dongcong.net
 
 


Tuần Thánh B: Trầm Thiên Thu

THÂM TÌNH

(Thứ Năm Tuần Thánh 2018 )
THÁNH THỂ THẦN LƯƠNG TRAO BAN NGUỒN SỐNG
NHÂN GIAN TỘI LỖI ĐÓN NHẬN PHÚC VINH

Thánh Phanxicô Assisi nói: “Cần đốt lên LỬA YÊU THƯƠNG, bởi vì có yêu thương thì tự nhiên sẽ đối đãi tốt với mọi người, luôn nói những lời yêu thương, và tâm hồn sẽ tự nhiên thu hoạch được rất nhiều kết quả”. Còn “Đoá Hồng Nhỏ” Teresa Lisieux, một chuyên gia tình yêu, cho biết: “Mặc dù tôi chỉ là người nhỏ nhất không chuyên làm những việc khác, nhưng chuyên làm việc yêu mến Thiên Chúa và hy sinh bản thân mình”.

Không thể tưởng tượng nổi nếu thế gian này vắng bóng tình yêu thương. Ai cũng muốnn yêu và được yêu, dù biết rằng “yêu là chết trong lòng một ít”. Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, thôi thì thà chịu khổ hơn chịu lỗ. Rất lô-gích. Và người ta có cách gọi đó là “thú đau thương”. Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Sau những ngày tháng hoang đàng, Thánh Giám mục Tiến sĩ Augustinô đã hối tiếc và thốt lên: “Con yêu Chúa quá muộn màng”, và rồi ngài cho biết: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Một mức độ kỳ lạ: mức-độ-không-giới-hạn. Thật thú vị!

Từ cổ chí kim, chắc hẳn chưa có một định nghĩa nào về tình yêu được coi là trọn vẹn nhất và có thể khiến người ta thỏa mãn. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Chỉ có một tình yêu đích thực nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và mức độ cũng rất khác nhau. Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên mình, đó mới là Tình Yêu chân chính. Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ và chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliet. Những chuyện tình thật lãng mạn và đẹp, mà cũng đầy chất bi thương, thế nhưng vẫn có sự vị kỷ trong tình yêu đó!

DẤU CHỈ

Dù tốt hay xấu, sự gì cũng đều có dấu chỉ – dấu hiệu, triệu chứng, điềm báo,… Bề ngoài khả dĩ thể hiện bề trong, và bề trong khả dĩ biểu lộ ra bề ngoài. Lửa và khói có laa lẫn nhau.

Trình thuật sách Xuất hành (Xh 12:1-8, 11-14) cho biết chi tiết về cách mừng lễ: Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”.

Luật cũ chú trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng cụ thể hơn ngày nay, nhưng đó là cách thể hiện đức vâng lời – vâng lời Thiên Chúa nghĩa là yêu mến Ngài, giữ luật Ngài.

Cái gì cũng có nguyên tắc, và cách ăn cũng có luật riêng: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã”, vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Ngay đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không phải vậy, vì luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” thì phải được dành ưu tiên cho Thiên Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa” – kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc cũng vẫn có cách mừng thu hoạch mùa màng như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch, lễ mừng cơm mới,…

Dịp lễ Vượt Qua, chính “vết máu bôi trên nhà” là dấu chỉ về việc “giữ luật”, là dấu chỉ của tình yêu thương, và những người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng họa trên đất Ai Cập. Ngày hôm đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Và Ngài xác nhận rằng “đó là luật quy định cho đến muôn đời”. Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU THƯƠNG nhiều và TRAO BAN nhiều, còn chúng ta ĐÓN NHẬN quá nhiều, thế nên cảm thấy ngại. Nhưng chính lúc biết ngại như vậy là tỏ lòng biết ơn, và tự đặt vấn đề:

Lấy chi đền đáp Chúa đây
Vì bao ân huệ chính Ngài đã ban?
(Tv 116:12)

Mặc dù chúng ta thật lòng muốn đền ơn đáp nghĩa đối với Thiên Chúa nhưng lại chẳng có gì để tiến dâng, nếu có thì cũng chỉ là những thứ bất xứng mà thôi. Thân tro phận bụi quá đỗi mọn hèn, nhưng vì tin yêu mà cả dám thân thưa:

Con nâng chén hồng ân cứu độ
Mà xưng tụng danh Chúa mãi thôi
(Tv 116:13)

Trong thời quân chủ, thần dân không được phép ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội “khi quân” và phải chết. Thần dân muốn tâu trình điều gì đều phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp, chỉ được tâu với cái “bệ rồng” Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ”. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan thật là quý giá, cái chết của những ai hiếu nghĩa với Ngài” (Tv 116:15). Chúng ta chỉ là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, mà lại được diễm phúc như thế thì phải hết lòng ghi nhớ thâm ân: “Con sẽ dâng hiến lễ tạ ơn mà xưng tụng danh Chúa” (Tv 116:17), đồng thời phải luôn tự thề hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể Dân Ngài” (Tv 116:18).

Chúng ta có làm vậy thì cũng là điều tất yếu mà thôi! Nhưng không thể yêu suông bằng lời nói, mà phải yêu bằng hành động cụ thể. Nói chưa đủ tin, làm mới thuyết phục.

CHỨNG TỎ

Hành động là thể hiện bằng việc làm, chia sẻ bằng cách nào đó. Thật vậy, Thánh Phaolô cho biết: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em” (1 Cr 11:23). Rồi ngài kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, và cuối bữa thì Chúa Giêsu nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11:24-25).

Thánh Phaolô giải thích: “Từ nay cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26), do đó mà chúng ta hằng ngày tuyên tín trong mỗi Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”, hoặc “Lạy Chúa, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết cho tới khi Chúa đến”.

Không lâu trước dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “giờ của Ngài” đã đến, giờ mà Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Với nhân tính, Ngài cũng cảm thấy lưu luyến người thân, những người mà Ngài yêu thương đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng.

Là Thiên Chúa, Ngài biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu. Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp trở về cùng Thiên Chúa. Do đó, trong một bữa ăn tối, bữa mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư Phụ có cách hành động “kỳ lạ nhất thế gian”.

Vì thế, khi Ngài đến chỗ Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13:6). Theo lẽ thường, không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13:7). Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13:8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13:8b). Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa” (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10). Ông Phêrô cụt hứng, như bị tạt ca nước lạnh. Rõ ràng Ý Chúa hoàn toàn khác ý loài người. Ngài rất thâm ý nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài mặc áo vào, về chỗ và thổ lộ tâm sự: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” (Ga 13:11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu gì ráo trọi, bởi vì đệ tử nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A”, y như trời trồng hết thảy. Thế nên Ngài nói luôn: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15).

Thật vậy, Thầy mà còn rửa chân cho đệ tử thì chắc chắn đệ tử không thể không rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho đệ tử, để đệ tử cũng làm như Thầy đã làm cho đệ tử. Đó là Luật Yêu của Chúa. Luật nhẹ nhàng thế mà lại không dễ thực hiện, lời giản dị mà lại thâm thúy lắm. Và đó cũng là điều mỗi chúng ta phải suy nghĩ, bởi vì chính Chúa Tể muôn loài đã làm gương cho mọi người soi chung.

Xét theo Việt ngữ, chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: Hướng lên Thiên Chúa, hướng tới tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, còn yêu mình ít thôi – không được yêu mình thái quá, vì sẽ biến thành “tự ái” (tự yêu mình thái quá) mà hóa thành vị kỷ (ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn có mối liên kết quan trọng: Cần Thiết ⇾ Thiết Tha ⇾ Tha Thứ. Đó là chu-trình-yêu-thương kỳ diệu vô cùng!

Và rồi phát sinh một hệ lụy khác: YÊU thì phải KÍNH (yêu kính), KÍNH thì phải NỂ (kính nể), NỂ thì phải TRỌNG (nể trọng), TRỌNG thì phải VỌNG (trọng vọng – vọng là mong), MONG thì thấy NHỚ (mong nhớ), NHỚ nghĩa là THƯƠNG (nhớ thương), tức là YÊU rồi đấy. Đó là vòng-tròn-tình-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà NHỚ Ngài thì PHẢI THỰC THI Thánh Ý Ngài. Hoàn toàn hợp lý!

Tương tự, khi nói về gia đình, chúng ta áp dụng từ ngữ “hiếu đễ”. HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà gia đình luôn “trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm” đích thực, đó là hạnh phúc gia đình. Đối với các mối quan hệ xã hội hoặc cộng đoàn cũng vậy. Nói chung, tất cả tóm gọn trong một chữ YÊU. Biết thương yêu cũng chính là biết thương xót theo ý muốn của Thầy Chí Thánh Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu, xin thánh hóa và biến đổi trái tim chúng con nên giống Thánh Tâm Ngài, để càng ngày trái tim của chúng con càng chứa nhiều “máu yêu” hơn, nhờ đó chúng con biết thể hiện cách yêu Ngài qua việc yêu tha nhân, đồng thời cũng can đảm sống và hành động “ngược đời” như Ngài, hôm nay và mãi mãi. Xin làm cho chúng con xứng đáng và vui mừng đón nhận Nguồn Sống từ Thánh Thể Ngài, và xin Thánh Thể tăng lực cho những người đau khổ phần hồn và phần xác. Chúng con tin kính Ngài là Đấng hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Yêu và cách yêu
(Thứ Năm Tuần Thánh, năm 2015)

Tình yêu là danh từ trừu tượng, thuộc lĩnh vực vô hình, nghĩa là không thể thấy, cũng không thể sờ, thế nhưng lại khả dĩ cảm nhận. Yêu là một động từ có vẻ dễ thực hiện nhưng lại rất khó sống trọn vẹn. Rất kỳ lạ!

Hôm nay là ngày vui mừng, với ba sự kiện lạ, cũng là ba bài học sâu sắc: Bí tích Thánh Thể, chức linh mục, và việc rửa chân. Bí tích Thánh Thể dạy chúng ta phải hy sinh, quên mình vì người khác; chức linh mục dạy chúng ta phải dấn thân phục vụ tha nhân; và việc rửa chân dạy chúng ta phải yêu thương bất cứ ai, nhất là đối với những người hèn mọn. Bài học nào cũng vô giá.

Đó là tình yêu ba-trong-một. Tất cả tóm gọn chỉ bằng một chữ YÊU. Tuy nhiên, yêu cũng phải biết cách, yêu cũng có phương pháp vậy.

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) còn gọi là Thứ Năm Giao Ước, Thứ Năm Tuyệt Đối, hoặc Thứ Năm của các Mầu Nhiệm. Theo La ngữ, chữ Maundy nghĩa là “mệnh lệnh”. Thứ Năm Tuần Thánh muốn nói tới mệnh lệnh mà Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: “Hãy yêu thương nhau” (Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17). Và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới. Có thể gọi Thứ Năm Tuần Thánh là Ngày Tình Yêu Thánh của các Kitô hữu.

Về cách mừng lễ, Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên” (Xh 12:1-4). Con chiên đó phải có các đặc điểm: toàn vẹn, giống đực, không quá một tuổi. Nếu không tìm được con chiên đủ các điều kiện đó thì có thể thay thế bằng con dê.

Về cách thực hiện, Đức Chúa cho biết: “Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng” (Xh 12:6-8).

Cách ăn mừng lễ cũng khác hẳn, “lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy, và ăn vội vã” (Xh 12:11). Lý do đơn giản: Đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Và Đức Chúa còn cho biết thêm: “Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai-cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai-cập: vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập. Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này: đó là luật quy định cho đến muôn đời” (Xh 12:12-14). Vết máu là dấu chỉ “chuyện chẳng lành”, nhưng ở đây, vết máu lại là điềm tốt lành cho dân chúng.

Bữa Tiệc Ly là dạ tiệc, nhưng không chỉ là dạ tiệc mừng lễ Vượt Qua bình thường, mà là Dạ Tiệc Thánh – Tiệc Thánh Thể. Thánh Phaolô nói: “Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô” (1 Cr 10:16).

Ăn và uống là hai hành động không thể tách rời, Việt ngữ gọi là ăn uống. Ăn uống để duy trì sự sống, nhưng vào thời điểm này hơn hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã cho chúng ta loại ẩm thực đặc biệt, không chỉ nuôi sống thể lý mà còn nuôi dưỡng linh hồn: Mình Máu Thánh. Quả là đại hồng ân đối với chúng ta, nhưng chúng ta chỉ là những kẻ trắng tay: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho?” (Tv 116:12). Chắc hẳn không gì hơn là “nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116:13).

Biết ơn và muốn cảm tạ, nhưng lại không có gì để chứng tỏ. Thật buồn cho kiếp con người. Thế nhưng cũng với tâm trạng đó, học giả Rabindranath Tagore (Rabīndranātha Thākura, 1861-1941, Ấn Độ) lại có ước mong rất tuyệt vời: “Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế Người là tất cả của tôi. Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi, đến với Người trong mọi sự, và dâng Người tình yêu trong mọi lúc. Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người. Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì, nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người, và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi”. Ước gì mỗi chúng ta cũng thực sự có ước muốn như vậy, nhất là trong Đêm Thánh hôm nay, khi chúng ta lặng lẽ chầu kính Thánh Thể.

Chắc hẳn đêm nay rất kỳ diệu, cảm giác rất khó tả, nhất là khi chúng ta kiệu Mình Thánh và cùng chúc tụng Chúa qua bài thánh ca Pange Lingua (*) của Thánh Thomas Aquinas (1225-1274), Linh mục, Tiến sĩ Giáo hội.

Thánh Phaolô vừa chia sẻ cảm nghiệm vừa xác nhận việc làm chứng nhân: “Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: ‘Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:23-25). Những lời này không lạ, nếu không muốn nói là quen, nhưng hôm nay nghe hoặc đọc lại, chúng ta thấy có điều khác lạ.

Điều quan trọng cần lưu ý là lời cảnh báo của Thánh Phaolô: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa” (1 Cr 11:26-27). Nghe rất bình thường mà lại rất khác thường, vì liên quan “vận mệnh” của chúng ta ngày sau!

Trình thuật Ga 13:1-15 nói về tình yêu thương và cách yêu thương mà Chúa Giêsu thể hiện, nhưng có ý nghĩa mạnh mẽ hơn: “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”. Điểm nhấn mạnh ở đâu? Đó là tình yêu tuyệt đối của Chúa Giêsu, với cách yêu thương là “yêu thương đến cùng”. Đã yêu là mãi yêu, dù người được yêu hoàn toàn bất xứng, và Ngài luôn cho họ có nhiều cơ hội chấn chỉnh chứ không chỉ một cơ hội. Phàm nhân có mấy ai?

Mỗi năm chúng ta nghe đoạn Phúc Âm này ít nhất một lần vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh. Nhưng có lẽ chúng ta ít khi cảm thấy “sự lạ” trong đó. Con người chúng ta thật phức tạp, và cũng thật tệ! Chúng ta chưa xin mà Thiên Chúa vẫn cho chúng ta có thêm cơ hội để tu tâm sửa tính.

Cảnh vui chưa trọn, cảnh buồn vội nối theo. Đêm định mệnh năm xưa, ma quỷ đã gieo ý định nộp Đức Giêsu vào lòng môn đệ Giuđa, con ông Simôn Ítcariốt. Đức Giêsu biết rằng Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Ngài, Ngài bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa.

Cũng trong đêm định mệnh đó, khi Thầy trò cùng ăn mừng lễ, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn mà thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu, Ngài bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.

Khi Ngài đến chỗ ông Simôn Phêrô, ông ngạc nhiên và nói: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô nhất định không chịu. Nhưng Đức Giêsu nghiêm giọng: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Ôi, thế thì không ổn rồi! Thế là ông liền phấn khởi nói: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa”. Chả trật đi đâu, y như rằng người nóng tính là người mau mắn.

Tuy nhiên, Đức Giêsu lại khác hẳn, không như người ta tưởng. Ngài phân tích: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”. Câu nói thật là thâm thúy, vì Ngài biết ai sẽ nộp Ngài. Với tính từ “sạch”, người ta chỉ hiểu theo nghĩa đen, nhưng Chúa Giêsu nói theo nghĩa bóng.

Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào và về chỗ. Ngài âu yếm nhìn các môn đệ và ôn tồn nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”.

Đoạn Phúc Âm dừng lại như màn kéo che sân khấu sau mỗi cảnh. Câu hỏi của Chúa Giêsu đặt ra vẫn còn vang vọng mãi: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?”. Và mỗi người phải tự trả lời với Ngài về chữ YÊU và CÁCH YÊU của chính mình.
Lạy Chúa Giêsu, xin thương tha thứ về việc chúng con chưa thực sự yêu mến Thánh Thể Ngài và chưa thực hiện đúng “Điều Răn Mới” mà Ngài truyền dạy. Xin biến đổi chúng con và giúp chúng con biết cách yêu cho đúng ý Ngài muốn. Nhờ đó, chúng con biết loan báo về Ngài và xứng đáng là môn đệ của Ngài tại trần gian này. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

KHÁT TÌNH

( Thứ Sáu Tuần Thánh 2018 )
BỬU HUYẾT GIÊSU TƯƠI MÀU CỨU ĐỘ
OAN KHIÊN THẾ GIỚI HÓA SẮC TINH TUYỀN

Có nhiều dạng khát – bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng, nhưng có lẽ mạnh mẽ và ray rứt nhất là dạng “khát tình”. Thật vậy, chính Chúa Giêsu cũng đã phải thốt lên trong những giây phút cuối cùng: “TÔI KHÁT!” (Ga 19:28) – khát cả thể lý lẫn tinh thần.

Tam Nhật Vượt Qua là “đỉnh cao” của Mùa Chay, còn gọi là Tam Nhật Thánh (Triduum). Trong đó, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là Ngày Đại Tang, là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 15 giờ), giờ của Lòng Chúa Thương Xót.

Khoảnh khắc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là lúc lắng đọng và xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Phút cuối là khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ trong tích tắc, nhưng lại nặng nề trôi… Và phút cuối là lúc người ta bịn rịn nhất, cũng là lúc nói thật nhất của một con người.

Đối với Chúa Giêsu, Ngài có 2 bản tính: Thần tính và nhân tính. Và theo nhân tính, Ngài nên giống chúng ta mọi sự – trừ tội lỗi. Tất nhiên Ngài cũng rất đau đớn và rời rã vì kiệt sức do đòn roi, phải tự vác Thập giá lên đồi, té lên té xuống nhiều lần, chịu đói khát, bị những gai nhọn đâm thấu đầu, bị đinh ghim chặt chân tay và lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn, không thể tưởng tượng nổi, đến nỗi thân xác Ngài chảy ra đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng. Thật thê thảm!

CHIÊN CON HIỀN LÀNH

Chiên con là “cừu nhỏ” – chỉ 1 năm trở xuống, còn cừu là “chiên lớn” (hơn 1 năm trở lên). Chiên con không chỉ nhỏ bé, ngây thơ, mà còn hiền lành. Khi nói về Chiên Thiên Chúa, Đức Chúa đã mô tả: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa” (Is 52:13-14 – Bài ca thứ tư về Người Tôi Trung). Mặc dù vậy, mọi người vẫn phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn. Chính Người-Tôi-Trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52:15). Người-Tôi-Trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca” (Is 53:6; Cv 8:32).
Ngày nay, chúng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức đau khổ trong cuộc khổ nạn tang thương của Ngài, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên cảm thấy… bình thường, và cũng cho đó là “chuyện nhỏ”. Có thể có người đặt vấn đề: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?” (Is 53:1). Đúng là khó tin thật, thế nhưng đó lại là sự thật minh nhiên, không thể chối cãi!
Từ ngàn xưa, ngôn sứ Isaia mô tả: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Thật là nghịch lý quá, có lẽ vì chúng ta ảo tưởng quá chăng?
Ngôn sứ Isaia đưa ra bảng đối chiếu và liệt kê rõ ràng: “Chính Ngài đã bị đâm VÌ chúng ta phạm tội, Ngài bị nghiền nát VÌ chúng ta lỗi lầm, Ngài đã chịu sửa trị ĐỂ chúng ta được bình an, Ngài đã phải mang thương tích ĐỂ chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Bốn “cặp đối” rất tuyệt vời, chứng tỏ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Chắc chắn trí óc loài người chúng ta không thể tưởng tượng nổi có một Con Người lạ lùng như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì ắt chúng ta cho là “dại dột”, là “ngu xuẩn”, là “điên khùng”, là “mất trí”, là “tâm thần”. Thiên Chúa thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”, nhưng Đức Chúa đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãi mà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53:6). Người Ấy còn “bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53:8a). Thậm chí “Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”, và “vì tội lỗi của dân, Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53:8b). Người Ấy bị hàm oan chỉ vì chúng ta quá khốn nạn!
Và cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:9). Nhưng đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:11). Đức Giêsu đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Trong “núi tội” đó có nhiều tội của mỗi chúng ta!
Qua miệng lưỡi của Thánh Vịnh gia, Người Ấy đã nói lời cuối của Con Người hấp hối: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:2 & 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa. Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ, con hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13). Là con người thì ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi ai cũng khinh ghét và bỏ rơi mình nên nói vậy thôi, nhưng vẫn tin tưởng vào Chúa, cho nên mới dám thân thưa: “Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con” (Tv 31:15-16).
Dù cho thế nào thì Người Ấy vẫn chấp nhận mọi thiệt thòi, vui chịu chứ không cam chịu, và thành tâm cầu khấn: “Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với những người khác như một lời khuyên: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18).
Lời minh định của Thánh Phaolô rất rạch ròi: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4:14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, chúng ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Trong tất cả các ân sủng, Lòng Chúa Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng! Chính Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta, những con người còn phải đối mặt với đủ loại “khổ não trần ai” của kiếp này.
Lúc còn sinh thời của kiếp phàm nhân, Đức Giêsu cũng đã từng lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Vâng phục không là điều dễ, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa, ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:7). Thật không hề đơn giản chút nào khi phải miệt mài chịu đau khổ như vậy!
Tuy nhiên, chính lúc đó lại là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua “chặng đàng Thánh Giá” và cái chết mới tới sự phục sinh vinh quang. Chúng ta không thể không “nhâm nhi chén đắng” để trải nghiệm đau khổ. Không có hạnh phúc nào không có đau khổ, thiếu vắng hy sinh. Chắc chắn không thể cứ tà tà mà được tận hưởng.
Thánh Gregorio Khandzta (759-861, người thành lập nhiều cộng đoàn tu trì tại Tao-Klarjeti, thuộc Tây Nam Georgia) đã tha thiết cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, Ngài đã BỊ CÁM DỖ và CHỊU ĐAU KHỔ. Ngài là Đấng quyền năng đã đến để CỨU GIÚP những người đang bị xiềng xích bởi ma qủy, vì Ngài luôn nâng đỡ những kẻ đi theo Ngài. Lạy Chúa, xin GÌN GIỮ những kẻ tin vào Danh Thánh Ngài trong cánh tay Ngài. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, mà ban niềm hoan lạc bất diệt”.
CHIÊN CON BỊ GIẾT
Trình thuật Phúc Âm hôm nay là tấn bi kịch, là bộ phim dài sầu thảm, Giáo Hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng, quả thật là điều kỳ diệu!
Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong 12 môn đệ “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình với giá quá bèo. Người ta lục soát, tìm cách gài bẫy và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “ghế”, thế nên họ làm mọi cách để hạ nhục Ngài đủ kiểu. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn hạ!
Ngài hỏi: “Các anh tìm ai?”, thì họ đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói “chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Có lẽ lúc này Giuđa đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài!
Ngài lại hỏi họ muốn tìm ai. Họ vẫn cương quyết là tìm Giêsu Nadarét, họ không hề thấy tởn chút nào. Lì thật! Đức Giêsu thản nhiên xác nhận: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18:9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.
Cơn tức giận dâng cao, nỗi hận thù đầy ắp, họ liền bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan – nhạc phụ ông Cai-pha. Năm đó ông Cai-pha làm thượng tế. Chính ông này đã nói với người Do Thái một đề nghị tồi tệ: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18:14). Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!
Thế nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Không phải đâu!”. Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng cộng 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Thật tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay. Buồn thế đấy!
Tuy Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói chi cả, không tự biện minh cho mình là đúng, cũng chẳng một lời kêu oan hoặc oán trách. Chiên Con hiền lành lắm!
Mãi tới lúc bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn – nghĩa là liên quan người khác, Ngài mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18:22). Hỗn láo và ngang ngược thật! Ngày nay người ta cũng hống hách kiểu như vậy khi đối xử với đồng loại. Mặc dù bị xử tệ, Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá. Và tất nhiên họ phải câm họng thôi!
Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không trả lời đúng hay sai, mà bình thản nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18:36). Ui da, thế mà lão Philatô vẫn không hiểu ất giáp chi cả, mà còn hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu ôn tồn: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:37). Ông Philatô tỏ ra ngớ ngẩn nên hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38). Đúng là “dốt đặc cán mai” mà!
Vào dịp lễ Vượt Qua và theo tục lệ Do Thái, người ta thường ân xá cho một tội nhân. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, họ liền la to: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương và quý hơn là Chúa Giêsu – dù chính Philatô hai lần xác định là Chúa Giêsu “không có tội gì” (Lc 23:4 và 22).
Và rồi Philatô truyền đem Ngài đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19:6). Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, thì quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không đề cao nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?
Dù ai nói gì thì nói, Chúa Giêsu vẫn im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, không bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Bất nhân quá! Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt. Nhưng Ngài nói thẳng với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.
Cuối cùng, ông Philatô đành cho thi hành án tử đối với Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập giá lên đồi Gôn-gô-tha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Can-vê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp. Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22). Tấm bảng đó nhằm mỉa mai nhưng chính nó lại là lời xác nhận công khai rằng “Chúa Giêsu là Vua dân Do Thái”. Lão Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen. Hèn!
Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác quần áo của Ngài. Họ muốn chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu! Lúc đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Tetelestai! Mọi sự đã hoàn tất!” (Ga 19:30). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí. Tang thương bao trùm, đất trời rung động!
Sự kiện bi thương hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế Giáo Hội không cử hành thánh lễ hôm nay mà chỉ có phụng vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh giá và rước lễ.
Thiên Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Thật vậy, khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, chính Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Chính chúng ta mới là những kẻ đáng phải khóc thương!
Và có một điểm khác mà chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”. Kiểu này rất nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó. Cần chấn chỉnh và cần can đảm là chính mình, đặc biệt là phải biết khát và nhận ra cơn khát của người khác để cố gắng giúp họ thỏa cơn khát!
Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, chính con là kẻ khốn nạn mà vẫn tưởng mình tốt lành hơn người khác, con đã hèn nhát khi a dua và đồng lõa với cái ác mà cứ tưởng mình chân chính hơn người khác. Hôm nay, con chân thành nhận lỗi, xin lỗi Ngài và xin lỗi mọi người. Xin Ngài thương xót con mà đại lượng ban cho con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Con Yêu Dấu của Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU


Giá Máu
(Thứ Sáu Tuần Thánh, năm 2015)

Hôm nay là ngày Đại Tang của Công giáo và của những người có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Nếu cuộc đời là một bộ phim thì cảnh tượng hôm nay là bộ phim buồn nhất, thê lương nhất.

Cái gì cũng có cái giá của nó,hạnh phúc cũng phải “mua” bằng ít nhiều đau khổ, nhưng không gì mắc bằng “giá máu”. Máu màu đỏ, giúp cơ thể sống: Thiếu máu thì yếu, mất máu thì chết.

Mỗi phút, trái tim của một người trưởng thành, khoẻ mạnh bình thường, đập khoảng 70 lần, mỗi lần đẩy ra 150 ml máu. Mỗi ngày tim đập 105.000 lần và bơm hơn 6.000 lít máu vào các mạch máu dài 96.000 km. Trong suốt đời người, tim lần lượt đập khoảng 3 tỷ nhịp, bơm ra cả triệu thùng máu. Tim và máu liên quan lẫn nhau. Vô cùng kỳ diệu!

Sách ngôn sứ Isaia có bốn “Bài Ca Người Tôi Trung” (Is 42:1-9; Is 49:1-7; Is 50:4-11; Is 52:13-15), nói về nỗi đau khổ của Người Tôi Trung, thế nên cũng gọi là Người Tôi Tớ Đau Khổ.

Bài đọc I trong nghi thức Đại Tang hôm nay là một trình thuật dài. Đây là bài ca thứ tư trong số các “Bài Ca Người Tôi Trung”, và là bài ca dài nhất: Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa, cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ”. Người Tôi Trung chịu đủ thứ đau khổ, từ tinh thần đến thể lý, và không còn gì là hình dạng một con người nữa! (*)

Sau đó, trình thuật Is 53:1-12 cho biết chuỗi đau khổ nối tiếp của Người Tôi Trung. Ngôn sứ Isaia đã đặt vấn đề: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được? Cánh tay uy quyền của Đức Chúa đã được tỏ cho ai?” (Is 53:1). Vâng, thật không thể tin nổi lại có người chịu nhục hình quá đỗi đến như vậy, và cũng chẳng thể tin nổi lại có những kẻ tàn ác đến thế. Họ không chỉ thay phiên nhau đánh Chúa Giêsu, mà còn đánh hội đồng, đánh không nương tay với những chùm dây da có gắn nhiều cục chì hoặc móc. Kinh khủng vô cùng!

Hôm nay, trước khi hôn kính Thánh Giá, chúng ta hãy lắng nghe thật kỹ chuyện về Người Tôi Tớ Đau Khổ để thấy chính mình trong đó, để thương khóc cho tội lỗi mình, chứ Chúa Giêsu không cần chúng ta khóc thương Ngài đâu!

Người Tôi Trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn, nhưng chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới. Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.

Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta. Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng.

Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa. Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ. Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.

Nghe từng câu, thấm từng lời, chúng ta sẽ thấy mình khốn nạn, nhưng Chúa Giêsu vẫn chịu tất cả vì yêu chúng ta.

Dù chịu đựng nỗi đau khổ tột cùng, Người Tôi Trung vẫn một lòng thành tín: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:2 và 6).

Và dù “nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng” bị “bạn bè thân thích kinh hãi”, dù “ai cũng tránh xa”, hoặc bị lãng quên như kẻ chết không người tưởng nhớ” và “hoá thành đồ hư vất bỏ”, nhưng Người Tôi Trung “vẫn tin tưởng nơi Ngài”, vẫn dám thưa rằng: “Ngài là Thượng Đế của con” (Tv 31:12-15). Số phận có thế nào thì cũng là do Thiên Chúa định liệu, Người Tôi Trung nhất quyết trao phó cuộc đời mình cho Thiên Chúa: “Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con. Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:16-17).

Hôm nay, một lần nữa, chúng ta hãy nhìn lại chính mình, và hãy lắng nghe lời động viên: “Hỡi mọi người! Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25).

Vâng, hãy cậy tin vào Ngài! Thánh Phaolô vừa phân tích vừa động viên: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:14-16).

Nói đến đau khổ thì vô cùng, đau khổ quá nhiều, đủ hình dạng, đủ kiểu cách. Gặp đau khổ thì ai cũng sợ, chán ngán hơn bất cứ thứ gì khác, nhưng nếu không có đau khổ, cuộc đời chúng ta sẽ nhàm chán. Thánh Phaolô cho biết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:7-9). Vâng phục là nhân đức quan trọng, nhưng để học được bài học vâng phục thì phải trả giá rất đắt. Và chính Chúa Giêsu đã phải trả bằng GIÁ MÁU.

Trình thuật Ga 18:1–19:42 như một bộ phim dài, kể từ đêm Vườn Dầu cho tới chiều Đồi Sọ. Trong đó biết bao là tình tiết, nếu làm phim thì phải là bộ phim nhiều tập nói về bi kịch của một Con Người Công Chính – Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Khi ông Giuđa dẫn đầu một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu, có vũ trang đầy đủ. Đức Giêsu tiến ra và hỏi họ tìm ai. Họ nói thẳng là tìm Giêsu Nadarét. Ngài nói ngay: “Chính tôi đây”. Nghe vậy, họ lùi lại và ngã xuống đất – trong đó có cả Giuđa. Vậy mà họ vẫn không sợ. Đức Giêsu lại hỏi họ tìm ai. Họ vẫn khăng khăng là tìm Giêsu Nadarét. Đức Giêsu cho họ bắt, nhưng xin không bắt các đệ tử. Thế là ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai”.

Khi đó, ông Phêrô máu bốc tới chỏm đầu, ông liền vung gươm chém đứt tai phải của Man-khô, đầy tớ của thầy thượng tế. Đức Giêsu bảo ông Phêrô xỏ gươm vào bao, vì Ngài chấp nhận uống Chén Đắng mà Chúa Cha đã trao. Rồi họ trói và dẫn độ Đức Giêsu đến ông Kha-nan, nhạc phụ của thượng tế Cai-pha. Ông Phêrô và một môn đệ khác (Gioan) đi theo Đức Giêsu. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh. Còn ông Phêrô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô thuộc nhóm môn đệ, nhưng ông liền chối phăng. Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó, ông Phêrô cũng đứng sưởi với họ.

Thượng tế Caipha tra hỏi Đức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Ngài, nhưng Ngài nói: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì”. Đức Giêsu vừa dứt lời, một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Ngài vì cho Ngài trả lời như thế là vô lễ với thượng tế. Nhưng Ngài hỏi vặn lại: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?”. Tất nhiên họ câm họng. Họ chỉ muốn dùng quyền lực mà thay trắng đổi đen thôi!

Những kẻ thủ ác tội lỗi ngập đầu mà dám xét xử và kết án người vô tội. Chúng ta có như họ? Có đấy. Chúng ta không xét xử Chúa Giêsu nhưng chúng ta xét nét và khinh chê tha nhân, mà ghét người khác tức là ghét Chúa.

Trong khi đó, ông Phêrô vẫn đứng sưởi, chợt có người khác nhận ra ông thuộc nhóm môn đệ của Chúa Giêsu, và ông cũng lại chối ngay lập tức. Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phêrô chém đứt tai, cũng nhận ra ông Phêrô, nhưng ông vẫn nhất quyết nói không quen với Đức Giêsu. Ngay lúc ấy gà liền gáy. Ông Phêrô giật mình nhớ lại lời Thầy, và ông chạy ra chỗ khác mà khóc òa...

Sau đó, họ điệu Đức Giêsu tới dinh tổng trấn Philatô. Lúc đó trời vừa sáng. Ông Philatô hỏi họ tố cáo Đức Giêsu về tội gì. Họ không trả lời rõ mà vòng vo: “Nếu ông này không làm điều ác thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan”. Ông Philatô bảo họ cứ xét xử theo luật của họ, nhưng họ nói rằng họ không có quyền xử tử ai.

Ông Philatô hỏi Đức Giêsu có phải là vua hay không, nhưng Ngài bảo đó là chính Philatô nói, và Nước của Ngài không thuộc về thế gian này, Ngài sinh ra và đã đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật. Không biết dốt thật hay cố ý mà ông Philatô đã hỏi: “Sự thật là gì?”. Ngày nay, vẫn có nhiều người cố ý “giả nai” như vậy!
Tục lệ của người Do-thái thường tha một người nào đó vào dịp lễ Vượt Qua. Ông Philatô hỏi họ muốn tha “vua Do-thái” hay không, họ la toáng lên: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!”. Thật tồi tệ, vì Chúa Giêsu đã bị họ ghét còn hơn tên cướp khét tiếng Baraba.

Vì hèn nhát, ông Philatô chiều ý họ mà truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Ngài. Họ kết vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Ngài, và khoác cho Ngài chiếc áo choàng đỏ, rồi vừa mỉa mai vừa vả vào mặt Ngài: “Kính chào Vua dân Do-thái!” (βασιλεὺς τῶν Ἰουδαίων). Sau đó, ông Philatô dẫn Đức Giêsu ra ngoài cho thấy mà thương, và muốn cho họ biết ông ta không tìm thấy lý do nào để kết tội Đức Giêsu. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên: “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá!”. Ông Philatô lắc đầu, đành giao Ngài cho họ. Ông Philatô không dám hành động vì công lý, không dám bảo vệ sự thật, không có lập trường. Còn chúng ta? Đã bao lần chúng ta hèn nhát như ông Philatô?

Họ bắt chính Đức Giêsu vác lấy thập giá đến Đồi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Gôn-gô-tha. Tại đây, họ đã đóng đinh Ngài vào thập giá. Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tử tội khác.

Trước đó, tổng trấn Philatô đã cho viết một tấm bảng bằng ba ngôn ngữ – Do Thái, Latin và Hy Lạp. Bảng đó ghi rõ: “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” (Ga 19:20). Tiếng Do Thái: תשווע מנצרת, מלך היהודים; tiếng Latin: INRI hoặc IN-RI (Iēsus Nazarēnus, Rēx Iūdaeōrum); tiếng Hy Lạp: ΙΝΒΙ (Ο Ιησούς από τη Ναζαρέτ, ο βασιλιάς των Εβραίων) – và tiếng Anh: Jesus the Nazarene, King of the Jews; tiếng Pháp: Jésus le Nazaréen, roi des Juifs. Tấm bảng này được treo ngay phía bên trên đầu Chúa Giêsu. Họ cũng không muốn viết vậy nhưng ông Philatô quyết không thay đổi. Họ cũng không có ý xác nhận, mà họ có ý mỉa mai. Nhưng, tất cả không ngoài Thánh Ý Chúa.

Đóng đinh Đức Giêsu xong, lính tráng chia nhau y phục của Đức Giêsu. Tay nào cũng hí hửng, cười toe toét, nhưng vẫn không giấu được nét bặm trợn của những kẻ tà tâm. Thiên Chúa vẫn tôn trọng quyền tự do của họ.

Đứng gần Thập Giá có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu đã trao Đức Mẹ cho Gioan, và xác nhận Đức Mẹ là mẹ của Gioan. Sau đó, Đức Giêsu kêu: “Tôi khát!”. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Ngài. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!”. Rồi Ngài gục đầu xuống và trao Thần Khí.

Trời nắng chang chang mà bỗng tối sầm lại, sấm chớp rung động cả đất trời. Nhiều người đấm ngực ăn năn và nhận biết chính tử tội Giêsu là Con Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin tha thứ và thương xót chúng con!

Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế, họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu, họ thấy Ngài đã chết nên không đánh giập ống chân Ngài, nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.

Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, cũng là môn đệ theo Đức Giêsu, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Giô-xếp và ông Ni-cô-đê-mô hạ thi hài Ngài xuống. Họ lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái, các ông mai táng Đức Giêsu tại một ngôi mộ trong khu vườn gần đó. Người đời thấy vậy là hết. Chấm hết. Nhưng với Thiên Chúa thì đó lại là một khởi đầu mới của điều lạ mới...

Hôm nay, khi tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu, chúng ta hãy cầu nguyện theo cách của Thánh nữ Bernadette: “Con không xin thoát khỏi khổ đau, nhưng xin Ngài đừng bỏ mặc con trong lúc khổ đau”.

Lạy Thiên Chúa, chúng con xin lỗi Ngài, xin tha thứ và giúp chúng con biết đi qua thung lũng đau khổ để có thể tới miền ánh sáng. Xin giúp chúng con biết chết cho tội lỗi mình hằng ngày để sống xứng đáng với Giá Máu của Con Yêu Dấu của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU
(*) Xem “Cuộc Khổ Nạn Của Chúa Giêsu”, có lồng tiếng Việt

Những Vết Thương

Khi nói về Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu, đặc biệt là trong Tuần Thánh, chúng ta thường nhắc tới Năm Vết Thương – tức là chỉ tính bốn dấu đinh ở hai chân và hai tay, với dấu lưỡi đòng (ngọn giáo) ở ngực Chúa Giêsu, chứ không kể vòng gai (mão gai).

Cơ thể có những bộ phận quan trọng, giúp cơ thể hoạt động: Tứ chi, trái tim và bộ não. Thế mà tứ chi bị đóng đinh, trái tim bị đâm, và đầu bị đội vòng gai nhọn. Các bộ phận chính của cơ thể đều bị thương thì làm sao cơ thể hoạt động được?

Chúa Giêsu không chỉ vô tội mà còn toàn thiện, công chính, chí thánh,... thế nhưng Ngài đã bị người đời ghen ghét vì Ngài dám phanh phui cái xấu của họ, như Cựu Ước đã nói: Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Anh chàng Giuđa vì ham mê tiền bạc mà bán rẻ lương tâm để có thể bán đứng Thầy mình, các nhà lãnh đạo tôn giáo và xã hội chỉ vì sợ mất “chiếc ghế địa vị” mà dùng quyền lực để hành hạ người lành, dù họ không tìm thấy Chúa Giêsu có lỗi gì.
Dù không tì vết, Chúa Giêsu vẫn bị các vết thương trên khắp thân thể. Các vết thương đó cho chúng ta bài học gì, và nhắc nhở chúng ta điều gì?

BỐN DẤU ĐINH. Các cây đinh được đóng vào chân tay Chúa Giêsu để ghim chặt Thánh Thể Ngài vào Thập Giá. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng chân tay là các “trợ thủ” đắc lực trong các hoạt động thể lý, đặc biệt nên lưu ý các hoạt động xấu. Tay và chân đều bị đóng đinh thì không còn vận động được, cũng chẳng còn có thể tham gia phạm tội. Nghĩa là chúng ta phải quyết tâm “chết” cho tội lỗi, như mầu nhiệm thứ Năm trong Năm Sự Thương dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin cho con biết đóng đinh tính xác thịt vào Thánh Giá Chúa”.

MỘT LƯỠI ĐÒNG (GIÁO). Trái tim là trung tâm bơm máu lên não và phân phối đi khắp các bộ phận của cơ thể. Quan trọng lắm. Thánh Tâm Chúa Giêsu đã bị một tên lính thẳng tay đâm vào, làm cho trái tim đó chảy hết giọt Máu và Nước cuối cùng. Điều này nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương vô hạn, yêu thương cả kẻ thù, yêu thương tới cùng, dù chúng ta bị phản bội. Tình yêu vô điều kiện, cho đi mà không đòi hỏi gì.

MỘT VÒNG GAI. Chỉ một vòng gai nhưng có nhiều mũi gai. Loại cây gai làm vòng gai đội lên đầu Chúa Giêsu là loại gai cứng, nhọn. Người ta gọi vòng gai đó là “vương miện” và đặt lên đầu Ngài, rồi người ta lấy cây gậy đập lên cho các gai nhọn đâm vào đầu Ngài. Thấu óc. Nhức buốt lắm. Kinh khủng quá! Điều này nhắc nhở chúng ta rằng não bộ là trung tâm điều khiển toàn thân, rất nguy hiểm khi đầu óc có suy nghĩ lệch lạc, bắt trái tim và tứ chi phải nghe theo. Phải chăng vì thế mà đầu chịu nhiều gai nhọn đâm vô?

Tội lỗi cũng có tính liên đới. Tội của người khác có liên đới với mình, và tội của mình có liên đới với người khác. Không đơn giản như chúng ta nghĩ: “Tội ai nấy chịu, phúc ai nấy hưởng”. Nếu vậy thì chỉ là ích kỷ. Tình yêu không chấp nhận lòng ích kỷ. Do đó, cầu nguyện cho các tội nhân là một trong các bổn phận của chúng ta. Trong Nhật Ký, số 648, Thánh Faustina cho biết rằng lúc 3 giờ chiều, Chị thấy Chúa Giêsu bị đóng đinh và nhìn Chị, rồi Ngài nói: “Ta khát”. Chị nói rằng đó là lời kêu “khát” các linh hồn. Chúa Giêsu khao khát đem các linh hồn tội lỗi về với Chúa Cha.

Một lần khác, Chúa Giêsu cũng nói với Thánh Faustina về việc này: “Ta khát. Ta mong muốn cứu các linh hồn, con hãy giúp Ta cứu các linh hồn. Con hãy kết hợp các đau khổ của con với Cuộc Khổ Nạn của Ta và dâng mọi đau khổ của con cho Chúa Cha để cứu các linh hồn” (Nhật Ký, số 1032). Chúa Giêsu còn nói với Thánh Faustina: “Con luôn an ủi Ta khi con cầu nguyện cho các tội nhân. Lời cầu nguyện làm vui lòng Ta nhất là lời cầu nguyện cho các tội nhân” (Nhật Ký, số 1397). Như vậy, chúng ta biết được rằng Chúa Giêsu rất thương các tội nhân và rất muốn cứu họ. Ngài muốn chúng ta cộng tác với Ngài. Đúng như lời Ngài đã nói về con chiên lạc: “Trên trời, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15:4-7) – theo cách nói của Thánh Luca, hoặc: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18:12-14) – theo cách nói của Thánh Mátthêu.

Trong bài thứ nhất của Bài Ca của Người Tôi Trung, Thiên Chúa đã tuyên phán: “Ta là Đức Chúa, Ta đã gọi ngươi, vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta. Ta đã nắm tay ngươi, đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước, để mở mắt cho những ai mù loà, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm” (Is 42:6-7). Đó là thực hiện công lý. Nếu không làm như vậy, chúng ta không chỉ sống tiêu cực, nói suông, mà còn vi phạm công lý – tức là chúng ta gây nên các vết thương cho tha nhân, những người anh chị em của mình.

Trình thuật Ga 12:1-11 cho biết: Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu đến làng Bêtania, nơi anh Ladarô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết. Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giêsu; cô Mácta lo hầu bàn, còn anh Ladarô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người. Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chấtquý giá xức chân Đức Giêsu, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. Khi đó, Giuđa Ítcariốt liền nói: “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo?”. Y nói thế không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung. Đức Giêsu nói: “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu”.

Dầu cam tùng quý giá lắm, mà đây lại là loại hảo hạng, mắc tiền lắm. Một bình dầu thơm loại này giá ba trăm quan tiền, trong khi Con Người Giêsu chỉ đáng giá ba mươi đồng (Mt 26:15; Mt 27:3 và 9). Các vết thương trên Thánh Thể Chúa Giêsu đau nhức lắm, nhưng chắc chắn không nhức buốt bằng các vết thương tinh thần mà Ngài phải chịu.

Hôm Chúa Giêsu ở nhà ba chị em Maria, một đám đông người Do-thái biết Ngài đang ở đó nên đã tuôn đến, họ không chỉ muốn thấy Ngài mà còn muốn tận mắt được nhìn thấy anh Ladarô, kẻ đã được Ngài cho sống lại từ cõi chết. Nhưng cũng vì vậy mà các thượng tế mới quyết định giết cả anh Ladarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giêsu. Tai bay, vạ gió. Ladarô bị ghét lây, bị chết lần thứ hai. Chết oan.

Còn chúng ta? Cũng vậy thôi, chẳng hơn gì các thượng tế kia. Ca dao nói chẳng sai đâu: “Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”. Đó là cách chúng ta bán đứng anh chị em mình, là cách gây nên các vết thương cho tha nhân. Vết thương thể lý có thể lành, nhưng vết thương tinh thần rất khó lành – thậm chí không thể lành. Vết thương thể lý đau lắm, nhưng vết thương lòng nhức vô cùng!

Phạm đến tha nhân là phạm đến Thiên Chúa. Chúng ta đối xử với tha nhân thế nào, Thiên Chúa sẽ đối xử với chúng ta như vậy. Hãy liệu cơm mà gắp mắm!

Chúa Giêsu đã xác định: “Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6:38). Gây nên vết thương cho người khác là vi phạm Luật Chúa, vi phạm Luật Chúa là phản lại Đức Bác Ái. Không gây nên vết thương cho tha nhân là yêu thương tha nhân, là vâng lời Thiên Chúa, là giữ trọn Thánh Luật.

Hôn kính Thánh Giá là hôn kính các vết thương của Chúa Giêsu. Khi thực hiện điều này, Chúa-Giêsu-đau-khổ không cần chúng ta hàn gắn các vết thương cho Ngài đâu, mà chúng ta cũng không thể làm được, nhưng Ngài muốn chúng ta cùng nhau chữa lành các vết thương cho nhau bằng cách yêu thương nhau chân thành. Chúa Giêsu rất đại lượng. Khi chúng ta chữa lành các vết thương cho nhau, Ngài coi đó cũng là hàn gắn các vết thương nơi Thánh Thể Ngài vậy.

Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã cho Tông đồ Tôma xỏ tay vào vết thương ở ngực, nơi trái tim ngự trị, trung tâm của tình yêu thương. Chúa Giêsu bảo chúng ta cũng hãy sờ vào các vết thương của tha nhân, nhất là vết-thương-lòng, để cảm nhận và yêu thương nhau hơn.

TRẦM THIÊN THU
Tuần Thánh – 2015

Năm Sự Thương

Tuần Thánh là hành trình đau khổ của Chúa Giêsu. Trong tâm tình thống hối, thông phần thương khó với Chúa Giêsu, với tâm tình yêu mến Đức Mẹ, và tận hiến cho Đức Mẹ và lần chuỗi Mân Côi, chúng ta cùng tìm hiểu Năm Sự Thương. Chuỗi Mân Côi quan trọng vì là “Kinh Thánh tóm gọn”. Khi lần chuỗi Mân Côi với năm sự Thương, chúng ta thấy đời sống hằng ngày của chúng ta thêm sức mạnh để vượt qua mọi nghịch cảnh của cuộc đời, đồng thời thêm nhiều lợi ích qua việc kết hiệp với Đức Kitô và lòng sùng kính Đức Maria – Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta nhờ Đức Mẹ để đến với Đức Giêsu Kitô, qua Chúa Con để đến với Chúa Cha.

1. Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu (Mt 26:36-40). Chúng ta cầu xin ơn biết “ăn năn tội nên”. Ăn năn tội “cho nên” là sám hối thật lòng chứ không làm chiếu lệ, cho xong lần, hoặc làm theo “phong trào” (dịp lễ, tết, dịp đặc biệt,…). Tuy nhiên, ăn năn tội có hai cách: [1] Ăn năn tội cách trọn, [2] Ăn năn tội cách chẳng trọn. “Ăn năn tội cách trọn” là chân thành sám hối vì nhận biết Thiên Chúa là Đấng chí thánh mà mình đã xúc phạm đến Ngài, sám hối vì yêu mến Ngài; còn “ăn năn tội cách chẳng trọn” là sám hối vì sợ bị Chúa trừng phạt, sợ mất phần thưởng đời đời.

Ăn năn sám hối rồi thì phải quyết tâm dốc lòng chừa, quyết tâm chống lại mọi cám dỗ. Hãy khó với chính mình, đừng để “cái tôi” vùng lên kẻo sập bẫy của ba thù (xác thịt, thế gian, ma quỷ). Trong ba thù, “xác thịt” là đối thủ ở gần chúng ta nhất, vì thế mà cũng nguy hiểm nhất – nghĩa là chúng ta phải cảnh giác với nó nhiều nhất.

Thánh sử Mátthêu cho biết: Bấy giờ Đức Giêsu đi cùng với các môn đệ đến một thửa đất gọi là Ghết-sê-ma-ni. Ngài nói với các môn đệ: “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện”. Rồi Người đưa ông Phêrô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến. Bấy giờ Người nói với các ông: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy”. Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:36-39). Thánh sử Luca nói chi tiết: “Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22:44).

Khi cầu nguyện với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã tìm được sức mạnh và niềm tin, và rồi các thiên thần đã tới an ủi Ngài. Chúa Giêsu sẽ an ủi và nâng đỡ chúng ta, đồng thời Ngài cũng ân cần nói với chúng ta: “Tại sao con lại lo lắng trong những lúc khó khăn? Hãy tín thác và vững mạnh trong Thầy. Hãy hướng lên Thiên Chúa của con trong những lúc con gặp khó khăn nhất, và con sẽ chiến thắng”. Chúng ta hãy phó thác cuộc đời cho Chúa, và cứ để Ngài hành động theo Thánh Ý Ngài, như Chúa Giêsu đã cầu nguyện trong lúc “căng thẳng” nhất: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha. Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:39 và 42).

2. Chúa Giêsu chịu đánh đòn (Mt 27:26). Chúng ta cầu xin ơn biết “hãm mình, chịu khó bằng lòng”. Đó là chấp nhận sự khốn khó với niềm tín thác chứ không than thân trách phận, không tự so sánh hoàn cảnh của mình với hoàn cảnh của người khác.

Vừa tảng sáng, các thượng tế đã họp bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng. Sau đó, họ trói Đức Giêsu lại và giải đi nộp cho ông Philatô (Mc 15:1). Các thượng tế tố cáo Chúa Giêsu nhiều tội, nhưng Ngài không nói gì. Tổng trấn Philatô hỏi ý kiến đám đông, họ la to: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Mà Baraba là một tên cướp khét tiếng. Và rồi ông Philatô truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Ngài (Ga 19:1).
Chúa Giêsu im lặng khi được tra xét, Ngài cũng im lặng khi chịu đánh đòn dã man. Và Ngài dịu dàng nói với mỗi chúng ta: “Con ơi, các nhục hình họ áp dụng thật khủng khiếp, nhưng Ta vẫn có thể cam chịu vì yêu thương con, vì thương xót con. Tại sao con không thể yêu mến Ta mà chịu các nỗi đau khổ ở thế gian? Mà các nỗi đau khổ đó có đáng gì so với đau khổ mà Ta đã phải chịu đâu? Hãy chấp nhận mọi đau khổ vì yêu mến Ta, Ta không bỏ con một mình đâu, họ gây đau khổ cho con cũng là gây đau khổ cho Ta thêm nhiều lần nữa. Con oan một thì Ta oan mười. Con đau một thì Ta đau mười. Con hãy cố gắng lên!”.

William Arthur Ward (1921-1994) nói: “Cũng như thung lũng cho ngọn núi chiều cao, đau khổ tạo ý nghĩa cho lạc thú; cũng như mạch nước là nguồn của suối, nghịch cảnh sâu sắc có thể là châu báu”. Thật dễ để dùng ống tay áo lau khô những giọt lệ rơi, nhưng phải biết cách để xóa dấu nước mắt khỏi trái tim mình. Những con người đẹp nhất là những người từng bị đánh bại, từng đau khổ, từng tranh đấu, từng mất mát, và họ đã tìm được đường ra khỏi vực sâu. Họ có lòng can đảm, sự nhạy cảm và sự thấu hiểu đối với cuộc đời. Chính cuộc đời đã làm cho họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và quan tâm yêu thương sâu sắc. Người đẹp không thể tự nhiên mà có. Đau khổ có vẻ đẹp riêng của nó, chẳng vậy mà Chúa Giêsu luôn động viên chúng ta chịu đau khổ – tinh thần và thể lý.

3. Chúa Giêsu chịu đội mão gai (Mt 27:27-31). Chúng ta cầu xin ơn biết “chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng”. Cũng như chịu đau khổ, chúng ta phải biết “nuốt nó vào trong”. Khi bị người khác sỉ nhục, “cái tôi” sẽ đòi nổi dậy chống lại đối phương. Người xấu có thể tìm cách lăng nhục người khác bằng cách gieo oan giáng họa, bịa đặt, vu khống. Bị sỉ nhục oan mà có thể dằn lòng thì tốt, nhưng nếu bị sỉ nhục vì đáng bị như vậy thì không oan. Kinh Thánh nói: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường” (Cn 11:2). Coi chừng “cái tôi” là cảnh giác với tính kiêu ngạo – đầu mối các thứ xấu xa khác.

Thánh sử Mátthêu cho biết: Bấy giờ, lính của tổng trấn đem Đức Giêsu vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng: “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái!”. Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá (Mt 27:27-31).

Hãy nghĩ về sự sỉ nhục, sự xúc phạm, và nỗi đau khổ mà Chúa Giêsu đã chịu. Họ tước đoạt nhân phẩm của Ngài, chà đạp nhân vị của Ngài, coi Ngài như một tội nhân ghê gớm nhất. Ngài nhìn và nói với chúng ta: “Tại sao con thất vọng khi gặp đau khổ? Đó không là cách con yêu mến Ta sao? Con hãy suy về nỗi thống khổ của Ta và tìm kiếm sự phong phú kỳ diệu trong nỗi đau khổ đó”. Chúng ta hãy nghĩ về Chúa Giêsu chịu đau khổ vì chúng ta, và hãy cầu xin Ngài ban thêm sức mạnh để chúng ta khả dĩ chấp nhận mọi điều sỉ nhục ở đời này – cả tinh thần lẫn thể lý.

Văn sĩ Auguste Villier de l’Isle Adam (1838-1889, Pháp quốc) nhận xét: “Người nhục mạ bạn, họ chỉ nhục mạ ý tưởng của họ nghĩ về bạn, tức là họ nhục mạ chính họ!”. Như vậy, khi mình bị nhục mạ mà lại không bị, nếu mình nhịn nhục thì họ càng tức, vì sự im lặng của chúng ta như cục than hồng đặt vào họ. Thật là hay, thế thì rất đáng để thực hành noi gương Đức Giêsu Kitô: Nhịn nhục.

4. Chúa Giêsu vác Thánh Giá (Mt 27:27-32). Chúng ta cầu xin ơn vui lòng “vác Thánh Giá theo chân Chúa”. Chúa Giêsu nhiều lần bảo chúng ta phải từ bỏ mình, vì có thể từ bỏ chính mình thì mới khả dĩ theo Ngài, mà theo Ngài thì không được sung sướng, không an nhàn, không thảnh thơi, mà ngược lại, theo Ngài thì phải vác thập giá, nghĩa là luôn phải chịu thiệt thòi, luôn gặp khốn khó, xui tận mạng. Chắc chắn ai theo Ngài thì phải can đảm lắm!

Khi điệu Đức Giêsu đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simôn, gốc Kyrênê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu. Dân chúng đi theo Người đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người. Đức Giêsu quay lại phía các bà mà nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu. Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói: ‘Phúc thay đàn bà hiếm hoi, người không sinh không đẻ, kẻ không cho bú mớm!’. Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: ‘Đổ xuống chúng tôi đi!’, và với gò nống: ‘Phủ lấp chúng tôi đi!’. Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?”. Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người (Lc 23:26-32). Chúa Giêsu cũng đang nói với chúng ta những lời như vậy: “Con hãy thật lòng than khóc vì tội con chứ Ta không cần con thương khóc gì Ta đâu!”.

Mặc dù Chúa Giêsu chịu đau khổ vì chúng ta, nhưng Ngài vẫn chấp nhận gánh nặng vì thương xót chúng ta, tình yêu của Ngài hoàn toàn dành cho chúng ta vô điều kiện. Thập Giá gồm hai thanh gỗ ghép lại, nặng cả trăm ký, kéo lê đi thì sức nặng cũng còn khoảng 80 kg. Không phải dễ vác đi lên đồi cao trên con đường gồ ghề.

Trên đường từ dinh Philatô tới Đồi Sọ, Đức Maria chứng kiến nỗi đau khổ và nhục nhã mà Con Trai phải chịu. Chúng ta có thể tưởng tượng đôi mắt và khuôn mặt của Đức Mẹ thế nào? Chắc chắn Mẹ đau đớn lắm. Chúng ta hãy cầu xin Chúa thêm sức cho chúng ta đủ sức vác thập giá đời mình đến cuối đường trần, và cầu xin Đức Mẹ nâng đỡ chúng ta trên con đường thập giá trần thế này.

5. Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào Thánh Giá (Mt 27:33-35; Ga 19:31-37; Lc 23:33-46). Chúng ta cầu xin ơn biết “đóng đinh tính xác thịt vào Thánh Giá Chúa”. Tính xác thịt chính là “cái tôi”. Nó là một trong ba kẻ thù nguy hiểm nhất (xác thịt, thế gian, ma quỷ). Nhưng “tính xác thịt” nguy hiểm hơn, vì nó là chính chúng ta. Kẻ thù này ở gần nhất và dễ thấy nhất, nhưng lại là kẻ thù khó chiến thắng nhất.

Nó chỉ chết thật khi chúng ta dám “đóng đinh” nó vào Thánh Giá của Đức Giêsu Kitô. Ghim chặt được nó rồi cũng chưa an tâm, phải đợi cho nó chết thật thì chúng ta mới có thể thanh thản bước theo Thầy Chí Thánh Giêsu. Nó nhỏ mà to, bé mà sống dai. Nó chẳng là gì nhưng nó có thể làm sụp đổ mọi lâu đài mà chính chúng ta dày công xây dựng cả đời. Ghê sợ thật!

Thánh sử Gioan tường thuật: Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu: “Thưa Mẹ, đây là con của Mẹ”. Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình (Ga 19:25-27).

Chúa Giêsu nhận chúng ta là con cái của Đức Mẹ, đồng thời Ngài cũng muốn chúng ta gần gũi và thân mật với Đức Mẹ. Ngài muốn chúng ta với tư cách là con cái, chúng ta hãy nắm chặt lấy tay Đức Mẹ. Ngài cũng muốn chúng ta hãy trao phó cuộc đời mình cho Đức Mẹ, để nhờ Mẹ mà chúng ta đến với Con Yêu Dấu của Mẹ là Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta. Đức Mẹ là Đấng Vô Nhiễm và khiêm nhường, chúng ta cầu xin Mẹ giúp chúng ta chiến thắng tội lỗi nhờ ơn Vô Nhiễm của Mẹ, và cầu xin Mẹ giúp chúng ta triệt tiêu thói kiêu ngạo nhờ đức khiêm nhường của Mẹ. Được như vậy thì chúng ta chắc chắn được gần kề bên Chúa Giêsu, thanh thản nghỉ ngơi trong Thánh Tâm Ngài.

Suy niệm sự thương khó của Chúa Giêsu nhưng lòng chúng ta lại cảm thấy nhẹ nhàng chứ không trĩu nặng. Quả thật, đời sống Kitô hữu thực sự là chuỗi Mầu Nhiệm Thương kéo dài, đặc biệt trong Tuần Thánh này.

Lạy Thiên Chúa Cha, xin tha thứ tội lỗi cho chúng con. Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được đồng hành với Ngài lên Đồi Sọ để cùng đau khổ, cùng chết, và cùng sống lại với Ngài. Lạy Mẹ Maria, xin cho chúng con cùng khóc với Mẹ. Amen.

TRẦM THIÊN THU


Biên độ chết – sống
(Thứ Bảy Tuần Thánh, năm 2015)

Tam Nhật Vượt Qua như một tam giác, mỗi cạnh mang một sắc màu riêng: Vàng, Tím, Hồng. Thứ Năm Tuần Thánh hân hoan với niềm vui, có sắc Vàng; Thứ Sáu Tuần Thánh ảm đạm u sầu, có sắc Tím; đêm Thứ Bảy Tuần Thánh và Chúa Nhật rộn rã nỗi mừng, có sắc Hồng. Màu sắc khác nhau nhưng vẫn hòa quyện trong một tổng thể kỳ diệu.

Theo tiếng Do Thái, chữ פֶּ֥סַח (PesaH) nghĩa đen là “vượt qua”, có nghĩa bóng là “bỏ qua” hoặc “tha thứ”. Chữ phải có nghĩa, mà nghĩa này thật thâm thúy!

Đêm nay là ranh giới tử – sinh, làn ranh mong manh giữa bóng tối và ánh sáng, giữa sự chết và sự sống. Khoảng sầu thương đã qua, nỗi lo sợ đã hết, vì chúng ta được Chúa Giêsu dẫn lối vượt qua vùng chết chóc để vào miền hằng sinh ving quang. Niềm hạnh phúc quá lớn, vui mừng khôn tả: Alleluia!

Trình thuật St 1:1. 26-31 nhắc lại sự sáng tạo của Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Ngài sáng tạo trời đất, Ngài dựng nên con người theo hình ảnh Ngài, có nam có nữ, và trao quyền làm bá chủ mọi loài. Ngài căn dặn: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất”. Được trao quyền thì cũng phải có trách nhiệm. Thiên Chúa bảo con người: “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực”. Mọi thứ đều rất tốt đẹp!

Vâng, “lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất. Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33:4-6). Tác giả Thánh Vịnh đã sung sướng thốt lên: “Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể, hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp. Từ trời cao nhìn xuống, Chúa thấy hết mọi người” (Tv 33:12-13).  Tuy nhiên, chúng ta đừng quên cầu xin liên lỉ: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22).

Các bài đọc đêm nay dẫn chúng ta đi qua chẵng đường lịch sử cứu độ. Trình thuật St 22:1-2. 9-13. 15-18 cho biết về đức vâng lờ tuyệt đối của Tổ phụ Áp-ra-ham. Chỉ có đứa con một yêu dấu là I-xa-ác, vậy mà Thiên Chúa lại bảo ông dâng nó làm lễ toàn thiêu trên một ngọn núi tại xứ Mô-ri-gia. Ông vẫn vâng lời, không so đo, không thắc mắc.

Tới nơi Thiên Chúa đã chỉ, ông dựng bàn thờ, xếp củi lên, trói I-xa-ác lại, và đặt lên bàn thờ, trên đống củi. Khi ông đưa tay ra cầm lấy dao để sát tế con mình, sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi tên ông và bảo: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!”. Ông Áp-ra-ham ngước mắt lên nhìn thì thấy phía sau có con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây. Ông bắt con cừu ấy mà dâng làm lễ toàn thiêu thay cho con mình.

Sứ thần gọi ông một lần nữa và cho ông biết lời thề của Đức Chúa: “Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta”.

Thật tuyệt vời! Có Chúa là có tất cả: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ” (Tv 16:5). Tuy nhiên, không phải khơi khơi mà được Chúa là gia nghiệp, mà phải trải qua gian khổ lắm. Đó là lẽ tất nhiên thôi. Có công khó thì mới được lãnh thưởng.

Có Chúa thì “tâm hồn mừng rỡ, lòng dạ hân hoan, và thân xác cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16:9). Tại sao? Tác giả Thánh Vịnh giải thích: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:10-11).

Tiếp theo là phép lạ tại Biển Đỏ (Xh 14:15–15:1). Đức Chúa bảo ông Môsê cầm gậy, giơ tay lên rẽ nước biển ra cho con cái Ít-ra-en đi qua. Còn Thiên Chúa làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá. Họ tiến vào theo sau, thế là cả Pharaô cùng toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh đều bị chôn vùi trong biển nước.

Chiến công hiển hách. Toàn dân được “mở mắt” nên một lòng kính sợ và tin vào Đức Chúa, tin vào ông Môsê, tôi trung của Người. Bấy giờ ông Môsê cùng với con cái Ít-ra-en hát mừng Đức Chúa: “Tôi xin hát mừng Chúa, Đấng cao cả uy hùng: Kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi. Người là Chúa tôi thờ, xin dâng lời vinh chúc, Người là Chúa tổ tiên, xin mừng câu tán tụng. Người là trang chiến binh, danh Người là Đức Chúa! Xa mã Pharaô, Người xô xuống lòng biển, tướng dũng với binh hùng chết chìm trong Biển Sậy. Vực thẳm vùi lấp chúng, chúng chìm xuống nước sâu chẳng khác nào hòn đá.6 Lạy Chúa, tay hữu Ngài đã biểu dương sức mạnh. Tay hữu Ngài, lạy Chúa, đã nghiền nát địch quân” (Xh 15:1-6. 17-18).

Chúng ta cũng như dân Chúa xưa, như kiểu người Việt ví von: “Khi vui chẳng nhớ đến ai, khi nóng thì cứ trái tai mà sờ”. Dù chúng ta bội bạc, nhưng Thiên Chúa vẫn không chấp lách, yêu thương hết lòng. Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao?” (Rm 6:3). Có lẽ chúng ta không thể trả lời vì không dám trả lời. Thánh Phaolô trả lời thay chúng ta: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:4).

Không chỉ vậy, chúng ta còn được “nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết” và “chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại” (Rm 6:5). Quả là kỳ diệu vô cùng! Và còn hơn thế nữa: “Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết thì thoát khỏi quyền của tội lỗi” (Rm 6:6-7).

Niềm tin của chúng ta rạch ròi chứ không mơ hồ: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8). Niềm tin đó của Công giáo cũng không hề mù quáng hoặc mê tín như người vô thần tưởng. Thánh Phaolô còn cho chúng ta biết thêm: “Một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6:9-11).

Ân sủng này nối tiếp ân sủng khác, vì thế chúng ta phải luôn tự nhủ: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1-2). Đêm nay là Đêm Cực Thánh, xoay tròn một “vòng tử – sinh”, với kỳ công của Thiên Chúa làm nhãn tiền: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Tv 118:22-23).

Trời buổi chiều Thứ Sáu Tuần Thánh đang nắng sáng bỗng tối sầm lại khi Chúa Giêsu trút hơi thở. Trời đêm nay đang tối tăm chợt bừng sáng khi Chúa Giêsu trỗi dậy. Chắc chắn chẳng ai có thể tới gần vì quân lính gác cửa mộ cẩn mật, kẻ nào dám mon men tới là chết chắc. Thế nhưng chính họ, những kẻ đã hả hê cười nhạo hôm trước, mà nay vẫn không thể giữ Chúa Giêsu nằm im trong mộ đá đó thêm một giây nào nữa.

Trình thuật Mt 28:1-10 cho biết: Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà khác cũng tên là Maria đi viếng mộ. Thình lình, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy vậy, bọn lính canh khiếp sợ, run rẩy, chết ngất đi.

Thiên thần liền bảo các phụ nữ: “Này các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay”.
Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chắc chắn họ đã tin Đức Giêsu phục sinh qua lời của thiên thần, và họ chạy về báo tin cho môn đệ hay. Dọc đường, họ được Đức Giêsu đón gặp và nói: “Chào chị em!”. Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. Đức Giêsu nói với các bà: “Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó”. Đó cũng là sứ vụ Ngài truyền cho mỗi chúng ta hôm nay.

Các phụ nữ được Chúa Giêsu ưu tiên vì họ là những người đầu tiên được gặp Chúa-Giêsu-phục-sinh và được trở nên nhân chứng loan báo sự kiện trọng đại Chúa phục sinh. Thật là hạnh phúc cho nữ giới! Ước gì cuộc đời mỗi chúng ta là những vần thơ tình phục sinh và được phổ nhạc thành Khúc Khải Hoàn Ca Alleluia ở mọi nơi, mọi lúc, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Quả thật, chẳng dễ chút nào đâu, nhưng nếu thực sự cố gắng thì sẽ được, vì chính Chúa-Giêsu-phục-sinh đã hứa với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).

Lạy Thiên Chúa hằng hữu và hằng sinh, xin giúp chúng con biết sống làm chứng về Chúa-Giêsu-phục-sinh giữa cuộc đời hôm nay, trong mọi hoàn cảnh. Xin giúp chúng con can đảm cùng Con Một Ngài vượt qua biên độ chết – sống, và luôn biết ca lên bài Alleluia ngay trong những bước đời gập ghềnh của chúng con trên hành trình lữ hành trần gian này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Năm Sự Mừng

ALLELUIA! Trong niềm hân hoan tưng bừng mừng Chúa Phục Sinh và tâm tình yêu mến Đức Mẹ qua việc lần chuỗi Mân Côi, chúng ta cùng tìm hiểu Năm Sự Mừng. Chuỗi Mân Côi quan trọng vì là “Kinh Thánh tóm gọn”. Khi lần chuỗi Mân Côi với năm sự Mừng, chúng ta thấy đời sống hằng ngày của chúng ta thêm hy vọng về sự sống vĩnh hằng trên Nước Trời, đồng thời thêm nhiều lợi ích qua việc kết hiệp với Đức Kitô và lòng sùng kính Đức Maria – Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta nhờ Đức Mẹ để đến với Đức Giêsu Kitô, qua Chúa Con để đến với Chúa Cha.

1. Chúa Giêsu Sống Lại (Mc 16:1-7; Lc 24:1-12; Ga 20:19-31). Chúng ta cầu xin ơn được “sống lại thật về phần linh hồn”. Sống lại có hai phần, phần xác và phần hồn. Sống lại về phần xác là sự lạ, là điều quan trọng, nhưng sống lại về phần hồn còn quan trọng hơn, vì phạm tội là chết về phần hồn, mà ai trong chúng ta cũng đã từng phạm tội – tức là chết về phần hồn. Như vậy, sự sống lại về phần hồn càng quan trọng đối với chúng ta hơn bao giờ hết.

Chúa Giêsu đã chịu đau khổ, bị hành hạ cho đến chết trên Thập Giá, nhưng Ngài sống lại vào đêm Chúa Nhật phục sinh, vinh quang và bất tử, đúng như Ngài đã nói trước (Mt 28:1-7). Chúa Giêsu sống lại là bảo đảm rằng chúng ta cũng sẽ được sống lại cả phần xác và phần hồn, nhưng chúng ta phải sống lại về phần hồn ngay khi còn tại thế. Thánh Phaolô xác định: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8). Niềm tin của chúng ta không mơ hồ, không ảo tưởng, mà rất chắc chắn và xác thực.

Khi sống lại, Chúa Giêsu đã bỏ lại tấm khăn liệm ở trong mộ đá. Khăn liệm đó là biểu tượng của sự yếu đuối phàm nhân, sự bất toàn nơi mỗi chúng ta, và chúng ta cũng phải trút bỏ hết để khả dĩ sống lại với Đức Kitô, không còn lệ thuộc vào trần tục, ngay cả Tử Thần cũng phải chịu thua. Nơi Ngài, mọi thứ hay chết đều trở nên vinh quang và vĩnh hằng. Ngài đã hiện ra bằng xương bằng thịt để minh chứng Ngài sống lại (Lc 24:36-43; Ga 20:19-20).

Yếu tố đầu tiên về sự thánh thiêng thể hiện nơi Đức Kitô phục sinh: Loại trừ mọi thứ hư hỏng, mọi thứ trần tục; giải thoát khỏi mọi khiếm khuyết, mọi yếu đuối, mọi đau khổ. Nhưng cũng có yếu tố thánh thiêng khác: Kết hợp với Thiên Chúa, tự hiến tế cho Thiên Chúa. Chỉ khi nào về trời thì chúng ta mới khả dĩ hiểu Chúa Giêsu sống trọn vẹn cho Chúa Cha như thế nào. Sự sống của Đức Kitô phục sinh trở nên nguồn vinh quang vô hạn cho Chúa Cha. Đau khổ không còn chút ảnh hưởng nào nơi Ngài, mọi thứ nơi Ngài sáng chói và đẹp đẽ, mạnh mẽ và sống động.

Mt 28:1-8 cho biết: Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ. Thình lình, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ: “Này các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay”. Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giêsu hay.

Chúng ta cũng được Chúa Giêsu giải thoát khỏi tội lỗi, được sống lại với Ngài, chúng ta cũng phải làm chứng về Ngài. Chúng ta phải không ngừng thắp sáng tình yêu thương, đức tin, đức cậy, và không ngừng cầu nguyện. Nguyện xin Thánh Maria Mácđala nguyện giúp cầu thay để chúng ta cũng có niềm tin kiên vững và làm chứng về lòng thương xót của Thiên Chúa qua từng ngày trên đường lữ hành trần gian này.

2. Chúa Giêsu lên trời (Mc 16:14-20; Lc 24:50-51; Cv 1:1-11). Chúng ta cầu xin ơn “ái mộ những sự trên trời”. Sau khi sống lại được bốn mươi ngày, Chúa Giêsu về trời ngự bên hữu Chúa Cha. Thánh Luca cho biết: “Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. Bấy giờ, các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24:50-53).

Những sự trên trời là gì? Rất nhiều. Nói chung là những điều tốt đẹp, liên quan các nhân đức đối thần và đối nhân. Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14:15). Ngài nhấn mạnh: “Ai CÓ và GIỮ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14:21). Chúa Giêsu cũng đang lặp lại những lời đó đối với mỗi chúng ta. Nếu chúng ta thực sự yêu mến Ngài, chúng ta sẽ được hưởng vinh quang của Ngài. Nếu chúng ta chân thành yêu mến Ngài, chúng ta sẽ được lên trời với Ngài sau khi chúng ta hoàn tất hành trình trần gian. Lên trời là cùng đích của cuộc đời mỗi chúng ta.

Chúa Giêsu lên trời, không phải là bỏ chúng ta, mà Ngài về trước để dọn chỗ cho chúng ta, và chính Ngài sẽ trở lại đón chúng ta đi (Ga 14:2-3). Chúa Giêsu lên trời là vào Vương Quốc vinh quang, những ai trung tín với Ngài cũng sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng nơi Vương Quốc đó. Lời hứa của Ngài luôn chắc chắn. Quả thật, Ngài cũng đã xin Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17:24). Phúc thay những người tin nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và yêu mến Ngài!

3. Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (Ga 14:23-31; Cv 2:1-11). Chúng ta cầu xin được “đầy dẫy ơn Chúa Thánh Thần”. Chúng ta quen nói là “bảy ơn Chúa Thánh Thần”, nhưng không phải chỉ bảy ơn mà nhiều ơn, và chính Ngài vẫn liên tục hoạt động trong Giáo Hội hằng ngày, tác động từng phút từng giây.

Kinh Thánh cho biết: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2:1-4). Đúng như lời Chúa Giêsu đã hứa trước khi Ngài về trời: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14:16-17).

Chúa Thánh Thần đến bằng nhiều cách, rõ ràng nhất là khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thêm Sức. Ngài đến để làm cho chúng ta can đảm làm chứng về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Ngài đến để đổ đầy tình yêu vào lòng chúng ta, vì Ngài là Ngôi Vị Yêu Thương trong Sự Sống của Thiên Chúa. Ngài như hơi thở, nguồn hứng yêu thương vô hạn, từ đó chúng ta có thể sống trọn vẹn.

Chúa Thánh Thần làm cho Giáo Hội phát triển không ngừng, sinh cây quả ngọt trái lành là các trinh nữ, các vị tử đạo, các anh hùng nhân đức,... Chúng ta gọi đó là các thánh. Chúa Thánh Thần xuất hiện dưới dạng chim bồ câu, nước, gió, lửa. Sau Đại Hồng Thủy, bồ câu xuất hiện với nhành lá cho biết nước đã rút, đất bắt đầu có sự sống. Bồ câu cũng là biểu tượng của sự hòa bình, ai cũng khao khát hòa bình.

Nước, gió, lửa là những thứ rất mềm mà rất mạnh, không gì có thể chống lại. Thiếu nước, chúng ta khát; thiếu gió, chúng ta khó chịu; thiếu lửa, chúng ta không có đồ ăn; thiếu không khí, chúng ta chết. Chúa Thánh Thần rất cần thiết. Vì thế, Giáo Hội luôn cầu nguyện: “Veni Sancte Spiritus – Lạy Chúa Thánh Thần xin ngự đến”.

4. Ðức Mẹ lên trời (Lc 1:41-50; Tv 45; St 3:13; Kh 12). Chúng ta cầu xin ơn được “ơn chết lành trong tay Đức Mẹ”. Ai cũng phải chết, không thể tránh được, nhưng cách chết thì chúng ta có thể chọn. Sống sao, chết vậy. Sống tốt thì chết lành, sống ác thì chết dữ. Chết lành thì mới được về trời. Đức Maria là thụ tạo đặc biệt, không phải trải qua sự chết, mà được đưa về trời cả hồn và xác.

Được về trời là được cứu độ. Nhưng làm sao để được cứu độ? Thánh tiến sĩ Thomas Aquinas nói: “Có ba điều cần để con người được cứu độ: biết mình TIN gì, biết mình MUỐN gì, và biết mình LÀM gì”. Đức Kitô mong muốn tất cả chúng ta yêu thương mọi người trong Nhiệm Thể Ngài, nhất là những người hèn mọn. Yêu người là thước đo lòng mến Chúa.

Chúng ta thể hiện lòng yêu mến Đức Mẹ bằng cách tán dương các đặc ân siêu phàm mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, một trong các đặc ân đó là “mông triệu” (hồn xác lên trời). Tín điều này đã được ĐGH Piô XII định tín qua Thông điệp “Munificentissimus Deus” (Thiên Chúa Quảng Đại), ban hành ngày 1-11-1950. Đức Maria chỉ là thôn nữ bình thường nhưng đã được Thiên Chúa tuyển chọn theo kế hoạch cứu độ của Ngài. Quả thật, sau khi được truyền tin, Đức Maria đi thăm Chị Ê-li-da-bét, và Chị Ê-li-da-bét đã chúc mừng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ” (Lc 1:42). Lời này cũng là lời kinh Kính Mừng chúng ta cầu nguyện hằng ngày.

Cựu Ước cũng đề cập hình bóng Đức Maria qua lời ông Út-di-gia nói với bà Giu-đi-tha: “Này trang nữ kiệt, bà được Thiên Chúa Tối Cao ban phúc hơn tất cả các phụ nữ trên cõi đất này. Thiên Chúa hài lòng về những việc của bà. Xin Thiên Chúa toàn năng ban cho bà nhiều ơn phúc, đến muôn thuở muôn đời” (Gđt 13:18-20; 15:10).

Đức Maria là thụ tạo mà lại được làm Mẹ Thiên Chúa. Chắc chắn lời cầu bầu của Mẹ rất hữu hiệu. Điều này đã được “kiểm chứng” tại tiệc cưới ở Cana (Ga 2:1-12). Vì thế, Thánh Phanxicô Salê đã tin tưởng và khuyên chúng ta: “Hãy chạy đến với Đức Maria, ngã vào vòng tay Mẹ với lòng tin tưởng hoàn toàn”. Nhờ Mẹ đến với Chúa là con đường an toàn và chắc chắn.

5. Ðức Mẹ được thưởng trên Trời (Kh 12:1). Chúng ta cầu xin ơn “được thưởng cùng Đức Mẹ trên Nước Thiên Đàng”. Giáo Hội dành cho Đức Mẹ nhiều tôn danh Nữ Vương, đặc biệt là Nữ Vương Thiên Đàng. Đó là điềm lạ mà chính Thánh Gioan đã được thị kiến: “Một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12:1).

Phần thưởng chỉ dành cho người có công xứng đáng. Tuy nhiên, nữ phi công Amelia Mary Earhart (Hoa Kỳ, 1897-1937) nói: “Điều khó khăn nhất là quyết định hành động, phần còn lại chỉ là sự bền bỉ. Nỗi sợ hãi là những con hổ giấy. Bạn có thể làm bất cứ điều gì mình quyết định làm. Bạn có thể hành động để thay đổi và chi phối cuộc đời mình; và con đường, chính quá trình đó là phần thưởng”. Chúa Giêsu cũng đã từng dạy chúng ta phải biết sống khiêm nhường: “Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17:10).

Mục đích sống của chúng ta là “sự sống đời đời”, sự sống này chỉ có ở Nước Trời mà thôi. Phương tiện sống là ơn thánh hóa, nguồn của sự thánh thiện xuất phát từ Thiên Chúa Cha, vì Chúa Giêsu đã động viên chúng ta: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Hoàn thiện để nên thánh, đó là ước muốn Chúa Giêsu dành cho mỗi chúng ta, đồng thời cũng là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Hoàn tất trách nhiệm này thì chắc chắn được Thiên Chúa thưởng, tức là thỏa nguyện mà chúng ta tha thiết cầu xin: “Được thưởng cùng Đức Mẹ trên Nước Thiên Đàng”.

Đức Giêsu Kitô là Ađam mới, Đức Maria là Êva mới. Bà Êva là “mẹ của chúng sinh” (St 3:20). Đức Maria còn hơn Êva, vì Đức Maria là Mẹ của những người sống trong ân sủng của Thiên Chúa. Ai cũng muốn được nhận phần thưởng là Nước Trời, nhưng đó mới chỉ là mong ước, vấn đề quan trọng là phải sống và biến ước mơ đó trở thành sự thật.

Thật hạnh phúc khi chúng ta có người mẹ trần gian, càng hạnh phúc hơn khi chúng ta có Người Mẹ tâm linh là Đức Maria, Thánh Mẫu Thiên Chúa. Thể hiện lòng yêu mến Đức Mẹ là lần Chuỗi Mai Côi. Hãy cầu nguyện chân thành với cả tấm lòng hiếu thảo của người con. Lòng yêu mến Đức Mẹ cũng là lòng yêu mến dành cho Con Yêu Dấu của Mẹ – Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta. Ước gì mỗi chúng ta đều biết tận hiến cuộc đời mình cho Đức Mẹ.

Quả thật, Thánh Ðamianô đã nói: “Ðược sống dưới sự che chở của Đức Mẹ là một hạnh phúc lớn lao”. Còn Thánh Denis đã xác nhận: “Đức Mẹ là nơi nương náu của những người đã hòng hư mất, là hy vọng của những người không còn hy vọng”.

TRẦM THIÊN THU

 

Chữ Yêu
(Thứ Năm Tuần Thánh, năm B)

Xưa nay, từ cổ chí kim, chưa có một định nghĩa nào về tình yêu trọn vẹn nhất khiến người ta thỏa mãn. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Chỉ có một tình yêu đích thực nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và mức độ cũng rất khác nhau. Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên mình, đó mới là Tình Yêu chân chính. Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ và chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliette. Những chuyện tình thật lãng mạn và đẹp nhưng cũng đầy chất bi thương!

Yêu là chết trong lòng một ít. Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, nên thà chịu khổ hơn chịu lỗ. Người ta còn có cách gọi đó là “thú đau thương”. Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Sau những ngày tháng hoang đàng, Thánh Giám mục Tiến sĩ Augustinô đã hối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng”, và rồi ngài nói: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Một mức độ kỳ lạ: mức-độ-không-giới-hạn!

DẤU HIỆU TÌNH YÊU

Trình thuật sách Xuất hành (Xh 12:1-8, 11-14) cho biết chi tiết: “Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”. Luật cũ chú trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng “thực tế” hơn ngày nay, nhưng đó là thể hiện sự vâng lời – vâng lời Chúa nghĩa là yêu mến Chúa.

Cách ăn cũng có luật: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã”, vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không, luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” được dành ưu tiên cho Thiên Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa”, kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc vẫn có cách mừng thu hoạch như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch,…

Vết máu bôi trên nhà là dấu hiệu “giữ luật”, là “dấu hiệu tình yêu”, và người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng hoạ trên đất Ai Cập. Ngày đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Đó là luật quy định cho đến muôn đời. Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU nhiều nên CHO nhiều, còn chúng ta NHẬN quá nhiều, thế nên:

Lấy chi đáp đền Chúa đây
Vì bao ân huệ chính Ngài đã ban? (Tv 116:12)

Dù thật lòng muốn đền đáp ơn Chúa nhưng chẳng có gì để dâng, nếu có cũng chẳng có gì xứng đáng. Thân phận bụi tro mọn hèn cả dám thân thưa:

Con nâng chén hồng ân cứu độ
Mà xưng tụng danh Chúa mãi thôi (Tv 116:13)

Thời quân chủ, thần dân không được ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội khi quân và phải chết. Thần dân muốn tâu trình điều gì phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp mà chỉ được tâu với cái “bệ rồng” Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ”. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan thật là quý giá, cái chết của những ai hiếu nghĩa với Ngài” (Tv 116:15). Chúng ta chỉ là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, mà được diễm phúc thì phải ghi nhớ thâm ân: “Con sẽ dâng hiến lễ tạ ơn mà xưng tụng danh Chúa” (Tv 116:17), đồng thời tự thề hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể Dân Ngài” (Tv 116:18).

THỂ HIỆN TÌNH YÊU

Thánh Phaolô cho biết: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em” (1 Cr 11:23). Rồi ngài kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, và cuối bữa thì Chúa Giêsu nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11:24-25). Thánh Phaolô giải thích: “Từ nay cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26), do đó mà chúng ta hằng ngày tuyên tín trong mỗi Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”, hoặc “Lạy Chúa, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết cho tới khi Chúa đến”.

(Ga 13:1-15)

Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “giờ của Ngài” đã đến, đó là giờ Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài yêu thương mọi người đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng.

Đức Giêsu biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu. Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp trở về cùng Thiên Chúa. Do đó, trong một bữa ăn, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư phụ hành động “kỳ cục nhất thế gian”.

Thế nên, khi Ngài đến chỗ ông Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13:6). Không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13:7). Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13:8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13:8b). Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa” (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10). Ông Phêrô cụt hứng, như bị tạt ca nước lạnh. Rõ ràng Ý Chúa hoàn toàn khác ý loài người. Ngài rất thâm ý nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.

Rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” (Ga 13:11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu, vì ông nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A” và như trời trồng hết thảy. Thế nên Ngài nói luôn: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15).

Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Đó là Luật Yêu của Chúa. Nhẹ nhàng mà thâm thúy. Và đó cũng là điều chúng ta phải suy nghĩ, nhất là vì Chúa đã làm gương.

Chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: Hướng lên Chúa, hướng tới tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, không được yêu mình thái quá (tự ái là yêu mình thái quá, là ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn cần thiết: Cần thiết à thiết tha à tha thứ. Đó là chu-trình-yêu. Và một hệ lụy khác lại phát sinh: YÊU thì phải KÍNH, KÍNH thì phải NỂ, NỂ thì phải TRỌNG, TRỌNG thì phải VỌNG (mong), MONG thì thấy NHỚ, NHỚ nghĩa là YÊU. Đó là vòng-tròn-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà nhớ Ngài thì phải thực thi Thánh Ý Ngài.

Như nói về gia đình, chúng ta áp dụng “hiếu đễ”. HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà “trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm”, tạo nên hạnh phúc gia đình. Xã hội cũng vậy. Cộng đoàn cũng thế. Nói chung, tất cả tóm gọn trong một chữ YÊU. Yêu cũng chính là biết thương xót.

Lạy Chúa Giêsu, xin đổi mới trái tim chúng con nên giống Chúa mỗi ngày càng nhiều “máu yêu” hơn, để chúng con vừa yêu Chúa vừa yêu tha nhân, đồng thời dám sống và hành động “ngược đời” như Ngài. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Phút cuối
(Thứ Sáu Tuần Thánh, năm B)

Thứ Sáu Tuần Thánh là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 15 giờ), giờ của Lòng Chúa Thương Xót.
Lúc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là lúc xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Và phút cuối là lúc người ta nói thật nhất.
Chúa Giêsu có 2 bản tính: Thiên tính và nhân tính. Và theo nhân tính, Ngài cũng rất đau đớn vì đã kiệt sức do đòn roi, vác Thập giá lên đồi, té lên té xuống nhiều lần, chịu đói khát, bị những gai nhọn đâm thấu đầu, bị đinh ghim chặt chân tay và lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn. Thân xác Ngài chảy ra đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng!

CON CHIÊN HIỀN LÀNH…

Thiên Chúa xác định: “Người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng” dù cho “tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa” (Is 52:13-14). Nhưng mọi người đều phải sửng sốt. Người tôi trung đó làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52:15). Người tôi trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca” (Is 53:6; Cv 8:32).

Chúng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức đau khổ, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên thấy… bình thường. Kinh thánh nói: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?” (Is 53:1). Thật khó tin, nhưng lại là sự thật!

Ngôn sứ Isaia mô tả: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Thật nghịch lý, vì chúng ta quá ảo tưởng.

Bảng đối chiếu liệt kê rõ: “Chính Ngài đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, Ngài bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, Ngài đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, Ngài đã phải mang thương tích để chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Trí óc loài người không thể tưởng tượng nổi có một Con Người lạ lùng như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì ắt chúng ta cho là “dại dột”, là “ngu xuẩn”, là “điên khùng”, là “mất trí”, là “tâm thần”. Thiên Chúa thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”, nhưng Đức Chúa đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãi mà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53:6). Người Ấy còn “bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53:8a). Thậm chí “Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”, và “vì tội lỗi của dân, Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53:8b).

Cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:9). Nhưng đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:11). Đức Giêsu đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12).

Thánh vịnh đã nói lời cuối của người hấp hối: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:2 & 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa. Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ, con hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13). Là con người thì ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi ai cũng khinh ghét và bỏ rơi mình nên nói vậy thôi, nhưng vẫn tin tưởng vào Chúa, cho nên mới dám thân thưa: “Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con” (Tv 31:15-16).

Người Ấy chấp nhận mọi thiệt thòi và cầu khấn: “Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với những người khác như một lời khuyên: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18).

Thánh Phaolô nói: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4:14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, chúng ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Trong các ân sủng, Lòng Chúa Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng! Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta.

Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu cũng đã từng lớn tiếng kêu van khóc lócdâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Vâng phục không là điều dễ, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa, ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:7). Thật không hề đơn giản chút nào! Nhưng chính lúc đó là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua “chặng đàng Thánh Giá” và cái chết mới tới sự phục sinh vinh quang.

…BỊ ĐEM ĐI GIẾT

Phúc âm hôm nay dài, Giáo hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.

Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong 12 môn đệ “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình. Người ta lục soát, tìm cách gài bẫy và đi bắt Chúa Giêsu như một côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, thế nên họ làm mọi cách để hạ nhục Ngài đủ kiểu. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn nhát!

Ngài hỏi: “Các anh tìm ai?”, thì họ đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói “chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Có lẽ lúc này Giuđa đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài!

Ngài lại hỏi một lần nữa: “Các anh tìm ai?”. Họ vẫn cương quyết: “Tìm Giêsu Nadarét”, mà không hề tởn chút nào. Lì thật! Đức Giêsu thản nhiên: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18:9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.

Họ bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do Thái: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18:14). Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!

Nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Đâu phải”. Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng công 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay!

Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói gì, không tự biện minh cho mình là đúng, không một lời kêu oan.

Đến khi bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn, Đức Giêsu mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18:22). Hỗn láo thật! Nhưng Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá!

Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không nhận và nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18:36). Vậy mà ông Philatô vẫn không hiểu nên hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:37). Ông Philatô “dốt đặc cán mai” nên ngớ ngẩn hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38).

Theo tục lệ Do Thái, vào dịp lễ Vượt Qua, thường có một tội nhân được tha. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, thì họ la lên: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương hơn là Chúa Giêsu.

Thế là tổng trấn Philatô truyền đem Đức Giêsu đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19:6). Một người nắm quyền trong tay biết người bị cáo không có tội mà không dám tha, thì quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình. Vậy người đó có đáng được tôn trọng?

Ai nói gì Chúa Giêsu cũng chỉ im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó! Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng.

Cuối cùng, ông Philatô đành cho thi hành án tử đối với Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập giá lên đồi Gôngôtha, nghĩa là Cái Sọ, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp. Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22).

Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác những thứ của Ngài. Chúa Giêsu đã kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:32). Rồi Ngài gục đầu xuống và trao Thần Khí.

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội. Sự kiện hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế Giáo hội không cử hành thánh lễ hôm nay mà chỉ có phụng vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh giá và rước lễ.

Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, nên Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).

Một điểm khác chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”. Rất nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó!

Lạy Chúa, chúng con thật khốn nạn mà vẫn tưởng mình tốt lành hơn người khác, chúng con đã a dua và đồng lõa với cái ác mà cứ tưởng mình chân chính hơn người khác. Chúng con chân thành nhận lỗi, xin lỗi Chúa và xin lỗi tha nhân. Xin thương xót chúng con và ban cho chúng con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Con Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Bạn biết gì về Thứ Sáu Tuần Thánh?

Thứ Sáu Tuần Thánh là một ngày khủng khiếp nhất trong năm. Bạn đã xem phim “The Passion of the Christ” (Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu) chưa? Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày mà Chúa Giêsu chịu sự bất công oan sai nhất: bị phản bội, bị chế nhạo, bị nhục nhã, rồi bị giết chết bằng cách chịu đóng đinh vào Thập Giá – loại hình phạt tệ nhất dành cho các tử tội dạng “đại ca” thời đó. Tiếng Anh gọi Thứ Sáu Tuần Thánh là Good Friday – Thứ Sáu Tốt Lành. Thứ Sáu Tuần Thánh có là Ngày Tốt Lành không? Sao người ta sợ Thứ Sáu ngày 13 vậy?

Tại sao người ta cho rằng cái chết của Chúa Giêsu là ngày TỐT LÀNH trong khi lại là ngày Đại Tang của Kitô giáo?

Thứ Sáu Tuần Thánh đã được hoạch định

Từ đầu, Thiên Chúa đã biết những gì sẽ xảy ra nên Ngài đã hoạch định phương cách. Ngài hóa thân làm người để giải quyết tất cả mọi khúc mắc. Chúng ta đã biết điều này, đúng không? Nhưng đôi khi chúng ta bỏ lỡ Phụng Vụ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Thiên Chúa biết rõ: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19:30).

Khi Chúa Giêsu trở nên của lễ cứu chuộc, tất cả đã xong. Những gì còn dở dang cũng được hoàn tất. Cái chết của Ngài là “chất xúc tác” làm cho mọi điều nên trọn. Sự sống lại, Chúa Thánh Thần hiện xuống, sự tái lâm của Chúa Giêsu. Khi cái chết xảy ra, mọi thứ khác cũng được thực hiện theo cách nhìn của Thiên Chúa. Chúng ta được mời gọi hướng thượng để được vào Nước Trời. Ngài muốn chúng ta hy vọng sự sống lại và mong đợi ngày Ngài tái lâm. Ngài đã hoàn tất mọi sự, không còn gì dở dang. Sự chết không còn quyền gì đối với linh hồn chúng ta, vì mọi sự đã hoàn tất. Tội lỗi không còn có thể làm chúng ta dơ bẩn khi Thiên Chúa nhìn chúng ta, vì mọi sự đã hoàn tất.

Ngày duy nhất không có Thánh Lễ

Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hợp với truyền thống cổ xưa: Không có Thánh Lễ – tức là không có truyền phép Thánh Thể. Tuy nhiên, Thánh Thể vẫn được giữ từ Thánh Lễ hôm trước, và chúng ta vẫn được đón nhận Thánh Thể. Các bí tích khác vẫn được cử hành trong trường hợp khẩn cấp, như rửa tội cho người hấp hối hoặc xức dầu cho người bệnh nặng. Nghi thức an táng được cử hành nhưng không có đàn hát hoặc chuông.

Chúa Giêsu bị phản bội hai lần

Lần thứ nhất là Tông đồ Giuđa Ítcariốt. Ông nhận 30 đồng bạc, tiền “bán đứng” Thầy mình, ở một góc tối trong Vườn Ghếtsimani, nơi Chúa Giêsu thường tới cầu nguyện vào ban đêm. Lúc đó Giuđa thay đổi ý định, nhưng không thể được. Vì thất vọng, Giuđa đã treo cổ tự kết liễu đời mình. Lần thứ hai là Tông đồ Phêrô. Chỉ vài giờ sau khi Chúa Giêsu bị bắt, ông đã sợ nên chối phăng là không biết Thầy Giêsu khi có người nhận ra ông là người đi theo Chúa Giêsu. Ông không chối một lần mà chối tới ba lần. Khi bị dẫn đi, ánh mắt Chúa Giêsu đã nhìn Phêrô với ánh mắt nghiêm nghị và đầy lòng trắc ẩn.

Sự phản bội đã biến đổi Phêrô

Sau khi thấy ánh mắt Chúa Giêsu, Phêrô sợ hãi và hoảng hốt vì tính hèn nhát của mình, ông bật khóc ăn năn. Ông được Chúa tha thứ và can đảm rao giảng Tin Mừng. Bài giảng của ông vào ngày lễ Ngũ Tuần đã khiến 3.000 người xin được rửa tội. Ông trở nên giáo hoàng tiên khởi và chịu tử đạo tại Rôma. Khi người Rôma đóng đinh ông vào thập giá, ông cảm thấy mình không xứng với Chúa Giêsu nên xin được đóng đinh ngược. Quân lính đã lật ngược thập giá theo ý ông muốn. Hằng trăm năm sau, các Kitô hữu bị bách hại đã bí mật đến viếng mộ Thánh Phêrô, và rồi Kitô giáo được công nhận thời Hoàng đế Constantine. Hài cốt Thánh Phêrô được cải táng về Đền thờ Thánh Phêrô. Ngày nay, Vatican lưu giữ những gì được tin là hài cốt Thánh Phêrô, được phát hiện những năm trước đây tại hầm mộ bên dưới bàn thờ của đền thờ này.

Không ăn uống gì từ 12 giờ tới 15 giờ

Ăn chay và kiêng thịt là truyền thống ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Tại sao? Vì đây là ngày Thiên Chúa bị phản bội, hạ nhục, hành hạ, mỉa mai bởi chính đám người mà mới vài ngày trước tung hô vạn tuế Ngài, rồi giết chết Ngài như một tên tội phạm. Truyền thống nói rằng Chúa Giêsu bị treo Thập Giá từ trưa cho tới 3 giờ chiều. Đây là khoảng thời gian nắng gay gắt. Đây cũng là khoảng thời gian tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta ơn cứu độ, nhưng chúng ta đã rũ bỏ. Để nhớ ba tiếng đồng hồ ghê rợn này, nhiều người nhịn ăn uống bất cứ thứ gì. Tại sao? Để tha khóc chính mình, để đền tội mình, để thông phần đau khổ với Chúa Giêsu, đặc biệt là để sám hối về những lần chúng ta đã hèn nhát, không dám đứng lên bảo vệ sự thật, không dám đấu tranh chống lại bất công, hoặc không dám tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ.

Thứ Sáu Tuần Thánh: Tôn kính Thánh Giá

Trong Giáo Hội Công giáo, Thứ Sáu Tuần Thánh không cử hành Thánh Lễ, nhưng có nghi thức tôn kính Thánh Giá để tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu. Nghi thức này thường được cử hành lúc 3 giờ chiều, giờ Con Thiên Chúa trút hơi thở trên Thánh Giá. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh, có thể cử hành trễ hơn, nhưng phải trước 9 giờ tối.

Thứ Sáu Tuần Thánh: Tử thần chiến bại

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày ảm đạm, ngày đại tang, nhưng lại là ngày tốt lành vì Con Thiên Chúa đã hoàn tất mọi sự. Chính cái chết của Ngài khiến Tử Thần phải bó tay, đành thua cuộc. Kẻ thù vẫn tìm cách hãm hại chúng ta, muốn kéo chúng ta về phe chúng, nhưng chúng không thể chiến thắng vì chúng đã thua Con Thiên Chúa.

Thứ Sáu Tuần Thánh: Khởi đầu phục sinh

Thứ Sáu Tuần Thánh là khởi đầu của sự chết, nhưng cũng chính là khởi điểm của sự phục sinh. Alleluia, Chúa Giêsu đã sống lại vinh quang!

Người ta sợ Thứ Sáu ngày 13 vì người ta thấy trong Bữa Tiệc Ly có 13 người: Chúa Giêsu và 12 môn đệ. Giuđa Ítcariốt là người phản bội, bị coi là người mang “bí số” 13. Đừng dị đoan nhảm nhí mà "sợ" ngày này. Thứ Sáu nào cũng tốt lành, Thứ Sáu Tuần Thánh càng tốt lành hơn!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

 

XIN VÂNG
(Mt 26:42; Mc 14:36; Lc 22:42)

Lạy Cha là Chúa đất trời
Nếu Con đây cứ phải uống
Không thể tránh khỏi Chén đắng
Thì Con xin vâng Ý Cha!

TRẦM THIÊN THU


HỘI CHỨNG GIUĐA

Giuđa bán Chúa một lần
Còn con bán Chúa cả đời mà quên
Lại còn ảo tưởng ngày đêm
Ngỡ mình là một thánh nhân hơn người
Bao nhiêu tội lỗi tày trời
Vậy mà còn dám chê cười Giuđa
Con ăn chia với quỷ ma
Chỉ tìm tư lợi, vô tư bán Thầy!

 

Thấy dân cầm lá trên tay

Vạn tuế đón Thầy, con ảo tưởng thêm

Ngỡ Thầy được vậy là ngon

Ắt là trò cũng hưởng phần thơm lây

Thế nên con bất cần đời

Tháng ngày con chẳng coi ai ra gì

Ngông nghênh, tự đắc, kiêu sa

Ai dám giỡn đùa thì sẽ biết tay

 

Ai dè Chúa chịu đắng cay

Khiến con thất vọng trắng tay ê chề

Bán Thầy, con chẳng ngại gì

Bán đi bán lại giá ba mươi đồng

Rốt cuộc tay trắng hoàn không

Con càng thất vọng, chán chường, sầu lo

Nhiễm vào hội chứng Giuđa

Càng ngày càng hóa trầm kha quá rồi!

 

Thầy ơi! Con biết tội rồi

Ăn năn xin Chúa một lời thứ tha

Từ nay con dốc lòng chừa

Xin vâng Thánh Ý mặc dù khổ đau!

TRẦM THIÊN THU


ĐỒNG LÕA

Giuđa sử dụng nụ hôn

Làm dấu “chỉ điểm” bán Chúa

Con cũng đã từng như thế

Bán Chúa một cách tinh vi!

Dân chúng đồng thanh hô to:

“Đóng đinh hắn vào thập giá!”

Có con trong đám đông đó

Ghen tị, căm phẫn, hét to!

Phêrô chối bỏ Giêsu

Muốn yên thân mà hèn nhát

Con cũng bao lần khiếp nhược

Không dám tuyên xưng đức tin!

            Philatô rửa tay liền

            Muốn chứng tỏ mình công chính

            Con cũng tưởng mình lành thánh

            Trong khi ném đá giấu tay!

Thứ Sáu, giờ thứ chín này

Lặng quỳ suy tôn Thánh Giá

Con thấy mình khốn nạn quá

Vì con mà Chúa hy sinh!

            Nhìn Chúa chết treo Thập hình

            Con nhận ra mình tệ quá

            Lòng Chúa Thương Xót kỳ lạ

            Nhờ đó con được thứ tha

Giọt Máu cuối cùng chảy ra

Chúa trút hơi lìa trần thế

Dẫu con đáng mang án tử

Thế mà Ngài lại bỏ qua

            Xin giúp con quyết tâm chừa

            Dù tội vô tình, cố ý

            Can đảm quyết không đồng lõa

            Nhưng chống lại điều xấu xa

TRẦM THIÊN THU

Tam Nhật Vượt Qua – 2012

KHOẢNG LẶNG GIÊSU
Đêm khuya tĩnh mịch mình ên
Chúa Giêsu ngước mắt lên phía Trời
Vừa lo sợ vừa đơn côi
Đâu ai hiểu thấu Con Người Giêsu
Các môn đệ vẫn vô tư
Lòng Thầy nặng trĩu mà trò ngủ ngon
Tay nâng chén đắng mà run
Nhưng vì tuân phục vẫn cầm uống thôi
Đêm nay đêm cuối cuộc đời
Bao nhiêu tâm sự rối bời tâm can
Bằng lòng chết cứu nhân trần
Chữ Yêu luôn mãi đẹp bên chữ Tình
Ý Cha mầu nhiệm, chí minh
Chết đi là để phục sinh vĩnh hằng
TRẦM THIÊN THU


VỀ NÚI SỌ
Đường về Núi Sọ âm u
Thập hình mình Chúa Giêsu lên đồi
Thân tàn tạ, xác rã rời
Đường đi không thẳng, gập ghềnh, nhấp nhô
Kẻ mai mỉa, kẻ cười chê
Kẻ khinh, kẻ ghét tư bề bủa vây
Trời cao đổ nắng gắt gay
Mệt nhoài Chúa ngã sóng soài mấy phen
Đường về Núi Sọ đi lên
Mà sao Thập Giá như thêm nặng nề
Tới nơi, kẻ giữ, kẻ đè
Chân tay bị đóng đinh vô Thập Hình
Treo cao giữa lũ vô tình
Chúa Giêsu chịu hành hình thê lương
Người qua, kẻ lại khinh thường
Kẻ như xem kịch, xem tuồng, khác chi
Kẻ bàng quan, kẻ vô tư
Kẻ thì thách thức: “Xuống đi, tin liền” (*)
Hai bên hai kẻ bất nhân
Chúa Giêsu chẳng oán than một lời
Đường về Núi Sọ chơi vơi
Xin cho con biết suốt đời cố leo
Leo cao tới Đỉnh Tình Yêu
Qua từng nấc khổ, nấc đau,… với Ngài
Đường về Núi Sọ là đây
Hoang vu chiều vắng, đọa đày vì yêu
TRẦM THIÊN THU
(*) Mt 27:40-42; Mc 15:32.

 

Giọt nước mắt

Ai sinh ra cũng khóc. Đứa bé khóc được là thân nhân vui mừng, đứa bé không khóc thì thân nhân… lo. Vậy khóc là “tín hiệu tốt” chứ không phải là cười.

Rồi khôn lớn dần, trong cuộc sống, ai cũng đã từng hơn một lần rưng rưng nước mắt hoặc đầm đìa nước mắt. Mà nói đến nước mắt là nói đến trạng thái khóc. Thường thì khóc là thể hiện tâm trạng buồn. Nhưng cũng có thể khóc vì vui, như thi hào Nguyễn Công Trứ mô tả: “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười”. Buồn mà lại cười, đó là lúc người ta quá buồn, buồn muốn phát điên, buồn muốn khóc, và rồi khóc đến cạn nước mắt. Có thể đó là “cái bí ẩn” trong cách nói của người Việt Nam thường nói: “Buồn cười quá!”.

Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng “khóc”, vì ông đã “ngồi buồn mà trách ông xanh” và mong ước:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Nhưng với chúng ta, những người có niềm tin vào Đức-Kitô-tử-nạn-và-phục-sinh, chúng ta có quyết tâm tích cực hoàn toàn khác:

Kiếp sau xin vẫn làm người
Và làm thánh giữa Nước Trời trường sinh

Chúng ta không chỉ “vẫn làm người”, vì thân xác chúng ta cũng được sống lại và lên trời, đặc biệt là còn làm “thánh nhân”. Nhưng trước khi “về Nhà Cha” hưởng phúc trường sinh vinh quang, chúng ta không thể không phải chịu đau khổ, nghĩa là có những lúc buồn nẫu ruột, buồn đến chết, buồn đến bật khóc,… đến nỗi những người kém lòng tin đã tự tử.

Khóc có nhiều kiểu. Khóc có nhiều nguyên nhân. Khóc có nhiều mức độ. Thế nên nước mắt cũng có nhiều loại, kể cả “nước mắt cá sấu”. Và tất nhiên, nước mắt không chỉ có vị mặn mà còn có những vị khác nữa!

Với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ông có “giọt nước mắt ngà”: “Em đứng bên sông buồn. Nhìn cuộc tình trôi qua và lòng người phôi pha. Trên hai đóa môi hồng. Nụ cười đã đi xa. Ôi giọt nước mắt nào cho cuộc tình đầu… Thôi một giọt nước mắt này. Cho cuộc tình đam mê, cho người tình trăm năm… Giọt lệ nào thương vay, tình đành tràn mi cay… Ôi giọt nước mắt ngà cho cuộc tình đầu tiên!”. Giọt-nước-mắt-ngà của NS họ Ngô là giọt-lệ-tình-sầu, một “kiểu” nước mắt của riêng ông.

Người đời có nhiều loại nước mắt, riêng người Công giáo có thêm loại nước-mắt-ăn-năn, nước-mắt-khóc-cho-tội-mình mang vị mặn chát, nhưng đó là loại nước-mắt-thánh-thiện rất cần thiết. Nước mắt làm cho sáng mắt, và nước mắt có thể làm “trôi đi” phần nào nỗi buồn.

Tác giả Thánh vịnh có kiểu khóc thế này: “Tôi lang thang như người khóc mẹ, tôi tủi buồn cúi mặt xuống mà đi” (Tv 35:14). Nước mắt chảy nhiều đến nỗi tác giả “xin lấy vò mà đựng nước mắt” (Tv 56:9), và thường đem “nước mắt hoà nước uống” (Tv 102:10). Có những giọt nước mắt bình thường hoặc tầm thường, nhưng có những giọt nước mắt quý giá – gọi là châu lệ.

Thánh Phaolô cũng đã từng phải khóc: “Tôi phải than khóc nhiều người trước đây đã phạm tội, mà nay chẳng chịu ăn năn hối cải về những việc ô uế, gian dâm và phóng đãng họ đã làm” (2 Cr 12:21).

Thánh sử Luca tường thuật: “Có một phụ nữ tội lỗi cúi sát chân Chúa Giêsu mà khóc. Chị lấy nước mắt mình mà tưới ướt chân Ngài, lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Ngài và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7:38). Những giọt nước mắt như vậy thực sự là châu lệ, vì đầy tâm tình sám hối và tin yêu. Do đó, Chúa Giêsu đề cao tấm gương của phụ-nữ-tội-lỗi này: “Yêu nhiều nên được tha nhiều” (Lc 7:47).

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội, đúng ra là Thế Giới Tang. Nhiều người chú trọng nhiều đến “bề ngoài”, lo “bày tỏ” bằng những cách để đánh vào thị hiếu của giới bình dân. Nếu thực sự ngoại tại có thể giúp nội tại thì cũng tốt, nhưng đừng thái quá. Điều cần là “đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng” (Ge 2:13). Khóc cho tội và chết cho tội là thành tâm sám hối và quyết tâm chừa tội, đó mới là cách Chúa muốn. Cứ lo “diễn” bề ngoài mà không chú ý nội tâm thì chắc chắn Chúa không muốn.

Chính Đức Giêsu cũng đã khóc vì thương tiếc thành Giêrusalem (x. Lc 19:41), nhưng khi người ta than khóc Ngài khi thấy Ngài vác Thập giá, dù Ngài đang rất mệt mỏi và đau đớn mà vẫn ráng quay lại nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).

Đó cũng chính là lời cảnh báo Ngài nói thẳng với chúng ta. Và rồi khi “Ngài ngự đến giữa đám mây”, nghĩa là lúc Ngài đến thế gian lần thứ hai, “ai nấy sẽ thấy Ngài, cả những kẻ đã đâm Ngài. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Ngài” (Kh 1:7).

Cuộc đời là chuỗi-đau-khổ-đầy-nước-mắt, nhưng chính đau khổ lại là diễm phúc: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:5). Khóc không bị chê trách mà được chúc phúc. Giọt-nước-mắt đó đầy vị-măn-yêu-thương. Chỉ có một loại nước mắt tệ hại nhất và vô phúc nhất là giọt-nước-mắt-trong-hỏa-ngục, vì phải đời đời “khóc lóc và nghiến răng” (Mt 8:12; Mt 13:42; Mt 13:50; Mt 22:13; Mt 24:51; Mt 25:30; Lc 13:28).

Chúa Giêsu đã dùng chính sự thất bại để chiến thắng, dùng chính đau khổ để đạt vinh quang, và dùng chính cái chết để đạt sự phục sinh. Đấng Cứu Thế đã vậy thì chúng ta không thể không như Ngài – nghĩa là cũng phải khóc lóc và rơi lệ hằng ngày. Tuy nhiên, Ngài đã chết để chúng ta được sống, và rồi “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt chúng ta” (Kh 7:17; Kh 21:4).

Lạy Chúa Cha hằng hữu đầy lòng thương xót, vì tội lỗi khốn nạn của chúng con mà Ngài bắt Đức Kitô, Con Yêu Dấu của Cha, phải chết đau thương. Chúng con thành tâm xin lỗi Đức Giêsu Kitô, xin cho nước mắt của chúng con được hòa với Máu và Nước của Ngài để nài xin lòng thương xót cho chính chúng con và toàn thế giới. Chúng con khẩn thiết Chúa Cha thương xót và tha thứ cho chúng con, xin giúp chúng con trung tín với Ơn Chúa để đừng làm khổ Đức Giêsu chút nào nữa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Tam Nhật Vượt Qua – 2012

VẦNG TRĂNG LẺ LOI
Trăng mờ chênh chếch cuối trời
Lặng lẽ một người cầu nguyện giữa khuya
Cô đơn mình Chúa Giêsu
Mồ hôi ướt đẫm vì lo sợ nhiều
Bồi hồi “chén đắng” Cha trao
Một ngày Thứ Sáu khổ đau chất chồng
Con đường Thập Giá chênh chông
Độc hành lặng bước tới vùng Can-vê
Trời đêm lẻ bóng trăng khuya
Nặng lòng mình Chúa Giêsu lặng cầu
KHA ĐÔNG ANH
INRI
(IESVS NAZARENVS REX IVDÆORVM)
Im lặng giữa đám vô lương
Nỗi buồn trĩu nặng cõi lòng Giêsu
Rồi ôm Thập Giá mà đi
Im lặng nối tiếp cho vừa khổ đau
Can-vê phủ tím ráng chiều
Vua dân Do Thái chịu nhiều nỗi oan
Vì yêu nên chẳng oán than
Chính IN-RI đã giải oan cho Ngài
“Đúng là Con Chúa thật rồi!” (*)
Viên đại đội trưởng buông lời nói ngay
Buổi chiều Thứ Sáu đắng cay
Nhưng ơn cứu độ tràn đầy trao ban
Tạ ơn Thiên Chúa từ nhân
Vì lòng thương xót ban nguồn thứ tha
TRẦM THIÊN THU
(*) Mc 15:39
BÀI HỌC YÊU
Hãy yêu thương nhau!
Lệnh truyền và sứ vụ rất giản dị
Nhưng triết lý sống lại vô cùng thâm thúy
Con học cả đời chưa thuộc lòng!
            Cuộc đời quá long đong
            Thầy chỉ làm ơn mà đành mắc oán
            Tay run sợ nhưng vẫn cầm chắc chén đắng
            Một mình Thầy uống cạn vì yêu!
Tột cùng những niềm đau
Thầy chịu đựng mà không nửa lời than thở
Thầy trao ban cả Mình và Máu quý giá
Vậy mà con nỡ lòng bán Thầy!
            Đêm Vườn Dầu đọa đày
            Màn đêm dày đặc, cô đơn ướt đẫm
            Con vô tư ngủ mê với mưu mô tính toán
            Vì con đã đánh mất lương tâm!
Thầy ơi! Khốn nạn con kiếp phàm nhân
Điều tốt không học, chỉ học đòi thói xấu
Không chia sẻ, thích lừa đảo
Xin dạy con cách thực hành bài học yêu thương
            Thầy ơi! Đây tấm-bánh-cuộc-đời-con
            Xin dạy con bẻ ra và trao cho người khác
            Trao bằng sự phục vụ và lòng chân thật
            Trao cho đến hơi thở cuối cùng, Thầy ơi!
TRẦM THIÊN THU
Thứ Năm Tuần Thánh – 2015
CHIỀU TÍM
Thầy bị bắt, con đây buồn thúi ruột
Thầy chết rồi, con thất vọng ê chề
Thế là hết, tan tành những ước mơ
Con lầm lũi về quê cắm câu vậy!
            Ngày Thứ Sáu, ngày định mệnh hoang dại
            Người ta đội cho Thầy một vòng gai
            Nỗi nhức buốt theo vệt máu lăn dài
            Tai ù theo lời chế nhạo, mai mỉa
Thầy quằn quại theo lằn roi độc địa
Những cái quất thẳng tay đầy căm hờn
Làn da Thầy không còn chỗ lành nguyên
Máu loang lổ, những vết thương nhầy nhụa
            Người ta cười, gầm gừ như thú dữ
            Không xót thương nên chẳng chút nương tay
            Thầy sức kiệt, hơi tàn trong đọa đày
            Nhưng ánh mắt luôn lúng liếng nhân ái
Thầy xót thương kẻ khiếp nhược, ươn ái
Cảm thông ai bỏ dép chạy thoát thân
Những lằn roi vẫn tiếp tục bất nhân
Thầy lặng lẽ cam chịu, không trách cứ
            Đường gập ghềnh, vòng vo tới Núi Sọ
            Không còn sức nên Thầy ngã sóng soài
            Nhìn thấy Mẹ, lòng Thầy càng chua cay
            Gần bên mà như ngàn trùng cách biệt
Tiếng lách cách búa, đinh, nghe rợn óc
Chân tay Thầy bị kéo giãn dọc, ngang
Tiếng búa nện vang vọng cả khu rừng
Dòng máu đỏ chảy ra thấm vào đất
            Miệng khát khô, và thế là hoàn tất
            Phút biệt ly, Thầy nhìn Mẹ, nhìn con
            Nước mắt nào có thể còn mặn hơn?
            Trời đang nắng bỗng dưng tối sầm lại
Con đấm ngực vì đốn hèn, ngu dại
Xin xót thương mà tha thứ, Thầy ơi!
Chiều hoang tím, cõi lòng con rối bời
Nhưng con tin Thầy giàu Lòng Thương Xót
TRẦM THIÊN THU

Thứ Sáu Tuần Thánh – 2015

 

Chuyện Nụ Hôn

Nụ hôn luôn êm ái, dịu dàng và ngọt ngào, vì đó là động thái chứng tỏ mãnh lực yêu thương trong các loại tình cảm. Có nhiều dạng nụ hôn, vị trí hôn, mức độ hôn, cách hôn,... Nhưng nụ hôn luôn được coi là “biểu tượng đẹp” trong tình cảm của con người. Có lẽ người ta vẫn e ngại nhất là nụ hôn giả dối, giả hình, giả nhân, giả nghĩa.

Thưa Ông Giuđa,

Tứ thời bát tiết luân phiên thay đổi, mùa này đi rồi mùa khác đến. Đời sống tâm linh cũng vậy, Mùa Chay đến rồi tiếp theo là Tuần Thánh.

Hôm nay là Thứ Sáu, 3-4-2015, ngày giỗ của Thầy Giêsu. Cách đây 1982 năm, Thầy Giêsu đã phải chịu đủ thứ nhục hình, thân thể tàn tạ, tiều tụy, thê thảm, tang thương,... rồi Ngài trăn trối nỗi niềm cho Đức Mẹ và Thánh Gioan, sau đó Ngài trút hơi thở và về Nhà Cha lúc 15 giờ Thứ Sáu, ngày 3 tháng Tư năm 33. Chiều nay, vào “giờ thiêng” 3 giờ chiều, nắng như đổ lửa, cháu nhớ Thầy Giêsu và rồi cháu cũng cũng nhớ đến Ông đấy! Cháu vẫn tôn trọng Ông và gọi là Ông “viết hoa”.

Cứ mỗi lần Tuần Thánh về, thiết tưởng Ông là người khổ tâm nhất vì Ông bị mọi người chĩa đủ thứ “mũi dùi” vào một mình Ông với những ánh mắt “sắc như dao cau” và “bén như dao mổ”, đầy căm phẫn chứ chẳng thấy ai cảm thông tí ti nào ráo trọi. Cái định kiến và cách nhìn đầy “ác ý” ấy của mọi người đã và đang khiến Ông luôn bị xét đoán rất nghiêm khắc từ gần 2000 năm qua rồi, chứ chưa cần Chúa xét xử Ông đâu. Quả thật, cháu cảm thấy thương cảm và tội nghiệp Ông quá, vì cháu cũng chỉ là một tội nhân khốn nạn, cũng nhẫn tâm “nhúng tay” vào việc giết Thầy Giêsu vậy, chứ có hơn gì Ông mà dám “chảnh” đâu, Ông ạ!

Chắc hẳn Ông cũng bị lương tâm cắn rứt nhiều lắm. Ông ray rứt vì Ông đã dùng nụ hôn – vốn dĩ mệnh danh là “ngôn ngữ yêu thương” – để “chỉ điểm” và bán chính Thầy mình mà có tiền xài. Chắc hẳn “ba mươi đồng” (Mt 26:15; Mt 27:3 và 9) thời đó phải là một món tiền hậu hĩnh lắm, dù chỉ là số tiền nhỏ so với hơn “ba trăm quan tiền” (Mc 14:5; Ga 12:5) là giá trị của chiếc bình dầu cam tùng hảo hạng mà một phụ nữ đã xức đầu và chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simon Cùi ở làng Bêtania (Mt 26:6-13; Mc 14:3-9; Ga 12:1-8). Chỉ “ba mươi đồng” mà đã là số tiền lớn, huống chi “ba trăm quan tiền”, gấp nhiều lần lắm. Thảo nào một số người đã cho rằng cô nàng kia làm như vậy là hoang phí (Mt 26:8; Mc 14:4).
Đâu chỉ mình Ông ham tiền, những người kia cũng thế, ngay cả các môn đệ khác cũng bực tức kia mà (Mt 26:8), có hơn gì Ông đâu! Đọc và nghe Phúc Âm rồi thôi, đọc và nghe chung chung chứ mấy ai lưu ý chi tiết. Chính chi tiết lại là vấn đề quan trọng, chính chi tiết mới cho thấy rõ vấn đề, cũng như chiếc chìa khóa nhỏ mà lại có thể mở cửa của tòa nhà lớn. Nhưng hậu thế chỉ nhìn “gần”, thiển cận, lên án người khác trong khi mình chả ra gì. Càng những người ra vẻ “ta đây” thì lại càng “vênh váo” hống hách, lên mặt “thầy đời” đủ thứ. Dốt mà “chảnh” là thế. Thùng rỗng bao giờ cũng kêu to.

Người thời nay đâu hơn gì Ông. Ra cái vẻ đạo đức, tham gia sinh hoạt hết hội này đến đoàn nọ, nhưng ai chạm đến chân lông mình thì nổi tam bành, nếu có dao trong người thì dám rút ra đâm liền, không có dao thì hậm hực, lườm nguýt, chưởi rủa, bè phái, trù dập, hoặc “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”. Quả thật, ngày nay người ta “bán” Chúa còn tinh vi hơn nhiều, thế mà người ta vẫn tưởng mình chân chính, họ thường xuyên “bán rẻ” cả anh chị em mình mà vẫn biện hộ thế này hoặc thế nọ. Thật đáng sợ!

Vâng, thưa Ông, tiền bạc có ma lực rất mạnh, thời nào cũng thế, nó có thể khuynh đảo bất kỳ ai – dù đạo hay đời. Người có tiền rồi lại muốn có thêm, người không có tiền thì tìm mọi cách để có nó, thậm chí người ta sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để có tiền, không phải “ăn bữa nay, lo bữa mai”, được ăn sung mặc sướng, được “hãnh diện” với đời, nhất là thời nay người ta coi trọng bề ngoài lắm. Con người là thế, như người Pháp nói: “C’est la vie!” (đời là thế). Thiết tưởng Ông cũng là “nạn nhân” của quan-niệm-thực-tế đó, cái mà người ta không dám nhận, tật mà người ta không dám nhận, tội mà người ta không dám thú, dù người ta cũng đang dùng mọi thủ đoạn tinh vi để có thể sống ung dung hưởng thụ, thế nên người ta thường nói đùa mà rất thật rằng “tình cảm là chín (đáng lẽ là “chính”) nhưng tiền bạc là mười”!

Ông Giuđa ơi, nếu Ông sống ở thế kỷ XXI này, Ông sẽ được nghe người ta ví von: “Tiền là tiên, là Phật; là sức bật của lò so; là nỗi lo của tuổi trẻ; là sức khỏe của người già; là cái đà của danh vọng; là cái lọng của con người”. Có thể Ông cũng “mắc cười” khi nghe vậy, và có thể Ông cũng “khó hiểu” – phần vì khác ngôn ngữ, phần vì khác thế hệ. Nhưng “câu vè” có vẻ khôi hài đó lại nói lên cái thực tại của con người, không dễ gì cưỡng lại, vì tiền bạc có mãnh lực, thậm chí là ma lực. Thế nên người ta vẫn ĐÃ và ĐANG không ngại tham nhũng, hối lộ, bóc lột hoặc chà đạp người khác để mình sống vinh thân phì da – dù người đó là người có niềm tin tôn giáo hoặc vô thần. Đáng sợ thật! Cũng chỉ vì tham lam, mê vật chất và quyền lực mà người ta BẤT CHẤP CÔNG LÝ, sẵn sàng hành hạ “kẻ yếu” bằng mọi cách. Ông đã theo Thầy Giêsu rong ruổi khắp nơi thì chắc Ông đã hiểu. Cũng có thể vì Ông thấy thực tế phũ phàng quá nên Ông mới nghĩ ra cách moi tiền của họ mà Thầy Giêsu vẫn “nguyên xi”. Xét cho cùng, Ông cũng rất tin vào quyền năng của Sư phụ Giêsu. Nhưng ai dè… Thầy Giêsu bị lôi đi như một tên tội phạm nguy hiểm!

Ông biết Sư phụ Giêsu của Ông “ngon” lắm, vì Thầy mới nói “Tôi đây!” mà bọn lính ngã lăn cù cả đám (x. Ga 18:6). Lúc đó hẳn là Ông chắc mẩm đã làm cho bọn ác ôn bị Ông lừa để có số tiền “béo bở” kia. Không biết Ông có gật gù và cười đắc chí không nhỉ? Thế nhưng Ông quá bất ngờ khi Thầy cho chúng đứng dậy và để chúng bắt trói. Chắc là Ông cảm thấy thất vọng lắm, vì Ông không hiểu sao Thầy mình bỗng dưng lại mất hết “phép thần thông” để rồi bị những người xấu bắt như vậy. Họ đúng là những người “miệng nam-mô, bụng một bồ dao găm”. Và Ông tuyệt vọng!

Sau đó, Ông bực mình nên đã ném trả lại tiền cho các thượng tế và các kỳ mục, rồi tự thú: “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt 27:4a). Ông là đệ tử nên Ông biết rõ Thầy Giêsu VÔ TỘI. Ông dám nói thật lòng mình như vậy thì chắc hẳn lương tâm Ông đã cắn rứt lắm, nghĩa là Ông cũng cảm thấy ăn năn. Lương tâm không có RĂNG mà vẫn có thể CẮN được. Kỳ diệu quá phải không Ông? Chắc chắn đó là sám hối, dù là trực tiếp hay gián tiếp, đạo Công giáo gọi là “ăn năn tội cách trọn” hoặc “ăn năn tội cách chẳng trọn”. Chính tay Ông ném trả lại tiền cho họ, nhưng họ vẫn thản nhiên: “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!” (Mt 27:4b). Người ta không xét sâu đến khía cạnh đó mà luôn có thành kiến xấu với ông, thậm chí còn gọi Ông là “thằng” nữa. Có điều buồn là Ông lại vội đi thắt cổ tự tử (Mt 27:5) trong khi Thầy Giêsu vẫn hết lòng yêu quý và thương xót Ông. Còn việc Ông ném số bạc vào Đền Thờ rồi Ông đi thắt cổ, liệu ai là người dám nhận mình công chính để dám xét đoán Ông? Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa biết. Nhưng dù sao Ông cũng mắc “tội trống” mà người khác phải coi đó để cố gắng sống tốt hơn, đừng lừa thầy phản bạn, và ít ra cũng phải biết “ăn cây nào rào cây ấy”.

Những người kết án Ông là ai? Là những người “có chức, có quyền”, những người “ăn trên, ngồi trước”, những người “ỷ thế, cậy quyền”, những người “thấy cái rác trong mắt người mà không thấy cái đà trong mắt mình” (x. Mt 7:3-5; Lc 6:41-42), những người được “tôn xưng” là thượng tế, là kỳ mục, là kinh sư, là thầy thông luật,... Toàn là “ông lớn” thôi ! Và cũng chính những người đó đã tiếp tục nỡ lòng kết án Thầy-Giêsu-công-chính. Họ lấy tiền mà Ông bán Thầy Giêsu để mua thửa ruộng gọi là “Ruộng Máu”. Đó cũng là “cái giá” Ông phải trả, và Ông bị mang tiếng xấu cho đến tận thế. Xin chân thành chia buồn với Ông!

Ngày xưa, ông bà nguyên tổ đã phạm tội vì bất tuân lệnh Chúa. Thế nhưng Tội Nguyên Tổ được “viết hoa” và được gọi là “tội hồng phúc” (Exultet đêm Vọng Phục Sinh). Còn Ông lại bị người đời nguyền rủa đủ kiểu, vuốt mặt không kịp.

Thưa Ông, Thánh Ý Thiên Chúa quá nhiệm mầu, trí óc loài người của cháu chỉ như “bã đậu”, không thể nào hiểu hết. Nhưng tận đáy lòng, chắc là không ai dám xét đoán Ông đâu. Thấy Ông mà mọi người phải “sờ gáy” để tự phán xét mình trước đấy. Nhắc tới Ông mà cháu “nhột gáy” lắm, Ông ạ!

Tuần Thánh sắp tới, ngày giỗ Thầy Giêsu cũng là ngày kỵ của Ông, nụ hôn bán Thầy của Ông vẫn nóng bỏng lắm. Đôi lời tâm sự và xin được thông cảm với “nỗi khổ tâm” của Ông, nhưng không “đồng lõa” với Ông. Mong Ông hiểu cho! Chúc Ông bình tâm và bớt ray rứt. Hy vọng Ông cũng được cứu độ nhờ Lòng Thương Xót vô biên của Thầy Giêsu nhân hậu. Ông bị chê trách, dòng họ Ítcariốt của gia tộc Ông cũng bị mang tiếng xấu. Phàm nhân chúng cháu là thế thôi, như ca dao Việt Nam của chúng cháu có câu: “Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”. Đành chịu vậy thôi, Ông nhỉ!

Thưa Ông Giuđa, cháu hy vọng như vậy đối với Ông, đối với mọi người và đối với cháu nữa, vì bị những kẻ thủ ác giết chết mà Thầy Giêsu vẫn bênh vực cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mầu nhiệm lắm!

Có câu chuyện dạng biếm ngôn kể rằng: Ngày Chung Thẩm, sau khi phân loại dê ra dê, chiên ra chiên. Kẻ dữ vô Hỏa Ngục, người lành vào Thiên Đàng. Mọi người đâu vào đấy rồi, nhưng Chúa Giêsu vẫn đứng tựa cửa dõi mắt xa xăm, khóe mắt rưng rưng. Mọi người xúm lại hỏi thì Chúa Giêsu trầm giọng nói: “Ta đứng đợi người cuối cùng là đệ tử Giuđa của Ta ngày xưa”. Lòng Thương Xót của Thiên Chúa bao la quá!

TRẦM THIÊN THU

Kẻ tội đồ hậu sinh – ngày Giỗ Chúa Giêsu Kitô 3-4-2015

 

DongCongNet 2015

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)