không là bao che ư? Cái gai nhỏ nhưng dễ sưng tấy và đau nhức, phải chịu đau thì mới có thể nhổ nó ra.
Đi tu không là đi tù, mà là khước từ thế gian để sống vì Nước Trời, nhưng ngày nay có những người coi đó là một “nghề” (như các nghề khác) để được sống ung dung, nhà hạ, sang giàu, thậm chí là “vinh thân phì da”. Nói như vậy, người ta cho là chỉ trích, xoi mói, nhưng đó lại là… sự thật – dù phũ phàng lắm!
Chúa Nhật Chúa Chiên Lành năm 2014, ĐGH Phanxicô nói: “Noi gương Chúa Giêsu mỗi chủ chăn ‘đôi khi đi trước để chỉ đường và nâng đỡ niềm hy vọng của dân chúng, đôi lần mục tử phải đi trước, những lần khác phải ở giữa tất cả với sự gần gũi đơn sơ và lòng thương xót, và trong vài hoàn cảnh phải bước đi đàng sau dân chúng, để trợ giúp những ai ở lại đàng sau” (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 31). Và ngài nói thêm: “Ước chi tất cả mọi chủ chăn được như thế! Nhưng anh chị em phải quầy rầy các chủ chăn, để các vị trao ban sự hướng dẫn, giáo lý và ơn thánh cho anh chị em”.
Quen – Lạ, một khoảng cách rất mong manh!
TRẦM THIÊN THU
(1) Gm Jean Cassaigne (Pháp quốc, 1895-1973) chết với các bệnh nhân phong Di Linh.
(2) Lm P.X. Trương Bửu Diệp (Việt Nam, 1897-1946) chết thay đoàn chiên.

 

Mối quan hệ thánh
(Chúa Nhật VI PS, năm B)

Cuộc sống có nhiều mối quan hệ, từ huyết tộc đến xã hội, không ai lại không có mối quan hệ nào. Với các Kitô hữu còn có MỐI QUAN HỆ THÁNH với Thiên Chúa và với tha nhân. Đó là mối liên kết kỳ diệu.

Thật vậy, ngay khi người ta muốn ném đá Chúa Giêsu, vì họ cho là Ngài lộng ngôn và phạm thượng, Ngài đã dẫn chứng Kinh Thánh: “Ta đã phán: các ngươi là những bậc thần thánh” (Ga 10:34). Và Ngài xác định: “Lề Luật gọi những kẻ được Thiên Chúa ngỏ lời là những bậc thần thánh, mà lời Kinh Thánh không thể bị huỷ bỏ” (Ga 10:35). Mối liên kết thánh đó được thể hiện trong mối quan hệ của Giáo Hội cùng thông công: Giáo Hội vinh hiển (các thánh), Giáo Hội đau khổ (các linh hồn nơi luyện ngục), và Giáo Hội chiến đấu (chúng ta) – cũng gọi là Giáo Hội lữ hành. Tất cả đều là thánh vì có mối quan hệ thánh.

Lời Chúa chứng minh rạch ròi về “sự thánh” đó: “Trước mắt Ta, ngươi thật quý giá, vốn được Ta trân trọng và mến thương, nên Ta đã thí bao người đổi lấy ngươi, nộp bao dân nước thế mạng ngươi” (Is 43:4). Chúng ta chỉ là bụi tro nhưng lại được Thiên Chúa quý mến, coi trọng. Vô cùng kỳ diệu. Vì thế, chúng ta phải sống xứng đáng và duy trì mối quan hệ thánh đó.

Nói về mối quan hệ, thi sĩ Rainer Maria Rilke (1875-1926, người Áo, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ 20) nhận định: “Bản chất một người không phụ thuộc vào cuộc nói chuyện gần nhất mà thể hiện trong toàn bộ mối quan hệ”. Còn thần học gia và triết gia Albert Schweitzer (1875-1965, người Đức) nói: “Chân giá trị của mỗi người không nằm trong bản thân họ, mà nằm ở các sắc màu và đường nét trở nên sống động trong người khác”. Rõ ràng chúng ta luôn có mối quan hệ với nhau, còn gọi là tính liên đới. Đó là mối quan hệ yêu thương, mối quan hệ của lòng thương xót, vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 và 16).

Khi ông Phêrô bước vào, ông Conêliô ra đón và phủ phục dưới chân ông mà bái lạy. Nhưng ông Phêrô đỡ ông ấy lên và nói: “Xin ông đứng dậy, vì bản thân tôi đây cũng chỉ là người phàm” (Cv 10:25-26). Một động thái khiêm nhường thật đáng khâm phục. Không phải dễ mà nói được và làm được như ông Phêrô, vì “cái tôi” trong mỗi chúng ta luôn “to lớn”, lúc nào cũng chỉ rình “vùng lên”.

Ông Phêrô xác định: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10:34-35). Thiên Chúa không thiên vị, nhưng chúng ta thiên vị, do đó mà chúng ta thường coi trọng mối quan hệ này và coi thường mối quan hệ kia. Người giàu sang và có địa vị luôn được đề cao, vào thưa ra bẩm. Còn người vô danh tiểu tốt thì luôn bị “ngó lơ”. Ngay cả trong nhà thờ cũng có chỗ cao và chỗ thấp! Có phải chỗ “cao” thì gần Chúa và được nhiều ơn hơn, còn chỗ “thấp” thì xa Chúa và được ít ơn hơn? Sự phân biệt giai cấp này bởi đâu? Chắc chắn Chúa không như vậy!

Ông Phêrô còn đang nói những điều đó, Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. Những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phêrô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa, bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Đúng là Thiên Chúa không phân biệt ai hoặc điều chi cả. Ai nghe lời Ngài là Ngài thương, tất cả đều bình đẳng trước mặt Ngài. Chúng ta đừng ép Chúa “kỳ thị” theo kiểu của chúng ta!

Ông Phêrô nói: “Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?” (Cv 10:47). Rồi ông truyền làm phép rửa cho họ nhân danh Đức Giêsu Kitô. Họ là những người nghe lời Chúa và đón nhận Chúa Thánh Thần, nghĩa là họ được gia nhập vào cộng đoàn thánh, thuộc mối quan hệ thánh trong Giáo Hội của Chúa Giêsu, Nhiệm Thể của Đức Giêsu Kitô.

Đó là phép lạ của Chúa. Con người không thể làm được. Chúng ta chẳng là gì, chỉ là “dân ngoại”, nhưng chúng ta lại được liên kết trong mối quan hệ thánh thì quả là điều không thể ngờ được. Vì thế, chúng ta phải “hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công. Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Người” (Tv 98:1). Còn nữa, chính “Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ, mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân, và đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en” để “toàn cõi đất này xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta” (Tv 98:2-3). Thật xứng đáng để chúng ta phải “tung hô Chúa và reo hò đàn hát” (Tv 98:4). Niềm vui không chỉ tăng theo cấp số cộng, mà còn tăng thep cấp số nhân. Trí óc phàm nhân chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi! Nhưng chúng ta đã được chứng kiến các kỳ công của Thiên Chúa, đơn giản mà kỳ diệu như không khí hoặc chuỗi DNA. Đúng như Chúa Giêsu đã chúc phúc: “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe” (Mt 13:16).

Thánh Gioan nhắn nhủ: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:7-8). Ai được Thiên Chúa sinh ra thì phải biết yêu thương, cũng vậy, ai biết yêu thương mới là người được Thiên Chúa sinh ra. Rất rõ ràng. Rất lô-gích!

Thánh Gioan giải thích thêm: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:9-10). Đó chính là mối quan hệ thánh mà chúng ta đang được liên kết trong Đức Giêsu Kitô. Càng ý thức được mối quan hệ thánh này, chúng ta càng kết hiệp mật thiết với Ngài, được thể hiện qua mối quan hệ với tha nhân.

Trình thuật Ga 15:9-17 là những lời Chúa Giêsu nói về mối quan hệ thánh. Ngài phân tích: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn”.

Càng sống lâu chúng ta càng nghe Chúa Giêsu nhắc nhở nhiều lần về tình yêu, về lòng thương xót, thế nhưng nghe tai này rồi chui qua tai khác. Bay theo gió mất tiêu! Theo Việt ngữ, danh từ tình yêu gồm hai từ, rút gọn còn một từ là YÊU – có thể coi đó là động từ. Một động từ ngắn gọn nhưng lại quan trọng cả đời của mỗi con người. Đi đâu cũng thấy cần yêu, lúc nào cũng thấy cần yêu, với ai cũng thấy cần yêu. Thậm chí cả động vật cũng thấy cần yêu. Điều đó cho thấy tình yêu rất quan trọng. Nhưng đâu có thể cứ nói yêu là yêu, mà phải chứng tỏ bằng hành động. Khó quá! Tình yêu không tiết ra chất hy sinh và đau khổ thì không thể gọi là tình yêu hoặc lòng thương xót. Thánh Gioan gọi người “mến Chúa mà không yêu người” là kẻ nói dối (1 Ga 4:20).

Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”. Với Chúa Giêsu, chúng ta có vài mối quan hệ: Chúa tôi (chủ và tôi tớ), Phụ tử, Huynh đệ, Bạn hữu. Chúng ta hoàn toàn bất xứng nhưng Ngài không ngại coi chúng ta là bạn. Thật kỳ diệu biết bao!

Cuối cùng, Ngài xác định: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau”. Nói xa nói gần, nói đi nói lại, nói tới nói lui, cuối cùng vẫn là yêu thương. Không ai dám tuyên bố mình là Chúa, chỉ có Chúa Giêsu; không ai dám lập đạo, chỉ có Chúa Giêsu. Nhưng Đạo của Chúa là Đạo Yêu Thương. Người theo Đạo Chúa cũng phải sống yêu thương, phải thể hiện lòng thương xót.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết yêu thương theo đúng Tôn Ý Đức Giêsu Kitô – nhất là yêu thương những kẻ hèn mọn, xin giúp chúng con luôn duy trì mối quan hệ thánh với Ngài và với tha nhân ở mọi nơi và trong mọi lúc, để bất cứ ai gặp chúng con thì cũng gặp được Ngài nơi chúng con, và chúng con gặp bất cứ ai thì cũng gặp được Ngài nơi họ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.


TRẦM THIÊN THU

 

Hệ lụy Yêu thương

(Chúa Nhật VI Phục Sinh, năm B)
“Yêu là chết trong lòng một ít”. Ai đã yêu thì “chết” chắc, không nhiều thì ít. Mà thường thì “nhiều” chứ không “ít”. Một người không thể gọi là yêu, ít nhất phải có hai người mới khả dĩ có tình yêu. Dù yêu đơn phương vẫn có “đối tượng”. Tình yêu cũng có hệ lụy tất yếu. Có tình yêu thì có thể dẫn tới nhiều hệ lụy khác. Nhưng con người luôn bất toàn, bất túc, bất trác,… “bất” đủ thứ! Cố NS Trịnh Công Sơn tâm sự: “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…”. Ông không gọi mà biển gọi, biển nhớ em chứ ông không nhớ. Nhưng ông đang rất… nhớ. Bất toàn là thế đó!
Chúa quá yêu chúng ta, yêu đến chết, thế mà chúng ta vẫn bỏ rơi Ngài, phụ tình Ngài một cách trắng trợn. Chắc chắn Chúa cũng rất nhớ chúng ta!
“Nhân vô thập toàn”, một câu nói quá quen, quen đến nỗi hóa… quá bình thường – nghĩa là “không còn quan trọng”. Thế nhưng câu đó lại quan trọng, quan trọng vì… “quá bình thường”. Nghe chừng nghịch lý, nhưng không hề nghịch lý.
Khi ông Phêrô bước vào, ông Conêliô liền ra đón và phủ phục bái lạy dưới chân ông Phêrô. Nhưng ông Phêrô đỡ ông ấy lên và nói: “Xin ông đứng dậy, vì bản thân tôi đây cũng chỉ là người phàm” (Cv 10:25-26). Đó là phong-cách-bình-thường mà quan trọng, biết mình và biết người, giản dị như bản chất một ngư dân, nhưng con-người-bình-thường ấy đã được Thiên Chúa cất nhắc lên làm giáo-hoàng-tiên-khởi, được trao trọng trách chăn cả chiên mẹ và chiên con (x. Ga 21:15-19).
Ông Phêrô lên tiếng nói: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10:34-35). Một cách mô tả mộc mạc và dễ hiểu về Thiên Chúa, nhưng cách mô tả đó chính xác. Thiên Chúa không thiên vị, nhưng đôi khi chúng ta “bắt” Ngài thiên vị như chúng ta, vì chúng ta làm gì cũng thường theo định kiến cá nhân nhiều hơn.
Ông Phêrô còn đang nói những điều đó thì Thánh Thần ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. Phép lạ hiển nhiên. Vì thế, những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phêrô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa, bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Thiên Chúa không thiên vị, tất nhiên Ngôi Ba cũng không chút thiên vị, vì Chúa Thánh Thần xuống trên mọi người – kể cả dân ngoại.
Rồi ĐGH Phêrô đặt vấn đề: “Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?” (Cv 10:47). Ai đến với Chúa đều được Ngài tiếp nhận, chắc chắn vậy. Và ông Phêrô đã truyền làm phép rửa cho họ nhân danh Đức Giêsu Kitô. Làm bất cứ điều gì cũng phải nhân danh Chúa, vì tất cả chúng ta đều là huynh đệ và hoàn toàn phải nhờ Ngài: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Nhưng nhiều khi chúng ta xin mà không nhân danh Đức Kitô, có lẽ chúng ta quên rằng: “Bất cứ điều gì anh chị em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con” (Ga 14:13). Vị Thiên-Chúa-toàn-năng ấy được tác giả Thánh vịnh mô tả thế này: “Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi, Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín” (Tv 86:15).
Chúng ta là những người bất toàn, còn Thiên Chúa là Đấng toàn năng. Vì thế, chúng ta phải “hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Ngài đã thực hiện bao kỳ công” (Tv 98:1a). Kỳ công của Chúa vô vàn, khôn xiết kể, “Ngài chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Ngài” (Tv 98:1b). Thiên-Chúa-chí-minh-và-chí-công đã “biểu dương ơn Ngài cứu độ, mặc khải đức công chính của Ngài trước mặt chư dân; Ngài đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en” (Tv 98:2-3a). Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Cho nên: “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, mừng vui lên, reo hò đàn hát” (Tv 98:4).
Thánh Gioan căn dặn: “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa” (1 Ga 4:7a), đồng thời giải thích: “Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:7b-8). Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: “Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Ngài mà chúng ta được sống” (1 Ga 4:9). Đức Kitô đã chết không chỉ cho chúng ta được sống mà còn sống dồi dào. Người-môn-đệ-Chúa-yêu là người có “máu yêu” nên thích nói về tình yêu. Người môn đệ ấy giải thích: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10). Nói đến tình yêu, đặc biệt là Tình yêu Chúa, nói đến Thánh Tâm Chúa hoặc Lòng Chúa Thương Xót, chẳng bút giấy nào tả hết và nói mãi cũng không thể lột tả đúng mức.
Chúa Giêsu nói rất dễ hiểu: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15:9). Chắc hẳn Thánh Augustinô đã cảm nhận sâu sắc tình yêu ấy nên mới có thể nói: “Mức độ yêu mến Chúa là yêu mến vô hạn”. Vì không chỉ Chúa muốn mà chúng ta có trách nhiệm phải “yêu mến Chúa hết linh hồn và hết trí khôn”. Yêu Chúa là yêu tha nhân. Nếu yêu như vậy, chúng ta chỉ lời chứ không hề lỗ: “Nếu anh chị em giữ các điều răn của Thầy, anh chị em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Ngài” (Ga 15:10).
Ngài muốn chúng ta “được hưởng niềm vui của Ngài” để “niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (Ga 15:11). Điều răn của Ngài rất đơn giản, tuy hai mà một, là luật-yêu-hai-trong-một: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15:12). Chúa Giêsu so sánh: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Hai người yêu nhau là hai người đồng đẳng, Chúa yêu chúng ta và Ngài cũng coi chúng ta ngang hàng: “Anh chị em là bạn hữu của Thầy” (Ga 15:14a), nhưng với điều kiện: “Nếu anh chị em thực hiện những điều Thầy truyền dạy” (Ga 15:14b). Tội nhân chúng ta được tha thứ là may phước lắm rồi, thế mà Chúa lại còn gọi chúng ta là bạn hữu: “Thầy không còn gọi anh chị em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh chị em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh chị em biết. Không phải anh chị em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh chị em, và cắt cử anh chị em để anh chị em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh chị em tồn tại, hầu tất cả những gì anh chị em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Ngài ban cho anh chị em” (Ga 15:15-16). Đó là điều quá kỳ diệu, trên cả tuyệt vời, và tất nhiên chúng ta quá may mắn và quá hạnh phúc!
Cuối cùng, Chúa Giêsu nhắc lại: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15:17). Chúa Giêsu luôn nói tới tình yêu, cứ nhắc đi nhắc lại, và còn ra Luật Yêu.
Lạy Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, xin ân thương và tha thứ. Nhờ Lòng Thương Xót của Ngài lớn hơn tội lỗi của cả nhân loại mà chúng con được dìm mình trong Tình Yêu bao la và kỳ diệu của Ngài, hôm nay và mãi mãi. Xin giúp chúng con đừng tiếp tục lợi dụng Tình Ngài nữa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen

TRẦM THIÊN THU

 

DongCongNet 2-5-2012

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)