dongcong.net
 
 


Tết Nguyên Đán : Trầm Thiên Thu

Cột mốc tâm linh
(Lễ GIAO THỪA – Tết Nguyên Đán Việt Nam)

Thời khắc cuối cùng của một năm được gọi là “giao thừa”. GIAO là qua lại với nhau, trước sau tiếp nhau; THỪA là tiếp nối. Giao thừa là “giao lại cái cũ, tiếp lấy cái mới” ngay thời điểm năm cũ kết thúc và năm mới khởi đầu. Đêm giao thừa là “đêm ba mươi”, còn gọi là “đêm trừ tịch” (TRỪ là bỏ đi, TỊCH là chiếu – tức là “thay chiếu”).

Giao thừa là khoảng thời gian thiêng liêng, khoảnh khắc “bản lề”, giây phút tống tiễn năm cũ với những điều không may đã qua, đồng thời nghinh đón năm mới với những điều may mắn và tốt lành sẽ đến. Chắc hẳn đó là cột mốc quan trọng của mỗi người, cột mốc này càng quan trọng hơn vì đó là “cột mốc tâm linh” của mọi Kitô hữu – những người tin vào Đức Giêsu Kitô, Chúa Xuân Cứu Độ.

Tác giả Thánh Vịnh đặt vấn đề và nhận định: “Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân” (Tv 9:5-7). Ai cũng đã hơn một lần kinh nghiệm về tội lỗi, và cũng từng cảm nghiệm niềm vui khi thoát khỏi ách tội lỗi, như đứa con hoang đàng tìm về với người cha nhân hậu (x. Lc 15:11-31). Đó là dạng giao thừa đặc biệt của chúng ta: Giao thừa Tâm linh. Thời khắc giao thừa cũng là lúc nhìn lại quá khứ để có kinh nghiệm, và hướng tới tương lai với niềm hy vọng mới: Bình an, hạnh phúc, hoàn thiện, mơ ước, quyết tâm,...

Cuộc sống có nhiều loại cột mốc. Ngày xưa, cây nêu được dựng từ 23 tháng Chạp tới mồng 7 tháng Giêng, với mục đích ban đầu nhằm ngăn ngừa không cho quỷ từ biển Đông vào đất liền và bén mảng đến nơi người cư ngụ. Cây nêu là cột mốc để ma quỷ không được đến gần con người. Về tâm linh, trình thuật Mc 1:21-26 cho biết rằng vào ngày sa-bát, Đức Giêsu và các môn đệ vào thành Ca-phác-na-um. Ngài vào hội đường giảng dạy. Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư. Khi đó có một người bị thần ô uế nhập, nó la lên: “Ông Giêsu Nadarét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”. Nhưng Đức Giêsu quát mắng nó: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!”. Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng rồi xuất khỏi anh ta.

Ma quỷ có thật, vô hình mà thật, nó hiện hữu trong sự vô hình. Nó không ở xa chúng ta, thậm chí nó ở ngay trong hội đường – nơi người ta họp nhau cầu kinh và làm việc đạo đức, nghĩa là nó có ở trong nhà thờ và nó ở bên chúng ta cả khi chúng ta cầu nguyện. Nó biết nó là ai và nó cũng biết rõ Chúa Giêsu là ai, nó biết rõ hơn chúng ta, nó xác nhận Ngài là “Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Nó vạch ranh giới khi nó đặt vấn đề với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu Nadarét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi?”. Nó muốn xác định rằng người mà nó ám là của nó, thuộc quyền hạn của nó. Nhưng Chúa Giêsu có quyền trên nó nên nó phải rời xa nạn nhân. Ma quỷ cũng luôn tìm mọi dịp để cướp đoạt chúng ta, bất cứ lúc nào và nơi nào, thậm chí nó có thể cám dỗ chúng ta đạo đức. Vì thế, chúng ta phải cảnh giác cao độ, như Thánh Phêrô khuyến cáo: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8). Và để bảo vệ chúng ta khỏi ma quỷ, Chúa Giêsu đã dựng một cây nêu tâm linh: Thánh Giá.

Giao thừa là lúc tống cựu và nghinh tân, cũng là lúc vui đón Xuân về, mừng chào Tết đến. Lời cầu chúc được sử dụng trong nhiều dịp, đặc biệt là dịp Tết Nguyên Đán. Ngày xưa, Thiên Chúa căn dặn ông Môsê: “Hãy nói với A-ha-ron và các con ông ấy rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này: ‘Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em ! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em, và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn, và ban bình an cho anh em!’. Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng” (Ds 6:22-27). Chắc chắn không có lời chúc nào đẹp hơn, nhất là trong lúc khởi đầu mùa Xuân, bắt đầu năm mới. Lời chúc do chính Thiên Chúa truyền dạy thì không gì tuyệt vời hơn!

Càng tuyệt vời hơn bởi vì “ơn phù hộ chúng ta ở nơi danh Chúa, là Đấng dựng nên cả đất trời” (Tv 121:2). Thánh Vịnh cũng cầu chúc: “Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành! Chính Chúa là Đấng canh giữ bạn, chính Chúa là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề” (Tv 121:3-5). Có Thiên Chúa chở che bênh đỡ thì chẳng còn lo sợ gì: “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (Tv 23:4).

Thật vậy, sự an toàn tuyệt đối: “Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ, đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi. Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời” (Tv 121:6-8). An toàn là an bình, là an thái, là hòa bình, điều mà không ai lại không mơ ước, không chỉ mong muốn mà là khao khát. Có Thiên Chúa, người ta có thể bình an ngay trong nghịch cảnh, khốn khó, vì niềm tin của họ không nao núng, không phai nhòa.

Vui khi bình an, buồn khi gian nan, đó là lẽ thường tình. Vui trong mọi hoàn cảnh mới đáng quan tâm, vui như vậy chứng tỏ tâm hồn luôn bình an. Thánh Phaolô nói: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5:14-18).  : “Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ; còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì lánh cho xa” (1 Tx 5:19-22).

: “Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hoá toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em, được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách, trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm. Đấng kêu gọi anh em là Đấng trung thành: Người sẽ thực hiện điều đó” (1 Tx 5:23-24). Cuối cùng, Thánh Phaolô: “Thưa anh em, xin anh em cũng cầu nguyện cho chúng tôi nữa. Tất cả anh em hãy hôn chào nhau một cách thánh thiện. Chúc anh em được đầy ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Tx 5:25-28).

Một hôm, thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người lên tiếng dạy họ Tám Mối Phúc (Mt 5:3-10):

Phúc thay ai có TÂM HỒN NGHÈO KHÓ, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai HIỀN LÀNH, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai SẦU KHỔ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai KHÁT KHAO NÊN NGƯỜI CÔNG CHÍNH, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai XÓT THƯƠNG NGƯỜI, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có TÂM HỒN TRONG SẠCH, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai XÂY DỰNG HOÀ BÌNH, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH, vì Nước Trời là của họ.

Đó là bản Đệ Nhất Tuyên Ngôn, ngắn gọn nhất và súc tích nhất, là bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Trong đó có tám điều kiện ắt có và đủ, nghe chừng rất “ngược đời” nhưng lại hoàn toàn hợp lý, dạng Nghịch-Lý-Thuận. Kỳ diệu quá chừng! Mỗi người tự hoàn thiện bằng tám điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này thì chắc chắn thế giới có nền hòa bình đích thực và tận hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đối.

Sau đó, Chúa Giêsu nói thêm như một lời giải thích và hứa hẹn: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5:11-12).

Giao thừa, thời khắc tống cựu và nghinh tân, chúng ta cùng tâm niệm cho một năm mới: “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con. Sớm hôm con những cậy trông Ngài, bởi vì Ngài nhân ái” (Tv 25:4-5). Được như vậy thì thật diễm phúc cho chúng ta ngay từ phút giao thừa này: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11:28).

Lạy Chúa, chúng con chúc tụng Cha là Chúa Tể càn khôn! Chúng con tạ ơn Ngài đã cho chúng con sống đến giây phút này, chúng con xin lỗi Ngài về mọi lỗi lầm năm cũ, xin ban Thánh Linh để chúng con hoàn thiện nên giống Ngài hơn trong năm mới. Chúng con xin chúc Tết Ba Ngôi Thiên Chúa, xin giúp chúng con hướng về Mùa Xuân Vĩnh Hằng; chúng con xin Chúa lì xì nhiều Hồng Ân để chúng con sống đúng Ý Ngài; chúng con cũng xin lì xì cả cuộc đời của chúng con cho Chúa, xin thương hướng dẫn chúng con đi đúng Thiện Lộ của Ngài.

Xin Đức Mẹ Maria, Đức Thánh Giuse, chư Thần và chư Thánh nguyện giúp cầu thay cho chúng con. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành và ban cho mọi người đều có được niềm vui Xuân trọn vẹn, xin đặc biệt thương xót những người nghèo khổ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người cứu độ chúng con, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

DÊ  – Ẩm thực và Dược tính

Ăn uống là đệ nhất khoái trong “tứ khoái” của con người, đồng thời cũng là bài học thứ nhất trong bốn thứ phải học đầu tiên khi bắt đầu làm người: Học ĂN, học NÓI, học GÓI, học MỞ.

Nói đến ăn uống là phải nói tới ẩm thực. Có nhiều món, và Dê là một trong các món khoái khẩu – nhất là đối với dân nhậu. Chó (cầy) có 7 hoặc 9 món, còn dê có khoảng... 35 món. Điển hình là các món: Lẩu dê, cà-ri dê, dê tái chanh, dê xào lăn, dê xào thập cẩm, dê xào sa-tế, dê xào sả ớt, dê hầm ngũ vị, dê nướng ngũ vị, dê nướng mọi, dê né, dê nhúng mẻ, dê hấp lá tía tô, vú dê nướng, ngọc dương tiềm thuốc bắc, chân dê tiềm thuốc bắc, xương dê hầm sơn dược, cháo thịt dê, cháo tủy dê, cháo xương dê, cháo gan dê, lòng dê hầm bạch truật, ruột dê hầm hoàng kỳ đậu đen,... Món dê không chỉ khoái khẩu mà còn có thể chữa bệnh. Đúng là nhất cử lưỡng tiện!

Dê được chăn nuôi thành đàn, thả rông, chủ yếu ở vùng núi đá vôi. Thức ăn chính là cỏ và lá cây. Dê là loài động vật thuộc họ Bovidae (khoảng 137 loài như trâu, bò, ngựa, cừu,...), nhai lại, đầu có sừng, chân có móng, có chòm râu (dù đực hay cái). Tuổi thọ của dê khoảng 10-18 năm.

Dê có một bộ lông tơ mịn bao phủ khắp người. Bộ lông có thể chỉ có một màu hoặc nhiều màu – thường là màu đen, xám, trắng, nâu,... Lông dê dài ngắn tùy theo loài và tùy theo các địa điểm địa lý khác nhau mà chúng sống, ví dụ như những loài dê sống ở vùng nóng thì lông ngắn và thưa, còn những loài dê sống ở vùng lạnh thì lông dài và rậm hơn (như ở các vùng đồi núi hoặc những nơi cao hơn mực nước biển).

Lưỡi dê có nhiều loại gai thịt là đầu dây thần kinh khác nhau, các gai này không chỉ phân biệt được mùi vị mà còn có thể ước lượng được độ cứng, mềm của thức ăn. Hàm trên không có răng cửa, nhưng  có một khối xương lớn, có thể coi như một răng cửa lớn đối diện với 8 răng cửa ở hàm dưới. Dê dùng răng cửa ở hàm dưới để “cắt” nhỏ những đồ ăn dài và cứng, sau đó dùng 12 cặp răng hàm để nghiền thêm.

Dạ dày dê là một cơ quan rất lớn, dung lượng có thể lên tới 30 lít, chiếm hết khoang bụng bên trái, được chia thành 4 ngăn với các chức năng riêng biệt, có thể coi như 4 dạ dày nhỏ. Bốn túi này có kích thước và công dụng khác nhau: (1) “Dạ cỏ” là túi lớn nhất, chiếm khoảng 80% thể tích của cả dạ dày, dùng để chứa thức ăn vừa nuốt vào; (2) “Dạ tổ ong” là túi nhỏ nhất, dung tích chiếm khoảng 1-2 lít so với cả dạ dày, mặt trong có nhiều ô năm góc, dùng để nghiền thức ăn; (3) “Dạ lá sách” lớn hơn “dạ tổ ong”, mặt trong có nhiều lá thịt mỏng xếp lại (như các trang sách), dùng để ép thức ăn thu hút những chất dinh dưỡng dưới thể lỏng; (4) “Dạ múi khế” dài khoảng 40cm, có nhiều tuyến tiêu hóa và mạch máu nên mềm, xốp.

Sau khi thức ăn đi qua 4 túi của dạ dày sẽ được chuyển tới ruột non, gồm các tuyến nhỏ để hấp thụ chất dinh dưỡng nuôi cơ thể, phần dư thải sẽ được tống xuống ruột già để bài tiết ra ngoài.

Người ta thường nuôi dê để lấy thịt và sữa. Trong 100g thịt dê chứa 20,7% protid; 4,3% lipid; 11mg Ca; 129mg P; 2mg Fe; cung cấp 125 calo; có các loại vitamin B1, B2 và PP.

Các món dê vừa giàu dinh dưỡng vừa có dược tính, nhiều món trở thành bài thuốc được lưu hành trong dân gian với mục đích là ăn để chữa bệnh và bồi bổ sức khoẻ. Nhiều bộ phận Dê được dùng làm thuốc: Thịt dê (dương nhục), tiết dê (dương huyết), sữa dê (dương nhũ), gan dê (dương can), mật dê (dương đảm), xương dê (dương cốt), tinh hoàn dê (dương thạch tử), dạ dày dê (dương đỗ), phổi dê (dương phế), phân dê (dương phần).

Theo Đông y, thịt dê vị ngọt, tính ấm, bổ tỳ, bổ thận. Trong “Tản Đà thực phẩm”, cố thi sĩ Tản Đà ca ngợi các món ăn làm từ dê, ăn vừa ích khí vừa bổ trung và ôn trung hạ tiêu, dùng trong trường hợp ốm yếu, suy nhược, sút cân, đau lưng mỏi gối, đau bụng do hàn, sinh hoạt tình dục kém, di tinh, mộng tinh, di niệu, sản phụ đau bụng sau sinh đẻ do bị lạnh và huyết hư do thiếu máu.

Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm dê đều có tính nhiệt, những người có thể chất nóng hoặc bị sốt do cảm mạo thì không nên dùng. Đây là một số công dụng trị bệnh của Dê:

1. Thịt dê (dương nhục). Vị ngọt, tính ấm, bổ huyết, ích khí, ôn trung, noãn thận, dùng chữa các chứng thiếu máu, gầy yếu, suy nhược cơ thể, chán ăn, đau bụng do hư hàn, suy giảm khả năng tình dục do thận dương hư.
– Suy nhược, đau bụng do hư hàn: Thịt dê 250g (thái miếng), hầm thật nhừ với 30g đương quy và 15g sinh khương, chắt nước cốt uống.
– Tỳ vị hư nhược, chán ăn, nôn và buồn nôn do hư hàn: Thịt dê 250g (bằm nhỏ), nấu với 180g gạo thành cháo, ăn vài lần trong ngày.
– Liệt dương, di tinh, di niệu, đau lưng, mỏi gối do thận dương hư: Thịt dê 250g luộc chín, thái miếng, trộn đều với 15g tỏi (giã nát) cùng các gia vị khác, rồi ăn.

2. Gan dê (dương can). Vị ngọt, tính bình, bổ huyết, ích can và làm sáng mắt.
– Suy nhược cơ thể, chóng mặt, thị lực giảm sút do can huyết hư: Gan dê 150g (thái miếng), nấu với 50g gạo thành cháo, ăn vài lần trong ngày.
– Can hoả vượng (triệu chứng là đau đầu chóng mặt, mắt đỏ): Gan dê 60g, cúc hoa 10g, cốc tinh thảo 10g, sắc kỹ lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày.

3. Thận dê (dương thận). Vị ngọt, tính bình, bổ thận khí, ích tinh tuỷ.
– Liệt dương, xuất tinh sớm: Thận dê một đôi, nhục thung dung 12g, kỷ tử 10g, thục địa 10g, ba kích 8g. Thịt dê 100g làm sạch, thái miếng, hầm với các vị thuốc (được gói trong túi vải). Bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, ăn nóng.
– Gầy yếu, suy nhược, ù tai, di tinh, liệt dương, hậu sản hư lãnh: Thận dê 100g, thịt dê 100g, kỷ tử 50g, gạo tẻ 50g, gia vị vừa đủ, tất cả nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.
– Đau lưng mạn tính: Thận dê một đôi (thái miếng), hầm với đậu đen 60g, đỗ trọng 12g, tiểu hồi hương 3g, sinh khương 3 lát. Bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày.

4. Tinh hoàn dê (dương thạch tử). Vị ngọt mặn, tính bình, bổ thận, tráng dương, ích tinh.
– Đau lưng do thận ư, di tinh, liệt dương, khí hư, sa đì, tiểu đường: Dùng tinh hoàn dê nấu cháo ăn thường xuyên.
– Liệt dương: Tinh hoàn dê một đôi, nhung hươu 3g, ngâm với 500ml rượu trắng. Trong nửa tháng, uống mỗi ngày 15-20 ml. Hoặc: tinh hoàn dê một đôi làm sạch, bỏ màng, thái miếng, nấu với nước hầm xương heo trong 5 phút, chế thêm gia vị, ăn nóng.

5. Dạ dày dê (dương đỗ). Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ hư, kiện kỳ, ích vị.
– Viêm đại tràng và viêm dạ dày mạn tính thể tỳ vị hư hàn: Dạ dày dê một cái hầm với gừng tươi, riềng và nhục quế (lượng vừa đủ), chia ăn vài lần trong ngày.
– Cảm mạo, ra nhiều mồ hôi: Dạ dày dê một cái hầm với 50g đậu đen và 40 hoàng kỳ, chia ăn 2 lần trong ngày.

6. Phổi dê (dương phế). Vị ngọt, tính ấm, bổ phế khí, điều thuỷ đạo.
– Ho kéo dài do phế hư, tiểu tiện bất lợi: Phổi dê 500g (thái nhỏ), luộc kỹ lấy nước, cho thêm 150g thịt dê (thái miếng) và 100g gạo tẻ, nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.
– Bổ phổi, phòng polyp mũi: Phổi dê một lá, bạch truật 120g, nhục thung dung, thông thảo, can khương, xuyên khung – mỗi thứ 60g. Tất cả sấy khô, tán bột, uống với nước cháo ngày 2 lần, mỗi lần 5-10g.

7. Xương dê (dương cốt). Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận, cường gân cốt.
– Phong thấp, gầy yếu do lao lực, đầu choáng, mắt hoa: Xương dê 1kg hầm với 60g gạo thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
– Đau lưng mạn tính: Xương dê 1kg, trần bì 6g, riềng 6g, thảo quả 2 quả, gừng tươi 3g. Hầm lấy nước cốt, nấu cháo ăn.
– Bồi dưỡng trẻ chậm lớn: Xương sống dê 0,5kg hầm kỹ với nhục thung dung 10g, hoài sơn 100g, chia ăn vài lần trong ngày.

8. Tiết dê (dương huyết). Vị mặn, tính bình, có công dụng chỉ huyết, khứ ứ.
– Thổ huyết, chảy máu cam: Dùng tiết dê tươi cho uống 1-2 chén nhỏ.
– Xuất huyết: Dùng tiết dê luộc chín, ăn với dấm chua.
– Cầm máu vết thương: Tiết dê (đốt thành than) 5 phần, tóc rối (đốt thành than) 5 phần, bột hoàng cầm 1 phần, trộn đều rồi rắc vào vết thương.
Ngoài ra, các bộ phận khác của Dê cũng được dùng làm thuốc trị bệnh:
– Tim: Bổ tâm, giải uất, chữa chứng đau tức, hồi hộp, đánh trống ngực.
– Tụy: Nhuận phế, chỉ đới, chữa ho kinh niên và khí hư.
– Bàng quang: Chữa di niệu.
– Tuyến giáp trạng: Chữa chứng khí anh (bụng đầy tức, họng như có dị vật, khạc không được, nuốt không trôi).
– Da: Ích khí, bổ hư, làm ấm tỳ vị, chữa chứng hư lao, lưng đau gối mỏi, sản hậu hư lãnh.
– Sữa: Nhuận táo, bổ hư, trị các chứng suy nhược cơ thể, tiểu đường, loét miệng.
– Mật: Thanh hoả, giải độc, chữa đau mắt đỏ, thổ huyết do lao, viêm họng cấp tính, hoàng đản, táo bón, viêm loét da do nhiễm độc.
– Mỡ: Bổ hư, nhuận táo, hoá độc, chữa khô da, nhọt độc.
Nói chung, Dê rất tốt cho sức khỏe, nhưng đôi khi chúng ta không biết hoặc coi thường công dụng của Dê. Xuân Ất Mùi đang đến, Tết con Dê đang về, đây là dịp đoàn tụ gia đình theo truyền thống dân tộc, cơ hội quý báu lắm. Năm nay, Tết con Dê, cũng là dịp để chúng ta thưởng thức một số món ăn làm từ Dê khi nâng ly rượu chúc mừng nhau ngày đầu năm mới.

TRẦM THIÊN THU (tổng hợp)
Tết Ất Mùi – 2015

Nỗi Tết Niềm Xuân

Nỗi niềm là danh từ thường ám chỉ “điều không vui”. Người người nô nức khi Xuân về, Tết đến, ai cũng vui mừng, “dù ai buôn bán nơi đâu, nhớ đến ngày tết rủ nhau mà về”, vậy mà sao lại gợi chuyện buồn? Cứ vui, nhưng đừng quên rằng nỗi buồn cũng là một phần tất yếu của cuộc sống trên trần gian này: “Đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6:34).
Không ai thấy Xuân, chẳng ai thấy Tết, nhưng lại khả dĩ cảm nhận. Vô hình mà hữu hình. Trừu tượng mà cụ thể. Xuân là thơ, là nhạc; thơ và nhạc ẩn vào Xuân. Thật kỳ diệu. Xuân thêm sức sống cho cuộc đời, thơ và nhạc làm cho người ta thêm yêu cuộc sống. Một năm có bốn mùa. Bốn mùa nối kết thành một năm. Năm như một bản giao hưởng được liên kết bằng bốn phần khác nhau – Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mỗi mùa đều quan trọng đối với năm. Mỗi đoạn nhạc đều quan trọng trong một bản giao hưởng. Tất cả phải hài hòa với nhau.
Cuộc đời chúng ta cũng là một bản giao hưởng với nhiều “đoạn” mang các “màu sắc” khác nhau: Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục. Chúng ta gọi đó là “thất tình” của con người, phức tạp nhưng cần thiết và thú vị.
William E. (“Bill”) Vaughn (1915-1977, tác giả Hoa Kỳ) tinh tế nhận xét: “Người lạc quan thức đến nửa đêm để đón giao thừa, người bi quan thức để chắc chắn rằng năm cũ đã qua” (An optimist stays up until midnight to see the new year in, a pessimist stays up to make sure the old year leaves). Hai người cùng thức, cùng tỉnh táo giữa khoảng nửa đêm. Thời gian như nhau nhưng mục đích khác nhau, người thì vui đón giao thừa, người thì ngậm ngùi biết năm cũ đã qua. Đầy tính triết lý sống!
Có nhiều dạng khổ, nhưng đơn giản và cụ thể nhất là nghèo vật chất. Người khổ chưa chắc nghèo, nhưng người nghèo chắc chắn khổ. Việt ngữ thật độc đáo khi ghép đôi hai trạng thái này: Nghèo Khổ. Người ta nói: “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, Giàu nghèo ba mươi tết mới hay”. Người ta cũng nói: “Có, không – mùa Đông mới biết; Giàu, nghèo – ba mươi Tết mới hay”. Nói chung, ngày ba mươi sẽ biết ai nghèo thật.
Tại sao? Người ta nói “chợ ba mươi tết là chợ nhà nghèo”. Ngày này, người bán muốn bán hết hàng để về nhà, họ có thể bán rẻ, nếu không thì chỉ có nước đổ đi. Và người nghèo chỉ chờ ngày này để mua, ít nhiều gì cũng gọi là có Tết, chứ lòng buồn lắm thôi. Thương lắm! Thảo nào Chúa Giêsu đi đâu cũng thấy “chạnh lòng thương” người ta. Chắc hẳn người nghèo nhiều lắm, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Người nghèo lúc nào cũng có” (Mt 26:11).
Chẳng ai muốn nghèo, chẳng ai thích nghèo, nhưng lực bất tòng tâm, cố gắng mãi mà chẳng thấy đâu. Vì muốn tránh xa cái nghèo nên người ta mơ ước: “Chiều Ba Mươi, nợ réo tít mù, co cẳng đạp Thằng Bần ra cửa; Sáng Mồng Một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng Ông Phú vào nhà”. Mong lắm, muốn lắm, khát khao lắm, nhưng mơ ước vẫn chỉ là mơ ước. Trâu trắng đi đến đâu mất mùa đến đó. Cây khô tưới nước cũng khô, người nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo. Thê thảm thật, te tua thật, tơi tả thật, tê tái thật!
Người ăn không hết, kẻ lần chẳng ra. Tết đến, nhà giàu vui mừng. Xuân về, nhà nghèo lo sợ. Có người đến gần giờ giao thừa mà vẫn chưa được nghỉ ngơi. Có người tha phương cầu thực cả năm ròng rã, thế mà không đủ tiền về quê ăn Tết với ông bà, cha mẹ, người thân,... Không chỉ buồn mà còn đau lòng lắm, tủi phận lắm. Có lẽ ngày Tết của họ đẫm đầy nước mắt mạn chát bờ môi!
Thế nhưng vẫn có những cô chiêu, cậu ấm vung tay quá trán, tiền xài hơn công tử Bạc Liêu, mỗi đêm đi ăn chơi tốn cả ngàn Mỹ kim (USD). Họ không cần biết gì khác, ai khổ mặc ai. Tiền đó không phải của họ, mà của cha mẹ họ. Chắc chắn đó là những đồng tiền “bẩn”. Tiền “mồ hôi, nước mắt” không ai dám phung phí, mà cũng chẳng nhiều mà ung dung tự tại. Việt Nam còn nghèo mà còn chơi nổi như vậy, nói chi ngoại quốc. Chẳng hạn, các chàng trai Hàn quốc chỉ tới 885 triệu USD để tu sửa sắc đẹp mỗi năm. Nam giới còn vậy, huống chi nữ giới!
Người nghèo ở miền quê mà nghèo đã đành, ngay cả ở thành phố hoa lệ cũng đầy những người nghèo, thậm chí có những người còn nghèo hơn người ở miền quê. Tục ngữ nói thay họ: “Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo”. Đúng vậy. Lo lắm. Khô chỉ lo mà còn sợ. Vì nghèo mà lo sợ. Lo không có tiền sắm đồ tết cho con cái. Mình thì cũng đành cam chịu số kiếp lận đận, hẩm hiu, trách mình chứ biết kêu ai! Còn người giàu chẳng lo chi mấy thứ “linh tinh” như vậy, con cái thích gì được nấy. Chúng xin tiền trăm, cho ngay bạc triệu. Ôi dào, “chuyện nhỏ” mà! Chỉ thương con nhà nghèo, xin cha mẹ vài ngàn cũng không có!
Cũng một đời, thế mà có người sướng từ trong trứng nước, kẻ thì khổ từ đời nọ đến đời kia. Nợ bao vây, khổ bao la. Có lẽ câu “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” chỉ là để an ủi người nghèo thôi! Tết càng gần, lo càng cao. Xuân về với bao người mà Tết chẳng đến với họ. Én bay, bướm lượn, mai nở vàng ươm, mà sao lòng họ chưa giao thừa? Ca dao đã thay lời muốn nói cho người nghèo:
Bây giờ tư Tết đến nơi
Tiền thì không có sao nguôi tấm lòng
Nghĩ mình vất vả long đong
Xa nghe lại thấy Quảng Đông kéo còi
Về nhà công nợ nó đòi
Mà lòng bối rối đứng ngồi không yên
Thật trớ trêu thay! Thương lắm! Tội nghiệp quá! Tiền không có mà tiếng còi của gánh hát Quảng Đông lại cứ inh ỏi quyến rũ, thúc giục. Nghe mà lại não lòng chứ nào có vui gì đâu. Về nhà thì nợ đòi. Mà nợ đòi thì “căng” lắm.
Như một “thông lệ”, các chủ nợ thường giằng co hối thúc con nợ vào những ngày cuối năm, cố đòi cho được số tiền đã cho vay, dù cho đối với họ, tiền không thiếu, có đòi được tiền thì cũng để đấy thôi. Người ta cho rằng nếu không đòi được tiền trước giao thừa, ngày hôm sau món nợ hóa ra nợ cũ, ngày mồng Một và những ngày tiếp theo, người ta không dám đòi nợ, vì chủ nợ kiêng cữ, sợ bị “giông”. Người nghèo khổ trăm đường, khổ vì thiếu thốn vừa khổ tâm. Kẻ mắc nợ khổ thật. Nghèo cứ chồng lên nghèo, khổ lại chất lên khổ!
Ngày Xuân gói kín nỗi niềm
Nụ cô đơn nở êm đềm như Mai
Cuộc đời hóa kiếp đọa đày
Xuân thắm nơi này, Tết ở nơi đâu?
Hỏi chi mà hóc búa vậy, làm sao người nghèo trả lời? Có lẽ câu trả lời của họ là những giọt nước mắt mặn lắm! Người ơi, xin hãy cố gắng tịnh tâm dù lòng rất động, Thiên Chúa sẽ bù đắp. Cái khổ hôm nay sẽ là tấm visa cho người vào Nước Trời, chắc chắn cái khổ có giá trị lắm: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:3 và 5).
Cố gắng thanh thản vui Xuân, mừng Tết. Rồi đâu lại vào đấy. Gọi là “ăn tết” nhưng ăn cũng chừng đó thôi, như mọi ngày, ăn thêm nhiều có được đâu, vì ăn nhiều lại đầy bụng, sinh bệnh. Người ta “ăn tết” bằng những miếng thịt béo, những miếng bánh ngon, những hạt dưa, hạt sen,… và những sơn hào hải vị mắc tiền. Cảm tạ Chúa đã cho họ được tận hưởng những ngày Xuân đậm đà. Còn người nghèo, tốt nhất là “ăn tết” bằng những hạt kinh, Lời Chúa và Thánh Thể.
Ca dao nói: “Nghèo nhân, nghèo nghĩa thì lo; nghèo tiền, nghèo bạc, chẳng lo là nghèo”. Nghèo vật chất nhưng giàu tâm linh, thế không hơn sao? Thôi, người đừng buồn nữa nhé! Chúa Giêsu vẫn đang cười với người và cùng ăn tết với người đấy: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28). Xuân về, Tết đến, đặc biệt là Mùa Chay, chúng ta cùng tâm niệm:
Tăng đức, tăng ân, tăng thánh thiện
Đượm tình, đượm nghĩa, đượm hy sinh
Lạy Chúa Xuân vĩnh tồn, xin chúc lành cho mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổ – vật chất hoặc tinh thần, xin cho họ cũng được hưởng trọn mùa Xuân trong tình yêu bao la của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Chuẩn bị Tết Ất Mùi – 2015

NIỀM XUÂN
Ngày Xuân gói kín nỗi niềm
Nụ cô đơn nở êm đềm như Mai​​
Cuộc đời hóa kiếp đọa đày
Xuân thắm nơi này, Tết ở nơi đâu?
Thương người nặng gánh ưu sầu
Tơ lòng trăm mối, làm sao vui mừng!
Cầu xin Thiên Chúa xót thương
Ban thêm sức mạnh đỡ nâng Xuân này
Cho người nghèo khó loay hoay
Cũng được vui vầy đón Tết, mừng Xuân
TRẦM THIÊN THU
Xuân Ất Mùi – 2015


CA DAO VIỆT NAM
Việt Nam máu đỏ, da vàng
Cả ba miền Bắc, Trung, Mam, một nhà
Sắc vàng biểu hiện màu da
Da vàng nhưng đỏ tình quê hương mình
Ba miền máu thắm hùng anh
Vua Hùng khởi nghiệp Gia Đình Việt Nam
Xưa nay bao kẻ hung tàn
Muốn giành Chữ S nhưng đành tháo lui
Chạy xa vẫn thấy ngậm ngùi
Vì dân Việt quyết diệt loài sói lang
Luôn yêu chuộng sự Bình An
Công Bình, Chân Lý là niềm khát khao
Việt Nam là khúc ca dao
Muôn đời hãnh tiến, vươn cao không ngừng
TRẦM THIÊN THU
Tết Ất Mùi – 2015

MÀU TẾT SẮC XUÂN
Nhẹ nhàng vàng nắng mùa Xuân
Sắc màu kỳ diệu nhuộm hồn viễn du
Tứ thơ bất chợt giao thừa
Cho Xuân đến sớm thỏa chờ nhân gian
Mong vui hạnh phúc, bình an
Xuôi chèo, mát mái, việc làm hanh thông
Hiu hiu gió thổi mát lòng
Xuân bước nhẹ nhàng gieo hạt hỷ hoan
Nhẹ lời Cung Chúc Tân Xuân
Màu yêu thương thắm đượm tâm hồn người
Đông vừa qua, Xuân đến rồi
Cảm tạ Thiên Chúa muôn đời xót thương
TRẦM THIÊN THU
Xuân Ất Mùi – 2015

XUÂN MONG
Tết đến, Xuân về thắm sắc Mai
Chim bay, bướm lượn rợp trời mây
Muôn người náo nức chào Xuân mới
Khắp chốn tưng bừng đón Tết này
Khúc nhạc ngân vang thêm rạo rực
Ân tình mến tặng thỏa sum vầy
Mong Xuân đẹp mãi cho đời Tết
Phúc lộc chan hòa chẳng nhạt phai
TRẦM THIÊN THU

XUÂN VIỆT NAM
Đất nước vào Xuân, tổ quốc tôi
Quê hương rạo rực, Việt Nam ơi!
Năm qua đã hết, buồn lui bước
Năm mới vừa sang, sướng đến nơi
Mai, cúc đua nhau khoe sắc thắm
Trẻ, già náo nức đón Xuân vui
Gia đình sum họp mừng ngày Tết
Hạnh phúc chứa chan khắp đất trời
TRẦM THIÊN THU

ĐÊM XUÂN
Mơn man gió mát giao thừa
Nghinh tân, tống cựu cho mùa Xuân sang
Trời không sao, chẳng có trăng
Tối tăm như thuở hồng hoang ngày nào
Nhưng hy vọng vẫn tuôn trào
Lòng người sáng rực, dạt dào ước mơ
Niềm Tin Cậy Mến chan hòa
Theo làn khói quyện lên tòa Chúa Xuân
Xin cho năm mới bình an
Yêu thương ngời sáng, ngập tràn chúng nhân
Việt bào cầu khấn âm thầm
Xin cho đất nước thấm nhuần ơn trên
TRẦM THIÊN THU
Giao thừa Ất Mùi – 2015

MÙA XUÂN và MÙA CHAY
Đông qua, Xuân tới tự nhiên
Dất trời lặng lẽ giao duyên sum vầy
Đón Xuân, ăn Tết, giữ Chay
Vui cùng nhân thế, khóc loài phàm nhân
Trăm năm chồng chất lỗi lầm
Vui Xuân mà vẫn khóc thầm ăn năn
Mùa Xuân tô đẹp trần gian
Mùa Chay thấm đượm Thánh Ân vào hồn
Cầu xin Thiên Chúa chí tôn
Cho Mùa Xuân đẹp khởi nguồn Mùa Chay
TRẦM THIÊN THU
Xuân Ất Mùi – 2015

MIỀN GIAO THỪA
Thơm mùi bánh Tét, bánh Chưng
Nồng nàn hương vị yêu thương thân tình
Khói trầm bay, nến lung linh
Thiêng liêng một cõi vô hình cuối năm
Giao thừa chậm rãi bước chân
Giã từ quá khứ cho tân niên về
Khắp nơi rộn rã tiếng ca
Đón mừng Xuân mới chan hòa tin yêu
Chúa Xuân là Đấng chí cao
Nhưng gần gũi lúc người trao tình người
TRẦM THIÊN THU

LÌ XÌ TẾT
Lì xì nhau hạnh phúc
Mong sung túc cả năm
Đất trời cũng rạo rực
Cùng dân tộc Việt Nam
            Nắng vàng như dải lụa
            Trải dọc những con đường
            Gió mơn man nhè nhẹ
            Ru những lời yêu thương
Những đóa mai nở sớm
Vàng ươm một góc sân
Dập dìu bay Ong, Bướm
Hút mật ngọt mùa Xuân
            Hương trầm nghi ngút tỏa
            Ấm cúng cả bàn thờ
Lời cầu Xuân tưởng nhớ
            Những người đã khuất xa
Bên mâm cơm ngày Tết
Cả nhả cùng quây quần
Lòng ai cũng nô nức
Tận hưởng trọn tình thân
            Vạt mưa Xuân kỳ lạ
            Gội mát cả lòng người
            Yêu thương và tha thứ
            Lì xì mùa Xuân tươi
Xin tạ ơn Thiên Chúa
Ban mùa Xuân Thánh Ân
Xin cảm ơn Đức Mẹ
Đồng hành với chúng con
TRẦM THIÊN THU

CHÚC TẾT
Đầu Xuân chúc Tết Ông Bà
Thảnh thơi, trường thọ, sớm khuya an nhàn
Đầu Xuân chúc Tết Song thân
Gia đình hạnh phúc, tịnh tâm an lành
Đầu Xuân chúc Chị, chúc Anh
Công thành danh toại, mộng lành thỏa thuê
Đầu Xuân chúc các Em thơ
Học hành tấn tới, trọn mơ điểm mười
Đầu Xuân chúc Tết mọi người
Vạn điều như ý, đẹp đời thương yêu
Chúc Xuân thánh thiện tươi màu
Đẹp Tôn Ý Chúa trước sau vuông tròn
TRẦM THIÊN THU

VUI TẾT NAY, CHỜ XUÂN MAI
Nhạc Xuân, nhịp Tết tấu vang ngân
Đây đó xênh xang những bước chân
Kẹo, mứt, thịt, dưa, ly rượu chúc
Mai, Đào, Cúc, Thọ, áo hồng trần
Người giàu, kẻ khổ đều ăn Tết
Kẻ khóc, người cười vẫn đón Xuân
Công Giáo chờ mong Xuân Vĩnh Viễn
Bước vào Thiên Quốc hưởng Thiên Ân
TRẦM THIÊN THU

TẾT ẤT MÙI
Con Dê đứng giữa Giêng Hai
Cọ sừng vào gốc cây Mai bên nhà
Chòm râu lay nhẹ phất phơ
Cho ngày vào Tết đúng mùa Xuân sang
Dê hiền lành thật dễ thương
Trở thành hiến vật vô thường cứu dân
Dê thầm lặng, chẳng thở than
Máu Dê như một dấu son cho đời
Sao Dê bị ghét, hỡi người?
Dẫu đen hay trắng vẫn tươi chữ tình
Con Dê đứng lặng một mình
Mơ ước hòa bình, người biết thương nhau
Mong sao công lý đến mau
Cho đời bớt khổ, xanh màu nghĩa nhân
Ất Mùi xin trọn tình Xuân
Yêu người là thước đo niềm mến tin
Nguyện cầu Thiên Chúa công minh
Tỏa Ánh Công Bình khắp cõi trần gian
TRẦM THIÊN THU
Khoảng Giao Thừa, 2015

TẾT NGUYỆN XUÂN CẦU
Mồng Một con cầu xin Chúa
Ban cho thế giới bình an
Thể lý cũng như tâm hồn
Kiên vững niềm Tin Cậy Mến
Mồng Hai thành tâm khấn nguyện
Xin cho mùa màng bội thu
Công ăn việc làm thuận hòa
An tâm không phải thao thức
Mồng Ba xin Chúa chúc phúc
Ban cho cha mẹ, ông bà
Luôn sống thánh thiện, an hòa
Vui cùng đàn con, lũ cháu
            Nguyện xin Thiên Chúa nhân hậu
            Thương cho các bậc tiền nhân
            Đã khuất bóng nơi dương trần
            Được về hưởng Tôn Nhan Chúa
Xin Chúa giàu lòng thương xót
Thứ tha tội lỗi chúng con
Xin kính lạy Máu và Nước
Tẩy rửa cả xác và hồn
TRẦM THIÊN THU

Năm Mùi, tìm hiểu DÊ trong Kinh Thánh

Năm 2015 là năm Ất Mùi, cầm tinh con Dê. Ất Mùi là sự kết hợp thứ 32 trong hệ thống Can Chi (Thiên Can, Địa Chi) của người Á Đông, và là sự kết hợp của “can” Ất là âm (đối với dương) với “chi” Mùi là Dê, theo “hành” Mộc (trong ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Thổ, Hỏa). Trong 12 con giáp, Dê là con vật thứ 8.
Cách đây 300 năm, năm 1715 (số La Mã: MDCCXV) cũng là năm Ất Mùi, bắt đầu vào thứ Ba theo lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ Sáu theo lịch Julius, chậm hơn 11 ngày).
Dê là con vật hữu ích và hiền hòa, nhưng Dê luôn bị mang tiếng xấu. Dê được nuôi nhiều, cả thời xưa lẫn thời nay. Thịt Dê ngon, sữa Dê ngọt, tốt cho sức khỏe. Các món Dê không chỉ ngon, mà còn được dùng để chữa nhiều chứng bệnh. Đúng là “nhất cử lưỡng tiện” vậy!
Dê là một trong số ít các động vật được nhắc tới trong Kinh Thánh – cả Cựu ước và Tân ước. Trong Cựu ước, Dê là con vật được ưa thích, là biểu tượng đẹp. Trong Tân ước, Dê là con vật không được ưa thích, là biểu tượng xấu.
Xuân về, Tết đến, chúng ta có thời gian rảnh để vui chơi, nghỉ ngơi. Nhân dịp Xuân Ất Mùi, chúng ta cùng xem Dê xuất hiện trong Kinh Thánh như thế nào, tốt hay xấu, và cũng là dịp xem lại những phần Kinh Thánh mà có thể nói rằng hiếm khi chúng ta có thời gian ngó tới, đặc biệt là dịp để tự xét mình. Vui Xuân, ăn Tết, nhưng vẫn luôn tâm niệm lời Đức Giêsu Kitô vừa nhắn nhủ vừa khuyến cáo: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).

DÊ TRONG CỰU ƯỚC
     1. Thiên Chúa kêu gọi ông Áp-ram và hứa: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12:1-3).
Ông Áp-ram được 75 tuổi khi ông rời Kha-ran. Ông Áp-ram đem theo vợ là bà Xa-rai, cháu là ông Lót, và mọi tài sản họ đã gầy dựng được, cùng với gia nhân họ đã có tại Kha-ran, đi tới đất Ca-na-an.
Khi nạn đói hoành hành trong xứ ấy, và ông Áp-ram xuống trú ngụ ở Ai-cập. Khi gần vào Ai-cập, ông nói với bà Xa-rai: “Bà coi, tôi biết bà là một người phụ nữ có nhan sắc. Khi người Ai-cập thấy bà, họ sẽ nói: ‘Vợ hắn đấy!’, họ sẽ giết tôi và để cho bà sống. Vậy xin bà cứ nói bà là em tôi, để vì bà, người ta xử tốt với tôi, và nhờ bà, tôi được sống” (St 12:11-13). Quả đúng như ông Áp-ram dự đoán. Khi họ đến Ai-cập, người Ai-cập thấy vợ ông rất xinh đẹp. Quan lại của Pha-ra-ô thấy bà thì ca tụng bà trước mặt Pha-ra-ô, và bà bị đưa vào đền Pha-ra-ô. Vì bà, người ta đã xử tốt với ông Áp-ram. Ông được chiên, , bò, lừa, tôi trai tớ gái, lừa cái, lạc đà. Tại vì bà Xa-rai, Đức Chúa giáng những tai ương lớn xuống Pha-ra-ô và gia đình vua. Pha-ra-ô bèn cho gọi ông Áp-ram đến và nói: “Ngươi làm gì ta thế? Tại sao ngươi đã không khai với ta rằng: nàng là vợ ngươi? Tại sao ngươi lại nói với ta: ‘Nàng là em tôi’, khiến ta đã lấy nàng làm vợ? Bây giờ, vợ ngươi đấy, hãy nhận lấy và đi đi!” (St 12:18-19). Sau đó, Pha-ra-ô ra lệnh cho người của vua tống ông Áp-ram đi, cùng với vợ ông và tất cả những gì ông có.
Sau các việc đó, có lời Đức Chúa phán với ông Áp-ram trong một thị kiến rằng: “Hỡi Áp-ram, đừng sợ, Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn” (St 15:1). Người còn phán với ông: “Ta là Đức Chúa, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi thành Ua của người Can-đê, để ban cho ngươi đất này làm sở hữu” (St 15:7). Ông thưa: “Lạy Đức Chúa, làm sao mà biết là con sẽ được đất này làm sở hữu?” (St 15:8). Người phán với ông: “Đi kiếm cho Ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu đực ba tuổi, một chim gáy và một bồ câu non” (St 15:9). Ông làm theo lệnh Người truyền. Ông xẻ đôi những con vật ấy, đặt nửa này đối diện với nửa kia; còn chim thì ông không xẻ.
Khi mặt trời đã lặn và màn đêm bao phủ, bỗng có một lò nghi ngút khói và một ngọn đuốc cháy rực đi qua giữa các con vật đã bị xẻ đôi. Hôm đó, Đức Chúa lập giao ước với ông Áp-ram: “Ta ban cho dòng dõi ngươi đất này, từ sông Ai-cập đến Sông Cả, tức sông Êu-phơ-rát, đất của những người Kê-ni, Cơ-nát, Cát-môn, Khết, Pơ-rít-di, Ra-pha, E-mô-ri, Ca-na-an, Ghia-ga-si và Giơ-vút” (St 15:18-21). Ông Áp-ram trở thành Tổ phụ Áp-ra-ham.

     2. I-xa-ác là con của ông Áp-ra-ham. Khi ông I-xa-ác đã già, mắt ông loà không trông thấy nữa. Ông gọi con trai lớn của ông là Ê-xau đến, ông nói: “Con thấy không, cha già rồi, không biết chết ngày nào. Bây giờ con hãy lấy khí giới của con, ống tên và cây cung của con, ra đồng săn thú cho cha. Con hãy làm cho cha một món ăn ngon như cha thích, rồi đem đến cho cha ăn, để cha đích thân chúc phúc cho con trước khi chết” (St 27:2-4). Lúc đó, bà Rê-bê-ca nghe được. Khi Ê-xau đi ra đồng săn thú, bà Rê-bê-ca nói với con trai là Gia-cóp: “Này, mẹ vừa nghe cha con nói với anh con rằng: ‘Con hãy đem thịt rừng về cho cha và làm cho cha một món ăn ngon, để cha ăn và chúc phúc cho con trước mặt Đức Chúa, trước khi cha chết’. Giờ đây, con ơi, hãy nghe lời mẹ mà làm như mẹ dạy con. Con đến bầy súc vật bắt cho mẹ hai con dê đực non và mập; mẹ sẽ làm thành một món ăn ngon cho cha con như cha con thích. Con sẽ đem đến cho cha con và cha con sẽ ăn, để người chúc phúc cho con trước khi chết” (St 27:7-10).
Người Ê-xau đầy lông lá, người Gia-cóp nhẵn nhụi. Gia-cóp sợ cha sẽ rờ và biết bị lừa, cha nguyền rủa thay vì chúc phúc. Bà Rê-bê-ca bảo: “Con ơi, nếu con bị nguyền rủa, mẹ sẽ gánh cho; cứ nghe lời mẹ và đi bắt dê cho mẹ” (St 27:13). Gia-cóp đi bắt dê và làm theo lời mẹ dặn. Đàn bà nham hiểm khôn lường! Qquả thật, bà Rê-bê-ca lấy chiếc áo sang nhất của Ê-xau để mặc cho Gia-cóp. Bà lấy da dê non mà bọc lấy tay và phần cổ nhẵn nhụi của cậu, rồi bà đặt món ăn ngon và bánh đã làm vào tay Gia-cóp để đem dâng cho cha là ông I-xa-ác (St 27:16).
Gia-cóp được cha chúc phúc, cướp mất quyền gia trưởng của Ê-xau. Chuyện đời ngày nay cũng vẫn có những chuyện huynh đệ tương tàn, giành nhau đủ thứ, kể cả những gì nhỏ bé nhất. Thật buồn thay!

     3. Gia-cóp cất bước đi về đất Phương Đông để đến nhà ông La-ban, cậu nhìn và thấy một cái giếng ở ngoài đồng. Ở đó có ba đàn chiên đang nằm gần giếng, vì người ta cho các đàn vật uống nước giếng này. Trên miệng giếng, có một tảng đá lớn. Khi các đàn vật đã tụ tập đông đủ, người ta lăn tảng đá ra khỏi miệng giếng và cho chiên uống, rồi lại đưa tảng đá về chỗ cũ trên miệng giếng. Gia-cóp hỏi họ ở đâu đến. Họ cho biết từ Kha-ran đến. Cậu hỏi thăm về ông La-ban, con cháu ông Na-kho. Họ trả lời là biết. Cậu hỏi ông la-ban có được bình an không. Họ trả lời: “Ông ấy được bình an; cô Ra-khen, con gái ông ấy, đang đến cùng với chiên và kia kìa” (St 29:6).
Họ còn đang nói chuyện với nhau thì cô Ra-khen đến cùng với chiên và của cha cô, vì cô là người chăn súc vật. Gia-cóp vừa nhìn thấy cô Ra-khen, con gái ông La-ban, anh của mẹ cậu, cả chiên và của ông La-ban, cậu liền lăn tảng đá ra khỏi miệng giếng, cho chiên và của ông La-ban uống. Gia-cóp hôn cô Ra-khen rồi oà lên khóc. Gia-cóp nói cho cô Ra-khen biết cậu là anh em họ hàng với cha cô và là con trai bà Rê-bê-ca; cô liền chạy về báo tin cho cha. Ông La-ban vừa nghe nói đến Gia-cóp, con của em gái ông, liền chạy ra đón, ôm cậu mà hôn, rồi đưa vào nhà. Cậu kể lại cho ông La-ban hết mọi việc. Ông La-ban nói: “Cháu đúng là cốt nhục của bác” (St 29:10). Gia-cóp yêu Ra-khen nên bằng lòng làm việc không công 7 năm để được cưới nàng làm vợ, bởi vì Gia-cóp quá đỗi yêu nàng Ra-khen duyên dáng và có nhan sắc hơn cô chị, nàng Lê-a. Nhưng ông La-ban lừa Gia-cóp, không chịu giao Ra-khen, nên Gia-cóp vì yêu nàng Ra-khen mà phải làm không công thêm 7 năm nữa. Yêu có khác, bi nhiêu thì bi!

     4. Sau đó Gia-cóp được vợ là Ra-khen. Khi Ra-khen sinh được Giu-se, Gia-cóp xin ông La-ban cho về quê hương xứ sở. Ông La-ban muốn trả công cho con rể, nhưng Gia-cóp từ chối và chỉ đề nghị: “Hôm nay con sẽ đi qua tất cả đàn chiên và của cha, cha hãy để riêng ra mọi chiên con lốm đốm và lấm chấm, mọi chiên con đen tuyền trong số chiên, và con nào lấm chấm và lốm đốm trong số dê cái: đó sẽ là công xá của con. Mai ngày, khi cha đến kiểm soát công xá của con, sự lương thiện của con sẽ làm chứng cho con: Tất cả những con dê không lấm chấm và lốm đốm, những con chiên không đen tuyền trong đàn vật của con, sẽ là của ăn cắp” (St 30:32-33). Ông La-ban đồng ý. Ngày hôm ấy, ông để riêng ra các dê đực vằn và lấm chấm, mọi dê cái lốm đốm và lấm chấm, mọi con vật có vệt trắng, và mọi con chiên đen tuyền; và ông giao chúng cho các con trai ông. Rồi ông để khoảng cách ba ngày đường giữa ông và ông Gia-cóp. Ông Gia-cóp thì chăn những chiên dê còn lại của ông La-ban.

     5. Khi đã giàu có, ông Gia-cóp nghe được những lời của các con trai ông La-ban nói rằng: “Gia-cóp đã lấy tất cả tài sản của cha chúng ta, và nhờ tài sản của cha chúng ta mà làm nên cơ đồ ấy”. Ông Gia-cóp nhìn nét mặt ông La-ban và thấy nhạc phụ không còn như xưa nữa, ông vâng lời Đức Chúa trở về quê hương. Ông Gia-cóp sai người đi gọi bà Ra-khen và bà Lê-a ra ngoài đồng, đến chỗ đàn chiên dê của ông, và nói với họ: “Tôi thấy rằng nét mặt của cha các bà đối với tôi không còn như xưa nữa; nhưng Thiên Chúa của cha tôi đã ở với tôi. Chính các bà biết rằng tôi đã phục vụ cha các bà bằng tất cả sức lực của tôi. Cha các bà đã đánh lừa tôi, và đã đổi công xá của tôi mười lần, nhưng Thiên Chúa đã không để cho ông ấy làm hại tôi. Mỗi khi ông nói những con lốm đốm sẽ là công xá của tôi, thì tất cả chiên và đẻ ra những con lốm đốm; mỗi khi ông nói những con vằn sẽ là công xá của tôi, thì tất cả chiên dê đẻ ra những con vằn. Thiên Chúa đã lấy đàn vật của cha các bà mà cho tôi. Vào thời chiên và giao nhau, tôi ngước mắt lên và chiêm bao thấy những con dê đực phủ những con cái thì vằn, lốm đốm và khoang” (St 31:5-10). Quả thật, Thiên Chúa luôn bảo vệ và nâng đỡ những người thật thà và chân chính.

     6. Giu-se được mười bảy tuổi thì đi chăn chiên và với các anh. Cậu đi với các con trai bà Bin-ha và các con trai bà Din-pa, các bà vợ của cha cậu. Cậu mách cha tiếng đồn không hay về họ. Ông Ít-ra-en yêu Giu-se hơn tất cả các con, vì ông đã già mới sinh được cậu, và ông may cho cậu một áo chùng dài tay. Các anh cậu thấy cha yêu cậu hơn tất cả các anh thì sinh lòng ghét cậu và không thể nói năng tử tế với cậu. Lòng ghen ghét và đố kỵ thật đáng sợ!
Giu-se chiêm bao, cậu thuật lại cho các anh, khiến họ càng ghét cậu thêm. Cậu kể: “Em lại chiêm bao thấy mặt trời, mặt trăng và mười một ngôi sao đang sụp xuống lạy em” (St 37:9). Các anh ghen tức với câu, cha cậu cũng mắng câu. Khi đi chăn chiên, các anh định thả cậu xuống giếng để sát hại cậu, chỉ có Rưu-vên thương cậu. Những lái buôn người Ma-đi-an đi qua đó kéo Giu-se lên khỏi giếng, các anh bán cậu cho người Ít-ma-ên giá 20 đồng bạc. Những người này đưa Giu-se sang Ai-cập.
Các anh lấy áo chùng của Giu-se, giết một con dê đực, rồi nhúng áo chùng vào máu để chạy tội, làm chứng cớ giả là Giu-se bị thú dữ ăn thịt. Người cha tưởng con trai mình đã bị nạn thật. Ông Gia-cóp xé áo mình ra, quấn áo vải thô ngang lưng và để tang con trai lâu ngày. Tất cả các con ông đến an ủi ông, nhưng ông không chịu cho người ta an ủi; ông khóc thương cậu và nói: “Cha sẽ để tang mà xuống với con cha ở âm phủ” (St 37:35).

     7. Ngày tháng trôi qua, người con gái ông Su-a, là vợ ông Giu-đa, qua đời. Mãn tang vợ, ông Giu-đa cùng với bạn là ông Khi-ra, người A-đu-lam, lên Tim-na gặp các thợ xén lông chiên của ông. Người ta báo cho Ta-ma hay: “Cha chồng của chị đang lên Tim-na xén lông chiên của ông ấy!”. Nàng liền bỏ áo bà goá, lấy khăn trùm lên, phủ kín mình, rồi ngồi ở lối vào Ê-na-gim, một thành nằm trên đường đi Tim-na. Nàng làm thế vì thấy rằng Sê-la đã lớn mà người ta không cho nàng làm vợ cậu.
Ông Giu-đa trông thấy nàng, tưởng là một gái điếm, vì nàng đã che mặt. Ông rẽ qua phía nàng bên lề đường và nói: “Cho tôi đến với cô”. Ông không biết nàng là con dâu ông. Nàng hỏi: “Ông cho em gì để đến với em?”. Ông đáp: “Tôi sẽ bắt một con dê con trong đàn gửi đến cho cô”. Nàng lại nói: “Vậy xin ông cho em một vật làm tin, cho tới khi ông gửi đến”. Ông hỏi: “Tôi phải cho cô vật gì làm tin?”. Nàng đáp: “Chiếc ấn của ông, sợi dây đeo ấn và cây gậy ông cầm ở tay”. Ông đưa cho nàng những thứ đó, rồi đến với nàng, và nàng có thai với ông. Nàng đứng lên, đi khỏi, bỏ khăn trùm và mặc lại áo bà goá (St 38:15-19).
Ông Giu-đa nhờ người bạn ở A-đu-lam mang dê con đến, để lấy lại vật làm tin từ tay người đàn bà, nhưng ông này không tìm thấy nàng. Ông này hỏi người địa phương: “Cô điếm thần ở Ê-na-gim vẫn ngồi trên đường đâu rồi?”. Họ đã trả lời: “Ở đây chẳng hề có điếm thần”. Ông về nói với ông Giu-đa: “Tôi không tìm thấy cô ta. Người địa phương còn nói là ở đấy chẳng hề có điếm thần”. Ông Giu-đa nói: “Cô ta cứ việc giữ những thứ ấy! Miễn sao chúng ta đừng bị chê cười. Tôi quả đã gửi con dê con này, còn anh lại không tìm thấy cô ấy!” (St 38:20-23). Về sau, bà này sinh đôi là Pe-rét và De-rác.

     8. Sách Lê-vi cho biết cách thức dâng của lễ: (a) “Nếu người ấy tiến dâng chiên dê làm lễ toàn thiêu, một con chiên con hay một con dê, thì phải tiến dâng một con đực toàn vẹn. Người ấy sẽ sát tế nó bên cạnh bàn thờ, về phía bắc, trước nhan Đức Chúa” (Lv 1:10-11), (b) “Nếu lễ tiến của người ấy là một con dê, thì phải tiến dâng nó trước nhan Đức Chúa. Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con vật, và sẽ sát tế nó trước cửa Lều Hội Ngộ. Các con A-ha-ron sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ” (Lv 3:12).

     9. Giống như chiên, được dùng làm của lễ đền tội.
– Đối với chức sắc: “Nếu một đầu mục phạm tội, và vô ý làm một trong những điều mà mệnh lệnh Đức Chúa, Thiên Chúa của nó, cấm làm, khiến nó mắc lỗi, nếu người ta cho nó biết tội nó đã phạm, thì nó phải đưa đến một con dê làm lễ tiến, một con đực toàn vẹn. Nó sẽ đặt tay trên đầu con dê và sát tế trước nhan Đức Chúa, ở nơi sát tế lễ vật toàn thiêu. Đó là lễ tạ tội. Tư tế sẽ dùng ngón tay lấy máu lễ vật tạ tội và bôi lên các góc cong của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi đổ máu còn lại xuống chân bàn thờ dâng lễ toàn thiêu. Còn tất cả mỡ, tư tế sẽ đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, như mỡ của hy lễ kỳ an. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho người ấy khỏi tội của mình, và người ấy sẽ được tha” (Lv 4:22-26).
– Đối với thường dân: “Nếu một thường dân vô ý phạm tội, làm một trong những điều mà mệnh lệnh của Đức Chúa cấm làm, khiến nó mắc lỗi, nếu người ta cho nó biết tội nó đã phạm, thì vì tội đã phạm, nó sẽ đưa đến một con dê làm lễ tiến, một dê cái toàn vẹn. Nó sẽ đặt tay trên đầu lễ vật tạ tội và sát tế lễ vật tạ tội ở nơi sát tế lễ vật toàn thiêu (Lv 4:27-29).
– Các trường hợp phải dâng lễ đền tội: “Khi một người nào phạm tội, vì tuy là nhân chứng về một việc đã thấy hoặc đã biết, mà không chịu nói ra sau khi đã nghe lời khuyến cáo long trọng, thì nó phải mang lấy tội một mình; hoặc khi một người nào đụng đến bất cứ vật gì ô uế – như xác chết một dã thú ô uế, xác chết một gia súc ô uế, xác chết một con vật ô uế – mà không biết, thì nó trở nên ô uế và mắc lỗi; hoặc khi người ấy đụng đến một cái gì ô uế của người ta – những thứ ô uế khiến người ta trở nên ô uế – mà không biết, thì sau khi biết, nó mắc lỗi; hoặc khi một người nào lỡ lời mà thề làm điều gì bất kỳ tốt xấu – trong mọi điều một người có thể lỡ lời mà thề – nhưng không biết, thì sau khi biết, nó mắc lỗi về một trong những điều ấy. Vậy khi ai mắc lỗi về một trong những điều trên thì nó phải xưng thú tội mình đã phạm, rồi phải đưa đến dâng Đức Chúa lễ vật đền tội vì tội đã phạm, là một con chiên cái hay một con dê cái làm lễ tạ tội, và tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó khỏi tội (Lv 5:1-6).

     10. Đến ngày thứ tám, ông Mô-sê gọi ông A-ha-ron và các con ông ấy, cũng như các kỳ mục Ít-ra-en, và nói với ông A-ha-ron: “Ông hãy bắt một con bê để làm lễ tạ tội, với một con cừu đực để làm lễ toàn thiêu, cả hai còn toàn vẹn, và hãy tiến dâng chúng trước nhan Đức Chúa. Rồi ông hãy nói với con cái Ít-ra-en bắt một con dê đực để làm lễ tạ tội, một con bê với một con chiên, cả hai phải được một tuổi, toàn vẹn, để làm lễ toàn thiêu, một con bò đực và một con dê đực để làm lễ kỳ an dâng trước nhan Đức Chúa, và một lễ phẩm nhào với dầu; vì hôm nay Đức Chúa sẽ xuất hiện giữa anh em” ( Lv 9:2-4).

     11. Quy định đặc biệt về lễ tạ tội: “Ông Mô-sê hỏi đi hỏi lại về con dê đực dâng làm lễ tạ tội và thấy là nó đã bị thiêu. Ông nổi giận với hai người con còn lại của ông A-ha-ron là E-la-da và I-tha-ma, và nói: Tại sao các anh không ăn lễ vật tạ tội trong nơi thánh, vì đó là của rất thánh? Người đã ban nó cho các anh để xoá bỏ tội lỗi của cộng đồng, để cử hành lễ xá tội cho họ trước nhan Đức Chúa” (Lv 10:16-17).

     12. Việc làm trong ngày xá tội: A-ha-ron sẽ vào thánh điện như thế này: Nó phải bắt một bò tơ để làm lễ tạ tội và một cừu đực để làm lễ toàn thiêu. Nó sẽ mặc áo dài thánh bằng vải gai, mặc trên mình quần đùi vải gai, thắt đai lưng vải gai, đội mũ tế vải gai. Đó là phẩm phục thánh, nó sẽ lấy nước tắm rửa thân thể trước khi mặc vào. Nó sẽ nhận hai con dê đực để làm lễ tạ tội và một con cừu đực để làm lễ toàn thiêu, do cộng đồng con cái Ít-ra-en đem tới. A-ha-ron sẽ tiến dâng con bò tơ làm lễ tạ tội cho chính mình, và sẽ cử hành lễ xá tội cho mình và cho nhà mình. Nó sẽ lấy hai con dê và đặt trước nhan Đức Chúa, ở cửa Lều Hội Ngộ. Nó sẽ bắt thăm chọn giữa hai con dê: một thăm “dành cho Đức Chúa”, một thăm “dành cho quỷ A-da-dên”. A-ha-ron sẽ tiến dâng con dê trúng thăm “dành cho Đức Chúa” và dùng làm lễ tạ tội. Còn con dê trúng thăm “dành cho A-da-dên”, A-ha-ron sẽ để sống và đặt trước nhan Đức Chúa, để cử hành lễ xá tội trên nó và thả nó cho A-da-dên trong sa mạc (Lv 16:3-10).

     13. Thánh Vịnh cho biết rằng Dê được dùng làm lễ tế: “Con tiến dâng Ngài bò, chiên, béo tốt, làm lễ toàn thiêu nghi ngút bay lên” (Tv 66:15). Dân Ai-cập bị Thiên Chúa trừng phạt, Dê cũng bị vạ lây: “Người sai mòng đến cắn, ếch nhái làm tan hoang, cào cào ăn lúa má, châu chấu phá mùa màng; mưa đá huỷ vườn nho, sương muối diệt cây vả, dịch tàn sát chiên, , thời khí hại bò lừa” (Tv 78:45-48).


DÊ TRONG TÂN ƯỚC
     1. Giá trị tuyệt đối của Máu Đức Giêsu Kitô: “Người [Đức Kitô] đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta. Vậy nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy” (Dt 9:12-14).

     2. Máu giao ước của Thiên Chúa: “Sau khi ông Mô-sê công bố cho toàn dân mọi điều răn như đã ghi chép trong Sách Luật, ông lấy máu các con bê, con dê hoà lẫn với nước, rồi dùng len đỏ thắm và cành hương thảo mà rảy trên chính cuốn Sách Luật cũng như trên toàn dân và nói: Đây là máu giao ước, Thiên Chúa đã truyền cho anh em tuân giữ. Rồi, cũng theo cách thức đó, ông rảy máu vào lều thánh và mọi đồ phụng tự” (Dt 9:19-21).

     3. Máu bò và máu dê có giá trị trong Cựu ước, nhưng không còn giá trị trong Tân ước: “Năm này qua năm khác, chính những hy lễ đó nhắc cho người ta nhớ mình có tội. Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi. Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con” (Dt 10:4-7).

     4. Vì Đức Tin, có nhiều người phải chịu đau khổ: “Có những người phải chịu nhạo cười và roi vọt, hơn nữa còn bị xiềng xích và bỏ tù; họ bị ném đá, bị cưa đôi, bị chết vì gươm; họ phải lưu lạc, mặc áo da cừu, da dê, chịu thiếu thốn, bị áp bức và hành hạ” (Dt 11:36-37).

     5. Trong dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” (Lc 15:29), trước đây gọi là dụ ngôn “Đứa Con Hoang Đàng”, người em đòi chia gia tài rồi đi ăn chơi hoang đàng chi địa. Miệng ăn, núi lở. Ở bước đường cùng, hết cách xoay xở, người em hối hận và quyết trở về với cha. Người em được cha đón nhận mà không trách móc, còn bảo các đầy tớ mở tiệc ăn mừng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng. Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”.

Khi người anh từ ngoài đồng về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, hỏi người đầy tớ thì biết “thằng em trời đánh” vừa trở về và được cha cho làm thịt con bê béo để ăn mừng. Người anh liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng người cha ra năn nỉ. Anh ta so kè: “Cha coi đó, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, cha lại giết bê béo ăn mừng!”.
Người cha phân tích và giải thích chi li ngọn nguồn, người anh hiểu ra. Cả nhà cùng vui mừng đoàn tụ trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Hình ảnh người anh và người anh là chính chúng ta, có khi chúng ta tội lỗi ngập đầu mà vẫn “chảnh”, có lúc chúng ta lại so hơn tính thiệt với chính những người xung quanh, thậm chí còn trách cả Thiên Chúa. Quả thật, “lỗi tại tôi mọi đàng” mà thôi!

     6. Dê là biểu tượng của những người bị nguyền rủa, trái ngược với chiên – biểu tượng của những người được chúc phúc trong ngày Chúa quang lâm. Trình thuật Mt 25:31-46 cho biết như vậy. Lúc đó, thật diễm phúc cho ai được phân loại là Chiên và ở bên phải, nhưng thật khốn nạn cho ai bị phân loại là Dê và ở bên trái!
Khi Con Người đến trong vinh quang, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Những người là Chiên được Thiên Chúa chúc phúc và cho hưởng trường sinh. Còn những người là Dê ở bên trái, Thiên Chúa tuyên án: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng”. Thế là hết đường cứu chữa, biện hộ kiểu nào cũng vô ích mà thôi. Từ đó, “người dê” phải ra đi để chịu cực hình muôn kiếp!

VĨ NGÔN
Hình ảnh con chiên và con dê rất gần gũi với người Do Thái từ xa xưa. Chúa Giêsu đã giáng sinh nơi máng cỏ tại một hang động có nhiều , chiên, lừa... Chúng thở hơi làm ấm Ngài trong hơi sương giá lạnh. Ngoài ra, hình ảnh con chiên và con dê chịu sát tế làm lễ hy sinh, trở thành của lễ đền tội cho dân Do Thái, mà không một lời than van. Trong Tân ước, tế vật đó chính là hình ảnh Chúa Giêsu gánh chịu mọi tội lỗi của nhân loại, Đấng mà Ngôn sứ Isaia gọi là “Người Tôi Trung” (Is 42, 49, 50 và 52), đã được Ngôn sứ Isaia tiên báo: “Tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50:5-6).
Và hằng ngày, trong các Thánh Lễ ở khắp thế giới đều vang lên lời kinh cầu nguyện tha thiết: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con...”.

Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, đặc biệt là trong mùa Xuân này, Tết Ất Mùi này. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Tết Nguyên Đán – 2015

 

Cung Chúc Chúa Xuân
(Mồng Một Tết Nguyên Đán – cầu bình an)

Tết thời gian khởi đầu mùa Xuân, mùa đầu tiên trong bốn mùa, cũng là khởi đầu một năm mới. Chữ Tết được phát âm từ chữ “tiết”. Hai chữ “nguyên đán” có gốc chữ Hán: NGUYÊN là “sự khởi đầu”, ĐÁN là “buổi sáng sớm”. Phát âm đúng phải là “Tiết Nguyên Đán”, rồi người ta đọc là “Tết Nguyên Đán”. Người Trung Hoa gọi là “Xuân Tiết”. Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm Lịch, Tết Cổ Truyền, hoặc đơn giản chỉ gọi là Tết. Vui Tết thì phải có sự Bình An thực sự.

Tết là dịp tốt để nhớ đến nhau, thăm viếng nhau, cầu chúc điều tốt lành cho nhau – gọi là “tết nhau”. Với các Kitô hữu, người quan trọng nhất chúng ta phải tết là Thiên Chúa. Trong một dịp Tết, Thánh Faustina đã tâm sự với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa trước về mọi thứ mà lòng nhân từ của Chúa sẽ ban cho con. Con cảm tạ Ngài về những sự thuận lợi và ân sủng tuôn đổ trên con mỗi ngày như sương mai lặng lẽ, con không thể cảm thấy, không con mắt nào có thể thấy, và chỉ có Ngài và con biết. Con cảm tạ Ngài về mọi điều đó” (Nhật Ký Thánh Faustina, số 1449). Tâm nguyện thật đẹp, tươi màu sắc thánh đức. Ước gì mỗi chúng ta cũng biết tâm nguyện với Thiên Chúa như vậy!

Thiên Chúa là Chúa Xuân tuyệt đối. Cung Chúc Chúa Xuân là điều chúng ta phải thực hiện, dù chúng ta chẳng thêm gì cho Ngài nhưng chính lời cung chúc và cảm tạ đó lại đem lại lợi ích cho chính chúng ta. Vả lại, chính Thiên Chúa đã tuyên phán: “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan vì những gì chính Ta sáng tạo. Phải, này đây Ta sẽ tạo Giêrusalem nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng” (Is 65:17-18). Năm mới là một dạng “trời mới đất mới” mà Thiên Chúa tiếp tục cho chúng ta tận hưởng, dù có thế nào thì chúng ta vẫn phải biết cảm tạ Ngài về hồng ân này. Có nhiều người, ngay cả người thân của chúng ta, năm ngoái còn đó mà năm nay không còn được đón năm mới như chúng ta trong giây phút đầu Xuân này nữa. Dĩ nhiên họ có “trời mới đất mới” khác rồi.

Chính Thiên Chúa giải thích: “Vì Giêrusalem, Ta sẽ hoan hỷ, vì dân Ta, Ta sẽ nhảy mừng. Nơi đây, sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la. Nơi đây, sẽ không còn trẻ sơ sinh chết yểu và người già tuổi thọ không tròn; vì trăm tuổi mà chết là chết trẻ, và chưa tròn trăm tuổi mà chết là bị nguyền rủa. Người ta sẽ xây nhà và được ở, sẽ trồng nho và được ăn trái” (Is 65:18-21). Đó là miền đất hứa được Thiên Chúa tuyển chọn và chúc phúc, cuộc đời trần gian ngày nay không như vậy, nhưng vẫn theo quy luật của Chúa: “Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi” (Tv 90:10).
Tất cả là hồng ân, dù sao chúng ta vẫn phải tạ ơn Chúa: “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con” (Tv 30:2). Không chỉ vậy, chúng ta còn phải nói cho người khác biết về lòng thương xót của Ngài: “Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người. Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo” (Tv 30:5-6).

Không ai lại không cần lòng thương xót của Ngài, vì ai cũng là tội nhân, ngay cả người công chính cũng phạm tội mỗi ngày 7 lần (x. Cn 24:16). Vì thế, chúng ta phải không ngừng kêu xin Ngài, kêu xin ngay từ giây phút đầu năm mới: “Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con, lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ. Khúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu, cởi áo sô, mặc cho con lễ phục huy hoàng. Vì thế, tâm hồn con ca ngợi Chúa, và không hề nín lặng. Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu” Tv 30:11-13). Quả thật, “ngày nào có cái khổ của ngày đó” (Mt 6:34). Đời là thế, trần gian là vậy! Nhưng với tầm nhìn đức tin, cái KHỔ lại là cái PHÚC. Chúa Giêsu đã dùng Thập Giá để tới vinh quang, cái Chết không là chấm hết hoặc bị triệt, mà cái Chết hóa “ngưỡng cửa” bước vào Sự Sống vĩnh hằng. Vâng, cái giá lạnh mùa Đông để chuẩn bị cho mùa Xuân ấm áp, tươi đẹp. Thật kỳ diệu!

Năm mới. Ai cũng muốn mọi thứ đều mới, cả ngoại tại và nội tại. Người Đan Mạch đón năm mới bằng cách mang đĩa đến đập vào cửa nhà hàng xóm. Chủ nhà không tức giận mà còn rất vui, vì họ quan niệm rằng nhiều mảnh vỡ chén đĩa trước cửa nghĩa là gia chủ có nhiều bạn trung thành. Người Philippines đón năm mới bằng cách mặc trang phục có những “chấm tròn”, thực phẩm và trái cây hình tròn cũng xuất hiện trên bàn ăn của họ. Người Philippines quan niệm rằng chấm tròn sẽ mang lại sự phát triển thịnh vượng trong năm mới. Có thể chúng ta thấy kỳ cục, nhưng họ lại hạnh phúc. Nói chung, mọi phong tục tập quán đều muốn thể hiện sự mới mẻ của năm mới.

Thánh Gioan cũng có thị kiến về những cái mới: “Tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (Kh 21:1-2). Có lẽ chẳng ai đẹp như tân nương và tân lang trong ngày cưới, vì họ mới cả thể lý lẫn tâm hồn – họ vui vì hạnh phúc, tức là họ “mới” hơn trước rất nhiều.

Thánh Gioan cho biêt1 từ cái mới này tới cái mới khác. Từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21:3-4). Vùng “trới mới, đất mới” của Thiên Chúa thật kỳ diệu, khôn tả. Cái mới thì thường khiến người ta thấy lạ – Việt ngữ nói ghép chung: Mới lạ. Cái lạ có thể là cái rất kỳ lạ.

Cái mới lạ của Thiên Chúa vượt ngoài tầm hiểu của chúng ta. Thật vậy, Đấng ngự trên ngai nói với Thánh Gioan: “Này đây Ta đổi mới mọi sự. Ngươi hãy viết: Đây là những lời đáng tin cậy và chân thật. Xong cả rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng. Chính Ta sẽ ban cho ai khát được uống nơi nguồn nước trường sinh, mà không phải trả tiền” (Kh 21:5-6). Nước trường sinh là nước hằng sống, chính nước này sẽ biến người ta nên mới hoàn toàn, cả hồn và xác. Đổi mới bên ngoài là điều cần, nhưng đổi mới bên trong còn cần hơn. Làm sao đổi mới? Đây là bí quyết đổi mới: “Ai giữ lời Đức Kitô dạy, thì nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:5).
Ai tuân giữ lời Đức Kitô là người hoàn hảo. Lời Ngài nhiều lắm, nhưng tóm lại chỉ là yêu thương, tức là biết thương xót. Luật Yêu là Thiên Luật, ngắn gọn lắm!

Trình thuật Mt 5:43-48 cho biết: Một hôm, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính”. Thiên Chúa chí minh và chí công, không thiên vị bất kỳ ai (x. Gl 2:6; Cv 10:34). Là con cái Ngài, chúng ta không thể sống khác. Thánh Giacôbê nói: “Anh em đã tin vào Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Chúa vinh quang, thì đừng đối xử thiên tư” (Gc 2:1). Và Thánh Giacôbê giải thích: “Nếu anh em đối xử thiên tư thì anh em phạm một tội và bị Lề Luật kết án là kẻ vi phạm” (Gc 2:9). Thật lạ, vì hoàn toàn khác, không như chúng ta tưởng!

Chính Chúa Giêsu cũng đã giải thích cặn kẽ và cụ thể: “Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?”. Quá đỗi chí lý! Chắc chắn không ai có thể biện hộ được gì. Đầu năm, đầu tháng, tết nhất mà nhắc tới vấn đề này thì thật là… “ngại” hết sức, cảm thấy “lùng bùng lỗ tai” lắm, thế nhưng phải vậy thôi. Đầu xuôi thì đuôi mới lọt. Thà mất lòng trước mà được lòng sau. Đầu năm có xác định rạch ròi thì cả năm cứ thế mà xuôi theo. Thế mới là đổi mới, mới từ trong ra ngoài, nhờ đó mà cuộc sống khả dĩ tươi màu như sắc Mai vàng ngày Xuân.

Cuối cùng, Chúa Giêsu vừa mời gọi vừa khuyến cáo, và cũng vừa “bật mí” cho chúng ta cách đổi mới: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Hoàn thiện là đổi mới, chúng ta không đổi mới theo kiểu của mình mà theo kiểu của Thiên Chúa Cha. Quyết tâm đổi mới là lời Chúc Xuân tốt đẹp kính dâng lên Thiên Chúa trong ngày Tết cổ truyền này. Chính nhờ vậy mà chúng ta chắc chắn được Ngài ban cho sự bình an đích thực – bình an cả tâm hồn và thể lý.

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, Đấng khởi đầu sự sống nơi chúng con, xin giúp chúng con biết đổi mới mỗi ngày một hơn theo đúng Thánh Ý Ngài. Chúng con xin phó thác trọn năm mới này cho Ngài, xin nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, để mọi sự tốt đẹp từ khởi sự cho đến hoàn thành vì vinh danh Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 


Chữ Hiếu
(Mồng Hai Tết – cầu cho Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ)

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Có lẽ không ai lại không thuộc lòng câu ca dao này. Ca dao bình dị mà thâm sâu. Ai cũng có một gia đình, dù là “ông kia, bà nọ” thì cũng vẫn xuất thân từ một gia đình. Vâng, người ta có thể tự chọn nhiều thứ, nhưng không ai có thể tự chọn cha mẹ – tất nhiên kể cả ông bà, tổ tiên. Chắc hẳn không ngẫu nhiên mà người ta gọi gia đình là Tổ Ấm hoặc Mái Ấm. Dấu hiệu đầu tiên của hạnh phúc gia đình là tình yêu gia đình, chính “ngọn lửa” tình yêu làm cho gia đình ấm áp.

Dù là Thiên Chúa, nhưng khi Đức Giêsu giáng sinh làm người, Ngài cũng sinh trưởng trong một gia đình. Điều đó chứng tỏ gia đình rất quan trọng. Hai tiếng “gia đình” đơn giản lắm, nhưng cũng phức tạp lắm. Louisa May Alcott nhận xét: “Khả năng tìm được cái đẹp trong những điều nhỏ bé nhất khiến gia đình trở nên hạnh phúc và cuộc đời trở nên đáng yêu” (The power of finding beauty in the humblest things makes home happy and life lovely). Thomas Fuller đề nghị: “Lòng nhân đức bắt đầu từ gia đình nhưng không nên kết thúc ở đó” (Charity begins at home but should not end there). Bộ ba Cha-Mẹ-Con là chiếc kiềng ba chân yêu thương để chống đỡ gia đình: “Yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng” (Ca dao).

Ngày lễ, tết, và những dịp đặc biệt, nhớ tới công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và tiền nhân là điều cần thiết. Trên đời này, không có công ơn nào to lớn bằng công ơn cha mẹ, đặc biệt là người mẹ. Chữ Hiếu (mệnh danh là Đạo Hiếu) không thể nào bù đắp chín Đức Cù Lao (*).Cứ tính đơn giản theo nghĩa đen thì cũng thấy không cân xứng: Một chữ không thể so với chín chữ. Con cái chỉ có một chữ mà vẫn không giữ trọn!

Kinh Thi có đề cập đức cù lao của cha mẹ: “Cù lao vu dã” – nhọc nhằn vất vả nơi đồng nội; và “bi ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao” – thương thay cha mẹ nhọc nhằn sinh ta.

Dịp đầu Xuân, thời gian đẹp nhất trong năm – cả nghĩa đen và nghĩa bóng, sách Huấn Ca mời gọi: “Giờ đây, chúng ta hãy ca ngợi những vị danh nhân, cũng là cha ông của chúng ta qua các thế hệ” (Hc 44:1). Tại sao? Lý do minh nhiên: “Họ là những người đạo hạnh, công đức của các ngài không chìm vào quên lãng. Dòng dõi các ngài luôn được hưởng một gia tài quý báu đó là lũ cháu đàn con. Dòng dõi các ngài giữ vững các điều giao ước; nhờ các ngài, con cháu cũng một mực trung thành. Dòng dõi các ngài sẽ muôn đời tồn tại, vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ. Các ngài được mồ yên mả đẹp và danh thơm mãi lưu truyền hậu thế. Dân dân sẽ kể lại đức khôn ngoan của các ngài và cộng đoàn vang tiếng ngợi khen” (Hc 44:10-15).

Chúa Giêsu đã nêu gương về đạo Hiếu để chúng ta noi theo. Sau ba ngày lo việc của Chúa Cha, Cậu Hai Giêsu ở lại Đền Thờ khiến Cô Maria và Chú Giuse lo sốt vó, tìm kiếm xuôi ngược suốt ba ngày. Khi gặp cha mẹ, Cậu Hai Giêsu mau mắn “đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2:51).

Ai cũng có cha mẹ, dù cha mẹ có thế nào thì cũng vẫn là người sinh thành dưỡng dục mình. Ai sống có hiếu thì được Chúa chúc lành: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may” (Tv 128:1-2).

Con cái có hiếu thì cha mẹ an tâm, gia đình hạnh phúc: “Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn. Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (Tv 128:3-4). Chắc hẳn ai cũng mong ước như vậy, vấn đề là phải thể hiện cụ thể, đừng nói suông. Tác giả Thánh Vịnh cầu chúc: “Xin Chúa từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc. Ước chi trong suốt cả cuộc đời bạn được thấy Giêrusalem phồn thịnh, được sống lâu bên đàn con cháu” (Tv 128:5-6). Nguyện chúc mọi gia đình vui hưởng thái bình như Thánh Gia – hôm nay và mãi mãi, đặc biệt trong những ngày Xuân đoàn tụ này.

Thánh Phaolô nhắc nhở những người con về Đạo Hiếu: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo.2 Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6:1-3). Và nhắc nhở những người làm cha mẹ: “Những bậc làm cha mẹ, đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6:4). Bổn phận và trách nhiệm với nhau là điều cần thiết: Con cái đối với cha mẹ, và cha mẹ đối với con cái.

Thứ nhất là cầu nguyện, thứ nhì là hành động. Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi. Để được như vậy, anh em hãy chuyên cần tỉnh thức và cầu xin cho toàn thể dân thánh” (Ep 6:18-19). Cầu nguyện là việc làm phải liên tục, bất kể thời gian hoặc địa điểm. Thật vậy, cầu nguyện có thể thực hiện ngay tại bàn tiệc, khi đang nói chuyện với người khác, khi chạy xe,… thậm chí ngay khi chúng ta ở giữa một đám đông ồn ào náo nhiệt. Đừng chỉ cầu nguyện khi vào nhà thờ hoặc ở nơi tĩnh lặng, vì cầu nguyện rất dễ: Hướng tâm hồn lên với Chúa, gặp Chúa, có khi không cần nói gì cả. Cầu nguyện liên lỉ là “thói quen” của người sống tâm linh theo tinh thần của Đức Kitô.

Người cha, người mẹ và người con đều sống tâm linh như vậy thì chắc chắn gia đình hạnh phúc, là Tổ Ấm thực sự, ấm trong tình yêu của Thiên Chúa, nóng hổi ngọn lửa thương xót của Thiên Chúa: “Hạnh phúc thay, người kính sợ Chúa, những ưa cùng thích mệnh lệnh Chúa truyền ban. Trên mặt đất, con cháu của họ sẽ hùng cường, dòng dõi kẻ ngay lành được Chúa thương giáng phúc” (Tv 112:1-2). Niềm hạnh phúc thánh đức thật tuyệt vời!

Thiên Chúa phù trì liên vạn đại
Thánh Gia bảo giám mãi thiên thu

Nước có quốc pháp, nhà có gia phong. Truyền thống là điều nên duy trì – nếu đó là truyền thống tốt đẹp và hợp lòng người. Đừng bao giờ câu nệ!

Trình thuật Mt 15:1-6 cho biết: Bấy giờ có mấy người Pharisêu và mấy kinh sư từ Giêrusalem đến gặp Đức Giêsu và hỏi Ngài: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa?”. Ngài trả lời bằng một câu hỏi: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa?”. Ngài biết chẳng ai trả lời được nên Ngài lý luận: “Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa’. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa”. Họ chỉ có nước “ngậm tăm”, im như thóc thối, câm như hến.

Có khi chúng ta cũng như bọn Pharisêu đấy, đầu toàn là “đậu hũ” mà bày đặt lý luận để bắt bẻ người khác. Dốt mà chảnh là thế đấy! Không chỉ vậy, chúng ta lấy lý do “vì, bởi, tại,…” mà biện hộ cho mình. Thật nguy hiểm! Thiết tưởng đôi khi chúng ta phải tự xét lại về các động thái của mình, đừng tưởng những gì chúng ta đưa ra đều là vì Chúa, có thể chính chúng ta “chơi ép” Chúa, “điều khiển” Chúa, rồi lại tự tôn bằng các biện hộ đó là Ý Chúa. Lạy Chúa tôi!

Ngày Xuân, dịp Tết, nếu còn cha mẹ, thật hạnh phúc cho bạn, nhưng hãy “động não” một chút: Khi bạn đang uống ly nước giải khát, hãy nghĩ xem cha mẹ thường uống gì. Khi bạn mặc những bộ quần áo đắt tiền hàng hiệu, xin hãy nghĩ xem cha mẹ bạn thường mặc ra sao. Khi bạn thoải mái chi tiêu, hãy nghĩ đến những thứ cha mẹ bạn thường dùng thế nào. Cha mẹ đã vì chúng ta mà bỏ bao công sức, đổ bao hạt mồ hôi, đều chỉ vì mong cho bạn có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những thứ bạn đang dùng đều là do công sức cha mẹ tạo ra. Xin hãy yêu quý cha mẹ và cố gắng giữ trọn chữ hiếu cho xứng đáng là người con. Hãy hành động ngay khi cha mẹ còn sống, cụ thể là ngay trong dịp Tết này, biết đâu bạn không còn kịp nữa đâu!

Tết đến bình an nhờ Thiên Chúa
Xuân về hạnh phúc với Thánh Gia

Lạy Thiên Chúa, xin cảm tạ Ngài đã ban cho chúng con có ông bà, cha mẹ, xin thương chúc lành cho họ; xin giúp chúng con biết giữ trọn Đạo Hiếu với Chúa và với ông bà, cha mẹ của chúng con. Xin tình yêu Thánh Gia luôn tràn đầy trong mọi gia đình. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Cù Lao là siêng năng, cần mẫn, nhọc nhằn. Chín đức cù lao: [1] Sinh: Cha mẹ đẻ ra, [2] Cúc: Nâng đỡ, [3] Phủ: Vỗ về, vuốt ve, [4] Súc: Cho ăn, bú mớm; [5] Trưởng: Nuôi dưỡng thể xác; [6] Dục: Giáo dưỡng tinh thần; [7] Cố: Trông nom, nhìn ngắm; [8] Phục: Quấn quít, săn sóc không ngơi; [9] Phúc: Bồng ẵm, gìn giữ, lo cho con đầy đủ, bảo vệ con khỏi bị ăn hiếp.

 


Công sức
(Mồng 3 Tết – thánh hóa công việc)

Sau khi để cho “cái tôi” nổi dậy, Ông Bà Nguyên Tổ đã bất tuân phục Thiên Chúa vì nghe lời đường mật của ma quỷ. Họ xấu hổ nên tránh mặt Đức Chúa. Và rồi Ngài ra nghiêm luật, đồng thời cũnh nhắc nhở về “thân phận” của họ: “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3:19).
Kể từ đó, con người không còn được “ngồi mát ăn bát vàng” nữa, mà phải làm lụng vất vả, đổ mồ hôi trán, dán mồ hôi lưng mới có miếng ăn, đôi khi cũng chẳng đủ ăn. Tuy nhiên, cái khổ xổ cái khôn, nhờ đó mà con người có kinh nghiệm lao động, biết quý trọng công sức, và dần dần người ta có những luật lao động khác nhau – tùy hoàn cảnh cụ thể. Cái khó ló cái khôn là thế!
Đại văn hào Victor Hugo (1802-1885, Pháp quốc) triết lý về sự lao động: “Người ta không lười biếng chỉ vì người ta chăm chú. Có lao động vô hình và lao động hữu hình. Suy tưởng là cần cù, nghĩ ngợi là thực hiện. Khoanh tay vẫn là làm việc và siết chặt tay vẫn là hành động. Đôi mắt ngước lên Thiên đường là sáng tạo”. Còn nữ tiểu thuyết gia Louisa May Alcott (1832-1888, Hoa Kỳ) xác định: “Công việc luôn là sự cứu rỗi của tôi, và tôi tạ ơn Chúa về điều đó”. Tuyệt vời quá! Quả thật, làm hay hơn nói giỏi – well done is better than well said (Benjamin Franklin, 1706-1790, Đệ Nhất Tổng Thống Hoa Kỳ).
Mồng ba Tết, ngày thánh hóa công ăn việc làm, trình thuật St 2:4-9 cho chúng ta biết gốc tích trời đất khi được sáng tạo. Khởi đầu từ Vườn Địa Đàng, nơi hạnh phúc chan chứa, nhưng có lẽ vì sướng quá hóa rồ nên con người tự làm khổ mình, để rồi lận đận vì thử thách suốt đời.
Kinh Thánh cho biết: “Ngày Đức Chúa là Thiên Chúa làm ra đất và trời, chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên mặt đất, chưa có đám cỏ ngoài đồng nào mọc lên, vì Đức Chúa là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người để canh tác đất đai. Nhưng có một dòng nước từ đất trào lên và tưới khắp mặt đất”. Hoang vu. Không sinh vật nào. Vì thế chúng ta gọi đó là “thuở hồng hoang”.

Sau đó, “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra. Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác”. Chính vì cây-thiện-và-ác này mà con người nên nông nỗi! Không phải Thiên Chúa “gài độ” để con người “sập bẫy”, rơi vào “hố tội lỗi”, mà chỉ vì con người kiêu ngạo, muốn bằng Thiên Chúa.

Sách Sáng Thế cho biết: “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen để cày cấy và canh giữ đất đai” (St 2:15). Từ đó, con người được làm chủ mọi loài khác, nghĩa là bắt đầu có quyền sở hữu. Trong cái rủi vẫn có cái may. Vì thế mà Giáo Hội gọi Tội Tổ Tông là “Tội Hồng Phúc” (Exultet, công bố Tin Mừng Phục Sinh). Kể cũng lạ, “tội” mà lại là “hồng phúc”.

Trí óc phàm nhân chúng ta không đủ mức hiểu thấu, chỉ còn biết cảm tạ và cầu xin Thiên Chúa xót thương. Với tâm tình đó, tác giả Thánh Vịnh tự nhủ: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi! Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, Chúa muôn trùng cao cả! (Tv 104:1).

Thiên Chúa là Đấng toàn năng, Ngài tạo dựng mọi sự. Chính việc tạo dựng đó là công sức lao động của Ngài. Thật vậy, Ngài lao động sáu ngày và chỉ nghỉ một ngày (x. St 1:3 – 2:3). Điều đó cho thấy sự lao động là cần thiết, như người ta nói: “Nhàn cư vi bất thiện”. Rảnh rỗi quá hóa hư thân mất nết.

Thánh Vịnh cho biết: “Ngài khiến mọc cỏ xanh nuôi sống đàn gia súc, làm tốt tươi thảo mộc cho người thế hưởng dùng. Từ ruộng đất, họ kiếm ra cơm bánh, chế rượu ngon cho phấn khởi lòng người, xức dầu thơm cho gương mặt sáng tươi, nhờ cơm bánh mà no lòng chắc dạ (Tv 104:14-15). Có ngày thì cũng có đêm. Ngày làm việc, đêm ngủ nghỉ. Ai “ngủ ngày, cày đêm” là người “không bình thường” rồi, có thể “có vấn đề”. Quy luật “tự nhiên” là vậy: “Đêm trở lại khi Chúa buông màn tối, chốn rừng sâu, muông thú tung hoành. Tiếng sư tử gầm lên vang dội, chúng săn mồi, gào xin Chúa cho ăn. Ánh dương lên, chúng bảo nhau về, tìm hang hốc, chui vào nằm nghỉ. Đến lượt con người ra đi làm lụng, những mải mê tới lúc chiều tà” (Tv 104:20-23).

Cái mà người ta gọi là “luật tự nhiên” chính là Thiên Luật, là quy luật của Thiên Chúa, chứ chẳng có gì gọi là tự nhiên hoặc ngẫu nhiên. Nhìn ngắm thiên nhiên, tác giả Thánh Vịnh đã phải thốt lên: “Công trình Ngài, lạy Chúa, quả thiên hình vạn trạng! Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan, những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất” (Tv 104:24).
Tay làm, hàm nhai; tay quai, miệng trễ. Tất nhiên rồi. Nhỏ thì nhờ cha mẹ, lớn thì phải tự mưu sinh. Lao động để có thể sinh tồn, nhưng đó là duy trì sự sống thể lý. Con người có hai phần, xác và hồn, cần duy trì sự sống thể lý và cũng đừng quên duy trì sự sống tinh thần, với người có niềm tin tôn giáo thì đó là sự sống tâm linh. Chúa Giêsu đã minh định rạch ròi: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4:4; Lc 4:4).

Vấn đề mưu sinh thật vất vả, không hề đơn giản – trừ một số người “đẻ bọc điều”, sướng từ trong trứng nước. Lo thì lo, nhưng lo cũng chẳng thay đổi được theo ý mình. Thánh Phaolô cho biết: “Giờ đây, tôi xin phó thác anh em cho Thiên Chúa và cho lời ân sủng của Người, là lời có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả những người đã được thánh hiến. Vàng bạc hay quần áo của bất cứ ai, tôi đã chẳng ham. Chính anh em biết rõ: những gì cần thiết cho tôi và cho những người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp. Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ lại lời Chúa Giêsu đã dạy: cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:32-35). Muốn CHO thì phải CÓ, muốn CÓ thì phải LÀM. Rất lô-gích. Chắc chắn Thiên Chúa muốn chúng ta lao động hết SỨC (lực) để đáng CÔNG (trạng).

Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Mình muốn không bằng trời muốn. Người vô thần bị “đuối lý” ở điểm này. Họ bảo không có Tạo Hóa mà vẫn kêu trời khi gặp “sự cố”. Mâu thuẫn! Còn với các Kitô hữu, không gì hơn là tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng đã nhắn nhủ: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy thì sinh nhiều hoa trái” (Ga 15:4-5). Thật vậy, không có Thiên Chúa thì chúng ta chẳng làm gì được ráo trọi (x. Ga 15:5). Vậy thì dại gì mà không tín thác? Tín thác là trao phó trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa, hoàn toàn để Ngài quan phòng và định liệu theo đúng Ý Ngài.

Trình thuật Mt 25:14-30 là dụ ngôn Những Yến Bạc (tương tự Lc 19:12-27), nói về Công Sức của mỗi người trong quá trình lao động cả đời.
Khi ông chủ sắp đi xa, ông liền gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi. Lập tức, người đã lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác. Còn người đã lãnh một yến thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ.

Sau một thời gian lâu dài, ông chủ trở về tính sổ và thanh toán với họ. Người đã lãnh năm yến đưa năm yến khác. Ông chủ khen là đầy tớ tài giỏi và trung thành, được giao ít mà anh đã trung thành thì ông hứa sẽ giao nhiều hơn. Người đã lãnh hai yến cũng đưa hai yến khác. Ông chủ cũng khen là đầy tớ tài giỏi và trung thành và hứa sẽ giao thêm. Cuối cùng, người đã lãnh một yến cũng tiến lại và nói: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy!”. Ông chủ lắc đầu rồi giải thích: “Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. Vì phàm ai đã có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi”.

Ai cũng có quỹ thời gian bằng nhau: 24 giờ/ngày. Không hơn hoặc kém một tích tắc nào. Vấn đề là chúng ta dùng khoảng thời gian đó làm gì. Chúa biết rõ ai như thế nào nên Ngài giao cho “phần việc” tương xứng. Vấn đề không phải là ít hay nhiều, giỏi hay dốt, tốt hay xấu, mà là chúng ta có nỗ lực hết sức để sinh lời hay không. Được nhiều thì PHẢI sinh lời nhiều, đừng tưởng được nhiều mà sung sướng, cứ ngồi rung đùi mà hưởng thụ. Nghĩ cho cùng, được giao nhiều mà lại thấy “nhột gáy” đấy. Đừng tưởng bở mà “chảnh”. Chẳng vậy mà người ta vẫn nói: “Ngu si hưởng thái bình”.

Đầu năm, đầu tháng, vui mừng đón Xuân, ăn Tết, nhưng đừng quên xem lại “phần việc” của mình để có thể kịp chấn chỉnh. Thật đáng sợ nếu phải nghe câu này của Chủ Nhân Giêsu khi Ngài trở lại tính sổ với chúng ta: “Tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 25:30).

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết nỗ lực hết sức với “phần việc” mà Ngài đã giao cho chúng con. Có thể chúng con không sinh lời gấp đôi, dù chúng con rất muốn, nhưng phần lời đó là do chính Ngài cho phép. Nhưng chúng con hứa sẽ cố gắng làm để sinh lời hết khả năng của chúng con, bắt đầu từ hôm nay, từ mùa Xuân này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

Ngụ ngôn DÊ

Ngụ ngôn là loại truyện được nhiều người ưa chuộng vì mang tính giáo dục cao. Người nổi tiếng về thể loại này là văn thi sĩ Jean de La Fontain (1621-1695, Pháp quốc), theo âm Việt ngữ gọi là Lã Phụng Tiên hoặc La Phụng Tiên. Ông có những truyện ngụ ngôn rất hay như Ve Sầu và Kiến, Quạ và Cáo, Cáo và Cò, Sói và Cừu, Ếch Muốn Lớn Bằng Bò, Rùa và Thỏ, Chuột Tỉnh và Chuột Đồng, Sư Tử và Muỗi, Sáo Mượn Lông Công, Cây Sồi và Cây Sậy, Lão Hà Tiện Mất Kho Báu,... Nhiều truyện phổ biến đến nỗi người ta quên tác giả, thậm chí còn tưởng là truyện của Việt Nam.

Tháng 4-2007, người ta đã làm một bộ phim nói về cuộc sống của ông và được phát hành tại Pháp, với tựa đề là “Jean de La Fontaine – Le Défi” (Jean de La Fontaine – Sự Thử thách). Ông có câu nói được coi là danh ngôn: “Không gì nguy hiểm hơn bạn bè ngu dốt. Tôi thà có kẻ thù khôn”. Ý tưởng “quái chiêu” thật, nhưng đúng đấy!

Năm Ất Mùi, năm con Dê, chúng ta xem lại mấy ngụ ngôn liên quan con vật này – không chỉ để vui Xuân, ăn tết, mà còn là dịp để ngẫm sự đời và xem lại cách sống của chính mình cho đúng Tôn Ý Thiên Chúa.

1. DÊ, CỪU và SÓI

Cừu là loài ăn cỏ, thường sống theo đàn lớn. Khi có Sói xuất hiện, Cừu luôn quen chạy tán loạn, mỗi con một nơi, thế nên Sói dễ bắt Cừu. Còn Dê là loài ăn cả cỏ và lá cây, thường sống theo bầy nhỏ, phàm ăn nhưng khéo leo trèo. Ở đâu có đàn Dê xuất hiện, chỉ một thời gian sau là cây cối bị trụi sạch lá. Khác với Cừu, khi Sói xuất hiện, Dê luôn đứng sát lại với nhauchĩa sừng ra phía ngoài khiến Sói khó bắt được Dê.

Người chăn cừu có kinh nghiệm thường thả bầy Dê vào đàn Cừu. Khi sống cùng với Dê, Cừu cũng thay đổi thói quen. Nếu Sói xuất hiện, Cừu không chạy tứ tung nữa, chúng tập trung lại quanh bầy Dê, do vậy mà Sói khó bắt được Cừu.

Một lần nọ, có một con Cừu lạc đàn lang thang trên đồng cỏ bị Sói bắt gặp. Sói liền phỉnh lừa Cừu rằng loài Sói vốn rất kính trọng loài Cừu vì Cừu không làm tổn hại tới cây cối, nhưng đối với loài Dê thì khác, tham lam và chuyên phá hoại cây cối. Sói đề nghị Cừu tránh xa Dê để chúng có thể tấn công Dê nhằm bảo vệ cây cối cũng như đồng cỏ cho Cừu. Cừu trở về nói với cả đàn Cừu biết, chúng thấy có lý nên quyết định tránh xa bầy Dê.

Khi Sói xuất hiện, đàn Cừu không còn ở gần bầy Dê nữa nên mạnh con nào con nấy lại bỏ chạy tán loạn theo bản năng, thế là Sói thoải mái vồ lấy Cừu mà ăn thịt.

SUY TƯ: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Một sự thật hiển nhiên. Tục ngữ cũng nói: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Vì ích kỷ, người ta thường chỉ trích và hiềm khích lẫn nhau, lúc đó chẳng ai có lợi, chỉ lợi cho kẻ xấu. Đục nước thì béo cò. Ngụ ngôn này khuyên chúng ta phải biết đoàn kết với nhau, muốn đoàn kết thì phải yêu thương nhau, không yêu thương nhau thì không thể đoàn kết.

Khi các kinh sư nói rằng Chúa Giêsu bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám, dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ và bị thần ô uế ám. Chúa Giêsu liền gọi họ đến, dùng dụ ngôn mà nói với họ: “Satan làm sao trừ Satan được? Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền; nhà nào tự chia rẽ, nhà ấy không thể vững. Vậy Satan mà chống Satan, Satan mà tự chia rẽ thì không thể tồn tại, nhưng đã tận số. Không ai vào nhà một người mạnh mà có thể cướp của được, nếu không trói người mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó” (Mc 3:24-27).

Đáng “quan tâm” nhất là câu kết của Chúa Giêsu: “Tôi bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời” (Mc 3:28-29).

2. DÊ ĐEN và DÊ TRẮNG

Một gia đình nông dân nọ có nuôi một đàn dê, trong đó có một chú Dê đen. Các con Dê trắng rất kiêu ngạo vì bộ lông trắng phau như tuyết, thường tỏ ra coi thường Dê đen, mô tả dê đen “giống như một kẻ nghèo hèn với chiếc áo bẩn thỉu”.

Ngay cả ông chủ cũng coi thường Dê đen, ông ta chỉ cho Dê đen ăn những loại cỏ kém chất lượng, thỉnh thoảng còn đánh đập Dê đen vì “tội” tranh ăn với Dê trắng. Dê đen rất đau lòng khi phải sống những ngày tháng cô đơn vì bị mọi người phân biệt đối xử, ghét bỏxa lánh.

Một ngày đầu Xuân, cả đàn dê cùng ra ngoài ăn cỏ, chúng đi rất xa. Đột nhiên trời đổ một trận mưa tuyết lớn, cả đàn đành nấp vào một bụi cây. Một lúc sau, xung quanh bụi cây đã phủ đầy tuyết trắng. Do tuyết dày nên cả đàn dê không sao ra được, chỉ còn cách ngồi chờ chủ đến cứu.

Ông chủ lên núi tìm đàn dê của mình, nhưng vì xung quanh toàn tuyết trắng, nên ông không sao phát hiện ra đàn dê ở đâu. May mắn thay, từ xa ông nhìn thấy có một đốm đen. Khi chạy tới, quả nhiên cả đàn dê đang bị kẹt ở đó, và đốm đen kia chính là Dê đen.

Ông chủ ôm lấy Dê đen và thốt lên: “May mà nhờ có mày, nếu không cả đàn đã chết cóng vì tuyết rồi”. Các con Dê trắng cũng ôm lấy Dê đen và cảm ơn rối rít.

SUY TƯ: Người ta thường nói: “Nhân sao, vật vậy”. Cuộc đời con người cũng tương tự. Mười ngón tay còn có ngón dài, ngón ngắn, huống chi “động vật cao cấp” là con người. Hằng tỷ tỷ chiếc lá mà không hề có hai chiếc lá giống nhau. Trong một nhóm, một hội đoàn, một tổ chức,... chắc chắn có người thế này, người thế nọ. Đừng đánh giá người khác về một phương diện nào đó, phải có tầm nhìn rộng và toàn diện, biết dùng người đúng với sở trường của họ, tìm cách để họ phát huy hết khả năng của họ. Ai cũng có sở trường và sở đoản. Không ai bất tài, vô dụng, cũng chẳng ai tài giỏi về mọi lĩnh vực. Ai cũng có biệt tài về một lĩnh vực nào đó. Nhân vô thập toàn. Đừng thiển cận, thành kiến hoặc cố chấp, có lúc hối không kịp. Tục ngữ nói: “Cười người hôm trước, hôm sau người cười”. Biết mình không biết mới là người biết!

Cuộc sống luôn cần tình yêu thương. Hãy yêu thương nhau khi còn sống. Hãy đối xử tốt với nhau khi còn khỏe mạnh. Đợi đến lúc người ta đau yếu hoặc chết rồi mới bày tỏ lòng yêu thương thì ích gì? Có rơi vài giọt nước mắt thì cũng vô ích, chỉ là “nước mắt cá sấu” mà thôi!

Dê trắng và Dê đen gợi nhớ chuyện hai người lên Đền Thờ cầu nguyện (Lc 18:10-14). Người Pha-ri-sêu tự cho mình là thánh thiện, khoe với Chúa và đề cao mình: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Chỉ biết nói vậy, không biết nói gì hơn. Thật nguy hiểm nếu chúng ta như người Pha-ri-sêu, vì chúng ta phạm tội ngay trong lời cầu nguyện. Cuối cùng, chỉ có người thu thuế được Thiên Chúa xót thương và tha thứ, dù tội lỗi ngập đầu. Chúa Giêsu nói rõ: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.

3. DÊ và SÓI

Một buổi sáng, Dê mẹ đi ra chợ mua thức ăn về cho gia đình chỉ có hai mẹ con. Dê mẹ bảo Dê con: “Trông nhà cẩn thận nhé, con trai!”. Vừa cẩn thận chốt kỹ cửa vừa dặn thêm: “Không cho bất kỳ ai vào, nếu họ không biết mật khẩu ‘Đả đảo Sói cùng tất cả các giống Sói!’, con nhé!”.

Một con Sói nấp gần đó nghe được “mật khẩu”. Ngay khi Dê mẹ vừa đi khuất, Sói phóng lại gõ cửa và nói nhẹ nhàng: “Đả đảo Sói cùng tất cả các giống Sói!”. Đúng là “mật khẩu” rồi, nhưng khi lén nhìn qua khe cửa, Dê con chỉ nhìn thấy một cái bóng lờ mờ đứng bên ngoài nên cảm thấy không an tâm. Dê Con bảo: “Cho tôi xem cái chân có trắng không, nếu không thì tôi không mở cửa cho vào đâu”.

Sói nào lại có chân trắng chứ? Thế là Sói già phải bỏ đi với cái bụng đói. Nhìn thấy Sói chạy vào rừng, Dê con tự nhủ: “Đừng bao giờ nghĩ là đã quá chắc chắn, cẩn thận thêm tí nữa cũng không thừa”.

SUY TƯ: Tục ngữ nói: “Cẩn tắc vô ưu”. Cẩn thận không bao giờ thừa. Chúng ta không nên đa nghi như Tào Tháo, nhìn ai cũng thấy khó tin, nhưng cũng đừng nhẹ dạ cả tin. Chúng ta cảnh giác, nhưng đừng thấy người khác hiền mà lợi dụng họ, cũng đừng xảo quyệt mà lừa đảo người khác.

Chúa Giêsu đã cảnh báo khá chi tiết: “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai” (Mt 7:15-20).

Thánh Gioan cũng nhắn nhủ chúng ta đừng nhẹ dạ cả tin: “Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4:1). Còn Thánh Phêrô cảnh báo mạnh hơn: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 pr 5:8).

Lạy Thiên Chúa Cha, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Tết Ất Mùi – 2015

 

CÂU ĐỐI TẾT

Ất Mùi đem đến cái hay, Giáp Ngọ đưa đi cái xấu
Năm Mới đón về hạnh phúc, Năm Cũ diệt hết ưu sầu

Chiều Ba Mươi, sẵn sàng tống cựu, quyết chừa tội lỗi, nguyện Chúa ban ơn tha thứ
Sáng Mồng Một, nô nức nghinh tân, thề sống nhân lành, cầu Ngài ghé mắt xót thương

Đức Chúa xót thương liên vạn đại
Tin Mừng truyền bá mãi thiên thu

Lòng không Thiên Chúa: Xuân không Tết
Sống chẳng nghĩa nhân: Tết chẳng Xuân

Mừng Tết đến, chúc muôn điều như ý
Đón Xuân về, cầu vạn sự thành công

Phúc ấm gia đình nhờ Đức Chúa
Tin Mừng cứu độ được truyền rao

Suốt năm qua, Chúa thương xót thứ tha mọi tội lỗi
Trọn năm mới, con quyết tâm tín thác một Chúa Trời

Tân niên hạnh phúc, mến thương đáo
Xuân nhật bình an, ân sủng lai

Tết đến bình an nhờ Thiên Chúa
Xuân về hạnh phúc với Thánh Gia

Tết Hồng Ân, xin trọn niềm Tin Mến
Xuân Thánh Đức, quyết chăm chỉ nguyện cầu

Thánh hóa gia đình trọn năm mới
Đồng tâm giáo xứ suốt tân niên

Thánh Luật, Giới Răn hằng bất biến
Hòa Bình, Công Lý mãi y nguyên

TRẦM THIÊN THU

Tết, Thập Giá và Sự Chết
Tết đang đến, Xuân đang về, chắc hẳn mọi người chộn rộn – dù ít hay nhiều. Đó là lẽ thường tình của con người. Nhưng Tết Nguyên Đán đặc biệt là hay trùng với Mùa Chay, đặc biệt hơn là ngày 30 Tết Ất Mùi (2015) lại là Thứ Tư Lễ Tro. Có lẽ Thiên Chúa đã cho Việt Nam lời nhắc nhở đặc biệt: Ăn Tết nhưng ĐỪNG QUÊN phận bụi tro của kiếp phàm nhân.
Ăn chay để hiệp thông với Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu Kitô. Cái chết của Ngài là ơn cứu độ của chúng ta. Đây là sự thật về cái chết của Ngài:
Cái chết của Chúa Giêsu là hoạt động yêu thương
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Nhiều Kitô hữu hiểu câu này và biết sức mạnh của câu này. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, đến nỗi bắt Con Ngài chết trên Thập Giá chuộc tội chúng ta, lòng thương xót quá đỗi kỳ lạ.
Cái chết của Chúa Giêsu làm chúng ta nhận biết tội lỗi
“Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành” (1 Pr 2:24). Chúa Giêsu nhận vác gánh nặng của chúng ta. Ngài chịu hình phạt vì tội lỗi của chúng ta.
Cái chết của Chúa Giêsu là lòng thương xót của Thiên Chúa
“Đức Giêsu cầu nguyện rằng: ‘Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm’. Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm” (Lc 23:34). Ngay trong khi chịu khổ nạn và hấp hối, Ngài vẫn nghĩ tới chúng ta. Ngài chịu đòn vọt, sỉ nhục, phỉ báng, nhưng Ngài vẫn tha thứ cho chúng ta. Lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn mọi tội lỗi của chúng ta. Điều đó dạy chúng ta phải tha thứ cho nhau như Chúa Giêsu đã làm.
Cái chết của Chúa Giêsu đem chúng ta trở về với Chúa Cha
“Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ! Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cõi trời. Như thế, Người tỏ lòng nhân hậu của Người đối với chúng ta trong Đức Kitô Giêsu, để biểu lộ cho các thế hệ mai sau được thấy ân sủng dồi dào phong phú của Người” (Ep 2:4-7). Chúa Cha muốn Chúa Con sống trên thế gian và chịu chết. Qua cái chết của Ngài, chúng ta được tái lập mối quan hệ với Thiên Chúa. Thiên Chúa hứa ban sự sống đời đời, lời hứa đó nhờ Máu của Chúa Giêsu đã đổ ra.
Cái chết của Chúa Giêsu chuyển thành sự phục sinh
“Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại. Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giêsu đã nói” (Lc 24:6-8). Chúa Giêsu phục sinh. Cái chết chỉ tạm thời. Vương quốc của Ngài ở trên trời. Chúng ta chờ mong ngày Chúa Giêsu quang lâm, ngày Ngài chiến thắng và hiển trị muôn đời.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

 

CUỐI NĂM

Cuối năm tản mạn đôi dòng
Như trải tấm lòng thao thức suy tư
Cuộc đời một khoảng-thực-hư
Giã từ năm cũ, đón chờ tân niên
Cuối năm chợt thấy mình điên
Không cười, chẳng khóc, mình ên âm thầm
Lặng ngồi như điếc, như câm
Giã từ năm cũ, đón Xuân mới về
Cuối năm suy nghĩ bộn bề
Hoa Mai lí lắc nở khoe sắc vàng
Bướm bay, én lượn dọc, ngang
Người người hớn hở vang vang nói, cười
Chợt thương người phải lệ rơi
Xuân về sao chẳng thấy vui, nặng sầu
Còn bao nhiêu kẻ khó nghèo
Có ai chia sẻ niềm đau nỗi đời?
Rộng lòng nhân ái, người ơi!
Đừng quên lãng những mảnh đời lầm than

TRẦM THIÊN THU

 

RẰM THÁNG CHẠP

Bốn mùa Chúa đổ hồng ân,
Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi (Tv 65:12)

Lưu ly Rằm tháng Chạp
Nắng chợt hiền dịu, trong suốt tựa pha-lê
Men lãng mạn ướp nỗi đam mê
Mọi người nao nức chờ Tết
Lưu ly Rằm tháng Chạp
Con Trăng cuối cùng của năm
Có ai cảm thấy chút lưu luyến gì chăng?
Năm cũ chia tay từ biệt
Cây Mai đã được trẩy lá hết
Những nụ xinh xanh mướt thật dễ thương
Xuân chưa đến mà ong, bướm đã lượn vòng
Khiến lòng người cũng thấy chộn rộn
Những nghĩ suy bừa bộn
Chật cả những ngày cuối năm
Bao mơ ước lặng thầm
Cứ miệt mài chảy dài vào hướng Tết
Xuân lạ thật!
Nam, phụ, lão, ấu đều chợt mừng vui
Dù Xuân chẳng bắt buộc ai
Nhưng đó là phép mầu của Thiên Chúa

TRẦM THIÊN THU

Hình tượng con Dê trong văn hóa
Năm 2015 là năm Ất Mùi, năm “cầm tinh” con Dê. Ất Mùi là sự kết hợp thứ 32 trong hệ thống đánh số Can Chi của người Á Đông, được kết hợp từ thiên can Ất (Mộc âm) và địa chi Mùi (Dê hoặc Cừu). Trong chu kỳ của lịch Trung quốc, nó xuất hiện sau năm Giáp Ngọ và trước năm Bính Thân.
Khi nói đến Dê – còn gọi là Dương hoặc Mùi, người ta không mấy thiện cảm, vì hình tượng Dê thường được dùng để ví von về những cái xấu. Tuy nhiên, trong các loài gia súc, Dê lại có ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị cao, thể hiện vai trò gần gũi mà quan trọng, tạo ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ, đa dạng, tích cực đối với đời sống văn hoá của quốc gia.
Trong 12 con giáp, Dê được xem là biểu tượng của tính ôn hòa, thuần hậu nhưng không kém phần nhanh trí. Dê là một trong những thần vật được người Ai Cập sùng bái vì sự đóng góp quan trọng của Dê đối với đời sống con người. Một số dân tộc còn dùng Dê làm vật tế thần. Người Ai Cập dùng dê dâng cho các ác thần để thay thế cho con người.
Theo văn hóa Đông phương, trong đó có Việt Nam, Dê thuộc “tam sinh, lục súc”. Tam sinh là ba thứ lễ vật đặc biệt để cúng tế thần thánh: dê, lợn và bò; lục súc là sáu gia súc thông dụng nhất: dê, gà, chó, lợn, ngựa và trâu. Dê là một trong 12 con giáp, đại diện cho “chi” Mùi. Còn theo văn hóa Tây phương, Dê nằm trong 12 cung hoàng đạo với hình tượng Ma Kết. Dê còn xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp và Kitô giáo.
Dê là biểu tượng phong phú mà phức tạp: Sừng dê cái biểu tượng sức sản sinh phồn thịnh, Dê đực tượng trưng cho mãnh lực và tính dục – vì Dê vốn tràn đầy sinh lực tình dục. Một con dê đực có thể giao phối với cả đàn dê cái. Nếu người đàn ông dục lực mạnh, dâm đãng, người Tây phương gọi họ là Satyre (bởi danh từ “satyriasis” là chứng cuồng dâm). Còn người Việt gọi họ là người có máu dê, là dê gái, dê xồm, hoặc dê cụ.

VĂN HÓA ĐÔNG PHƯƠNG
Văn hóa Đông phương có 12 con giáp (Tý, Sửu, Dần, Mẹo,…). Dê là con giáp thứ 8, “chi” Mùi. Dê còn là một trong 12 con vật được đặt tên cho 12 giờ khắc. Giờ Mùi kéo dài từ 14 giờ tới 16 giờ (chênh lệch một chút tùy mùa – Giờ Tý bắt đầu từ 12 giờ đêm), một giờ quan trọng, gọi là “giờ hoàng đạo”. Đó là khoảng thời gian mở đầu của buổi chiều, con người đã ăn uống và ngủ nghỉ, lúc này đang sung sức để tiếp tục làm việc.
Theo phong tục dân gian, chỉ mang tính dị đoan, khi khởi sự việc gì, ngoài việc chọn “ngày lành, tháng tốt”, người ta còn phải chọn “giờ tốt”. Xuất hành, khởi công xây dựng, khai trương cửa hàng, giờ đón dâu, giờ đưa đám ma, hạ huyệt,... đều phải chọn “giờ hoàng đạo”. Trừ trường hợp đặc biệt: Sắp đến giờ tàu hoặc xe xuất phát, nếu đợi giờ tốt có thể bị lỡ kế hoạch; hoặc có giờ tốt, ngày tốt, nhưng thời tiết rất xấu, chưa khởi công được... Quả thật, nếu quá câu nệ vào “giờ tốt” nhiều khi lại hỏng việc. Có hai thứ chắc chắn chúng ta không thể chủ động: Lúc sinh và lúc chết. Nếu chủ động, tại sao không chọn “giờ tốt” mà sinh hoặc chết? Như vậy, việc chọn “giờ tốt” có phải là dị đoan không? Nói chung, giờ nào cũng tốt cả, xấu hay tốt là do mình!
Đây là bảng tính giờ hoàng đạo, tham khảo chủ yếu để biết cho vui thôi!

Bảng trên đây cho biết ngày Dần hoặc ngày Thân, và giờ hoàng đạo ở các giờ: Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất.
Trung quốc có nhiều điển tích gắn liền với con dê, nổi tiếng là điển tích “Dương xa” (xe dê kéo). Tấn Võ Đế của thường dùng xe dê kéo đi mỗi đêm trong cung cấm, hễ dê dừng ở cửa phòng cung phi nào thì đêm ấy nhà vua sẽ ngủ với cung phi đó. Vì thế, hàng trăm cung phi tìm lá dâu non (loại lá dê thích) đặt trước cửa phòng mỗi đêm với hy vọng xe dê sẽ dừng lại tại cửa phòng mình. Nếu dê không dừng lại, tức là không được vua ghé vào, cung nữ sẽ tủi phận vô duyên, cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo,... Điều này được phản ánh qua tác phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc” (Lời Than của Cung Nữ, gồm 356 câu chữ Nôm, thể thơ song thất lục bát) của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798):

Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ
Dấu dương xa đám cỏ quanh co

Một điển tích khác cũng khá nổi bật, gắn liền với Tô Vũ, trung thần của nhà Hán, đi sứ sang đất Hung Nô, bị người Thuyền Vu giữ không cho về. Tô Vũ bị dụ dỗ đầu hàng nhưng quyết không chịu. Thuyền Vu nổi giận đem Tô Vũ bỏ vào hang núi cho chết đói, nhưng Tô Vũ vẫn sống nhờ uống sương đọng trên vách đá. Sau đó, Thuyền Vu lại đẩy Tô Vũ đi chăn dê ở Bắc Hải, nói rằng khi nào dê đực đẻ thì mới tha về nước. Khi nhà Hán đánh bại Hung Nô, Tô Vũ mới được tha về. Thừa tướng Bách Lý Hề là tướng nước Ngu. Khi nước Ngu bị nhà Tấn cướp, Bá Lý Hề lưu lạc sang nước Sở làm kẻ chăn dê. Vua nước Tần là Mục Công biết Bá Lý Hề là người tài giỏi, sai người mang 5 bộ da dê chuộc về làm tướng quốc. Sau đó, Bá lý Hề giúp Mục Công dựng được cơ nghiệp lớn.
Khi Bá Lý Hề lên đường lập công danh, người vợ nghèo đưa tiễn, đến lúc làm tướng quốc mải say mê công danh quên người vợ nghèo. Nàng lên đường đi tìm chồng. Nhân Bá Lý Hề bày tiệc có ca nữ múa hầu, nàng liền cải trang làm một ca nữ vào trước tiệc ôm đàn hát một khúc:

Bá Lý Hề năm bộ da dê,
Nhớ ngày chàng ra đi, giết con gà mái ấp, thổi nồi cơm gạo vàng.
Chừ nay được giàu sang, quên ta sao?
Bá Lý Hề nghe câu hát ngạc nhiên nhìn kỹ thì nhận ra là người vợ thuở hàn vi, hai vợ chồng lại đoàn tụ.
Ở Việt Nam, trò chơi “bịt mắt bắt dê” rất phổ biến, trẻ em ngày xưa thường thích chơi trò này vì vui nhộn và hồn nhiên. Còn đối với các cô cậu tuổi mới lớn, họ chơi trò này là dịp để tiếp cận, “đụng chạm” thể lý, nhưng vẫn với ý trong sáng, vui đùa với nhau mà thôi. Vì thế, ca dao nói rằng:
Giả vờ bịt mắt bắt dê
Để cho cô cậu “dễ bề” với nhau
Trong tác phẩm “Hịch Tướng Sĩ”, Hưng Đạo Vương cũng có nhắc đến “con dê”, có ý nói rằng bọn sứ giả Mông Cổ chỉ như loài dê loài chó mà lại hống hách, dương dương tự đắc. Ông mỉa mai:
Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình
Đem thân dê chó mà ngạo mạn tể tướng

VĂN HÓA TÂY PHƯƠNG
Theo văn hóa Tây phương, Dê là một trong 12 biểu tượng của cung hoàng đạo. Trong thể loại bi kịch, một thể loại văn học lớn của nhân loại, tiếng Hy Lạp có nguồn gốc từ tragos (con dê đực). Biểu tượng của Ma Kết có hình ảnh của chữ V cho đầu của một con dê biển, bởi vì chòm sao Ma Kết được tìm thấy ở phía Nam trên bầu trời hoàng đạo. Cũng có ý kiến cho rằng biểu tượng này diễn tả một con dê đang khuỵu gối. Chòm sao này thường được mô tả bằng hình con dê có đuôi cá. Ma Kết đôi khi được ví như là một con dê biển, đôi khi là một con dê trên cạn.
Dê là hình tượng của Dionyos. Dionysus là ai? Dionysus là Thần Rượu Nho trong thần thoại Hy Lạp, tức là con trai của thần Zeus (Dớt). Công chúa người trần tên Semele có thai với Thần Zeus, và nàng đã đòi hỏi Thần Zeus bày tỏ sức mạnh thật của mình. Thần Zeus thuyết phục nàng không nên biết vì nàng là người trần, nhưng nàng không chịu, Thần Zeus liền lộ rõ sức mạnh và quyền uy của mình, nàng công chúa không chịu nổi sấm sét kinh thiên động địa nên đã chết. Khi nàng chết, Thần Zeus kịp thời đưa đứa bé ra khỏi bụng nàng, rồi khâu vào đùi của mình. Một thời gian sau, Dionysus được sinh ra từ đùi của Thần Zeus.
Công chúa Semele làm vậy vì Héra xúi giục. Để tránh cơn ghen tuông của Héra, Thần Zeus đã đem đứa bé về một hòn đảo, được các nàng tiên chăm sóc và được nuôi lớn. Cậu bé được đặt tên là Dionysus, sống vui vẻ giữa các nàng tiên cho đến khi thành một chàng trai khoẻ mạnh.
Một hôm, Dionysus đi hái nho về, cho tất cả vào chậu rồi để ở chân tường. Khi vói tay lên lấy đồ ở trên giá, chàng vô tình giẫm vào chậu nho. Chàng không biết làm thế nào, liền để nó lại trong hang rồi ra về. Vài ngày sau, chàng quay trở lại thì thấy có một mùi rất thơm toả ra từ chậu nho bị giẫm nát hôm trước. Khi uống nước đó vào thì có cảm giác sảng khoái và rất ngon. Dionysus rất thích thứ nước đó và đặt tên nó là rượu nho. Chàng quyết định sẽ làm cho cả thế giới phải tôn vinh nó. Trải qua bao thăng trầm và bị hiểu lầm, chàng đã thu nạp được đệ tử, được cha chàng (Thần Zeus) đón về đỉnh Olympus và trở thành một trong 12 vị thần [gồm Thần Zeus, Thần Héra, Thần Poseidon, Thần Demeter, Thần Athena, Thần Apollo, Thần Artemis, Thần Ares, Thần Aphrodite, Thần Hephaeatus, Thần Hermes, và Thần Dionysus]. Thần Dionysus thay vị trí của Thần Hestia. Và được Thần Zeus đồng ý, Thần Dionysus đón mẹ từ địa ngục lên đỉnh Olympus.
Theo một truyền thuyết khác, khi Thần Pan (Thần Dê) bị quái vật Typhon tấn công, Thần Pan đã trầm mình xuống sông Nin, phần phía trên mặt nước vẫn là dê, nhưng phần ở dưới nước đã hóa thành cá. Trong thần thoại Hy Lạp, dê đực còn là hình tượng của Thần Pan, thủy tổ của mục đồng (ngày xưa là người chăn dê). Thần Pan sống trên núi cao, thổi sáo làm bằng ống sậy để tưởng nhớ giọng nói của người yêu đã lẫn hồn vào lau lách. Thần thoại Hy Lạp không nói đến Dê biển mà chỉ nói đến Thần Pan là á thần (bán thần), có nửa trên là người và nửa dưới là dê. Thần Pan là con của Thần Hermes và mộ Nữ Thần Nymph (Thần Rừng). Theo văn hóa Babylon, Capricorn hoặc Dê biển, hình ảnh của Nam Thần Ea đầy quyền lực của xứ Babylon. Thần Ea có nửa cơ thể dưới là cá, đầu và mình là dê. Ban đêm, Thần Ea sống trong đại dương, ngày lại ngoi lên để canh giữ đất liền.
Thời La Mã cổ đại, trong lễ hội Lupercalia ngày 15 tháng Giêng hàng năm, các tư tế dâng thần linh một con dê và một con chó để cầu mưa thuận gió hòa và cầu xin tha tội cho mọi người. Da dê sau đó được chia ra từng mảnh nhỏ để các chàng trai mang trong mình làm “lá bùa” giúp cho mùa màng tươi tốt. Phụ nữ La Mã tìm mọi cách để có thể chạm tay vào miếng da dê tế thần, vì họ tin rằng làm vậy sẽ sinh nở dễ dàng. Do đó, sau lễ hội Lupercania, nhiều đôi trai gái nên duyên nợ nhờ miếng da dê “kỳ diệu” đó.
Theo thần thoại Bắc Âu, Thần Thor cưỡi trên một cỗ xe được kéo bởi hai con dê đực, mỗi khi nghe tiếng sấm, người Bắc Âu cổ xưa cho rằng Thần Thor đang cưỡi cỗ xe dê đến. Khi Thần Thor đến đấu trường, tên khổng lồ bằng đá nhưng có trái tim nhát gan liền bỏ chạy. Thần Thor quăng búa sét đánh Hrungnir, còn tên khổng lồ quăng một cặp sừng lên đánh Thần Thor. Chiếc búa đụng phải cái sừng nên bị văng mất, nhưng một mảnh vỡ của cái sừng lại đánh trúng đầu Thần Thor.
Tài liệu cổ xưa nhất về các nghi thức tôn giáo đối với các vị thần được tìm thấy trong các bài thơ Homer ca tụng Thần Hermes. Sự sùng bái 12 vị thần đỉnh Olympus của người Hy Lạp có thể bắt nguồn từ thế kỷ thứ 6 trước công nguyên ở thành Athens, hầu như không có tiền lệ vào thời kỳ văn hóa Mycenae. Việc tôn thờ 12 vị thần đỉnh Olympus thường được xác định bắt đầu thời gian Pesistratos lên nhiếp chính ở thành Athens, vào năm 522-521 trước công nguyên.
Thần thoại là những câu chuyện huyền thoại nhưng thú vị, thu hút cả trẻ em lẫn người lớn.

CHUYỆN TUỔI MÙI
Theo sử sách Trung Quốc, Dê là con vật dịu dàng, ôn hòa. Người tuổi Mùi vui vẻ, chân thật, thân thiết, sâu sắc, tốt bụng, dễ động lòng trắc ẩn với nỗi bất hạnh của người khác. Do đó, họ cũng được người khác quan tâm. Nếu được phát huy hết sở trường, người tuổi Mùi có tâm hồn nghệ sĩ, có năng khiếu thẩm mỹ, có thể trở thành những nghệ nhân có tính sáng tạo cao. Ngược lại, nếu không có những thành công về sự nghiệp, người tuổi Mùi có thể trở thành người bi quan, chán nản, yếm thế, vì họ là dạng người đa sầu đa cảm.
Tính cách của người tuổi Mùi hiền lành, bẽn lẽn, dễ mắc cở, nhưng hòa đồng. Họ hướng nội, sống khép kín, không thích chống đối, không thích đấu tranh, không muốn “đụng chạm”. Tuy nhiên, người tuổi Mùi vẫn gặp may mắn trong sự nghiệp và tài chính.
Người tuổi Mùi không thích bị bó buộc, thích cuộc sống phẳng lặng. Thái độ làm việc của người tuổi Mùi có thể khiến người ta khó chịu, nhưng biết sao được vì đó là thuộc tính của họ. Khi gấp, người khác có thể cuống cuồng, nhưng người tuổi Mùi vẫn từ từ, thản nhiên. Với đặc tính ôn hòa, người tuổi Mùi có thể kết bạn với những người mạnh mẽ, biết “khống chế” họ. Họ cần ở những nơi có nội quy nghiêm khắc để phát huy hết sở trường.
Năm Mùi nói chuyện cho vui
Mong con Dê chẳng ngậm ngùi suốt năm

TRẦM THIÊN THU
Tết Ất Mùi – 2015

 

DongCongNet - February 18, 2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)