Tháng 10 : Kính Đức Mẹ Mân Côi 

Ý cầu nguyện Tháng 10-2015 

   + Ý chung: Cầu xin loại trừ được nạn buôn bán người là một hình thức hiện đại của chế độ nô lệ. 

   + Ý truyền giáo: Cầu cho tinh thần truyền giáo nơi các cộng đoàn Kitô giáo tại châu Á, biết rao giảng Tin Mừng cho những người vẫn đang mong đợi.

♥ † ♥

 

Tháng Mười thắm sắc Mân Côi

Kính mừng Mẹ Đức Chúa Trời hiển vinh

Hoa lòng thắm sắc Đức tin

Xin dâng kính Mẹ Đồng Trinh từng ngày

Tháng Mười được dành để tôn kính Đức Mẹ Mân Côi. Theo miêu tả của tu sĩ Alan de la Roch, Dòng Đa-minh (thế kỷ XV), Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đa-minh năm 1206 sau khi thánh nhân cầu nguyện và sám hối vì đã không thành công trong việc chống tà thuyết Albigensianism (*). Đức Mẹ đã khen ngài về sự chiến đấu anh dũng của ngài chống lại tà thuyết và trao cho ngài Chuỗi Mân Côi làm vũ khí phi thường, đồng thời giải thích cách sử dụng và hiệu quả của Chuỗi Mân Côi. Đức Mẹ bảo thánh Đa-minh rao truyền Chuỗi Mân Côi cho những người khác. 

Kinh Mân Côi có nguồn gốc từ chính Thiên Chúa, từ Kinh thánh, và từ Giáo hội. Không lạ gì khi Chuỗi Mân Côi gần gũi với Đức Mẹ và mạnh mẽ đối với Nước Trời. 

Rất nhiều người đã được ơn từ việc lần Chuỗi Mân Côi. Thánh GH Gioan Phaolô II cũng thường xuyên lần Chuỗi Mân Côi những khi ngài đi bách bộ. Nếu xem lại lịch sử, chúng ta thấy có nhiều chiến thắng nhờ Chuỗi Mân Côi. Truyền thống ban đầu đã có chiến thắng tà thuyết Anbi tại trận Muret năm 1213 nhờ Chuỗi Mân Côi. 

Dù không muốn chấp nhận truyền thống đó thì cũng phải chân nhận rằng Thánh GH Piô V đã góp phần chiến thắng đội quân Thổ Nhĩ Kỳ vào Chúa Nhật đầu tháng 10 năm 1571. Ngay thời điểm đó có Hội Mân Côi (Rosary Confraternities) tại Rôma và những nơi khác. Do đó, Thánh GH Piô V đã truyền phải tôn kính Kinh Mân Côi vào chính ngày đó. 

Năm 1573, ĐGH Grêgôriô XIII công bố việc mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi tại các nhà thờ có bàn thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Năm 1671, ĐGH Clêmentô X mở rộng lễ này trên toàn cõi nước Tây Ban Nha. Chiến thắng anh dũng lần thứ hai trên người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã có lần (cũng như người Nga) đe dọa phá hủy văn minh Kitô giáo, xảy ra vào ngày 5-8-1716, khi hoàng tử Eugene đánh bại họ tại Peterwardein (Hungary). Do đó, ĐGH Clêmentô XI mở rộng lễ Đức Mẹ Mân Côi trong toàn Giáo hội. 

Lm William G. Most đã viết trong cuốn “Đức Maria trong Đời sống” (Mary in Our Lives): “Ngày nay, các mối nguy hiểm còn lớn hơn người Thổ Nhĩ Kỳ, không chỉ đe dọa Kitô giáo mà đe dọa cả nền văn minh, Đức Mẹ thúc giục chúng ta trở lại với Chuỗi Mân Côi để được giúp đỡ. Nếu nhân loại đủ số người làm vậy, đồng thời thực hiện các điều kiện khác mà Đức Mẹ đã đưa ra, chúng ta có lý do chính đáng để tin rằng chúng ta sẽ thoát khỏi mọi mối nguy hiểm”

Nhưng thiết nghĩ chúng ta cần tích cực lần Chuỗi Mân Côi hàng ngày không vì mong được lợi cho mình mà vì lòng yêu mến chân thành. Người Việt Nam có câu: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Cứ hành động bằng tất cả niềm tin, cậy, mến (ba nhân đức đối thần) thì chúng ta không bao giờ phải thất vọng. Kinh Mân Côi là chu kỳ của cuộc đời chúng ta, với đủ “sắc màu” quyện vào nhau: Vui, Thương, Mừng, Sáng.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết yêu mến Đức Mẹ. Lạy Mẹ, xin dẫn chúng con đến với Chúa. Chúng con xin trao phó mọi sự cho Thiên Chúa và Đức Mẹ, xin quan phòng và lo liệu cho chúng con, bây giờ và trong giờ lâm tử. Amen.

TRẦM THIÊN THU 

(*) Albigensianism: Anbi giáo, một phong trào Kitô giáo được coi là hậu duệ thời trung cổ của Mani giáo (Manichaeism – xem chú thích bên dưới) ở miền Nam nước Pháp hồi thế kỷ XII và XIII, có đặc tính của thuyết nhị nguyên (đồng hiện hữu của hai quy luật đối nghịch là Thiện và Ác). Thuyết này bị kết án là tà thuyết thời Tòa án Dị giáo (Inquisition). 

Manichaeism: Mani giáo, hệ thống tôn giáo nhị nguyên do tiên tri Manes (khoảng 216–276) sáng lập ở Ba Tư hồi thế kỷ III, dựa trên vụ xung đột nguyên thủy giữa ánh sáng và bóng tối, kết hợp với các yếu tố của Kitô giáo ngộ đạo (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism), Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), và các yếu tố ngoại giáo khác. Thuyết này bị chống đối từ phía Hoàng đế La mã, các triết gia phái tân Platon (Neo-Platonist) và các Kitô hữu chính thống.

 

Cận Vệ Thiêng Liêng

2 tháng 10 kính các thiên thần bản mạnh

Về phương diện xã hội, với những người mang thân phận “phó thường dân” như đa số chúng ta, chắc chắn chẳng bao giờ có cận vệ. Nhưng con các ông bà “lớn” (vua chúa, tổng thống, thủ tướng, đại gia, mỹ nhân,…), chứ nói chi chính các ông bà “lớn”, luôn có cận vệ đi theo để “hộ thủ”, bảo vệ mọi nơi và mọi lúc. Thậm chí cận vệ còn “được” (phải) nếm trước các món ăn để bảo đảm không có độc tố, rồi chủ nhân mới dùng. Làm cận vệ cũng sướng đấy chứ!
Về phương diện tâm linh, dù chúng ta chỉ là tội nhân khốn kiếp, là bụi tro chẳng đáng gì, thế mà Thiên Chúa đã “bận tâm” vì chúng ta đấy (x. Tv 8:5). Thật vậy, mỗi người trong chúng ta đều có một “cận vệ” trung thành tuyệt đối. Cận vệ đó là bổn mạng của mỗi chúng ta, là Thiên Thần Bản Mệnh (Bản là Bổn, Mệnh là Mạng), và còn mệnh danh là Thiên Thần Hộ Thủ, là người “cận vệ thiêng liêng” của chúng ta. Thật lạ, thiên thần hơn hẳn chúng ta mà lại làm cận vệ cho chúng ta. Tại sao? Vì các ngài vâng lời Thiên Chúa, Đấng luôn “tội nghiệp” (thương xót) chúng ta.
Ngày xưa, Thiên Chúa đã hứa ban Thiên Thần Hộ Thủ cho dân Ít-ra-en: “Ta sai thiên sứ đi trước ngươi, để giữ gìn ngươi khi đi đường, và đưa ngươi vào nơi Ta đã dọn sẵn. Trước mặt người, hãy ý tứ nghe lời người. ĐỪNG làm cho người phải chịu cay đắng; người sẽ KHÔNG THA LỖI cho các ngươi, vì Danh Ta ngự trong người. Nếu thực sự ngươi nghe lời người, nếu ngươi làm mọi điều Ta nói, Ta sẽ trở thành kẻ thù của kẻ thù ngươi, đối phương của đối phương ngươi” (Xh 23:20-22).
Vừa sinh ra, chúng ta có ngay bổn mạng là Thiên Thần Bản Mệnh do Thiên Chúa trao ban, rồi sau đó mới có một hoặc hai vị thánh bổn mạng – theo ý cha mẹ chọn. Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh đã xác định: “Thiên Chúa truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Tv 91:11-12). Các thiên thần là ai? Là các vị hiện hữu nhưng vô hình, là loài thiêng liêng, người trần mắt tục chúng ta không thể nhìn thấy. Tác giả Thánh Vịnh xác định bằng lời mời gọi: “Chúc tụng Chúa đi, toàn thể thiên binh hằng hầu cận và tuân hành thánh ý” (Tv 102:21). Tất nhiên chúng ta cũng phải thực hành như vậy!
Chúa Giêsu cũng đã từng cảnh báo chúng ta khi Ngài nhắc tới chư vị thiên thần: “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 18:10).
Chuyện kể rằng...
Có một cha sở miền quê bên nước Pháp, đó là một xứ đạo hẻo lánh. Một đêm kia, được tin một người bệnh nặng đang lâm cơn hấp hối, muốn xin linh mục tới xức dầu. Trời dù khuya, nhưng vì bổn phận mục tử mà ngài ra đi làm nhiệm vụ của mình. Từ nhà xứ tới nhà người bệnh phải băng qua một khu rừng vắng.
Khi tới khu rừng thì trời đã rất tối, ngài ngập ngừng, nhưng nghĩ lại và nhớ tới Thiên Thần Bản Mệnh. Ngài cầu xin Thiên Thần cùng đi với mình. Rồi ngài mạnh dạn đi xức dầu cho người bệnh để kịp trong lúc họ hấp hối.
Tuy nhiên, một tên cướp xông ra đòi cướp của. Hắn thấy nạn nhân không có tiền bạc nên muốn giết. Nạn nhân nói mình không có tiền bạc, chỉ là linh mục và đang đi làm nhiệm vụ. Nghe vậy, tên cướp cho linh mục đi.
Mười năm sau, có một tử tù sắp bị hành quyết. Anh ta rất khó tính và không chịu nghe bất cứ một ai. Người ta báo cho vị linh mục đã băng qua khu rừng năm xưa. Linh mục đã tới gặp tử tội vì lòng nhân từ. Vừa thấy linh mục, người tử tù đã phản ứng mạnh, muốn xua đuổi, không muốn gặp linh mục, nhưng bỗng anh ta ngừng lại và nói với linh mục: “Có phải cha là cha sở họ X không?”.
Linh mục ngạc nhiên và nói rằng 10 năm trước có làm cha sở ở họ đạo đó, nhưng bây giờ tôi đã đi nơi khác. Thì ra người tử tù lúc đó chính là tên cướp giết người đang lẩn trốn ở khu rừng mà linh mục đi qua năm xưa. Hắn định sẽ giết bất cứ ai nhìn thấy hắn, rồi hắn sẽ giết lấy quần áo của nạn nhân mà hóa trang để trốn thoát lưới pháp luật.
Linh mục kể lại: “Lúc đó hắn muốn giết tôi, nhưng hắn nói hắn thấy bên cạnh có người thanh niên lực lưỡng. Và thấy không thể thắng nổi, hắn đã để cho tôi và người thanh niên kia đi bình an, vô sự. Nghe người tử tù thuật lại, tôi ngạc nhiên và sực nhớ lại lúc đó tôi dừng lại để cầu nguyện xin Thiên thần Bản Mệnh giúp đỡ. Thế thì người thanh niên mà người tử tù nhìn thấy chính là Thiên Thần Bản Mệnh của tôi đã giữ gìn tôi”.
Nguyện xin các Thiên Thần Bản Mệnh giúp chúng ta luôn biết hướng thiện, sống thanh thoát và vâng theo Thánh Ý Chúa cho đến hơi thở cuối cùng... Xin các Thiên Thần Bản Mệnh tha thứ vì chúng ta đã quên các ngài!
Đời trần gian là chuyến vượt biển động
Xin giúp con luôn vững chí, can trường
Dẫu vui buồn, xin hướng dẫn, đỡ nâng
Thiên Thần ơi! Xin cầu thay nguyện giúp!
Dưới đây là “Kinh Đức Thánh Thiên Thần”, ngày xưa thường đọc hằng ngày nhưng nay không thấy đọc nữa. Kinh này ngắn gọn nhưng đầy đủ và thâm thúy, nhắc nhở chúng ta nhiều điều trong cuộc sống. Có thể nhiều người đã “quên” rồi, có thể giới trẻ ngày nay chưa chắc biết kinh này.

Kinh ĐỨC THÁNH THIÊN THẦN
Con thân Đức Thánh Thiên Thần, tính thiêng liêng sáng láng, con cám ơn Đức Thánh Thiên Thần giữ con từ thuở mới sinh đến nay cho khỏi tay quỷ. Đức Thánh Thiên Thần là thầy con, mở lòng cho con biết được đạo thánh Chúa trời đất. Vì vậy, con cầu cùng Đức Thánh Thiên Thần giữ con ban ngày, xem con ban đêm, cho đến trọn đời, kẻo ma quỷ dữ cám dỗ được con. Con lạy Đức Thánh Thiên Thần khấn nguyện cho con thông minh sáng láng, giữ mười sự răn, chừa mọi sự dữ, đến khi con lâm chung, xin cùng Đức Chúa Trời cho linh hồn con được lên ở cùng Đức Chúa Trời và Thánh Thiên Thần hằng sống vui vẻ đời đời chẳng cùng. Amen.

Xin “mở ngoặc nhỏ” để lưu ý: Đức Thánh Thiên Thần hoặc Thánh Thiên Thần – tức là Thiên Thần, ở đây muốn nói Thiên Thần Bản Mệnh hoặc Thiên Thần Hộ Thủ, chứ không phải Thánh Thần – Ngôi Ba Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, Đức Chúa Thánh Thần, Đức Thánh Linh.

TRẦM THIÊN THU
Lễ các Thiên Thần Bản Mệnh, 2-10-2015

 

Kinh Mai Côi cứu thoát thế giới

KinhMaiCoi CuuThoat TheGioiKhi lần Chuỗi Mai Côi, tôi bắt đầu hiểu rằng lòng sùng kính này rất mạnh mẽ. Tôi cũng hiểu rằng Kinh Mai Côi có thể chữa lành các bệnh tật và chữa lành cả thế giới.
Để hiểu chữa lành như thế nào, trước tiên chúng ta phải biết bệnh của mình như thế nào.
Tôi gọi bệnh tật là “vết thương lớn”. Mỗi chúng ta đến thế gian này đều được “lập trình” để cần có và mong đợi một tình yêu trọn vẹn vô điều kiện. Đó là cách chúng ta được dựng nên, được nối kết. Chúng ta khao khát tình yêu. Chúng ta cần được ấp ủ trong tình yêu trọn vẹn và hoàn hảo.
Ngay từ khi chúng ta còn trong lòng mẹ, đó là tình yêu chúng ta khao khát và là sự âu yếm chúng ta cần thiết. Về lý tưởng, đứa bé được thai nghén trong sự nồng ấm, tình yêu thương, sự an toàn và ân sủng của cuộc hôn nhân thuần túy và được thánh hóa bằng bí tích. Người chồng và người vợ gặp nhau trong hôn nhân và nhờ ơn Chúa mà nảy sinh sự sống của đứa bé.
Trong chín tháng, đứa bé được nuôi dưỡng trong bụng mẹ. Đây là thời gian trải nghiệm tình yêu thương của người mẹ mà không thể nói bằng ngôn từ. Người mẹ cảm thấy tự tin và hạnh phúc khi mang thai. Người mẹ nên tập trung vào sự chú ý và chăm sóc cho đứa bé phát triển trong bụng mình. Đây là chín tháng nghỉ ngơi, phát triển, nuôi dưỡng và chín muồi trong tình yêu thương.
Đứa bé sinh ra liền nối kết với nhũ hoa của người mẹ. Mẹ nhìn con và con nhìn mẹ khi con bú sữa mẹ, tiếp nhận dinh dưỡng từ mẹ, nối kết với tình yêu thương trọn vẹn và vô điều kiện của người mẹ.
Rất dễ thương. Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Đứa con có thể được thai nghén khi cha mẹ say rượu hoặc “phê” ma túy, qua tình trạng gian dâm hoặc thông dâm, thậm chí là tình trạng bị hãm hiếp. Khoảnh khắc đầu đời của đứa bé ở trong hoàn cảnh của bạo lực, hãm hiếp hoặc nghiện ngập. Chín tháng thai nghén có thể là thời gian người mẹ đầy nỗi lo sợ, ghét bào thai, muốn phá thai, và muốn chối bỏ đứa con. Điều này có thể có sự từ chối theo sau đó, không còn nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, làm ngơ đứa con và làm ngơ tiếng khóc của nó. Tuổi thơ có thể chịu sự ghét bỏ, bị bạo lực, bị lạm dụng, sợ hãi và bị khước từ.
Các áp lực xã hội khác cũng xen vào. Phụ nữ được biết rằng đứa con là gánh nặng. Họ trở nên chai sạn đối với những đứa con qua việc sử dụng biện pháp tránh thai nhân tạo và sự phá thai. Họ không muốn chăm sóc đứa trẻ, họ giao con cho người khác chăm sóc vì hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn,… hoặc vì lý do nào đó.
Các vấn đề này rất phức tạp, dẫn tới tình trạng sa sút làm mẹ trong xã hội. Ở đâu có sự sa sút này thì ở đó có sự khao khát tình mẫu tử và tạo nên “vết thương người mẹ” trong tâm hồn nhiều người – nhiều đến nỗi ngày nay xuất hiện “đại dịch” trong xã hội toàn cầu.
Như vậy điều gì xảy ra khi đứa trẻ không được hưởng tình mẫu tử trọn vẹn? Họ có vấn đề trong việc nhận biết tình yêu thực sự là gì. Họ không bao giờ có nền tảng về kinh nghiệm sống và không biết cách yêu thương. Họ không biết cách liên hệ với người khác. Khi không biết cách yêu thương, người ta như người muốn đọc truyện của văn hào Shakespeare mà lại không hề biết mẫu tự nào.
Do đó, ở mức độ rộng lớn trong xã hội của chúng ta, người ta phải biết cách yêu thương sâu sắc, thuần túy và thực tế. Người ta phải mày mò tìm cách yêu thương ngay trong hoàn cảnh khó khăn. Khi yêu thương không đúng thì chuyện ân ái cũng sai trái. Như vậy, họ hiểu lầm nhiều về hôn nhân, về tình dục, về giới tính, về nam giới và nữ giới là gì. Hãy nhìn xung quanh sẽ thấy: thanh niên không biết cách hò hẹn với bạn gái, phụ nữ trẻ trở nên phức tạp và hỗn tạp, cả nam và nữ tuyên bố rằng họ là người đồng giới hoặc chuyển giới tính, nam và nữ ly hôn, tái hôn, rồi lại ly hôn, xem phim ảnh “đen”, đĩ điếm, buôn người,... Và còn nhiều tình trạng phức tạp khác nữa.
Vì người ta không biết đánh vần chữ yêu thương, tình trạng gia đình sa sút trở nên sự tan rã của tình mẫu tử, sự tan rã này làm cho người ta mất khả năng yêu thương theo cách tự nhiên, chín chắn và vui mừng.
Như vậy chúng ta bị bỏ rơi với sự xuyên tạc. Sự xuyên tạc và hiểu lầm giới tính dẫn tới nơi đâu? Chắc chắn dẫn tới bạo lực, bạo lực dẫn tới tình trạng ác-thống dâm (sado-masochism – sự kết hợp giữa tính ác dâm và thống dâm trong con người, mỗi kiểu biểu lộ ở một thời điểm khác nhau). Tại sao người ta cảm thấy kích thích khi bị đánh đập hoặc đánh đập người khác? Vì họ lầm lẫn về tình yêu nne6 cho rằng tình yêu tương đương với bạo lực. Có thể chính họ đã đã từng bị lạm dụng tình dục hồi nhỏ ngay tại gia đình họ. Hệ lụy rất đơn giản, như một nạn nhân cho biết: “Cha tôi đánh đập tôi và lạm dụng tình dục tôi, bảo rằng yêu thương tôi. Do đó, sự đánh đập và lạm dụng tình dục là tình yêu chứ còn gì nữa”. Thật là khủng khiếp quá!
Sự hiểu sai về tình dục chắc chắn dẫn tới bạo lực. Tại sao? Vì người ta tự hỏi: “Điều gì xảy ra khi người ta không yêu thương?”. Khả năng yêu thương của họ bị thay thế bằng nỗi sợ hãi, nỗi sợ hãi dẫn tới lòng ghen ghét, lòng ghen ghét khiến người ta bạo lực. Tình yêu đã chết, sự thù hận và bạo lực sẽ chiếm vị trí của tình yêu.
Đây là cách chữa lành thế giới nhờ Kinh Mai Côi:
Kinh Mai Côi mở rộng tâm hồn và tâm trí của chúng ta tới tình yêu thương của người mẹ. Nếu thiếu tình yêu thương của người mẹ, Kinh Mai Côi sẽ thay thế trong cuộc đời chúng ta. Ki chúng ta cầu nguyện bằng Kinh Mai Côi, ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa sẽ thấm dần vào cuộc đời chúng ta. Khi chúng ta cầu nguyện bằng mầu nhiệm Mùa Vui, tình mẫu tử hoàn hảo của Đức Mẹ sẽ thấm dần và lấp đầy khoảng trống vắng vì thiếu tình mẫu tử của người mẹ trần gian. Người mẹ của chúng ta có lạm dụng, khinh suất, bệnh tật, tức giận hoặc thiếu khả năng trao tặng tình yêu thương mà chúng ta cần hay không? Qua Kinh Mai Côi, tình yêu thương của Đức Maria có thể bù đắp những gì chúng ta thiếu thốn.
Cầu nguyện bằng Kinh Mai Côi rất đơn giản. Chúng ta đọc Kinh Mai Côi cho chính chúng ta, nhưng chúng ta cũng cầu nguyện cho người khác và cho cả thế giới. Chúng ta cầu xin tình mẫu tử của Đức Mẹ cho mọi thành viên trong gia đình, trong giáo xứ, trong cộng đoàn, và trên cả thế giới này.
Nếu chúng ta thiếu tình mẹ, Kinh Mai Côi có thể chữa lành và hòa giải chúng ta với nhau. Hãy cố gắng cầu nguyện bằng Kinh Mai Côi hằng ngày, vì chính bạn sẽ được chữa lành và cả thế giới cũng được chữa lành.
Lm DWIGHT LONGENECKER
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Patheos.com)

 

Tuổi Già

Nhưng thủy triều lên, xuống. Nước lớn rồi nước ròng. Ngày qua rồi đến đêm. Bốn mùa luân phiên theo Thiên Luật. Và Tháng Mười lại về… Ngày qua, tháng hết, cuối năm… Người ta trẻ rồi người ta già…
Ngày 1-10, đối với xã hội thì đó là ngày Quốc Tế Người Cao Tuổi – tức là “người già”; còn đối với Công giáo thì đó là ngày lễ Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu, đặc biệt là ngày đầu Tháng Đức Mẹ Mai Côi.
Trẻ – Già – Chết. Đó là quy trình của mọi loài thụ tạo. Không có gì bền vững. Không có ai bất tử. Ca dao Việt Nam thắc mắc:
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non
Việt ngữ thật là độc đáo quá chừng! Thảo nào người ta nói: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Chắc hẳn người ngoại quốc có thể muốn “phát khùng” khi họ học tiếng Việt mất thôi!
Cuộc đời có bốn cái khổ: Sinh, lão, bệnh, tử! Già là một trong “tứ khổ”, như vậy già thì khổ. Khổ đủ thứ. Chắc chắn là thế. Nhưng tại sao người ta lại chúc nhau “sống thọ”, tức là sống già. Không lẽ người ta chúc nhau khổ? Sống thọ là sống lâu. Muốn sống lâu thì phải già, già là sướng chứ đâu có khổ, thế mà sao ai cũng than khổ?
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương quan niệm: “Chơi xuân kẻo hết xuân đi. Cái già sồng sộc nó thì theo sau”. Có lẽ lúc đó bà ở độ tuổi mà người ta gọi là “trung niên” – khoảng trong ngoài 40, cái tuổi “chưa già” nhưng cũng “không còn trẻ”.
Ai cũng sợ già, vì già không chỉ xấu xí mà còn chờ đón vị khách không mời mà đến: Tử Thần. Sợ già nên người ta muốn trẻ hóa chính mình bằng cách nhuộm tóc, trồng răng. Phụ nữ thì bơm chỗ này, đắp chỗ nọ, và dùng đủ thứ mỹ phẩm để “che mắt thế gian”. Sợ già nên người ta tự khôi hài, tự an ủi, và cũng là tự “đánh lừa” chính mình:
Bốn lăm chưa phải là già
Năm mươi là tuổi vừa qua dậy thì
Năm lăm hết tuổi thiếu nhi
Sáu mươi là tuổi mới đi vào đời
Sáu lăm là tuổi ăn chơi
Bảy mươi là tuổi yêu đời, yêu hoa
Bảy lăm mới bắt đầu già
Tám lăm, chín chục, ráng (cho) vừa… trăm năm!
Nói gì thì nói, làm gì thì làm, chẳng ai níu kéo được thời gian. Chúng ta hoàn toàn bất lực, vì chúng ta “không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được” (Mt 5:36) kia mà. Thật vậy, tóc trên đầu chúng ta cũng được Thiên Chúa đếm cả rồi (Mt 10:30).
Đối với đau khổ, chúng ta không thể “điều khiển” nó. Muốn thoát nó thì chỉ còn cách “đi xuyên qua” đau khổ, như Chúa Giêsu bảo chúng ta phải “vác thập giá hằng ngày” (Mt 10:38; Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23; Lc 14:27), tức là chấp nhận đau khổ đấy thôi. Tương tự, muốn thoát cái khổ của tuổi già thì cứ “quên” nó đi, cứ “vô tư” mà sống, cứ thanh thản mà sống.
Bạn còn nhớ ông Chu Dung Cơ (tiếng Hán: 朱镕基; bính âm: Zhū Róngjì), cựu Thủ tướng của Trung Quốc? Ông đã có một bài tổng kết rất sâu sắc về cuộc đời, đặc biệt là ông nêu lên quan điểm sống của tuổi già rất độc đáo và chí lý. Là người từng trải – cả đời thường và chính trường, ông đã chiêm nghiệm được nhiều điều trong cuộc sống, tư tưởng của ông đáng để chúng ta suy ngẫm. Đây là một phần trong bài viết của ông Chu Dung Cơ, theo bản dịch của TS Lê Thanh Dũng:
Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh, nhưng chỉ có hiểu cuộc đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái. Qua một ngày, mất một ngày. Qua một ngày, vui một ngày. Vui một ngày lãi một ngày…
Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc và vui sướng là cảm giác và cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng…
Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng có coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng ai mang nó đến, khi chết chẳng ai mang nó theo… Ốm đau trông cậy vào ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu “cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử”. Trông vào bạn đời ư? Người ta cũng yếu, có khi lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi. Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách đấy. Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình dấu chấm hết thật TRÒN.
Cuộc đời không nên tính theo chiều dài (sống thọ, sống lâu), mà nên tính theo chiều rộng và chiều sâu (cách sống). Chết yểu hay sống thọ cũng không thành vấn đề. Sống thọ mà chẳng làm nên trò trống gì thì có lợi gì, hay chỉ thêm tội? Chết trẻ mà sinh lợi nhiều thì cũng nên chết. Điển hình là Thánh Teresa Hài Đồng, chỉ 24 tuổi đời với 9 năm sống trong bốn bức tường Dòng Kín mà nên vị đại thánh. Thánh “nhí” Savio sống quá ngắn, thế nhưng lại sống sâu xa khác người. Tác giả sách Khôn Ngoan cho biết: “Người công chính dù có chết non, cũng vẫn được an nghỉ” (Kn 4:7).
Tại sao? Chính tác giả sách Khôn Ngoan giải thích: “Vì tuổi thọ đáng kính không phải bởi sống lâu, cũng không do số tuổi” (Kn 4:8). Rõ ràng người già đáng kính không phải vì tuổi tác mà là cách sống. Đừng tưởng già rồi muốn làm gì thì làm!
Về cái gọi là “tuổi thọ”, tác giả sách Khôn Ngoan cho biết: “Đối với con người, sự khôn ngoan còn quý hơn tóc bạc, sống không tì ố đã là sống thọ” (Kn 4:9). Khôn ngoan là một nhân đức thực sự cần thiết trong cuộc sống, cả xã hội và tâm linh. Không hiểu sao theo sách bài đọc thường dùng thì câu này được “chuyển” thành: “Người đầu bạc thì khôn ngoan và tuổi già là một cuộc đời thanh sạch”.
Có trẻ thì có già. Có sinh thì có tử. Sinh ký, tử quy mà!
Tháng Mười, nhân ngày Quốc Tế Người Cao Tuổi, dù trẻ hay già, chúng ta cùng nhau noi gương tác giả Thánh Vịnh mà chân thành cầu nguyện: “Từ độ thanh xuân, lạy Thiên Chúa, con đã được Ngài thương dạy dỗ. Tới giờ này, con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài. Cả lúc con già nua, da mồi tóc bạc, lạy Thiên Chúa, xin đừng bỏ rơi con, để con tường thuật quyền năng của Chúa cho thế hệ này được rõ, và dũng lực của Ngài cho thế hệ mai sau.” (Tv 71:17-18).
Xin Đức Mẹ Mai Côi nguyện giúp cầu thay và dẫn chúng con đến gặp Đức Giêsu Kitô, Thánh Tử Yêu Dấu của Mẹ. Xin Thánh Teresa nguyện giúp cầu thay để chúng con luôn biết sống đơn sơ và bé nhỏ. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Tháng Mười – 2015

 

TÂM S TÊRÊSA
Muốn nên thánh phải chịu nhiều đau khổ
Phải luôn luôn tìm kiếm điều tốt lành
Và cũng phải luôn từ bỏ chính mình
Sống ung dung chỉ là điều bất hạnh
Tôi vẫn biết có nhiều cách nên thánh
Mỗi linh hồn đều được quyền tự do
Để đáp lại phương cách Chúa ban cho
Chỉ vì Ngài, dù làm nhiều hay ít
Hồi còn nhỏ, tôi kêu lên chân thật:
Con muốn chọn tất cả, lạy Chúa Trời!
Con không muốn chỉ nên thánh nửa vời
Con không sợ chịu đau khổ vì Chúa
Chỉ một điều làm cho con rất sợ
Đó là con luôn làm theo ý riêng
Lấy nó đi, lạy Thiên Chúa uy quyền!
Con xin chọn những gì Ngài mong muốn
Ôi, lạy Chúa Giêsu, Đấng miên viễn
Chính tay Ngài nâng con lên cõi trời
Con không cần cao lớn, dẫu nhỏ nhoi
Con phải sống càng ngày càng nhỏ bé!
TRM THIÊN THU
Kính mng Ch Têrêsa Hài Đng, 1-10-2015


THT và O
Facebook là không gian ảo
Nơi người ta ưa thích nhiều
Bàn luận, “tám” chuyện đủ điều
Kể cả những chuyện nhà đạo
            Facebook là ảo mà thật
            Khoảng không gian thực mà hư
            Người ta tin yêu chan hòa
            Gặp nhau đời thường có vậy?
Facebook là như thế đấy
Loại SÁCH chỉ SỜ cũng PHÊ (*)
Đa dạng cảm xúc mơ hồ
“Vô tư” trong thế giới ảo
            Người thật nhưng thường thích ảo
            Như phê ma túy lâng lâng
            Người ta thích thú mơ màng
            Ngay cả trong chuyện tôn giáo
Có kẻ “đạo văn” táo bạo
Thiên hạ đâu có biết chi
Tưởng là “lá vườn, cây nhà”
Rồi tâng bốc nhau đủ thứ
            Chuyện thật hay ảo vậy chứ?
            Giữ đạo ảo, không sống ư?
            Chắc hẳn Chúa nói thật thà:
“Ngươi s vào Nước Tri o”
TRM THIÊN THU
(*) Facebook phiên âm Vit ng là phê-s-búc, Face: Mt, Book: Sách.


HNH PHÚC
Đi tìm hạnh phúc cả đời
Mà sao chẳng thấy nụ cười nhân gian?
Đi tìm hạnh phúc ngày đêm
Mà sao chỉ thấy chất thêm nỗi buồn!
Nào ngờ hạnh phúc giản đơn
Là cùng chia sẻ nỗi buồn, nỗi vui
Một ly nước lã mà thôi
Tạo nên hạnh phúc kiếp người. Lạ thay!
Nụ hồng tươi thắm trao tay
Mà tay còn thấy thơm hoài đấy thôi!
Giúp con chia sẻ, Chúa ơi!
Cười với mọi người, Ngài vẫn ghi công!
TRM THIÊN THU
Saigon, 30-9-2015
(*) “Ai cho anh em ung mt chén nước vì l anh em thuc v Đng Kitô, Thy bo tht anh em, người đó s không mt phn thưởng đâu” [Mt 10:42; Mc 9:41].

Video minh họa: https://www.youtube.com/watch?v=BY8a6rt3DYM&feature=youtu.be

 

https://1.bp.blogspot.com/-aSzQmwoyZv0/VgKhi57o22I/AAAAAAAAYdo/nGWtLSMoqPo/s320/DongThuongXot.gif
DÒNG THƯƠNG XÓT

Sông ơi, sông chảy về đâu?
Mây trôi, bèo giạt lêu bêu tội tình
Khi vui mừng, lúc buồn tênh
Đôi dòng nước chảy bồng bềnh đục, trong
Chảy về đâu, hỡi dòng sông!
Ngàn năm vẫn dạt dào dòng yêu thương
Dòng thương xót mãi vô thường
Tình Giêsu vẫn miên trường khôn nguôi
Tội nhân con khốn nạn thôi
Nước và Máu Chúa rửa đời oan khiên

TRM THIÊN THU

 

Suy Niệm Năm Sự Sáng

PHI LỘ – Năm 1917, khi hiện ra tại Fátima (Bồ Đào Nha) với ba trẻ chăn chiên – Luxia, Phanxicô và Giaxinta, Đức Mẹ đã nhắn nhủ: “Hãy lần chuỗi Mân Côi hằng ngày... Hãy cầu nguyện nhiều và dâng những hy sinh để cầu cho các tội nhân... Ta là Mẹ Mân Côi. Chỉ có Mẹ mới có thể giúp các con. ...Cuối cùng, Trái tim Vô nhiễm của Mẹ sẽ thắng!”.

Năm 2017 là dịp kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fátima, chúng ta hãy nhắc nhở nhau về ba lời khuyên của Đức Mẹ: [1] Ăn năn đền tội, [2] Tôn sùng Mẫu Tâm, [3] Siêng năng lần chuỗi Mân Côi. Đức Mẹ đã cho biết rằng mỗi lần đọc một kinh Kính Mừng là dâng cho Mẹ một đóa hồng tươi đẹp, và đọc xong một chuỗi Mân Côi là dâng cho Mẹ một triều thiên hoa hồng.

Trong tâm tình yêu mến Đức Mẹ, đặc biệt là việc tận hiến cho Đức Mẹ và lần chuỗi Mân Côi, chúng ta cùng tìm hiểu Năm Sự Sáng. Chuỗi Mân Côi quan trọng vì là “Bản tóm lược Kinh Thánh”. Khi lần chuỗi Mân Côi với Năm Sự Vui, chúng ta thấy đời sống hằng ngày của chúng ta thêm phấn khởi, thêm nhiều lợi ích qua việc kết hiệp với Đức Kitô và lòng sùng kính Đức Maria – Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta nhờ Đức Mẹ để đến với Đức Giêsu Kitô, qua Chúa Con để đến với Chúa Cha.
DẪN NHẬP
Kinh Mân Côi là cách cầu nguyện phổ biến và quan trọng của Giáo hội Công giáo Rôma. Từ lâu, chúng ta đã “quen” với Mầu Nhiệm Vui (Mysteria Gaudiosa, Joyful Mysteries), Mầu Nhiệm Thương (Mysteria Dolorosa, Sorrowful Mysteries) và Mầu Nhiệm Mừng (Mysteria Gloriosa, Glorious Mysteries). Và từ năm 2002, Đức Gioan Phaolô II thêm Mầu Nhiệm Sáng (Mysteria Luminosa, Light Mysteries). Như vậy, Kinh Mai Côi ngày nay có 20 mầu nhiệm. Thánh GH Gioan Phaolô II cho biết: “Kinh Mân Côi là mầu nhiệm của các mầu nhiệm. Lần chuỗi Mân Côi là giao phó những gánh nặng cho Thánh Tâm Thương Xót của Chúa Kitô và Mẹ Maria”.

Kinh Mân Côi có lời nguyện Fátima đầy ý nghĩa: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con. Xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn”. Thật ra chúng ta chưa bao giờ kính mến Đức Mẹ đủ mức theo như Mẹ mong ước. Chúng ta càng kính mến Đức Mẹ bao nhiêu thì chúng ta càng kính mến Chúa bấy nhiêu. Thật tốt lành khi Thánh GH Gioan Phaolô II dùng tông hiệu cho cuộc đời mục tử của ngài: “Totus tuus – Tất cả nhờ Mẹ”.

ĐGH Gioan Phaolô 2 là vị Giáo Hoàng của Đức Mẹ. Chính Đức Mẹ đã chọn Ngài cách riêng. Cả thế giới đều biết Ngài, không bao giờ Ngài phát biểu lời nào, mà không nhắc tới Đức Trinh Nữ Maria. Không 1 tài liệu nào của thời đại Giáo Hoàng của Ngài, mà không kết thúc bằng lời nguyện cùng Đức Mẹ Maria, là Mẹ Thiên Chúa. Để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ, và để truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ cho mọi người, Ngài đã cho thành lập năm Mân Côi (có thể nói từ xưa đến nay chưa có bao giờ Hội Thánh đã cho thành lập 1 năm Mân Côi như vậy). Năm Mân Côi được Thánh GH Gioan Phaolô II mở ra từ tháng 10-2002 đến tháng 10-2003. Ngài nói: “Tôi muốn rằng Kinh Mân Côi phải được nổi bật trong các cộng đồng Kitô khắp thế giới”.

Năm Sự Sáng là năm Mầu Nhiệm Ánh Sáng. Thánh Gioan nói về Ngôi Lời Giêsu Kitô: “Nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:4-5). Tác giả Thánh Vịnh xác định: “Chúa là nguồn ánh sángơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào?” (Tv 27:1). Thật vậy, Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta nên Ngài để chúng ta “bước đi trước mặt Ngài trong ánh sáng dành cho kẻ sống” (Tv 56:14).

SUY NIỆM

Thứ nhất (Mt 3:13-17) – Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại sông Giođan. Chúng ta cầu xin ơn biết sống đẹp lòng Chúa.
Ngày ấy, Chúa Giêsu đến dòng sông Giođan để ông Gioan làm Phép Rửa. Ông Gioan ngạc nhiên và nói: “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!”. Chúa Giêsu nói: “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”. Ông Gioan hiểu và chiều theo ý Ngài. Ngay khi Chúa Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, các tầng trời mở ra. Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Ngài. Lúc đó có tiếng từ trời vang vọng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”.
Chúa Cha hài lòng về Người Con vì Người Con luôn tuân phục Thánh Ý Chúa Cha. Đức Mẹ cũng làm hài lòng Thiên Chúa vì Đức Mẹ “xin vâng” hoàn toàn.
Sống đẹp lòng Chúa là tuân giữ các giời răn và thể hiện lòng thương xót. Chúa Giêsu nói: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6:36). Nhân từ là biết yêu thương, tha thứ, không xét đoán, không định kiến với bất cứ ai, và còn phải vâng phục.
Vâng phục là khiêm nhường, là chấp nhận, không ý kiến, không so đo, dù điều đó trái ý mình. Quả thật, cách vâng phục như vậy không dễ thực hiện chút nào ráo trọi. Còn chỉ vâng phục khi “hợp ý” thì có gì lạ đâu? Điều hợp ý mình thì rất dễ thực hiện, nhưng vì vâng phục mà làm theo điều trái ý mình thì quả là khó, phải cố gắng, phải can đảm, phải khiêm nhường và phải thực sự từ bỏ chính mình. Vâng phục (tuân phục) là nhân đức quan trọng, vì Kinh Thánh đã xác nhận: Vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9).

Thứ hai (Ga 2:11) – Chúa Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu tại Cana. Chúng ta cầu xin ơn vững tin vào quyền năng Thiên Chúa.
Tại một đám cưới ở Cana, miền Galilê. Chúa Giêsu được mời dự tiệc cưới này. Đức Mẹ và các môn đệ cũng được mời. Tiệc cưới đang vui nhưng rượu lại hết. Đức Mẹ tinh ý nên biết “sự cố” này. Đức Mẹ liền nói nhỏ với Con Trai: “Họ hết rượu rồi”. Chúa Giêsu nói: “Mẹ ơi! Chuyện đó can gì đến mẹ và con? Giờ của con chưa đến”. Tuy nhiên, Đức Mẹ vẫn tin tưởng mà nói với những người lo đám tiệc rằng hễ con tôi bảo gì thì quý vị cứ làm theo.
Thật vậy, Chúa Giêsu đến chỗ nấu tiệc và bảo họ đổ nước lã vào sáu chum đá. Theo thói tục người Do Thái, các chum đá này dùng vào việc thanh tẩy, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. Họ làm theo yêu cầu của Chúa Giêsu, dù họ chẳng biết đổ nước đầy các chum để làm gì. Sau đó, Chúa Giêsu bảo họ múc nước đó đem cho người quản tiệc. Kỳ diệu quá chừng! Rõ ràng nước lã vừa đổ vào xong, múc ra liền, thế mà lại hóa thành rượu, mà đâu phải rượ thường, rượu hảo hạng đấy!
Người quản tiệc liền gọi chú rể đến mà nói: “Ai cũng thết rượu ngon trước, khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ”. Dĩ nhiên chú rể cũng chẳng biết gì, chỉ có mấy người múc nước đổ vô chum thì mới biết “sự thể” ra sao mà thôi. Đó là phép lạ đầu tiên trong cuộc đời sứ vụ của Chúa Giêsu.
Cứ tính trung bình mỗi chum là 100 lít, vị chi sáu chum là 600 lít. Rượu nhiều thế thì tắm cũng không hết chứ nói chi uống, phải bán thôi. Hai vợ chồng trẻ này chắc chắn có ít vốn để làm ăn nhờ… bán loại “rượu lạ” này!
Đức Mẹ tinh ý, chỉ liếc mắt là biết người ta đang “kẹt” cái gì, nhưng Đức Mẹ cũng rất tế nhị, không làm lớn chuyện, chỉ “bí mật” nói với Chúa Giêsu. Chủ tiệc và chú rể, hoặc thân nhân của chú rể, không hề nhờ vả gì, thế mà Đức Mẹ vẫn giúp đỡ tận tình, giúp họ thoát khỏi “thế bí”. Chúng ta chân thành cầu xin Đức Mẹ, chắc chắn không phải thất vọng: “Mẹ nguồn cậy trông, chưa thấy ai xin Mẹ về không…” (Nguồn Cậy Trông – Hoàng Vũ).

Thứ ba (Mc 1:15) – Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu gọi thống hối. Chúng ta cầu xin ơn sửa đổi tâm hồn.
Chính Chúa Giêsu đã mời gọi: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Qua lời Chúa Giêsu, chúng ta biết chắc rằng chúng ta đang sống trong Thời Cuối Cùng, mỗi phút qua đi là thời gian ngắn hơn một chút, nghĩa là càng gần thời điểm tận thế. Không ai biết lúc nào sẽ xảy ra “khoảnh khắc” đó. Vì thế, chuẩn bị sẵn sàng là thượng sách! Giống như “mười trinh nữ” vậy  (x. Mt 25:1-13).
Chuẩn bị và sẵn sàng bằng cách nào? Sám hối và canh tân đời sống. Chúa Giêsu đã nói và Đức Mẹ cũng thường nhắc nhở. Sám hối là chấn chỉnh lối sống, bỏ đường tà, theo đường chính. Chúa Giêsu đã nói với ông Si-môn Cùi về người phụ nữ tội lỗi ngồi khóc bên chân Ngài: “Tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít” (Lc 7:47-48). Nước mắt của phụ nữ này đã làm trôi bao tội tày trời của chị. Chị sám hối nên được Chúa thứ tha – tức là chị đã thú tội. Chúng ta cũng không thể làm gì khác hơn là đến với Bí tích Hòa giải – Bí tích của Lòng Chúa Thương Xót.
Tội cỡ nào cũng đừng thất vọng. Gương các thánh đã minh chứng điều đó: Dismas (người trộm lành), Phêrô, Augustinô,... Vả lại, qua Thánh Faustina Maria Kowalska (1905-1938), chính Chúa Giêsu đã minh định: “Lòng Thương Xót của Ta lớn hơn tội lỗi của con và của cả nhân loại” (Nhật Ký, số 1485). Thế thì đừng dại dột, đúng ra là ngu xuẩn, mà cứ nằm lì trong “vũng lầy tội lỗi”. Hãy chứng mình bằng lời thú tội chân thành: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4-5).

Thứ tư (Mt 17:1-8; Mc 9:2-8; Lc 9:28-36) – Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Chúng ta cầu xin ơn luôn biết lắng nghe Lời Chúa.
Khoảng một tuần sau khi tiên báo cuộc Thương Khó lần thứ nhất, Chúa Giêsu đem theo ba môn đệ tín cẩn – đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê – cùng lên núi cầu nguyện. Khi Chúa Giêsu đang cầu nguyện, Ngài biến đổi hình dạng trước mặt các ông, dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng. Và bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Ngài. Quá đã! Các ông cảm thấy lâng lâng hạnh phúc, muốn làm ba lều cho ba người để các ông được tiếp tục sống trong niềm hạnh phúc kỳ diệu như vậy. Ông Phêrô nói: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Thầy muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia”. Như vậy nghĩa là họ quên mình, không cần gì nữa, sao cũng được, chỉ cần lo cho ba vị kia thôi.
Thế nhưng khi ông Phêrô còn đang nói thì chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”. Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. Bấy giờ Đức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!”. Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giêsu mà thôi. Ba môn đệ ngơ ngẩn sau cơn “xuất thần”, nhưng họ cảm thấy… tiếc hùi hụi!
Cuộc đời không phải lúc nào cũng êm như đi trên thảm lụa. Cuộc đời không chỉ gập ghềnh với những ổ gà, ổ voi, mà còn phải leo đồi, vượt núi, băng ngàn, lướt sóng. Ôi thôi, đủ thứ gian nan! Tabor là nơi nếm vị hạnh phúc, nhưng không thể ở mãi đó, mà phải tiếp tục leo cho tới đỉnh Can-vê sầu thảm, đầy vết máu loang lổ! Chúa Giêsu đã nhắc nhở nhiều lần, chẳng lẽ không nghe? Mưa dầm thấm sâu. Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo. Chúa Giêsu đã nói và làm gương rồi đấy!

Thứ năm (Mt 26:26-29; Mc 14:22-25; Lc 22 19-20; 1Cr 11:23-25) – Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Chúng ta cầu xin ơn siêng năng lãnh nhận Thánh Thể.
Trong bữa ăn mừng Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy”. Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội”. Rồi Ngài nói như lời trăn trối: “Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy”.
Bí tích Thánh Thể là bí tích thứ ba trong các bí tích khai tâm (Thánh Tẩy và Thêm Sức, và Thánh Thể). Mặc dù chúng ta phải giữ luật rước lễ mỗi năm ít nhất 1 lần (luật buộc, nhiệm vụ mùa Phục Sinh), và Giáo hội khuyến khích chúng ta thường xuyên rước lễ (nên rước lễ hằng ngày, nếu có thể). Rước lễ là tiếp nhận Thánh Thể để được sống dồi dào nhờ Sự Sống của Đức Kitô.
Khi rước lễ, chúng ta ăn chính Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô, nếu không thì chúng ta sẽ “không có sự sống nơi mình” (Ga 6:53). Tiếp nhận Thánh Thể là được tiếp thêm sức mạnh, cả phần hồn và phần xác. Tuy nhiên, chúng ta hãy ghi nhớ lời căn dặn, cũng là lời cảnh báo, của Thánh Phaolô: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình” (1 Cr 11:27-29). Đón nhận Thánh Thể một cách bất xứng là tự chuốc lấy án phạt.

VĨ NGÔN
Kinh Mân Côi là “bản tóm lược” của Kinh Thánh. Cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi là suy niệm Tin Mừng. Kính chào Đức Mẹ để Mẹ dẫn tới gặp Con Yêu Dấu của Mẹ: Per Maria ad Jesum – Nhờ Mẹ đến với Chúa Giêsu.
Một vị thánh đã có cách nhận định tuyệt vời: “Chúng ta chào mừng Đức Mẹ bằng Kinh Kính Mừng thì Đức Mẹ sẽ chào đón chúng ta bằng ơn phúc”. Đức Mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận của các nhạc sĩ và thi sĩ, và họ cũng vui mừng kính chào Đức Mẹ: “Ave Maria”.

Về thơ, chúng ta có “Ave Maria” của thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912- 1940, tên thật là Phanxicô Nguyễn Trọng Trí):

Maria, linh hồn con ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến
…….
Hỡi Sứ Thần Thiên Chúa Gabriel!
Khi Người xuống truyền tin cho Thánh Nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời?

Về nhạc, chúng ta có “Ave Maria” của nhà soạn nhạc Charles-François Gounod (1818-1893, người Pháp), “Ave Maria” của nhà soạn nhạc Franz Peter Schubert (1787-1828, người Áo), và “Ave Maria” của Lm Ns Vinh Hạnh (1931-1966, tên thật là Giuse Trần Phúc Hạnh): “Ave Maria con dâng lời chào Mẹ. Ave Maria con dâng lời chào Mẹ. Khi tàn màu nắng chiều, và khi sương đêm nặng gieo, con say sưa lời ca chào: Ave Maria!... Ave Maria con dâng lời chào Mẹ. Ave Maria con dâng lời chào Mẹ. Khi trời gặp nắng hồng bình minh êm vui trời đông. Con hân hoan lời ca mừng: Ave Maria!...”.
Tháng Mười, Tháng Mân Côi, chúng ta cùng dâng lên Đức Mẹ lòng chân thành yêu mến: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu Con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Tháng Mười – 2015

 

Ấp Ủ Lòng Chúa Thương Xót

Lớn lên, tôi chẳng biết nhiều về Thánh Faustina. Tôi nhân ra hình của thánh nữ, và tôi liên tưởng tới linh ảnh Lòng Chúa Thương Xót (LCTX), Chúa Giêsu được họa với hai tia sáng phát ra từ Thánh Tâm Ngài. Đôi khi, tôi cầu nguyện bằng Chuỗi Kinh LTX với gia đình vào các ngày Thứ Sáu. Tại các tiệm sách Công giáo, tôi thấy có cuốn sách “Divine Mercy in My Soul: Diary of Saint Maria Faustina Kowalska” (LCTX Trong Hồn Tôi: Nhật Ký Thánh Maria Faustina Kowalska), nhưng tôi chưa bao giờ cầm lên xem thử. Cuốn này nhìn dày lắm, tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ đọc. Ai có thời gian đọc hết 600 trang sách như thế chứ? Thời gian trôi qua, tôi dần dần sùng kính LCTX hơn. Sau đám cưới hai năm, vợ chồng tôi bắt đầu đọc cuốn Nhật Ký này. Cuốn sách này đã ảnh hưởng sâu đậm tới cuộc đời tôi và mối quan hệ với Thiên Chúa bằng nhiều cách kỳ lạ. Hôm nay, tôi muốn chia sẻ với bạn một số lợi ích khi đọc cuốn Nhật Ký của Thánh Faustina.
Chúng ta có thể liên quan Thánh Faustina. Vâng, tôi biết chúng ta không là những nhà thần bí như Thánh Faustina. Tuy nhiên, Thánh Faustina cũng là một con người bình thường. Một câu chuyện tôi ưa thích về Thánh Faustina đã xảy ra trong nhà bếp. Khi còn là tập sinh, Thánh Faustina được phân công làm việc ở nhà bếp: “Tôi rất lo lắng vì tôi không thể xoay xở với những chiếc bình, chúng lớn lắm” (Nhật Ký, số 65).
Thánh Faustina than khóc vì công việc khó nhất là làm khoai hết nước, đôi khi Chị làm đổ cả nửa số khoai vào bồn đầy nước. Đã bao nhiêu lần chúng ta cũng bị như vậy? Thánh Faustina thường xuyên nói chuyện với Chúa Giêsu, Mẹ Maria, hoặc các Thiên Thần, nhưng Chị vẫn là con người bình thường phải cố gắng hằng ngày, cũng giống như tôi vậy. Nếu Thánh Faustina nỗ lực để nên thánh, tôi cũng có thể làm như vậy.
Thánh Faustina cho chúng ta biết cách xử lý khi gặp khó khăn khi đi xe buýt. Hồi đi học, nhiều lần các bạn tôi và tôi nói rằng chúng tôi gặp khó khăn khi đi xe buýt. Chúng tôi cầu xin Chúa và các thánh giúp khi gặp khó khăn, đôi khi chúng tôi quên rằng Chúa biết rõ những khó khăn của chúng tôi. Thánh Faustina cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, mặc dù có ân sủng của Ngài, con vẫn cảm thấy khổ sở. Con phải cố gắng bắt đầu và kết thúc một ngày mới. Khi con vượt qua một khó khăn, hình như mười khó khăn khác lại xảy ra. Nhưng con không lo, vì con biết đó là lúc chiến đấu, không là lúc an nhàn” (Nhật Ký, số 606).
Cuốn Nhật Ký này đào sâu tình yêu và lòng thương xót mà Thiên Chúa dành cho mọi người. Xuyên suốt cuốn sách, rất nhiều lần Chúa Giêsu nói với Thánh Faustina về tình yêu khôn tả và lòng thương xót vô biên của Ngài dành cho nhân loại. Tôi cảm thấy được bao bọc bởi tình yêu, lòng nhân lành và sự bình an của Thiên Chúa khi đọc những lời này: “Từ các vết thương của Ta, lòng thương xót tuôn trào cho các linh hồn, nhưng vết thương ở Trái Tim Ta là Nguồn Thương Xót khôn dò. Từ suối nguồn này, mọi ân sủng trào ra cho các linh hồn. Ngọn lửa thương xót thiêu đốt Ta. Ta rất muốn đổ đầy vào các linh hồn. Hãy nói cho thế giới biết lòng thương xót của Ta” (Nhật Ký, số 1190)
Cuốn sách này giúp đào sâu lòng sùng kính Thánh Thể. Nhiều cảnh xảy ra trong Thánh Lễ, nhất là trong Phụng Vụ Thánh Thể. Chúa Giêsu và Thánh Faustina thường nói về vẻ đẹp của Thánh Thể, và tầm quan trọng của việc tận hiến cho Thiên Chúa khi lãnh nhận Thánh Thể: “Ái nữ của Ta, hãy biết rằng khi Ta ngự vào lòng con người khi họ rước lễ, đôi tay Ta tràn đầy ân sủng mà Ta muốn trao cho linh hồn ấy. Nhưng các linh hồn không chú ý tới Ta; họ bỏ mặc Ta một mình và bận nghĩ tới những thứ khác. Ôi, Ta buồn biết bao khi các linh hồn không nhận biết tình yêu của Ta! Họ đối xử với Ta như một vật chết” (Nhật Ký, số 1385).
Sứ Điệp LCTX is extremely accessible and easy to engage with. Tôi không thể tin nổi điều đó khi tôi đọc xong cuốn Nhật Ký của Thánh Faustina. Mỗi tuần đọc một ít, tôi đã đọc xong cuốn Nhật Ký sau một năm rưỡi. Cuốn Nhật Ký gồm những đoạn có ghi số, rất dễ chọn đọc những câu mình thích. Cách viết cũng rất dễ đọc, từ ngữ đơn giản, và các lời cầu nguyện là cách tốt để suy niệm. Đối với những người ngại đọc sách, có thể sử dụng Ứng Dụng LCTX (http://www.thedivinemercy.org/app/) để đọc trên Internet. Ứng dụng này có hàng trăm câu trích dẫn trong cuốn Nhật Ký của Thánh Faustina. Một cách khác để nối kết với Sứ Điệp LCTX là cầu nguyện bằng Đàng Thánh Giá của Thánh Faustina. Bằng nhiều cách, chúng ta có thể đọc những lời của Chúa Giêsu và của Thánh Faustina, để rồi chúng ta dễ dàng đem các sứ điệp đó vào đời sống thường nhật của chúng ta.
ĐGH Phanxicô đã ấn định việc khai mạc Năm Thánh Thương Xót vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, 8-12-2015. Mặc dù chưa tới ngày này, chúng ta vẫn có thể chuẩn bị ngay từ bây giờ. Tôi xin mời bạn đem Sứ Điệp LCTX vào trong đời sống hàng ngày. Hãy ấp ủ tình yêu thương và lòng thương xót mà Thiên Chúa dành cho bạn. Chúng ta hãy bắt đầu mở rộng lòng ra với Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

Chân Dung Thánh Tiến sĩ Têrêsa Avila

Ngày 15-10 hàng năm, Giáo hội Công giáo kính nhớ Thánh Tiến sĩ Têrêsa thành Ávila. Bà còn được gọi là Thánh Têrêsa Chúa Giêsu (khác với Thánh Tiến sĩ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, ở Lisieux, Pháp), sinh ngày 28-3-1515 tại Gotarrendura, tỉnh Ávila, với tên “cúng cơm” là Teresa Sánchez de Cepeda y Ahumada, tại Gotarrendura (Tây Ban Nha). Bà là một nhà thần bí danh tiếng và là nữ tu Dòng Kín (Carmelite Order). Bà là người cải cách Dòng Kín và được coi là người sáng lập Dòng Kín Chân Đất (Discalced Carmelites) cùng với Thánh Tiến sĩ Gioan Thánh Giá (1542-1591).

Thế kỷ XVI là thời gian rối loạn và cải cách. Cuộc đời bà bắt đầu với cao điểm của thời Cải Cách của Tin Lành, và chấm dứt sau Công đồng Trentô. Bà có 3 điều gây ấn tượng: là phụ nữ, sống chiêm niệm, và tích cực cải cách.

Thánh Têrêsa vào tu Dòng Kín ở Avila (Tây Ban Nha) ngày 2-11-1535, dù người cha phản đối dữ dội nhưng bà vẫn quyết tu Dòng Kín. Bà là một mỹ nhân mà có biệt tài, thân mật, thoải mái, dễ thích nghi, có lòng trắc ẩn, can đảm, nhiệt thành, và rất nhân bản. Cũng như Chúa Giêsu, bà là một bí ẩn của những nghịch lý: khôn ngoan mà thực tế, thông minh mà hài hòa kinh nghiệm, thần bí mà cải cách tích cực và thánh thiện.

Bà là người sống vì Chúa, là một phụ nữ của sự cầu nguyện, kỷ luật và trắc ẩn. Bà bị hiểu lầm, bị phê phán oan sai, bị chống đối vì cải cách. Nhưng bà vẫn cương quyết, can đảm và trung tín. Bà chiến đấu với tính tầm thường của mình, với bệnh tật và với sự chống đối, nhưng bà vẫn trung thành với Thiên Chúa và cầu nguyện. Bà là người sống vì tha nhân, luôn canh tân chính mình và Dòng Kín, hướng dẫn chị em sống đúng luật dòng.
Cha của Thánh Têrêsa là ông Alonso Sánchez de Cepeda, có tước Hiệp sĩ, và mẹ là bà Beatriz de Ahumada y Cuevas chuyên tâm giáo dục con gái sống đạo nghiêm túc. Thánh Têrêsa thích đọc sách hạnh các thánh.

Lúc 14 tuổi, cô bé Têrêsa mồ côi mẹ, cô bé rất buồn và trở nên sùng kính Đức Mẹ để nhờ Đức Mẹ hướng dẫn tâm linh. Nhưng rồi cô bé quan tâm thái quá tới việc đọc tiểu thuyết và làm dáng, thích chăm chút vẻ đẹp. Nhưng sau đó, cô bé Têrêsa bỏ được các thói quen bất lợi đó.

Ở trong dòng, nữ tu Têrêsa bị bệnh nặng. Khi bị bệnh, nữ tu Têrêsa trải nghiệm nhiều cuộc xuất thần trong những giờ đọc sách thiêng liêng. Bà nói rằng khi bị bệnh, bà kết hợp mật tiết với Chúa, và bà thường khóc vì sung sướng. Sự phân biệt tội trọng và tội nhẹ đối với bà rất rõ ràng, bà hiểu được sự khủng khiếp của tội lỗi và bản chất của tội nguyên tổ. Bà cũng nhận biết sự bất lực của việc đối đầu với tội lỗi, và sự cần thiết của việc tuyệt đối phục tùng Thiên Chúa.

Bà hành xác nhiều (kiểu “đánh tội” ngày xưa). Nhưng Lm Francis Borgia (người giải tội cho bà, linh mục này đã được phong thánh) khuyên bà nên nghĩ theo linh hứng của Chúa. Ngày lễ Thánh Phêrô năm 1559, nữ tu Têrêsa tin chắc rằng Chúa Giêsu đã hiện ra với bà. Dạng thị kiến này kéo dài hơn hai năm. Trong lần thị kiến khác, thiên thần Seraphim đã lấy gươm lửa đâm thâu trái tim bà, làm cho bà đau nhức cả tinh thần và thể lý mà bà không thể diễn tả được: “Tôi thấy thiên thần cầm ngọn giáo vàng, lúc đó như có lửa. Thiên thần hiện ra với tôi và đâm ngọn giáo vào trái tim tôi vài lần, và đâm cả vào ruột gan tôi nữa. Khi thiên thần rút ngọn giáo ra, ruột gan tôi như cũng theo ra luôn, và đặt tôi trên ngọn lửa với tình yêu vĩ đại của Chúa. Rất đau, đau tới mức tôi phải kêu lên, nhưng có sự êm ái ngọt ngào vượt hơn hẳn nỗi đau dữ dội kia, tôi không muốn thoát khỏi sự đau đớn ngọt ngào đó”.

Thị kiến này trở thành nguồn cảm hứng sống suốt cả cuộc đời bà, khiến bà quyết bắt chước cách sống và chịu đau khổ vì Chúa Giêsu, bà rút gọn thành câu “châm ngôn sống” này: “Lạy Chúa, hoặc để con chịu đau khổ, hoặc cho con chết đi”.

Năm 1567, nữ tu Têrêsa được Bề trên Rubeo de Ravenna chấp thuận cho lập dòng mới. Từ 1567 tới 1571, các tu viện nữ cải cách được thành lập tại Medina del Campo, Malagon, Valladolid, Toledo, Pastrana, Salamanca, và Alba de Tormes.
Thánh Têrêsa được phép lập thêm hai nhà mới cho các thanh niên muốn theo đường lối cải cách. Bà thuyết phục Thánh Gioan Thánh Giá và Thánh Antôn Chúa Giêsu giúp bà làm việc này. Tu viện nam Carmelite Chân Đất đầu tiên được thành lập vào tháng 11-1568 tại Duruello.

Năm 1576 bắt đầu có những cuộc bách hại các Dòng Carmelite để chống lại Thánh Têrêsa, bạn bè và cuộc cải cách của bà. Nhưng vài năm sau thì bình an trở lại, và cuộc cải cách lại tiếp tục. Cuối cùng, ĐGH Grêgôriô XIII cho phép một tỉnh dòng đặc biệt dành cho những người trẻ là “dòng nữ đi chân đất”.

Trong 3 năm cuối đời, Thánh Têrêsa mở thêm các nhà dòng ở Villanueva de la Jara, thuộc miền Bắc Andalusia năm 1580, ở Palencia năm 1580, ở Soria năm 1581, ở Burgos và Granada năm 1582.
Trên đường đi từ Burgos tới Alba de Tormes, bà bị bệnh nặng. Bà qua đời vào sáng sớm ngày 15-10-1582. Lời cuối cùng của Thánh Têrêsa Avila: “Lạy Chúa, đã đến lúc con ra đi. Xin cho Ý Chúa nên trọn. Lạy Chúa và là Đức Lang Quân của con, giờ mà con ao ước đã đến. Đây là lúc gặp nhau”.

Năm 1622, sau 40 năm qua đời, bà được ĐGH Grêgôriô XV phong thánh. Ngày 27-9-1970, bà được ĐGH Phaolô VI tôn phong là Tiến sĩ Giáo hội. Thánh Têrêsa Avila và Thánh Catarina Siena là những phụ nữ đầu tiên được nhận danh hiệu Tiến sĩ Giáo hội. Cuốn tự truyện “Cuộc đời Nữ tu Teresa Avila”, viết năm 1567 theo yêu cầu của linh mục linh hướng Pedro Ibáñez), và cuốn “El Castillo Interior” (Lâu Đài Nội Tâm, viết năm 1577) là phần căn nguyên của văn chương phục hưng Tây Ban Nha cũng như tính thần bí Kitô giáo và suy niệm Kitô giáo, như bà viết trong tác phẩm quan trọng của bà là cuốn “Camino de Percción” (Con Đường Hoàn Hảo, viết năm 1567).
Các sách của bà đều mang tính mô phạm. Bà còn viết cuốn “Suy niệm về Sách Khôn Ngoan” (viết năm 1567, sách dành cho các nữ tu tại Tu viện Đức Mẹ Camêlô. Cuốn “Relaciones” (Thuật Lại) là phần mở rộng về cuốn tự truyện cũng cho biết những trải nghiệm nội tại và ngoại tại ở dạng những lá thư.

Thánh Têrêsa có hai cuốn sách nhỏ khác là “Conceptos del Amor” (Khái niệm Yêu thương) và “Exclamaciones” (Than Van). Văn phong của bà duyên dáng, tự nhiên, rõ ràng, đồng thời bà còn làm thơ hay và mượt mà nữa.

TRẦM THIÊN THU 2015

AVE MARIA

Với các Kitô hữu, đặc biệt là các tín hữu Công giáo, không ai lại không biết từ ngữ Ave Maria. Đó là lời Sứ thần Gáp-ri-en kính chào Đức Maria khi truyền tin theo lệnh truyền của Thiên Chúa rằng Trinh nữ Maria sẽ là Mẹ Thiên Chúa.
Và từ đó, lời chào đó trở thành phần đầu của Kinh Kính Mừng, càng trở nên quen thuộc hơn với chúng ta, nhất là trong Tháng Mười này.
Có lẽ bài “Ave Maria” không được chúng ta biết đến nhiều, thường chúng ta quen với bài “Ave Maria” của nhà soạn nhạc Franz Peter Schubert (1), 1787-1828, người Áo. Bài này đã được soạn lời Việt.
Còn chúng ta ít biết bài “Ave Maria” của nhà soạn nhạc Charles-François Gounod (2), 1818-1893, người Pháp. Bài này ngắn gọn và giai điệu da diết, nghe như thánh ca. Nhạc sĩ Gounod soạn bài “Ave Maria” này dựa theo một nhạc phẩm Opera của Johann Sebastian Bach, 1685-1750, người Đức. Đặc biệt là lời bài này chính là Kinh Kính Mừng, bằng tiếng Latin.
   Tiếng Latin : Ave María, grátia plena, Dóminus tecum. Benedícta tu in muliéribus, et benedíctus fructus ventris tui, Iesus. Sancta María, Mater Dei, ora pro nobis peccatóribus, nunc, et in hora mortis nostræ. Amen.
Các ngôn ngữ khác:
   Tiếng Ý : Ave, o Maria, piena di grazia, il Signore è con te. Tu sei benedetta fra le donne e benedetto è il frutto del tuo seno, Gesù Santa Maria, Madre di Dio, prega per noi peccatori, adesso e nell'ora della nostra morte. Amen.
   Tiếng Bồ Đào Nha : Ave-Maria, cheia de graça, o Senhor é convosco, bendita sois vós entre as mulheres a bendito é o fruto do vosso ventre, Jesus. Santa Maria, Mãe de Deus, rogai por nós, pecadores, agora e na hora da nossa morte. Amen.
   Tiếng Tây Ban Nha : Dios te salve, María. Llena eres de gracia: El Señor es contigo. Bendita tú eres entre todas las mujeres. Y bendito es el fruto de tu vientre: Jesús. Santa María, Madre de Dios, ruega por nosotros pecadores, ahora y en la hora de nuestra muerte. Amen.
   Tiếng Ba Lan : Zdrowas Mario, laskis pelna Pan z Toba, blogoslawionas Ty miedzy niewiastami I blogoslawiony owoc zywota Twojego Jezus; swieta Mario, Matko Boza, módl sie za nami grzesznymi teraz i w godzine Smierci naszej.
   Tiếng Đức : Gegrüßet seist du Maria, voll der Gnade. Der Herr ist mit Dir. Du bist gebenedeit unter den Frauen und gebenedeit ist die Frucht Deines Leibes Jesu. Heilige Maria, Mutter Gottes, bitte für uns Sünder jetzt und in der Stunde unseres Todes. Amen.
Tiếng Pháp: Je vous salue, Marie, pleine de grâces, le Seigneur est avec vous; vous êtes bénie entre toutes les femmes, et Jésus le fruit de vos entrailles, est béni. Sainte Marie, Mère de Dieu, priez pour nous pécheurs, maintenant, et à l'heure de notre mort. Amen.
   Tiếng Anh : Hail Mary, full of grace, our Lord is with thee (you), blessed art thou (you) among women, and blessed is the fruit of thy womb, Jesus. Holy Mary, Mother of God, pray for us sinners, now and at the hour of our death. Amen.
   Tiếng Việt : Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu Con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.
Thánh Phaolô khuyên: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5:19). Dù bài bài “Ave Maria” của Charles-François Gounod không là thánh ca, nhưng chúng ta vẫn khả dĩ thưởng thức trong tâm tình cầu nguyện. Và tất nhiên Chúa và Mẹ vẫn chúc lành cho chúng ta, nếu chúng ta thành tâm tin yêu.
TRẦM THIÊN THU
Lễ Đức Mẹ Mai Côi – 2015

Rước Lễ
Ngày 8-10-1910, ĐGH Piô X đã công bố Tông sắc “Quam Singulari Christus Amore” (Tình Đức Kitô Lạ Lùng Biết Bao) nói về vấn đề trẻ em nên được rước lễ ở độ “tuổi khôn” (7 tuổi).
Rước lễ là sống trong Đức Kitô
Bí tích Thánh Thể là bí tích thứ ba trong các bí tích khai tâm. Mặc dù chúng ta phải giữ luật rước lễ mỗi năm ít nhất 1 lần (luật buộc, nhiệm vụ mùa Phục Sinh), và Giáo hội khuyến khích chúng ta thường xuyên rước lễ (nên rước lễ hằng ngày, nếu có thể), đây là bí tích khai tâm – giống như Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, vì Thánh Thể ban cho chúng ta sự sống dồi dào trong Đức Kitô.
Khi rước lễ, chúng ta ăn chính Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô, nếu không thì chúng ta sẽ “không có sự sống nơi mình” (Ga 6:53).
Chuẩn bị Rước lễ
Vì Bí tích Thánh Thể nối kết chúng ta với sự sống của Đức Kitô, chúng ta phải sạch tội trọng mới được đón nhận Mình Máu Thánh, như Thánh Phaolô giải thích: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình” (1 Cr 11:27-29). Đón nhận Thánh Thể một cách bất xứng là tự chuốc lấy án phạt.
Nếu chúng ta phạm tội trọng, chúng ta phải đến với Bí tích Hòa Giải trước. Giáo hội coi hai bí tích này có liên kết với nhau, cho nên Giáo hội thúc giục chúng ta thường xuyên lãnh nhận Bí tích Hòa Giải và Bí tích Thánh Thể.
Giao tiếp tâm linh
Nếu không thể rước lễ thật, không thể tham dự Thánh Lễ, hoặc chúng ta cần phải xưng tội trước, chúng ta có thể đọc kinh Ăn Năn Tội, khao khát được kết hiệp với Chúa Giêsu và cầu xin Ngài ngự vào linh hồn chúng ta. Như vậy gọi là rước lễ thiêng liêng. Hằng ngày, mọi nơi và mọi lúc, chúng ta nên thường xuyên rước lễ thiêng liêng. Rước lễ thiêng liêng không là bí tích nhưng là lòng đạo đức tốt lành, chúng ta vẫn nhận được ân sủng làm cho chúng ta thêm vững mạnh trên hành trình đức tin.
Hiệu quả của việc Rước lễ
Rước lễ làm cho chúng ta nhận được ân sủng về cả tâm linh và thể lý.
Về tâm linh, linh hồn chúng ta được kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu hơn, nhờ ân sủng chúng ta lãnh nhận và nhờ tác động của ân sủng mà chúng ta thay đổi cách sống. Thường xuyên rước lễ làm cho chúng ta thêm yêu mến Chúa và tha nhân, tình yêu đó được thể hiện bằng hành động cụ thể, và làm cho chúng ta nên giống Đức Kitô hơn.
Về thể lý, thường xuyên rước lễ làm cho chúng ta bớt tức giận, giảm đam mê – đặc biệt là nhục dục. Nhờ lãnh nhận Thánh Thể, thân xác chúng ta được thánh hóa, chúng ta càng nên giống Chúa hơn. Thật vậy, như Lm John Hardon cho biết trong cuốn “Modern Catholic Dictionary” (Tự điển Công giáo Hiện đại), Giáo hội dạy: “Hiệu quả của việc rước lễ là loại trừ các tội nhẹ, đồng thời tha các hình phạt tạm [đời này và đời sau] vì tội chúng ta trót phạm, cả tội nhẹ và tội trọng”.
Mắt chúng ta nhìn thấy Bánh và Rượu, nhưng đức tin cho chúng ta biết rằng Lễ Vật đã được Chúa Thánh Thần thánh hóa để trở nên Mình Máu của Đức Kitô, Thiên Chúa Ngôi Hai. Vì thế, Giáo hội dạy: “Đây là mầu nhiệm đức tin”.
Tin kính Thánh Thể
Ngày nay, người Công giáo đã quen với bài Thánh ca “Pange Lingua” (Pange Lingua Glorioso), mới đầu bài này dùng để hát trong khi rước Thánh Thể từ bàn thờ chính sang bàn thờ phụ trong Thánh Lễ tưởng nhớ việc Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể, khi Ngài cùng các môn đệ ăn Bữa Tiệc Ly, chiều Thứ Năm Tuần Thánh.
“Tantum Ergo” là những từ mở đầu của trong bài Pange Lingua, một bài Thánh ca Thánh Thể (Eucharistic hymn) quen thuộc vẫn được sử dụng khi chầu Mình Thánh Chúa. Đây là bài Thánh ca thời Trung cổ, thể loại bình ca. “Tantum Ergo” là câu mở đầu của bài Thánh ca Pange Lingua, nhưng khi nói tới thì người ta vẫn nói là bài “Tantum Ergo”. Bài này được hát khi tôn kính và chúc tụng Thánh Thể trong Giáo hội Công giáo – và các Giáo hội có thực hành việc sùng kính này. Bài này thường được hát, nhưng cũng có thể đọc.
Lời La ngữ:
Tantum ergo Sacramentum, Veneremur cernui: Et antiquum documentum, Novo cedat ritui: Praestet fides supplementum Sensuum defectui.
Genitori, Genitoque, Laus et jubilatio, Salus, honor, virtus quoque, Sit et benedictio: Procedenti ab utroque, Compar sit laudatio. Amen.
Lời Anh ngữ:
Down in adoration falling, Lo! the sacred Host we hail, Lo! o'er ancient forms departing, Newer rites of grace prevail; Faith for all defects supplying, Where the feeble senses fail.
To the everlasting Father, And the Son Who reigns on high, With the Holy Ghost proceeding Forth from Each eternally, Be salvation, honor, blessing, Might and endless majesty. Amen.
Bài Thánh ca này ngắn gọn nhưng chân thành diễn tả sự thờ lạy Chúa ngự trong Bí tích Thánh Thể. Đây là bài Thánh ca mà Giáo hội yêu thích được dùng để tôn kính Thánh Thể.
Tại Việt Nam, trước đây dùng bản Lantin, nhưng sau đó hầu như không dùng, nếu có cũng rất hiếm, và thường thay thế bằng bài “Đây Nhiệm Tích” (Đây nhiệm tích vô cùng cao quý, nào chúng ta phục bái tôn thờ….). Ngày nay, “Tantum Ergo” thi thoảng được dùng khi chầu Mình Thánh Chúa – ví dụ, một số nơi đã dùng bản Latin trong giờ hiệp nhất Chầu Thánh Thể của toàn Giáo hội Công giáo trong đêm lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi, Corpus Domini), ngày 2-6-2013. Và lâu lắm rồi tôi mới có dịp cùng cộng đoàn hát lại bài Thánh ca bất hủ này. Đây là một trong những bài Thánh ca cổ nổi tiếng còn tồn tại tới ngày nay.
Có thể ít người biết rằng tác giả của bài Thánh ca “Pange Lingua” bất hủ lại chính là Thánh Thomas Aquinas (1225–1274), linh mục Dòng Đa-minh, Tiến sĩ Giáo hội Công giáo. Thật vậy, ngài không chỉ là Tiến Sĩ Thiên Thần mà còn là một Nhạc Sĩ tài năng. Chính sự thanh khiết như thiên thần và sự thánh thiện của ngài đã đưa ngài tới rất gần Thiên Chúa.
Theo yêu cầu của ĐGH Urban IV, người đã ấn định Lễ Mình Máu Chúa (Corpus Christi) được kính mừng trên toàn thế giới, Thánh Thomas Aquinas đã sáng tác bài Thánh ca này và được dùng làm Thánh ca chính thức của Giáo hội Công giáo.
Một linh mục khác là bạn thân của Thánh Thomas Aquinas cũng đã cố gắng sáng tác một bài Thánh ca để chầu Thánh Thể. Khi Thánh Thomas Aquinas hoàn tất, ngài chia sẻ bài Thánh ca đó với anh bạn linh mục kia, người bạn linh mục đã kinh ngạc về sự sang trọng và cách diễn tả lạ lùng của bài Thánh ca. Linh mục này liền xé bài hát của mình, vì nghĩ rằng bài mình viết chẳng là gì so với bài của anh bạn Thomas Aquinas.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Catholicism.about.com)

Giáo Hoàng Phanxicô Làm Tôi “Khó Chịu”

Tôi có điều cần thú nhận. Nếu bạn đọc tựa đề bài này thì bạn cũng biết rồi đấy, nhưng tôi muốn nhắc lại: ĐGH Phanxicô làm tôi khó chịu.
Tôi biết rằng là một người Công giáo thì tôi có thể không được nói hoặc cảm thấy điều đó, như đó là sự thật. Ngay từ khi được bầu làm giáo hoàng, ngài đã làm cho tôi cảm thấy khó chịu rồi.
Giật mình khi nghe nói “giáo hoàng đầu tiên là tu sĩ Dòng Tên” và thấy con người khiêm nhường này vẫy chào trên hành lang, và điều đó vẫn tiếp tục trong triều đại giáo hoàng của ngài.
Mỗi khi tôi thấy ngài qua tin tức, Facebook hoặc Twitter, tôi nghĩ ngày: “Ồ không, các phương tiện truyền thông cho rằng ngài nói gì lúc này?”. Sau đó, tôi bắt đầu thắc mắc: “Chờ xem, ngài nói gì nhỉ?”. Và thường thì tôi tự hỏi: “Ngài có nói với tôi không?”.
Trước tiên, tôi nghĩ rằng sự khó chịu của tôi do các phác họa của các phương tiện truyền thông về vị lãnh đạo mà tôi yêu mến, nhưng rồi tôi nhận thấy còn hơn như vậy. Ngài làm cho tôi khó chịu vì ngài thách thức tôi phải đích thân gặp Đức Kitô và Giáo hội theo cách hoàn toàn mới.
Tôi thấy cách ngài làm cho tôi khó chịu là điều tốt. Thật lòng mà nói, ngài nên làm cho tất cả chúng ta đều cảm thấy khó chịu. Một vị lãnh đạo làm cho người ta cảm thấy thoải mái thì không thể lãnh đạo hiệu quả. ĐGH Benedict XVI đã nói: “Thế gian hứa cho chúng ta sự thoải mái, nhưng người ta không được tạo dựng vì sự thoải mái, mà vì sự cao cả”.
Chúng ta không được tạo dựng vì sự thoải mái. Đôi khi tôi phải quên điều đó, nhất là khi có điều gì đó làm cho tôi cảm thấy không thoải mái. Chúng ta không được tạo dựng vì sự thoải mái, mà vì sự cao cả.
Là các Kitô hữu được rửa tội, chúng ta được mời gọi chịu thử thách. Chúng ta được mời gọi thách thức thế gian bằng tình yêu và đức tin của chúng ta. Đức Kitô đã thách thức thế gian, và giáo hoàng cũng phải vậy. Đức Kitô đã yêu cầu các môn đệ từ bỏ mọi sự thoải mái để theo Ngài, và ngày nay Ngài cũng yêu cầu chúng ta làm như vậy. Tương tự, là vị lãnh đạo Giáo hội, ĐGH Phanxicô cũng được mời gọi phải làm cho chúng ta khó chịu, như Chúa Giêsu đã làm và ngày nay Ngài vẫn tiếp tục làm như vậy.
Tôi nôn nóng hiện diện khi ĐGH Phanxicô tới Hoa Kỳ. Tôi muốn biết cách ngài thách thức bước ra khỏi những vùng khó chịu của chúng ta, nhưng tôi cũng cảm thấy khó chịu về những gì ngài nói thẳng với tôi, thách thức tôi theo cách mới. ĐGH Phanxicô nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không sống trong chiếc bong bóng Công giáo an toàn, nhưng chúng ta phải phấn đấu vì Nước Trời khi chúng ta sống trong thế giới này. Ngài thách thức chúng ta bước ra khỏi chiếc bong bóng an toàn đó và đem Đức Kitô đến với thế giới. Vâng, điều này luôn luôn gây khó chịu. Nhưng nhờ chấp nhận sự khó chịu này, chúng ta sẽ tìm được sự bình an mà Thiên Chúa hứa ban cho chúng ta, vì chúng ta được tạo dựng vì sự cao cả.
LIESL BEE
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)