dongcong.net
 
 


Mùa vọng B : Trầm Thiên Thu

KHÁT MƯA GIÊSU

(Chúa nhật I mùa Vọng, năm B)

ĐỨC CÔNG CHÍNH THẮT LƯNG LUÔN KHUYA SỚM
LÒNG TÍN THÀNH BUỘC BỤNG SUỐT THÁNG NGÀY

Tân Niên Phụng Vụ khởi đầu, có thể coi đây là “Ngày Tết” Công giáo, là thời điểm khởi đầu một khoảng thời gian mong chờ Ngôi Hai giáng thế để giao hòa trời đất và cứu độ nhân loại.

Bắt đầu năm Phụng Vụ mới cũng là lúc đất trời vào Đông, chút se lạnh buổi sáng chợt khiến lòng người lắng xuống, một cảm giác lạ, chút bâng khuâng thường có trong tình trạng chờ đợi, nhưng với người Công giáo thì sự chờ đợi đó mang ý nghĩa linh thiêng: Khát khao Mưa Giêsu. Khoảng mong chờ này không u buồn mà tràn đầy niềm hy vọng, vì Kinh Thánh đã nói: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel” (Is 7:14). Và Giáo hội thiết tha cầu xin: Veni Veni Emmanuel – Xin Ngự Đến, Lạy Đấng Emmanuel” (*).

Không nói rõ là niềm khát khao, nhưng danh họa Michelangelo (1475–1564, Ý) đã khéo léo nhận xét: “Mối nguy lớn nhất đối với hầu hết chúng ta không phải là mục đích của chúng ta quá cao và không đạt tới, mà là mục đích của chúng ta quá thấp và chúng ta đạt được”. Khi thao thức mong chờ, Thánh Vịnh gia than thở: “Ngày khốn quẫn, tôi tìm kiếm Chúa, tay vươn lên không biết mỏi lúc đêm trường, hồn tôi nào có thiết lời an ủi! Tưởng nhớ Chúa, tôi thở vắn than dài, suy gẫm hoài nên khí lực tiêu hao” (Tv 77:3-4). Vâng, “lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Kh 22:20b).

I. KHÁT KHAO – MONG CHỜ

Niềm khát khao và nỗi mong chờ liên quan lẫn nhau. Vì khát khao mà mong chờ, và ngược lại. Nắng lâu ngày hóa hạn hán, không khí oi bức, đất đai khô cằn, cây cối héo úa,… Vì thế mà mọi vật đều khao khát mưa. Khao khát và mong chờ. Cuộc đời luôn có vô số điều khao khát khiến chúng ta mong chờ nối tiếp mong chờ. Càng mong chờ càng khao khát: “Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ Ngài? Vì tình thương đối với tôi tớ là các chi tộc thuộc gia nghiệp của Ngài, xin Ngài mau trở lại” (Is 63:17).

Khi thời tiết khô hạn, mọi người không ngừng vang lên điệp khúc “cầu mưa” như một dạng cầu xin, nhưng người Công giáo mong đợi một loại Mưa “viết hoa”, loại Mưa này vô cùng đặc biệt: Mưa Hồng Ân, Mưa Cứu Độ, Mưa Đấng Thiên Sai, Mưa Đức Giêsu Kitô. Như vậy, cầu nguyện là trách nhiệm chung, và cũng là bổn phận riêng của mỗi người. Khi cầu nguyện, có thể chúng ta cảm thấy như không có gì biến chuyển, nhưng chính lúc “không thấy động tĩnh gì” mới là lúc cầu nguyện hiệu quả. Thực ra không phải không có gì xảy ra, vì Thánh Phaolô đã xác định: “Anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mạc khải vinh quang của Người” (1 Cr 1:7). Thật vậy, “Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 1:9). Ngài là Thiên-Chúa-Tình-Yêu, chắc chắn Ngài không thể bỏ mặc chúng ta trong nỗi khát khao và mòn mỏi mong chờ điều thiện hảo.

Đối với xã hội loài người và trong cuộc sống đời thường, người ta thường lý luận: “Không còn tình cũng còn nghĩa”. Đúng vậy, thế nhưng đôi khi cái nghĩa còn trọng hơn cái tình. Cũng với tâm tình đó, Thánh vịnh gia đã tha thiết van xin: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ” (Tv 80:15). Đó là lòng khát khao và nỗi mong chờ triền miên đêm ngày.

Chúng ta phải miệt mài mong chờ như vậy chắc chắn không phải Chúa “ác ý” hay “đùa dai”, mà Ngài muốn chúng ta thực sự đừng xao lãng khi mong chờ, nghĩa là phải toàn tâm toàn ý với Ngài, khát khao Ngài thành tâm chứ không “bắt cá hai tay”, đồng thời phải nhận ra “khoảng trống vắng” trong lòng mình như hai người yêu nhau và tương tư nhau, để rồi chân thành khấn hứa với Chúa: “Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài” (Tv 80:19). Hứa rồi thì chớ quên!

Vừa mặc nhiên vừa minh nhiên, cuộc sống luôn có những “chuỗi” lô-gích. Khi KHAO KHÁT điều gì thì người ta luôn HY VỌNG và MONG CHỜ, khi MONG CHỜ thì phải TỈNH THỨC. Đó là quy trình rất tự nhiên. Chí lý!

II. CANH THỨC – SẴN SÀNG

Động thái canh thức và sẵn sàng cũng có hệ lụy lẫn nhau. Canh thức thì phải sẵn sàng, không thể ngồi đó canh thức rồi suy nghĩ vu vơ, gặp chăng hay chớ. Trình thuật Mc 13:33-37 (tương đương Mt 24:36-44) là chuyện kể về một người sắp đi xa, để lại nhà cửa và tài sản, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa PHẢI CANH THỨC, cũng có nghĩa là PHẢI SẴN SÀNG.

Trình thuật Tin Mừng hôm nay ngắn gọn, chỉ có 5 câu, nhưng việc canh thức hoặc tỉnh thức được Chúa Giêsu đề cập tới 4 lần với động từ PHẢI (bắt buộc) ở thể mệnh lệnh cách:

1. Phải coi chừng, PHẢI TỈNH THỨC, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến (Mc 13:33).
2. PHẢI CANH THỨC, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng (Mc 13:35).
3. Anh em PHẢI CANH THỨC, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ (Mc 13:36).
4. Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: PHẢI CANH THỨC! (Mc 13:37).

Như vậy, sự tỉnh thức rất quan trọng, và cũng chứng tỏ sự nhắc nhở của dành cho chúng ta: “Cẩn tắc vô ưu”. Nghe nói về sự canh thức hoặc tỉnh thức, chúng ta thấy có vẻ “nghiêm trọng” hoặc cho là “đao to, búa lớn”, nhưng thực ra cũng là điều rất tự nhiên. Trong cuộc sống đời thường, hàng ngày có rất nhiều điều khiến chúng ta PHẢI COI CHỪNG – tức là canh chừng, canh thức hoặc tỉnh thức: Người mẹ vừa làm việc vừa phải trông chừng đứa con kẻo nó gặp nguy hiểm – ngày nay còn phải đề phòng “bị bắt cóc”; người bà phải trông chừng đứa cháu kẻo nó té vô nồi nước sôi bà vừa nấu xong; bạn để chiếc điện thoại trên bàn cũng phải “mắt trước, mắt sau” khi chạy vô nhà trong lấy vật gì đó; dùng bếp ga cũng không biết nó “thở mạnh sảng” lúc nào; bạn đi đường luôn phải “mở mắt to” vì tai nạn luôn có thể xảy ra bất kỳ lúc nào; dù chỉ là đóng một cây đinh thì bạn cũng phải coi chừng búa đập vào tay; và còn vô vàn những thứ rất đời thường như vậy mà người ta luôn phải tỉnh thức… Chắc chắn động thái cảnh giác rất cần thiết, không bao giờ thừa!

Thật gần gũi và thú vị đối với hình ảnh Chúa Giêsu đưa ra, bởi vì rất cụ thể: Sự trở về bất ngờ của chủ nhân và sự đột nhập bất ngờ của kẻ trộm.

Kinh nghiệm cho chúng ta biết về tình trạng bất ngờ. Dĩ nhiên chẳng ai biết chủ nhân về lúc nào, dù chủ có gọi điện báo trước là 3 giờ về thì cũng không biết kém mấy phút hoặc hơn mấy phút, nhất là đường xá dễ kẹt xe như ngày nay, ngay cả máy bay cũng thường xảy ra trường hợp phải hủy chuyến bay vì lý do này hoặc nguyên nhân nọ. Nghĩa là mọi thứ đều khó có thể chính xác về thời gian, mà khi người ta buồn ngủ rồi thì chỉ lệch 1 giây cũng có thể ngủ quên và chủ sẽ bắt gặp đầy tớ đang say giấc. Thế thì tiêu, không thể biện hộ!

Tương tự, đối với kẻ trộm hoặc kẻ cướp thì càng bất ngờ và nguy hiểm hơn, khỏi chứng minh thì ai cũng biết chắc là thế. Chỉ trong nháy mắt có thể tiêu tan cả sự nghiệp hoặc nguy hiểm tính mạng, nhất là xã hội ngày nay cướp giật như rươi, vì “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7) trong mọi lĩnh vực, cách riêng với xã hội Việt Nam hiện nay.

Xét cho cùng, lúc nào cũng có thứ để chúng ta phải tỉnh thức, thậm chí vợ chồng hoặc người thân quen cũng còn phải “canh chừng” nhau kia mà. Nói vậy xem chứng có vẻ tiêu cực, nhưng thực tế là thế đấy!

Tuy nhiên, tình trạng tỉnh thức quan trọng nhất vẫn là chúng ta “không biết giờ nào Con Người đến”, tức là Giờ G, giây phút Cánh Chung, thời điểm Chúa Giêsu Quang Lâm. Nhưng tận thế có hai dạng: Tận cùng thế gian và tận cùng đời mình. Tận thế thì quá hiển nhiên, nhưng chưa chắc chúng ta có được diễm phúc chứng kiến giây phút trọng đại đó. Còn “tận thế đời mình” thì ai cũng đích thân “chứng kiến”, vì đó là lúc trút hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình. Dẫu biết rằng ai cũng phải chết, bệnh cũng chết mà khỏe cũng chết, chẳng tránh đâu được. Biết chắc như thế mà ai cũng thấy lo và sợ. Bởi vậy mới PHẢI TỈNH THỨC!

Khi mong chờ, khoảng thời gian đó sẽ là niềm vui nếu chúng ta quan niệm rằng “sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi” (Pl 1:21). Có câu chuyện xưa kể thế này…

Trước khi chết, ngài Alexander Đại Đế cho triệu tập các quan trong triều đình đến để truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình. Ngài truyền “di chúc” để quần thần tuân thủ:

1. Quan tài của ông phải được CHÍNH CÁC VỊ NGỰ Y GIỎI NHẤT KHIÊNG ĐI.
2. TẤT CẢ VÀNG BẠC CHÂU BÁU của ông phải được RẢI DỌC CON ĐƯỜNG ĐẾN HUYỆT MỘ chôn ông.
3. ĐÔI BÀN TAY ông phải được để THÒ RA NGOÀI QUAN TÀI cho mọi người đều thấy.

Một cận thần rất đỗi ngạc nhiên về những điều yêu cầu kỳ lạ này nên hỏi ngài tại sao lại muốn như thế. Ngài Alexander giải thích:

1. Ta muốn chính các vị ngự y giỏi nhất phải khiêng quan tài của ta để cho mọi người thấy rằng MỘT KHI PHẢI ĐỐI MẶT VỚI CÁI CHẾT thì chính họ, dù là những người tài giỏi nhất, cũng KHÔNG THỂ CỨU CHỮA.
2. Ta muốn châu báu của ta được vung vãi trên mặt đất để mọi người thấy rằng CỦA CẢI VẬT CHẤT mà ta gom góp được sẽ MÃI MÃI Ở LẠI TRÊN THẾ GIAN NÀY khi ta nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời.
3. Ta muốn bàn tay của ta đong đưa ngoài quan tài để mọi người thấy rằng chúng ta đến với thế giới này với HAI BÀN TAY TRẮNG, khi chúng ta rời khỏi thế giới này cũng chỉ có HAI BÀN TAY TRẮNG.

Có nhiều loại kho tàng quý giá, nhưng kho tàng quý giá nhất đời này là Tình Yêu Thương, đó cũng là thứ chúng ta nợ Thiên Chúa và nợ nhau: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật” (Rm 13:8). Thánh Phaolô đã minh định: “Đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại. Nhưng đức mến là quan trọng nhất” (1 Cr 13:13).

Biết sẵn sàng là biết tỉnh thức, biết tỉnh thức là biết mong chờ, biết mong chờ là biết khát khao Chúa. Khi khát khao Chúa cũng là khát khao nên công chính – một trong Bát Phúc (Mt 5:6). Mùa Vọng không chỉ là mong chờ mà còn là ngưỡng vọng, hy vọng – hy vọng nơi Đức Kitô, đồng thời cũng tín thác vào Lòng Thương Xót của Ngài. Và chúng ta cùng trao nhau điều tốt lành này: “Chúc mọi người được đầy ân sủng của Chúa Giêsu” (Kh 22:21). Ước mong mảnh-đất-tâm-hồn-khô-hạn của mỗi chúng ta đều được thỏa niềm khát khao nhờ Cơn-Mưa-Giêsu!

Lạy Thiên Chúa quan phòng và tiền định, xin giúp con biết ngưỡng vọng Đấng là Chính Lộ, Chân Lý và Sự sống (Ga 14:6), luôn miệt mài hướng thượng, kiên trì tỉnh thức và hân hoan mong chờ Ngôi Hai ngự đến. Con cầu xin nhân danh Đức Kitô Giêsu, Thiên Chúa Ngôi Lời và Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Thánh Ca VENI VENI EMMANUEL – XIN NGỰ ĐẾN, LẠY ĐẤNG EMMANUEL

MARANATHA, XIN NGỰ ĐẾN !

Mùa Vọng lại về, chúng ta mong đợi Đấng Cứu Thế và cầu xin: “LẠY CHÚA GIÊSU, XIN NGỰ ĐẾN!” (Kh 22:20).

Đó là chủ đề thích hợp với Mùa Vọng trong khi Phụng Vụ mời gọi chúng ta hướng về Chúa Giêsu giáng sinh tại Belem. Và đó cũng là lời nguyện ngắn hữu hiệu mà chúng ta có thể sử dụng thường xuyên mỗi ngày.

“LẠY CHÚA GIÊSU, XIN NGỰ ĐẾN!”. Chúng ta kêu cầu như vậy trong những lúc gặp thử thách là chúng ta cầu xin Ngài cứu giúp. Chúng ta kêu cầu như vậy trong những lúc xung đột và bất hòa là chúng ta cầu xin Ngài “vào cuộc” để đổ thêm tình yêu thương và giải hòa. Đó là lời nguyện thích hợp trước khi bắt đầu Thánh Lễ, đặc biệt là trước khi rước lễ.

Tuy nhiên, lời nguyện này có nghĩa là chủ đề tập trung vào cuộc giáng lâm của Chúa Giêsu trong ngày cánh chung. Chúng ta phải nhớ lời tung hô trong Thánh Lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”. Nhiều người sẽ nói rằng chúng ta là những kẻ khờ dại vì đề cập chủ đề này. Tuy nhiên, điều chúng ta muốn nói ở đây là có nhiều thị nhân đã nói rằng cuộc tái lâm của Chúa Giêsu đã gần kề – có thể ngay trong thời đại của chúng ta! Có những người sẽ chế giễu và phỉ báng khi chúng ta nói như vậy. Khi Chúa Giêsu còn trên thế gian này, cũng đã có rất nhiều người chế giễu và phỉ báng. Chúng ta đừng đi vào vết xe cũ hoặc như ngựa quen đường cũ, rồi mỉa mai nói: “Lịch sử lặp lại”.

Trở lại thập niên 1600, Thánh Margaret Maria Alacoque, tông đồ Thánh Tâm Chúa, nói rằng sùng kính Thánh Tâm có ý nghĩa đối với thời cuối cùng trong khi trái tim nhân loại đã trở nên nguội lạnh.

Việc sùng kính Thánh Tâm là nỗ lực cuối cùng của Tình Yêu Thiên Chúa, muốn ủng hộ nhân loại trong thời gian cuối cùng này bằng sự cứu độ yêu thương, để đưa họ ra khỏi vương quốc của Satan, vương quốc mà Ngài muốn hủy diệt, và để đưa chúng ta vào Vương Quốc Tình Yêu ngọt ngào của Ngài.

Trong thế kỷ 20, lòng sùng kính Thánh Tâm phát triển mạnh mẽ. Hầu hết các giáo xứ đều ghi nhớ cử hành ngày Thứ Sáu đầu tháng – có những lời cầu nguyện dâng lên Thánh Tâm Chúa, thường gọi là Giờ Thánh, và gia tăng tham dự Thánh Lễ. Như vậy, phải chăng thời cuối cùng đã qua?

Chắc chắn chúng ta không thể bỏ qua nhân chứng nữ tu Faustina, tông đồ Lòng Thương Xót. Nhật Ký của Chị cho biết rằng Chúa Giêsu đã trao sứ mệnh cho Thánh Faustina là sùng kính Lòng Thương Xót là sự chuẩn bị cho thời cuối cùng.

“Hãy nói cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Ta… Đó là dấu chỉ về thời cuối cùng; sau đó sẽ là Ngày Công Lý” (Nhật Ký, số 848). “Con sẽ chuẩn bị cho thế giới về lần đến cuối cùng của Ta” (Nhật Ký, số 429). “Hãy nói cho các linh hồn biết về Lòng Thương Xót bao la của Ta, bởi vì ngày uy nghiêm, Ngày Công Lý của Ta gần đến rồi” (Nhật Ký, số 965).

Đây là lời Đức Mẹ nói với Thánh Faustina:

“Con phải nói cho thế giới biết về Lòng Thương Xót bao la của Thiên Chúa và chuẩn bị cho thế giới về cuộc đến lần thứ hai của Ngài, Đấng sẽ đến không như Đấng Cứu Độ thương xót, mà như Đấng Xét Xử. Ôi thật kinh khủng đối với ngày ấy! Ngày Công Lý đã được xác định, ngày của sự công thẳng. Các thiên thần đều run sợ đối với ngày đó. Hãy nói cho các linh hồn biết về Lòng Thương Xót bao la khi còn thời gian thương xót” (Nhật Ký, số 635).

Ngày nay tại sao cần cầu xin Lòng Chúa Thương Xót? Bởi vì vào Ngày Công Lý, ngày phán xét, chúng ta không thể cầu xin lòng thương xót hoặc ơn tha thứ. Vào ngày đó, chúng ta sẽ bị xét xử. BÂY GIỜ là thời gian để GIẢI HÒA, để tích lũy CÔNG ĐỨC, để CỨU linh hồn mình.

Cần lưu ý rằng Thánh Faustina sống trong những năm từ 1905 tới 1938, được tuyên thánh năm 2000, và là người truyền bá Lòng Chúa Thương Xót tới khắp thế giới. Vậy khi nào sẽ kết thúc thời gian chuẩn bị – thời gian của Lòng Thương Xót? Tính từ năm Thánh nữ qua đời (1938) tới thời điểm này – cuối năm 2017, Thiên Chúa đã kiên nhẫn cờ đợi nhân loại suốt 79 năm qua, và cũng là 79 năm tràn đầy Lòng Thương Xót!

Thế kỷ 20 đã khép lại, chúng ta đang tận hưởng những năm đầu của thế kỷ 21. Ông Howard Dee, cựu đại sứ tại Vatican, đã viết cuốn “Mankind’s Final Destiny” (Số Phận Cuối Cùng của Nhân Loại) năm 1993. Trong đó ông nói: “Chúng ta có thể sống những ngày này với niềm hy vọng, vui nừng chờ đợi thời điểm tái lâm của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ”. Năm 1977, một năm trước khi qua đời, ĐGH Paul VI nói: “Thi thoảng tôi đọc các đoạn Kinh Thánh nói về thời cánh chung, và tôi chứng thực rằng, ở thời đại này, một số dấu chỉ của thời cánh chung đã nổi bật”. Điều này được đại sứ Howard Dee đề cập trong cuốn sách của ông, và cũng thấy có trong cuốn “The Secret Paul VI” (Bí Ẩn Đức Phaolô VI) của Jean Guitton, trang 152–153.

Đại sứ Howard Dee cho biết thêm: “Các lời đề cập này nói tới các đoạn Kinh Thánh trong sách Khải Huyền đã được ĐGH Phaolô VI, Đài Vatican, ĐGH Gioan Phaolô II và ĐHY Ratzinger (nay là Giáo hoàng Danh dự Benedict XVI) nói tới từ năm 1977, không còn nghi ngờ gì về ý định của giáo huấn là làm cho chúng ta nhận biết rằng chúng ta đang sống trong thời đại khải huyền, thời đại này sẽ xác định tương lai và văn minh của nhân loại”.

SOPHIA GARCIA 
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

TRIỆU TẬP
Mỗi dịp cuối năm Phụng Vụ, chúng ta lại được nhắc nhở về Ngày Cánh Chung, và Phiên Tòa Chung Thẩm mà Chúa Giêsu vừa là Đức Vua vừa là Thẩm Phán Tối Cao.
Trình thuật Mt 25:31-46 là đoạn Kinh Thánh rất đặc biệt: [1] Cuộc phán xét chung, [2] Chỉ xuất hiện trong Phúc Âm theo Thánh sử Mátthêu. Ai cũng phải trình diện trước Thẩm Phán Tối Cao – Đức Giêsu Kitô, ngay cả ma quỷ cũng phải trình diện Ngài: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến trình diện Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để trình diện Đức Chúa” (G 2:1). Thế đấy, Luxiphe cũng đâu “ngon lành” gì, đừng tưởng cai trị Vương Quốc Tối Tăm rồi hoành hành, tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm.
Thánh Mátthêu đã có lần kể: “Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia” (Mt 24:30-31). Tương tự, Thánh Gioan cũng cho biết về quang cảnh trong ngày ấy: “Bấy giờ tôi thấy trời rộng mở: kìa một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang tên là ‘Trung thành và Chân thật’, Người theo CÔNG LÝ mà xét xử và giao chiến. Mắt Người như ngọn lửa hồng, đầu Người đội nhiều vương miện, Người mang một danh hiệu viết trên mình, mà ngoài Người ra chẳng ai biết được. Người khoác một ÁO CHOÀNG ĐẪM MÁU, và danh hiệu của Người là ‘Lời của Thiên Chúa’. Các đạo quân thiên quốc đi theo Người, họ cỡi ngựa trắng, mặc áo vải gai mịn trắng tinh” (Kh 19:11-14).
Khi giờ G điểm, tiếng loa vang dội khắp nơi để triệu tập mọi người, Chúa Giêsu sẽ ngự trên ngai uy linh và muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Ngài. Với tư cách Thẩm Phán Tối Cao, Ngài sẽ phân chia mọi người ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Ngài cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái. Chiên và dê là hình ảnh của hai loại người: Phúc và Khốn – tức là Khôn và Khốn.
Trong cuộc đời làm người, ai cũng có những lần thi thố bằng cách này hay cách nọ, cụ thể là nhưng người đã từng ngồi ghế nhà trường. Hơn 10 năm học tập, người ta phải trải qua nhiều cuộc thi. Trong tất cả cuộc thi, các thí sinh không hề biết đề thi. Có thể lần này chưa đạt thì còn lần khác, cũng có thể được chấm phúc khảo. Còn về “cuộc thi đời”, người ta thường nói: “Thua keo này bày keo khác”. Cơ hội luôn có nhiều.
Tuy nhiên, đối với cuộc sống của chúng ta về tâm linh, cũng có thể coi là một cuộc thi, xem chừng bình thường mà lại rất căng thẳng, bởi vì cả đời chúng ta chỉ thi MỘT LẦN, và KHÔNG có lần nào khác. Có điều đặc biệt này: Trong các cuộc thi, thí sinh KHÔNG biết đề thi; thế nhưng trong cuộc thi tâm linh, mọi thí sinh đều được biết đề thi: “Bạn hãy kể về hoạt động yêu thương của mình”. Ai càng yêu nhiều thì càng đạt điểm cao.
Thật vậy, trong “phiên tòa cánh chung”, Đức Vua chỉ đề cập Đức Ái (yêu thương, trắc ẩn, thương xót) chứ không hỏi về bất cứ điều gì khác (bằng cấp, trình độ, chức vụ, quyền hành, uy thế, hội đoàn, từ thiện, dân tu hay dân thường,…). Những người khôn và có phúc là những ai thấy người đói thì cho ăn, thấy người khát thì cho uống, thấy khách lạ thì tiếp rước, thấy người mình trần thì cho mặc, thấy bệnh nhân và tù nhân thì viếng thăm. Đó là những trường hợp cụ thể, tất nhiên còn nhiều dạng yêu thương khác, dù chỉ là một nụ cười thông cảm, một cái vỗ vai cảm thông, một ánh mắt xót thương,… Làm bất cứ điều gì cho người khác với lòng yêu mến là làm cho chính Chúa, những người đó sẽ được Ngài “chúc phúc và trao phần gia nghiệp Nước Trời đã dành sẵn từ khi tạo dựng vũ trụ”.
Ngược lại, những ai KHÔNG thực hiện những điều như vậy thì là kẻ khờ và khốn. Thiên Chúa sẽ xử nghiêm: “Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào LỬA MUÔN ĐỜI đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng”. Số phận của kẻ khốn là bị tống vào CHỐN CỰC HÌNH MUÔN THUỞ, còn số phận của người lành là được vào CÕI SỐNG NGÀN THU.
Số phận liên quan tính cách. Quy trình rất lô-gích: Cách SUY NGHĨ có thể trở thành LỜI NÓI, các lời nói có thể trở thành HÀNH ĐỘNG, các hành động có thể trở thành THÓI QUEN, rồi thói quen có thể trở thành TÍNH CÁCH, và tính cách có thể trở thành SỐ PHẬN.
Tiền nhân nói chí lý: “Cẩn tắc vô ưu”. Không lo sợ như thế thì thoải mái, thanh thản, tức là bình an tâm hồn – dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, dù được thương hay bị ghét. Nếu thực sự bình an như thế thì thật là diễm phúc!
Lạy Thánh Tử Giêsu, Vua vũ trụ, Thẩm Phán xót thương, xin cho chúng con được mãi là thần dân của Ngài. Xin giúp chúng con biết chân thành thể hiện yêu thương với nhau, nhất là những người hèn mọn, xin giúp chúng con sống trọn Thánh Ý Chúa Cha để có thể sinh lời với số nén chúng con được trao ở đời này. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Đại lễ Đức Kitô Thiên Vương – 2017
+ Chúa Giêsu giáng lâm xét xử nhân loại


Chuyện ÍT – NHIỀU
ÍT hay NHIỀU là khái niệm của con người về số lượng. Khó có thể định mức tỷ lệ: 100 đồng chẳng là gì đối với người giàu, nhưng lại là số tiền lớn đối với người nghèo. Về miếng cơm manh áo cũng tương tự, nên tục ngữ có câu: “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Có người dư thừa đổ đi, lãng phí, có người thèm mà không được – như dụ ngôn “Phú Hộ và Ladarô Nghèo Khó” (Lc 16:19-31). Con nhà giàu chê bai đủ thứ, đòi hỏi đủ điều, còn con nhà nghèo có gì mà chê?
Cuối Năm Phụng Vụ cũng là thời điểm cuối năm đời thường. Đó là một sự trùng hợp thật thú vị. Cuối năm cũng là dịp nhắc nhở mọi người về “đoạn cuối cuộc đời” của mình. Cuối năm nghĩa là sắp hết năm và chắc chắn sẽ hết, cuối đời nghĩa là sắp chết và cũng chắc chắn chúng ta sẽ chết. Chuyện nhỏ mà to, chuyện bình thường mà đáng lưu ý. Chết rồi còn lại gì? Mọi thứ vật chất chúng ta sở hữu sẽ thuộc về người khác, chỉ có những gì chúng ta trao tặng sẽ còn lại mãi với chúng ta. Đó là các nhân đức, mà nhân đức quan trọng nhất là Đức Ái, đơn giản là những gì chúng ta CHO người khác – vật chất hoặc tinh thần. Vị Thánh “đệ nhất hàn nhân” Phanxicô Assisi đã minh định: “Lúc hiến thân là lúc nhận lãnh, lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Quả thật, Đức Ái vô cùng kỳ diệu, và còn mãi đời đời!
Trình thuật Lc 21:1-4 (tương đương Mc 12:41-44) nói về việc dâng cúng của bà goá nghèo – tức là đề cập việc trao tặng, từ thiện, biếu hoặc cho. Như vậy chứng tỏ rằng động từ “cho” là động từ vô cùng quan trọng, như Thánh Phaolô xác định: “CHO thì có Phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35). Thánh Augustinô nói: “Hãy yêu đi, rồi có thể làm mọi thứ”. Điều đó có nghĩa là làm gì cũng phải vì tình yêu thương: mến Chúa và yêu người. Đúng như thế, Thánh Phaolô nói thêm: “Hãy làm mọi sự vì Đức Ái” (1 Cr 16:14).
Theo nhận định của Thánh sử Luca:
Ngước mắt lên nhìn, Đức Giêsu thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng cúng của họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào đó HAI ĐỒNG TIỀN KẼM. Người liền nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã BỎ VÀO NHIỀU HƠN AI HẾT. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này rút từ cái TÚNG THIẾU của mình mà bỏ vào đó TẤT CẢ những gì bà cóđể nuôi sống mình”.
Theo nhận định của Thánh sử Máccô:
Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó HAI ĐỒNG TIỀN KẼM, trị giá một phần tư đồng xu Rôma. Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã BỎ VÀO THÙNG NHIỀU HƠN AI HẾT. Quả vậy, mọi người đều rút từ TIỀN DƯ BẠC THỪA của họ màđem bỏ vào đó; còn bà này rút từ cái TÚNG THIẾU của mình mà bỏ vào đó TẤT CẢ TÀI SẢN, TẤT CẢ những gì bà cóđể nuôi sống mình”.
Đồng tiền kẽm là gì? Giá trị 2 đồng kẽm (Hy ngữ, số ít: lepton, số nhiều: lepta) là 1 quadrans, chỉ bằng 1/4 đồng xu (Thánh Máccô nói rõ điều này). Chúng ta biết rằng đồng kẽm là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất thời La Mã. Khi lưu hành ở Palestine, 1 lepton trị giá khoảng 6 phút làm công theo lương trung bình mỗi ngày.
Thời xưa, phụ nữ bị coi thường, mà phụ nữ này lại là đàn bà góa thì càng bị coi thường hơn, lại thêm cái nghèo thì mức độ coi thường càng gia tăng. Thật khổ cho bà góa! Tuy nhiên, mặc dù bị người ta khinh miệt nhưng bà góa nghèo lại là “thầy dạy” của chúng ta về CÁCH LÀM VIỆC TỪ THIỆN. Đừng tưởng rằng cứ thẳng tay rút “cọc tiền” ra rồi “chảnh”, vênh vênh váo váo, không coi ai ra gì, hoặc dùng tiền để “lèo lái” người khác, đổi trắng thay đen theo ý mình. Đó là phong cách khốn!
Qua câu chuyện thực tế này, Chúa Giêsu chỉ trích giới lãnh đạo Do Thái giáo đã sống giả nhân giả nghĩa, giả hình trong cách dâng cúng, cách công đức của mình nhằm TÌM KIẾM SỰ TÔN TRỌNG của người khác. Chúa Giêsu chỉ trích những người có chức có quyền, nhưng cũng là chỉ trích mỗi chúng ta về phong cách sống kiêu căng, khinh người. Liệu chúng ta có thấy thanh thản khi thẳng thắn xét mình về các động thái của mình?
Trong sinh hoạt đời thường cho chúng ta thấy rõ về việc so đo trong chuyện ít – nhiều, về mức chênh lệch trong chuyện giàu – nghèo. Ông A dâng cúng bạc tỷ thì có bằng ân nhân đặc biệt, bà B dâng cúng vài trăm triệu thì có bằng ân nhân bậc I, chú C dâng cúng vài chục triệu thì nhận bằng ân nhân bậc II hoặc bậc III,… người khác dâng cúng vài triệu thì có bằng ân nhân bình thường, có thể nhiều người khác không ai thèm cười nhếch mép với chị kia vì chị không có nhiều tiền để dâng cúng, chị ngó trước ngó sau rồi vội vàng bỏ vài chục ngàn đồng vào thùng ở cuối nhà thờ, chị sợ người ta nhìn thấy y như chị làm điều gì khuất tất vậy. Thật tội nghiệp! Thế nào là NHIỀU và thế nào là ÍT?
Việc dâng cúng là điều cần thiết, rất tốt, nhưng những gì chúng ta gọi là “việc đạo đức”, “việc thiện” hoặc “việc tông đồ” thì phải thực sự có “chất” đạo đức và thánh thiện. Liệu đã thực sự đúng mức hay còn vì cái gì khác? Có thể chúng ta cũng cần đấm ngực “lỗi tại tôi” và luôn cảnh giác mà đặt vấn đề: “Chưa rối đạo nhưng rối việc đạo!”.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết sống thật với chính mình, biết mình và biết người, để đừng se sua hoặc “ra vẻ” với người khác. Xin diệt trừ trong con mọi ý nghĩ xấu xa, ích kỷ, khoe khoang, tự mãn. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Chiều cuối Năm Phụng Vụ – 2017

 

Hãy coi chừng!
(Chúa Nhật I mùa Vọng, năm B)

Mùa Vọng khởi đầu Năm Phụng Vụ mới, ngày Tết Phụng Vụ của Giáo hội. Ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nhắn: “Hãy coi chừng!”. Đó là lời cảnh báo về điều gì đó nghiêm trọng, đặc biệt là điều có thể nguy hại đến tính mạng. Hằng ngày, chúng ta có rất nhiều tứ phải coi chừng, thậm chí từng phút, từng giây. Coi chừng không chỉ về thể lý mà cả về tinh thần và tâm linh – từ điều lớn tới điều nhỏ. Mọi nguy hiểm có thể ập đến bất cứ lúc nào!

Thật vậy, hãy cẩn thận với suy nghĩ, vì nó có thể biến thành lời nói; hãy cẩn thận với lời nói, vì nó có thể biến thành hành động; hãy cẩn thận với hành động, vì nó có thể biến thành thói quen; hãy cẩn thận với thói quen, vì nó có thể biến thành tính cách; hãy cẩn thận với tích cách, vì nó có thể biến thành số phận. Một chuỗi liên kết rất lô-gích!

Chúng ta biết rằng Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị mừng đón Con Thiên Chúa giáng sinh làm người. Việc chuẩn bị này được tìm thấy trong sách ghi chép về Công nghị Saragossa, ở Tây Ban Nha năm 380 (sau Công Nguyên). Công hội này tuyên bố các Kitô hữu đã rửa tội nên có mặt ở nhà thờ từ 17/12 đến 25/12, thời gian này không là Mùa Vọng trọn vẹn nhưng là một sự khởi đầu. Các Giáo hội Đông phương bắt đầu cử hành Mùa Vọng từ thế kỷ VIII như thời gian “ăn chay nghiêm nhặt và kiêng khem” – việc thực hành này vẫn phổ biến trong Chính Thống giáo Đông phương (Eastern Orthodoxy). Việc thực hành này cũng phản ánh tính tương tự với Mùa Chay. Màu đỏ là màu phụng vụ của Mùa Vọng trong các Giáo hội Đông phương, còn với Công giáo là màu tím.

Cả cuộc đời chúng ta trên đường lữ hành trần gian là Mùa Vọng kéo dài, luôn phải tỉnh thức, như Thánh Phêrô đã cảnh báo: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8). Tỉnh thức là biết mong chờ và sẵn sàng. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Hồn tôi trông đợi Chúa Trời, còn hơn lính gác mong trời hừng đông. Bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” (Tv 130:6-7).

Trong cuộc sống đời thường, kể cả tinh thần, chúng ta luôn có nhiều mơ ước, và mong chờ kết quả mỹ mãn. Dù chúng ta có đạt được ước vọng cháy bỏng nào đó, rồi cũng qua. Chỉ có Thiên Chúa mới là niềm vui trọn vẹn và vĩnh cửu. Ngôn sứ Isaia đã kêu lên: “Quả chính Ngài là Cha chúng con! Chúng con không được ông Áp-ra-ham biết đến, không được ông Ít-ra-en nhìn nhận, còn Ngài, lạy Đức Chúa, Ngài mới là Cha, là Đấng cứu chuộc chúng con: đó là danh Ngài từ muôn thuở. Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ Ngài? Vì tình thương đối với tôi tớ là các chi tộc thuộc gia nghiệp của Ngài, xin Ngài mau trở lại” (Is 63:16-17).

Hai người yêu nhau không muốn xa nhau một khoảnh khắc nào, xa nhau một ngày mà cứ tưởng lâu lắm. Đứa bé không muốn rời tay mẹ dù chỉ trong chốc lát, vắng mẹ một lúc thì đứa bé đã khóc. Còn với Thiên Chúa, chúng ta còn cần Ngài hơn như vậy, nhất là những khi chúng ta bất xứng: “Từ lâu rồi, chúng con là những kẻ không còn được Ngài cai trị, không còn được cầu khẩn danh Ngài. Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan” (Is 63:19).

Thiên Chúa xuất hiện khiến mọi thứ biến đổi: “Khi thấy Ngài làm những điều kinh hồn táng đởm mà chúng con không ngờ: Ngài ngự xuống: và núi non rung chuyển trước Thánh Nhan! Người ta chưa nghe nói đến bao giờ, tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy có vị thần nào, ngoài Chúa ra, đã hành động như thế đối với ai tin cậy nơi mình” (Is 64:2-3). Thiên Chúa quá đỗi kỳ diệu, vô hình mà hiện hữu, hữu hình mà không thể nhìn thấy. Cách hành động của Ngài cũng không thể dự đoán. Có những điều trái ngược ý muốn của chúng ta nhưng thực sự là Ý Chúa, vì Ngài biết trước mọi sự và Ngài thực hiện để cho chúng ta được ích lợi nhất.

Sách Isaia cho biết: “Ngài đón gặp kẻ sống đời công chính mà lấy làm vui và nhớ đến Ngài khi theo đường lối Ngài chỉ dạy. Kìa, Ngài phẫn nộ vì tội lỗi chúng con, nhưng khi mải đi theo các đường lối của Ngài, chúng con sẽ được cứu thoát. Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ. Tất cả chúng con héo tàn như lá úa, và tội ác chúng con đã phạm, tựa cơn gió, cuốn chúng con đi.6 Không có ai cầu khẩn danh Chúa, cũng chẳng ai tỉnh dậy mà níu lấy Ngài, vì Ngài đã ngoảnh mặt không nhìn đến, và để cho tội ác chúng con phạm mặc sức hành hạ chúng con” (Is 64:2-6). Thiên Chúa có phương pháp giáo dục rất độc đáo, khác hẳn kiểu của phàm nhân. Ngài không chỉ vẽ cặn kẽ theo kiểu “nói toạc móng heo”, nhưng khéo léo làm cho chúng ta “sáng mắt” bằng cách để chúng ta tự ý thức mà tự nguyện đón nhận Ngài. Thế đấy! Tại sao? Kinh Thánh mách nước” cho chúng ta biết: “Ngài là Cha chúng con; chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài, chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con” (Is 64:2-7). Quả thật, Thiên Chúa là Nghệ Sĩ siêu phi thường!

Chắc chắn không có niềm khao khát mong chờ bằng khao khát Thiên Chúa. Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta về niềm khao khát cháy bỏng: “Lạy Mục Tử nhà Ít-ra-en, Ngài là Đấng chăn giữ nhà Giuse như chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe! Ngài là Đấng ngự trên các thần hộ giá, xin giãi sáng hiển linh cho dòng dõi Ép-ra-im, Ben-gia-min và Mơ-na-se được thấy. Xin khơi dậy uy dũng của Ngài, đến cùng chúng con và thương cứu độ” (Tv 80:2-3).

Thiên Chúa là Đấng siêu phàm, vắng Ngài chỉ trong tích tắc là chúng ta tiêu tan ngay: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi. Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới, là chúng được dựng nên” (Tv 104:29-30). Biết chắc như vậy, tác giả Thánh Vịnh luôn mong chờ Thiên Chúa đến và luôn tha thiết cầu xin: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng, và chồi non được Ngài ban sức mạnh” (Tv 80:15-16).

Cá lớn nuốt cá bé, cuộc đời cũng luôn có những điều bất công, chỉ khổ cho những người ngước đầu không nổi vì thấp cổ, la lớn không nổi vì bé miệng, có la khàn giọng cũng chẳng ai thèm nghe. Không chỉ vậy, họ còn bị những người có quyền lực đè đầu, bóp cổ và bịt miệng. Họ bị tước mất quyền căn bản nhất của con người: Quyền sống. Và họ chỉ còn biết trông cậy vào Thiên Chúa: “Xin giơ tay bênh vực Đấng đang ngồi bên hữu là con người được Chúa ban sức mạnh. Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài” (Tv 80:18-19).

Chúng ta cũng đã từng bị như vậy, cách này hoặc cách khác, cả đời lẫn đạo. Đặc biệt là chúng ta bị thế lực bóng tối ma quỷ chèn ép. Thánh Phaolô bày tỏ với cộng đoàn Côrintô: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an. Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu” (1 Cr 1:3-4).

Thánh Phaolô không chỉ nói đến khoảng mong chờ của Mùa Vọng, mà mạnh mẽ đề cập cuộc tái lâm của Thiên Vương Giêsu Kitô: “Quả vậy, trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người. Thật thế, lời chứng về Đức Kitô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em, khiến anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người. Chính Người sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 1:6-9).

Ngày đó không ai biết lúc nào, thuộc tương lai xa hay gần, vì thế mà chúng ta phải luôn canh thức và trông mong, tức là phải luôn “coi chừng” – coi chừng tiên tri giả, coi chừng những kẻ lừa bịp, coi chừng những tà thuyết, coi chừng những kẻ phản Kitô, coi chừng các tin đồn nhảm, cẩn thận với các “sự lạ”,… Đúng như tiền nhân nói: “Cẩn tắc vô ưu”. Đồng thời chúng ta phải quyết tâm: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, tôi đây vẫn vững như kiềng ba chân”. Hãy vững tin vào những điều Chúa Giêsu đã dạy!

Trình thuật Tin Mừng theo Thánh Mác-cô ngắn gọn nhưng súc tích. Chúa Giêsu mạnh mẽ cảnh báo: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến” (Mc 13:33). Ngài dùng hình ảnh cụ thể đời thường: “Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức” (Mc 13:34). Rồi Ngài căn dặn: “Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng. Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!” (Mc 13:35-37).

Chỉ một đoạn văn ngắn mà có tới 4 từ “canh thức”, 1 từ “coi chừng” và 1 từ “tỉnh thức”. Tất cả đều ở thể mệnh lệnh cách: PHẢI. Điều đó cho thấy sự cấp bách của việc tỉnh thức mong chờ Đức Giêsu Kitô. Lá vàng hoặc xanh cũng có thể rụng bất cứ lúc nào. Thời gian rụng cũng không ai biết: Sáng sớm, trưa, chiều, tối, khuya hoặc nửa đêm về sáng. Thực tế này quá rõ ràng, ai cũng biết.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết tỉnh thức mà mong chờ Ngài đến bất cứ lúc nào. Xin canh giữ chúng con trước mọi mánh khóe của cuộc đời này. Lạy Ngôi Hai Thiên Chúa, xin mau đến giải thoát chúng con. Người là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Giao thừa Xuân Cứu Độ – 2015

Mùa Vọng – Tỉnh thức và Cầu nguyện

Cộng đoàn Taizé (Pháp) nổi tiếng về cách cầu nguyện, khuyến khích suy niệm Kinh Thánh, với các bài thánh ca diễn tả lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong Vườn Dầu trước khi chịu khổ nạn. Ca từ lặp đi lặp lại: “Hãy ở lại với Thầy, hãy ở lại đây với Thầy, hãy tỉnh thức và cầu nguyện, hãy tỉnh thức và cầu nguyện…”.

Lời động viên này của Chúa Giêsu cũng giống như Mùa Vọng bắt đầu bằng lời cảnh báo của Chúa Giêsu: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào Chúa của anh em đến” (Mt 24:42; Mc 13:33).

Mùa Vọng là thời gian mong đợi Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần – và ngày Ngài tái lâm. Chúng ta hát nguyện: “Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng chuộc tội. Maranatha! Lạy Chúa, xin hãy đến! Lạy Đấng Emmanuel, xin mau đến!”. Đấng mà chúng ta mong đợi là Thiên Chúa, là Đấng Mêsia. Ngài đến để bảo vệ chân lý, bảo vệ công lý, chứ Ngài không làm chính trị hoặc quân sự. Ngài khiêm nhường, tự hạ đến nỗi sinh làm một Hài Nhi nơi hang chiên lừa ngoài đồng hoang. Ngài vô gia cư! Còn chúng ta? Bạn làm gì trong Mùa Vọng này để chuẩn bị đón mừng Chúa giáng sinh? Đây là vài gợi ý:

TUẦN CẦU NGUYỆN GIÁNG SINH

Chúa Nhật I Mùa Vọng năm nay nhằm ngày 30 tháng Mười Một, lễ Thánh Anrê Tông Đồ. Nhiều người làm Tuầ Tuần Cầu Nguyện từ ngày lễ Thánh Anrê, và cứ tiếp tục làm Tuần Cầu Nguyện vài lần cho tới lễ Giáng Sinh.

Việc cầu nguyện này giúp chúng ta chuẩn bị và hiểu biết về lễ Giáng Sinh. Mùa Vọng có lời cầu nguyện này: “Thật là hồng phúc trong giây phút Đức Trinh Nữ Maria sinh Con Thiên Chúa tại Belem vào nửa đêm, trong tiết trời giá lạnh. Lạy Thiên Chúa, xin chiếu cố chúng con, xin lắng nghe lời chúng con cầu nguyện, và ban cho chúng con trọn niềm mơ ước. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ, Con Thánh Mẫu Đồng Trinh Maria. Amen”.

KINH TRUYỀN TIN

Mỗi lần đọc Kinh Truyền Tin là chúng ta sống trong Mùa Vọng, giúp chúng ta tỉnh thức và mong chờ Con Chúa giáng sinh. Khi đọc Kinh Truyền Tin, chúng ta lặp lại lời Sứ thần Gáp-ri-en chào mừng Đức Maria, và đắm chìm vào Mầu nhiệp Nhập thể.

“Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người, và ở cùng chúng ta...”. Trong phụng vụ lễ Giáng Sinh, chúng ta quỳ gối khi đọc đến câu: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần…”. Việc quỳ gối để thể hiện lòng tôn thờ Ngôi Hai trong Mầu nhiệm Nhập thể. Đức Mẹ đã chịu cực khổ khi mong đợi Con Thiên Chúa ra đời suốt hơn 9 tháng. Cùng với Đức Mẹ, chúng ta đọc Kinh Truyền Tin để tỉnh thức với Đức Mẹ để hạnh phúc thấy Bình Minh Cứu Độ.

KINH MÂN CÔI

Đọc Kinh Mân Côi để mong đợi Chúa giáng sinh, đặc biệt là Mùa Vui: “Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu nơi hang đá. Xin cho con biết sống khó nghèo”. Kinh Mân Côi là kinh truyền thống lâu đời, mỗi khi suy niệm mầu nhiệm thứ Nhất và thứ Hai của Mùa Vui, chúng ta sống trong Mùa Vọng. Mỗi khi suy niệm mầu nhiệm thứ Ba của Mùa Vui, chúng ta sống trong lễ Giáng Sinh.

XƯNG TỘI

Xưng tội là việc cần thiết, không thể thiếu trong Mùa Vọng, vì đó là cách chúng ta giao hòa với Thiên Chúa, dọn lường cho Chúa Giêsu đến. Linh hồn sạch tội mới xứng đáng là “hang đá” cho Con Thiên Chúa ngự vào: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2:14). Đồng thời chúng ta cùng Đức Mẹ tôn vinh Thiên Chúa qua bài Magnificat: “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người…” (Lc 1:46-55). Ngoài ra, chúng ta nên có một cuốn sách để đọc trong Mùa Vọng, gọi là đọc sách thiêng liêng.

Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến con bởi lòng thương dân Ngài, xin ngự đến viếng thăm mà ban ơn cứu độ. Xin cho con được thấy tỏ tường phần phúc lộc dành cho những người được Chúa chọn, để chúng con được vui niềm vui dân Chúa và cùng hiên ngang với gia nghiệp của Ngài” (Tv 106:4-5).

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

 

10 “chuyện lạ” trong Kinh Thánh

Đám đông vài ngàn người được Chúa Giêsu cho ăn uống no nê chỉ với vài chiếc bánh và vài con cá, họ có thực sự đòi hỏi một phép lạ nào khác để thỏa mãn? Vị tướng giỏi có thực sự chiến thắng nhờ người ta phao tin đồn rùm beng? Vua Babylon có thực sự bò đi khắp nước và gặm cỏ như những con bò sau khi phỉ báng Thiên Chúa?
Kinh Thánh có nhiều chuyện lạ mà nhiều người thích kể lại để chứng tỏ rằng Kitô giáo, Thời Phục Hưng, văn minh Tây phương và niềm tin của các Kitô hữu hoàn toàn dựa vào những chuyện vớ vẩn (baloney). Tại sao Kinh Thánh lại có nhiều chuyện lạ như vậy? Thánh Phaolô nhắc nhở một số người lầm lạc tại Hy Lạp cổ đại: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Điều đó có nghĩa gì? Thánh Phaolô giải thích: “Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán” (1 Cr 2:14). Chúng ta xem lại những chuyện xúc phạm nhất:

1. Bà Êva cho rằng bà không nói chuyện với con rắn?
Bà Êva có ngạc nhiên khi thấy con rắn biết nói? Có, hai ông bà vẫn ngây thơ như trẻ nhỏ (tad naïve), thậm chí họ cũng không hề nhận biết mình “trần như nhộng”. Nhưng Kinh Thánh nói rằng họ vẫn nói chuyện với Thiên Chúa hằng ngày. Vậy tại sao bà lại ngạc nhiên khi con rắn muốn nói chuyện với bà? Hằng ngày, hai vợ chồng trải nghiệm mọi thứ mới lạ: Cảm xúc, âm thanh, ngoại cảnh,... Họ cũng có cảm giác về động vật như chúng ta ngày nay. Trong thời đại ngày nay, chúng ta biết rằng động vật không thể nói như con người. Hai ông bà ngày xưa không có thời thơ ấu, không có người khác để học hỏi. Vì thế hằng ngày họ thấy cái gì cũng lạ, rồi tự rút kinh nghiệm. Tại sao bà Êva không nên nói chuyện với con rắn? Dĩ nhiên đây không chỉ là khoảnh khắc trong Kinh Thánh mà con rắn biết nói. Ngôn sứ bất tuân Bi-lơ-am (Balaam) đã hoảng hốt khi bị con lừa cãi lại (Ds 22:21-35). Đó không là điều vô lý khi bà Êva – một phụ nữ dịu dàng, ngây thơ, vô tội – muốn nói chuyện với con rắn, vì bà cũng đâu biết Satan đội lốt con rắn để tách con người ra khỏi Thiên Chúa nhân lành.


2. Thời Cựu Ước có một ngôn sứ “trần như nhộng”?
Đó chính là ngôn sứ Isaia. Kinh Thánh cho biết: Vào năm vua Át-sua là Xác-gôn biệt phái tướng tổng tư lệnh đến giao chiến và hạ thành Át-đốt, thì chính lúc ấy, Đức Chúa phán qua trung gian của ông Isaia, con ông Amốc: “Hãy bỏ miếng vải thô ngang thắt lưng ngươi đi, và cởi dép khỏi chân”. Theo lời dạy, ông đã ở trần và đi chân không. Đức Chúa lại phán: “Cũng như tôi tớ Ta là Isaia suốt ba năm trường đã ở trần và đi chân không để nên dấu chỉ điềm báo cho người Ai Cập và người Cút thế nào thì cũng vậy, vua Át-sua sẽ dẫn người Ai Cập đi tù và người Cút đi đày, trẻ cũng như già, mình trần, chân không, mông hở. Thật là nhục nhã cho người Ai Cập” (Is 20:1-4). Nhưng Isaia có thực sự như vậy? Có, văn sĩ tôn giáo David Jay Jordan cho biết: “Mọi thứ còn thuần khiết, Isaia được Thiên Chúa ban cho ơn nói tiên tri nhưng bảo ông cởi hết đồ ra, đi giữa mọi người, không chỉ một lúc mà suốt ba năm. Đó là lý do khiến Isaia trở nên một ngôn sứ lớn, vì ông không cần biết người khác nghĩ gì, ông chỉ muốn vâng lời Thiên Chúa”.


3. Một vị tướng đánh bại vạn quân nhờ binh sĩ đồn thổi?
Khi đoàn quân gồm 135.000 người Midian và Amaléc xâm lăng Israel, Kinh Thánh nói rằng họ “nhiều như châu chấu, lạc đà không thể đếm nổi, nhiều như cát biển”. Theo Bách Khoa Tự Điển Công Giáo, người lãnh đạo Israel là Gideon đã kêu gọi tình nguyện. Chỉ có 32.000 người, nhưng thay vì kêu gọi thêm, Thiên Chúa bảo Gideon cho những ai nhát đảm về nhà – và chỉ còn 22.000 người. Thiên Chúa bảo Gideon đưa mọi người tới con lạch để lấy nước uống – chỉ múc nước bằng một tay, còn tay kia cầm gươm. Và rồi chỉ còn lại 300 người. Những người khác trở về nhà. Nhưng hướng dẫn của Thiên Chúa vẫn hoàn hảo. Khi quân xâm lăng ngủ, 300 quân của Gideon bao vây doanh trại của họ – mỗi quân Israel chỉ có một chiếc tù và với cây đuốc giấu trong những chiếc bình bằng đất sét. Họ thổi tù và, đập vỡ những chiếc bình, giơ cao ngọn đuốc và hô to: “Lưỡi gươm của Thiên Chúa và của Gideon!”. Quân thù thức giấc hốt hoảng thấy khi thấy đuốc sáng và chen lấn ngã đè lên nhau. Trong lúc hoảng hốt, họ chém giết lẫn nhau. Kinh Thánh nói rằng “Thiên Chúa đặt lưỡi gươm của mỗi người đối nghịch với quân thù trong doanh trại”. Trong cảnh hỗn loạn, quân thù tự giết nhau, còn 300 quân của Gideon vẫn thản nhiên. Quả thật, đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể.


4. Hai vợ chồng ngã lăn ra chết vì tội nói dối?
Sách Công Vụ có câu chuyện về một người tên là A-na-ni-a (Ananias – theo tiếng Do Thái nghĩa là “Thiên Chúa nhân từ” và bà vợ tên là Xa-phi-ra (Sapphira – theo tiếng Aram nghĩa là “đẹp”). Sau khi Chúa Giêsu chịu chết, các Kitô hữu phải ẩn trốn vì luật La Mã bắt thờ các thần Jupiter, Venus, Mars, Mercury và Apollo khi Xê-da (Caesar) lên ngôi. Các tín hữu góp chung của cải vàc hia sẻ với nhau. Một hôm, A-na-ni-a và Xa-phi-ra bán một thửa đất, nhưng họ giấu, không muốn góp tiền vào của chung. Không có gì sai trong việc này. Tuy nhiên, A-na-ni-a đến trước nhà thờ, giả bộ góp một số tiền nhỏ. Ông Phêrô hỏi bán được bao nhiêu, nhưng A-na-ni-a nói dối nên liền ngã chết. Sau đó, Xa-phi-ra đến, cũng giả bộ đạo đức và hào phóng. Ông Phêrô cũng hỏi bán được bao nhiêu, cho bà cơ hội sám hối, nhưng bà vẫn cố chấp. Và Xa-phi-ra cũng lăn ra chết. Lúc đó, toàn thể Hội Thánh và tất cả những ai nghe kể chuyện này đều rất sợ hãi. Sự việc này dạy chúng ta một bài học quan trọng: Đừng giả dối. Thật vậy, Chúa Giêsu cũng rất ghét người giả nhân giả nghĩa. Ngài đã nhiều lần nặng lời nguyền rủa: “Khốn cho những kẻ giả hình!” (x. Mt 23:13-32; Mc 12:40; Lc 11:39-48; 20:47).


5. Người tội lỗi nhất thế gian đã giận dữ nói người khác là kẻ tội lỗi?
Một khi Thiên Chúa không thể tha thứ những kẻ bất tín, Ngài chọn một người tội lỗi để trừng phạt họ. Sử gia Josephus nói rằng vua Babylon là Na-bu-cô-đô-nô-xo (Nebuchadnezzar), một con người tội lỗi, đã giết vua Do Thái, khoét mắt người khác, xử tử các trưởng lão Do Thái, bắt nhiều người làm nô lệ,... Theo Bách Khoa Tự Điển Do Thái, trong suốt 18 năm luôn có tiếng từ trời bảo ông ta được Thiên Chúa cho phép tiêu diệt dân Israel, vì “con cái không còn vâng lời Ngài”. Tuy nhiên, vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cảm thấy lo vì sợ quyền lực siêu nhiên. Chính Thiên Chúa cho vua Na-bu-cô-đô-nô-xo thấy rằng Ngài đã can ngăn tay của Tổng lãnh Thiên thần Micae, vị thần hộ mệnh của dân Israel. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo vâng lời và tấn công không chút xót thương. Trên đường tiến về Babylon, các tù binh bị đày bị xiềng xích không được dừng lại một giây phút nào vì ông ta sợ họ cầu nguyện và Thiên Chúa sẽ nhậm lời họ khi họ đã ăn năn. Ông ta chỉ cảm thấy an toàn khi đến bờ sông Êu-phơ-rát (Euphrates), mở tiệc ăn mừng khi các hoàng tử của Giu-đa nằm la liệt ở bờ sông. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo truyền lấy sách thánh bỏ vào bao, rồi dồn cát vào, và bắt tù nhân phải vác về Babylon. Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo nhẫn tâm giết hàng ngàn thanh niên vì “tội” điển trai – chính vẻ đẹp trai của họ đã làm say mê các phụ nữ Babylon.


6. Tàu ông Nô-ê không có kỳ lân hoặc tê giác?
Năm 1967, một ca khúc nổi tiếng của Irish Rovers cho biết rằng câu chuyện kỳ lạ về cách ông Nô-ê không thể thuyết phục mấy con kỳ lân lên tàu vì chúng không muốn đi trong mưa. Nhưng Kinh Thánh nói gì? Ngày xưa có con kỳ lân hay không? Chữ “kỳ lân” xuất hiện trong bản dịch của King James. Ds 23:22 theo bản dịch của King James cho biết: “God brought them out of Egypt; he hath as it were the strength of a unicorn” (Thiên Chúa đã đưa họ ra khỏi Ai Cập, Người co sức mạnh tựa con kỳ lân). Tuy nhiên, bản dịch của Douay-Rheims (Công giáo) cho biết: “God hath brought him out of Egypt, whose strength is like to the rhinoceros” (Thiên Chúa đã đưa họ ra khỏi Ai Cập, Người co sức mạnh tựa con tê giác). [Theo Anh ngữ, “unicorn” là kỳ lân, “rhinoceros” hoặc “rhinos” là con tê giác, bản Kinh Thánh Công giáo Việt ngữ hiện dùng thì nói “Người là sức mạnh của nó tựa sừng trâu” – chú thích của người dịch]. Kỳ lân, tê giác, hay trâu? Các tác giả cổ dùng chữ “unicorns” – gồm có Aelian, Strabo, Pliny và Tertullian. Marco Polo nói về chuyến đi của ông tới Trung quốc: “Họ có những con voi rừng nhiều con kỳ lân, không nhỏ hơn nhiều so với con voi. Kỳ lân có lông như trâu/bò nhưng chân như chân voi, có ngà đen lớn ở giữa trán. Nhìn chúng rất xấu và dữ tợn”. Thế thì đúng là con tê giác rồi!


7. Ông Giô-suê khiến mặt trời và mặt trăng dừng lại?
Trong sách Giô-suê 10:12-14, Thiên Chúa đáp lại người cầu nguyện sốt sắng bằng cách làm cho mặt trời và mặt trăng đứng im để ông Giô-suê có thể hoàn tất cuộc chiến đấu lúc còn là ban ngày, để kẻ thù không thể chạy thoát. Điều này có thực sự xảy ra? Có chứ sao không? Nhưng còn sự phiền toái xảy ra khi trái đất ngừng quay? Giáo sư khoa Cựu Ước Gleason Archer cho biết: “Nếu trái đất ngừng quay một lúc thôi, đúng là đại họa đối với hành tinh của chúng ta. Quyền năng của Thiên Chúa sẽ không cho đại họa như vậy xảy ra, Ngài vẫn giữ cho mọi thứ theo đúng quy luật tự nhiên”.


8. Chúa Giêsu cho đám đông ăn no nê, nhưng họ muốn có thêm phép lạ thì mới tin?
Trình thuật Ga 6:24-30 cho biết rằng đám đông vài ngàn người xin Chúa Giêsu làm phép lạ khác để họ đủ tin. Họ được ăn no nê chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá của một cậu bé, sau đó còn thu được 12 thúng đồ dư. Phép lạ lớn chưa từng có. Thế mà họ vẫn chưa thực sự tin. Chúng ta cũng vậy, chẳng hơn gì họ, vì chúng ta thấy phép lạ xảy ra hằng ngày với chính mình và với người khác, nhưng chúng ta vẫn chưa đủ lòng tin!


9. Người mạnh mẽ nhất hóa yếu đuối khi bị phụ nữ cắt tóc?
Sam-sôn là nhân vật điển hình về sức mạnh phi thường. Thiên sứ hiện ra với người vợ vô sinh của Ma-nô-ác (Manoah) và nói rằng đứa con chưa sinh của bà sẽ giải thoát dân tộc, nhưng nó phải kiêng cữ rượu và những thứ có men, kiêng cữ mọi thứ không thanh sạch, không bao giờ cắt tóc. Thật vậy, con trẻ Sam-sôn có sức mạnh vô song để làm nên các chiến công hiển hách, cứu dân Israel khỏi tay quân Phi-li-tinh. Nhưng các việc đó có vẻ chỉ phô trương và gây ấn tượng với các phụ nữ đẹp. Và rồi chính Đa-li-la (Delilah) đã phản trắc vì âm mưu với quân thù, nhõng nhèo và nịnh hót Sam-sôn, năn nỉ cho biết bí quyết có sức mạnh. Sam-sôn nói dối nàng, nhưng không xong. Đa-li-la đã giả vờ khóc lóc để làm xiêu lòng Sam-sôn. Cuối cùng Sam-sôn cho biết rằng cắt tóc thì sẽ yếu. Khi Sam-sôn ngủ, Đa-li-la trắc nết và thâm độc đã cắt tóc Sam-sôn. Khi thức dậy, Sam-sôn thấy quân thù đã vây quanh mình. Phụ nữ thật là thâm hiểm. Sam-sôn bị bắt làm trò cười cho thiên hạ và bị bắt làm nô lệ. Bị xiềng xích, Sam-sôn xin Chúa ban cho ông sức mạnh lại, và Thiên Chúa đã nhậm lời ông. Sau đó, ông đã ôm cột tòa nhà rồi kéo đổ sập. Tất nhiên Sam-sôn cũng chết trong đó.


10. Người lãnh đạo vĩ đại nhất đã làm phiền Chúa và phải bò mà đi trong bảy năm?
Sau khi đưa hàng ngàn người Israel tới Babylon và giết hàng ngàn người khác, vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đã bị cậu bé Đa-ni-en vạch trần tội lỗi. Thiên Chúa ban cho Đa-ni-en có biệt tài giải mộng. Một đêm, vua Na-bu-cô-đô-nô-xo có giấc mơ lạ khiến ông lo sợ. Ông không hiểu, các quan đại thần và những nhà thông thái cũng không thể hiểu. Đa-ni-en được nhờ giải mộng: “Ngài sẽ bị đuổi, không được chung sống với người ta, nhưng phải sống chung với thú vật ngoài đồng, phải ăn cỏ như bò, và dầm sương suốt bảy năm ròng rã, cho tới lúc ngài chịu nhận ra rằng Đấng Tối Cao cai trị vương quốc loài người, và Người trao cho kẻ nào Người muốn” (Đn 4:22). Mọi điều ứng nghiệm đúng như Đa-ni-en nói.
Cuối cùng, vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đã phải thú nhận: “Khi mãn hạn, ta là Na-bu-cô-đô-nô-xo, ta ngước mắt lên trời; cùng lúc, ta tỉnh trí lại và chúc tụng Đấng Tối Cao. Ta ca ngợi, tôn vinh Đấng Hằng Sống: Người nắm quyền thống trị muôn đời, vương quốc của Người tồn tại thiên thu. Trước nhan Người, dân cư trên mặt đất đều bị kể như không. Theo ý muốn của Người, Người điều khiển cả đạo binh trên trời, lẫn cư dân dưới đất. Chẳng có ai cản được tay Người. Giờ đây, ta, Na-bu-cô-đô-nô-xo, ta ca ngợi, tán dương và tôn vinh Vua Trời, vì mọi việc Người làm đều chân thật, đường lối của Người vốn công minh. Người có quyền hạ bệ kẻ quen thói kiêu căng hống hách” (Đn 4:31-32 và 34).


Tại sao Kinh Thánh đầy những “chuyện lạ” như vậy?
Thánh Phaolô nói: “Lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa” (1 Cr 1:18). Thánh Phaolô cho biết thêm: “Tôi biết có một người môn đệ Đức Kitô, trước đây mười bốn năm đã được nhắc lên tới tầng trời thứ ba, có ở trong thân xác hay không, tôi không biết, có ở ngoài thân xác hay không, tôi cũng không biết, chỉ có Thiên Chúa biết. Tôi biết rằng người ấy đã được nhắc lên tận thiên đàng, trong thân xác hay ngoài thân xác, tôi không biết, chỉ có Thiên Chúa biết, và người ấy đã được nghe những lời khôn tả mà loài người không được phép nói lại” (2 Cr 12:2-4). Try as we can, humans cannot be as wise as God. Our greatest discoveries have long been known to the Creator of the Universe who wrote the mysterious laws that hold all creation together – which we can spend lifetimes guessing at. Hãy ghi nhớ điều này: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25).


TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

 

NÊN THÁNH
Chúa đã dạy: “Hãy trở nên hoàn thiện
Giống như Cha, Đấng ngự ở trên trời” (*)
Chúa bảo con phải nên thánh đấy thôi
Không nên thánh, nghĩa là phụ lòng Chúa
       Đường nên thánh không có hoa thắm nở
       Đầy trắc trở, gập ghềnh và chông gai
       Chuyện nên thánh không ở thời tương lai
       Mà là chuyện hằng ngày, thời hiện tại
Với Thiên Chúa, người khôn là kẻ dại
Còn kẻ dại lại chính là người khôn
Đích nên thánh không xa mà rất gần
Là bỏ mình từ những điều rất nhỏ
       Vác thập giá đôi khi cũng té ngã
       Cứ ngã rồi lại cố gắng đứng lên
       Chẳng hề có thập giá nào dịu êm
       Nên người vác sẽ chịu nhiều bầm giập
Tài sản quý của con người nhiều thật
Tính ích kỷ, thói kiêu ngạo, giả hình
Thích người giàu, ai nghèo hèn thì khinh
Đâu ai muốn bán hết tài sản đó
       Không bán hết thì đừng mong theo Chúa
       Không theo Chúa thì chẳng nên thánh đâu
       Vác thập giá phải trước cũng như sau
       Không nên thánh nếu “bán đồ nhi phế”
Muốn nên thánh ắt phải chịu đau khổ
Đau thân xác và khổ cả tinh thần
Vác thập giá mà tà tà, an nhàn
Chắc chắn rằng không thể nên thánh được
       Lạy Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót
       Xin giúp con bán hết cả cuộc đời
       Không giữ lại điều gì, dù nhỏ nhoi
       Vì con muốn theo Ngài để nên thánh
TRẦM THIÊN THU
(*) Mt 5:48.

THÁNG MƯỜI HAI
Chút se se lạnh đầu ngày
Vậy mà cũng đủ đọa đày con tim
Đông về quay quắt cuối năm
Bộn bề những nỗi băn khoăn phận người
Lặng ngồi tĩnh tọa soi đời
Bước trần gian lặng nghe lời thiên thu
Bước đi mà ngỡ bước về
Dọc đời-tĩnh-động nhiêu khê vô thường
Nhìn xuyên qua lớp mờ sương
Tịnh tâm từng bước theo đường đi lên…
Lạy Thiên Chúa, Đấng chí nhân
Cho con biết sống trọn niềm tin yêu
Hôm nay hoài vọng trời cao
Ngày mai xứng đáng bước vào Thiên Cung
TRẦM THIÊN THU

VỌNG GIÊSU
Ngày đêm con đợi trông Ngài
Khác chi đất hạn mong trời mưa tuôn
Hồn con khắc khoải, cô đơn
Ngày tháng u buồn vì vắng Giêsu
Tim con giá lạnh bốn mùa
Khát Ơn Cứu độ xuất từ Ngôi Hai
Con tương tư Chúa suốt trời
Năm canh sáu khắc miệt mài chờ mong
Hết Xuân Hạ lại Thu Đông
Kiên tâm hy vọng không ngừng, Chúa ơi!
Xin trời mưa Đấng Cứu đời
Giải thoát muôn loài khỏi chốn lầm mê
Cây đời con quá cằn khô
Nôn nao khát vọng Giêsu đêm ngày
TRẦM THIÊN THU

MONG
(Tv 130:6-7 và Is 64:7)
Hồn con trông đợi Chúa Trời
Còn hơn lính gác mong trời hừng đông
Cậy trông Thiên Chúa Xót Thương
Ngài luôn từ ái, một lòng từ bi
Nguồn Ơn Cứu Độ chan hòa
Ban cho tất cả ai là chính nhân
Con là đất sét mọn hèn
Ngài là Thợ Gốm, Nghệ Nhân tuyệt vời
Nặn con nên dáng vóc người
Giống như hình ảnh của Ngài. Lạ thay!
Đời con hiu quạnh tháng ngày
Năm canh, sáu khắc, đọa đày khôn nguôi!
Nên con khao khát ơn trời
Xin ban Mưa Thánh cho đời nhân gian
Sông Ân Biển Tứ chứa chan
Không ngừng tuôn chảy tràn lan muôn đời
Con mong chờ Đấng Ngôi Lời
Giáng trần giải thoát kiếp người lầm than
TRẦM THIÊN THU
CN I Mùa Vọng – 2014


Canh thức

(CN I Vọng/B – Mc 13:33-37)

Anh em phải coi chừng
Và phải luôn tỉnh thức
Vì anh em không biết
Thời ấy đến khi nào
Cũng như một người nọ
Phải trẩy đi phương xa
Trao quyền cho đầy tớ
Việc ai người nấy lo
Lệnh cho người giữ cửa
Phải canh thức sớm khuya
Anh em cũng vậy mà
Phải cẩn trọng canh thức
Vì anh em không biết
Chủ nhà đến khi nào
Có thể lúc chập tối
Hay nửa đêm thì sao?
Có thể lúc gà gáy
Hay tảng sáng không chừng
Anh em phải sẵn sàng
Kẻo chủ đến bất thần
Thấy anh em đang ngủ
Thầy nói rõ mọi điều
Để anh em biết rõ
Không mơ hồ chi đâu
Thầy cũng nói sự thật
Với hết thảy mọi người
Là phải luôn canh thức
Đừng mê mải cuộc chơi!

Lạy Ngôi Hai Chúa Trời
Xin Ngài mau ngự đến
Thửa đất con hạn hán
Khao khát Mưa Giêsu
Xin giúp con kiên trì
Sớm khuya đợi chờ Chúa
Đừng ham vui, mê ngủ
Hoặc cửa đóng, then cài

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU

Sẵn sàng đón Chúa
(CN I Vọng/B – Mc 1:1-8)

Khởi đầu sách Tin Mừng
Đức Giêsu Con Chúa:
Trong sách của ngôn sứ
Đã có lời chép rằng:
“Này Ta sai sứ thần
Đi trước mặt Con đó
Để dọn đường sạch sẽ” (*)
Có tiếng người hô to
Trong nơi hoang địa xa:
“Hãy dọn đường cho Chúa
Mọi lối đều phải sửa
Cho thẳng thắn, vệ sinh”
Đúng theo lời rành rành
Ông Gioan Tẩy Giả

Xuất hiện trong hoang địa
Rao giảng gọi mọi người
Chịu phép rửa hẳn hoi
Sám hối được tha tội
Người khắp miền tìm tới
Họ thú tội, ăn năn
Và chính ông Gioan
Làm phép rửa cho họ
Tại sông Giođan đó
Mặc áo lông lạc đà
Thắt lưng bằng dây da
Ăn mật ong, châu chấu
Gioan không che giấu
Ông bày tỏ thật lòng:
“Có Đấng quyền thế hơn
Đang đến sau tôi đó
Tôi không đáng chi cả
Dù cởi quai dép Người
Tôi rửa cho mọi người
Nhưng chỉ rửa trong nước
Còn Người sẽ ban phước
Làm phép rửa anh em
Bằng chính Chúa Thánh Thần
Người thật là cao cả!”

Muôn vạn lạy Thiên Chúa
Là Đấng Thánh Ngôi Hai
Xin giúp con từng giây
Biết sẵn sàng đón Chúa
Và dạy con tu sửa
Từ ý nghĩ ban đầu
Đổi mới và thương yêu
Khiêm nhu và nhịn nhục

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU
(*) Is 40:3

 

Khát vọng Chúa

Chúa nhật I mùa Vọng là Mùa Xuân Phụng Vụ, là Tết Công giáo, khởi đầu một khoảng thời gian mong chờ Ngôi Hai giáng thế để giao hòa trời đất và cứu độ nhân loại. Bắt đầu năm Phụng vụ mới cũng là lúc đất trời vào Đông, chút se lạnh buổi sáng chợt khiến lòng người lắng xuống, một cảm giác lạ, chút bâng khuâng thường có trong sự chờ đợi, nhưng với người Công giáo thì sự chờ đợi đó mang ý nghĩa linh thiêng: Khát vọng Chúa.

KHÁT VỌNG
Nắng lâu ngày hóa hạn hán, không khí oi bức, đất đai khô cằn, cây cối héo úa,… Vì thế mà mọi vật đều khao khát mưa. Khao khát và mong chờ. Cuộc đời luôn có vô số điều khao khát khiến chúng ta mong chờ nối tiếp mong chờ. Càng mong chờ càng khao khát: “Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ Ngài? Vì tình thương đối với tôi tớ là các chi tộc thuộc gia nghiệp của Ngài, xin Ngài mau trở lại” (Is 63:17).

Điệp khúc “cầu mưa” không ngừng vang lên từ tâm hồn mọi người, nhưng người Công giáo mong một loại Mưa “viết hoa”, Mưa đặc biệt: Mưa Hồng ân, Mưa Cứu Độ, Mưa Giêsu Kitô. Như vậy, cầu nguyện là trách nhiệm chung, và cũng là riêng của mỗi người. Khi cầu nguyện, có thể chúng ta cảm thấy như không có gì biến chuyển, nhưng chính lúc “không thấy động tĩnh gì” mới là lúc cầu nguyện hiệu quả. Thực ra không phải không có gì xảy ra, vì thánh Phaolô xác định: “Anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mạc khải vinh quang của Người” (1 Cr 1:7). Thật vậy, “Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 1:9). Ngài là Thiên-Chúa-Tình-Yêu, chắc chắn Ngài không thể bỏ mặc chúng ta trong nỗi khao khát và mòn mỏi mong chờ điều thiện hảo.

Trong đời thường, người ta thường nói: “Không còn tình cũng còn nghĩa”, đôi khi cái nghĩa còn trọng hơn cái tình. Cũng với tâm tình đó, tác giả Thánh vịnh đã van xin: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ” (Tv 80:15).

Không phải Chúa “ác ý” hay “đùa dai”, mà Ngài muốn chúng ta thực sự đừng xao lãng khi mong chờ, nghĩa là phải toàn tâm toàn ý với Ngài, khát khao Ngài thành tâm chứ không “bắt cá hai tay”, đồng thời nhận ra “khoảng trống vắng” trong lòng mình như hai người yêu nhau và tương tư nhau, để rồi khấn hứa với Chúa: “Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài” (Tv 80:19).

Khi khao khát điều gì thì người ta luôn hy vọngmong chờ, mà mong chờ thì phải tỉnh thức. Đó là quy trình rất tự nhiên vậy.

TỈNH THỨC
Phúc âm Chúa nhật I mùa Vọng, năm B, Giáo hội dùng trình thuật Mc 13:33-37 (tương tự Mt 24:36-44), kể chuyện một người trẩy phương xa, để lại nhà cửa và tài sản, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức.

Chỉ trong một đoạn Phúc âm ngắn, gồm 5 câu, mà Chúa nhắc tới việc canh thức hoặc tỉnh thức tới 4 lần:

– Phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến (Mc 13:33).

Phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng (Mc 13:35).

– Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ (Mc 13:36).

– Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: Phải canh thức! (Mc 13:37).

Điều đó chứng tỏ Chúa nhắc nhở chúng ta: “Cẩn tắc vô ưu”. Nghe nói canh thức hoặc tỉnh thức, chúng ta thấy có vẻ “nghiêm trọng” hoặc cho là “đao to, búa lớn”, nhưng thực ra cũng rất tự nhiên. Hàng ngày có rất nhiều điều khiến chúng ta phải coi chừng – tức là canh chừng, canh thức hoặc tỉnh thức: Người mẹ vừa làm việc vừa phải trông chừng đứa con kẻo nó té xuống ao; người bà phải trông chừng đứa cháu kẻo nó té vô nồi nước sôi bà vừa nấu sôi; bạn để chiếc điện thoại trên bàn cũng phải “mắt trước, mắt sau” khi chạy vô nhà trong lấy vật gì đó; dùng bếp ga cũng không biết nó “thở mạnh sảng” lúc nào; bạn đi đường luôn phải “mở mắt to” vì tai nạn luôn có thể xảy ra bất kỳ lúc nào; dù chỉ là đóng một cây đinh thì bạn cũng phải coi chừng búa đập vào tay; và còn vô vàn những thứ rất đời thường như vậy mà người ta luôn phải tỉnh thức…

Chúa Giêsu đưa ra 2 hình ảnh cụ thể: Chủ về và kẻ trộm.

Không ai biết chủ về lúc nào, dù chủ có gọi điện báo trước là 3 giờ về thì cũng không biết kém mấy phút hoặc hơn mấy phút, nhất là đường xá dễ kẹt xe như ngày nay, ngay cả máy bay cũng thường xảy ra trường hợp phải hủy chuyến bay vì lý do này hoặc nguyên nhân nọ. Nghĩa là khó có thể chính xác thời gian, mà khi người ta buồn ngủ rồi thì chỉ lệch 1 giây cũng có thể ngủ quên và chủ sẽ bắt gặp đầy tớ đang say giấc. Không thể tự biện hộ!

Còn kẻ trộm hoặc kẻ cướp thì càng bất ngờ và nguy hiểm hơn, khỏi phải nói. Chỉ trong nháy mắt có thể tiêu tan cả sự nghiệp hoặc nguy hiểm tính mạng, nhất là xã hội ngày nay cướp giật như rươi, vì “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2: 7).

Nói chung, lúc nào cũng có thứ để chúng ta phải tỉnh thức, thâm chí (nói có vẻ tiêu cực) vợ chồng cũng còn phải “canh chừng” nhau kia mà!

Điều tỉnh thức quan trọng nhất là “không biết giờ nào Con Người đến”, tức là Giờ Cánh Chung, thời điểm Chúa Quang Lâm. Nhưng tận thế có 2 chiều kích: Tận cùng thế gian và tận cùng đời mình. Tận thế thì quá hiển nhiên, nhưng liệu chúng ta có được diễm phúc chứng kiến giây phút trọng đại đó? Nhưng “tận thế đời mình” thì ai cũng đích thân chứng kiến, đó là lúc trút hơi thở cuối cùng. Biết rằng ai cũng chết, bệnh cũng chết mà không bệnh cũng chết, thế mà người ta vẫn sợ. Vì thế mới phải tỉnh thức! Mong chờ sẽ là niềm vui nếu chúng ta quan niệm rằng “sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi” (Pl 1:21).

Chuyện xưa kể rằng…

Trước khi chết, ngài Alexander Đại Đế cho triệu tập các quan trong triều đình đến để truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình. Ngài phán:

1. Quan tài của ngài phải được chính các vị ngự y giỏi nhất khiêng đi.

2. Tất cả vàng bạc châu báu của ngài phải được rải dọc con đường dẫn đến ngôi mộ của ngài.

3. Đôi bàn tay ngài phải được để thò ra khỏi quan tài để cho mọi người đều thấy.

Một cận thần rất đỗi ngạc nhiên về những điều yêu cầu kỳ lạ này nên hỏi ngài tại sao ngài lại muốn như thế. Ngài Alexander giải thích:

1. Ta muốn chính các vị ngự y giỏi nhất phải khiêng quan tài của ta để cho mọi người thấy rằng một khi phải đối mặt với cái chết, thì chính họ – dù là những người tài giỏi nhất – cũng không có tài nào cứu chữa.

2. Ta muốn châu báu của ta được vung vãi trên mặt đất để mọi người thấy rằng của cải vật chất mà ta gom góp được ở trên thế gian này sẽ mãi mãi ở lại trên thế gian này khi ta nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời.

3. Ta muốn bàn tay của ta đong đưa ngoài quan tài để mọi người thấy rằng chúng ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng thì khi rời khỏi thế giới này chúng ta cũng chỉ có hai bàn tay trắng.

Kho tàng quý giá nhất trên cuộc đời này là Tình Yêu Thương. Thánh Phaolô đã minh định: “Đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại. Nhưng đức mến là quan trọng nhất” (1 Cr 13:13).

Lạy Thiên Chúa, Ngài là Đường, là Sự thật và là Sự sống (Ga 14:6), xin giúp chúng con biết ngưỡng vọng Chúa, kiên trì tỉnh thức và hạnh phúc mong chờ Ngôi Hai đến. Chúng con cầu xin nhân Danh Ngôi Lời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Giao thừa Xuân Cứu Độ – 2011

 

MỘT CHUYẾN ĐI

Đời người là một chuyến đi
Đi tìm nguồn hạnh phúc là vô biên
Hồn con thao thức ngày đêm
Đến khi nào được nghỉ yên trong Ngài (*)
Trắng tay từ lúc ra đời
Vẫn tay trắng lúc trút hơi cuối cùng
Gia tài, của cải là không
Chỉ còn phúc, tội thueo cùng mà thôi
Thành tâm xin Đức Chúa Trời
Giúp con cảm thức rạch ròi trước sau
Luôn can đảm chịu khổ đau
Chú tâm thực hiện thương yêu trọn bề
Cố hoàn tất một chuyến đi
Vuông tròn Ý Chúa cho vừa đức tin

TRẦM THIÊN THU
Tháng 11-2011
(*) Thánh Augustinô.

 

MONG CHỜ CHÚA ĐẾN

Con mong chờ Chúa đến
Đem bình an cho đời
Con mong chờ Chúa đến
Cho mọi người mừng vui

Tuổi thơ chờ đón Chúa
Là san bằng núi đồi
Luôn chăm ngoan học tập
Không môn nào biếng lười

Luôn vâng lời, thánh thiện
Làm nhân chứng thương yêu
Đơn sơ và nhỏ bé
Nhưng yêu Giêsu nhiều

TRẦM THIÊN THU
Mùa Vọng – 2011

Mưa Giêsu
Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Đó là một đoạn trong một bài vè ngày xưa rất phổ biến. Điều đó cho thấy con người rất duy tâm, dù có thể có người chỉ miễn cưỡng vì không làm gì được và không biết cậy nhờ vào đâu nên chỉ còn biết “kêu trời”, nhưng cũng vẫn là duy tâm.
Nước rất mềm, nhưng lại rất mạnh, không gì cản nổi: Sóng thần, mưa lũ, lụt lội, triều cường. Khi trời nắng nóng quá, người ta cầu mưa; khi trời hạn hán, người ta cầu mưa. Khi đó người ta khóc vì nước. Khi mưa to gió lớn, người ta cầu ngưng mưa; khi lũ lụt và triều cường, người ta cầu nước rút. Khi đó người ta cũng khóc vì nước. Thiếu nước, người ta khóc; dư nước, người ta cũng khóc. Nói chung, người ta khóc vì nước.
Ngay cả cơ thể người ta cũng chứa nhiều nước, nhìn có vẻ “rắn” như vậy nhưng 90% cơ thể là nước. Mỗi ngày cơ thể một người khỏe mạnh bình thường cần tiêu thụ trung bình vài lít nước, và thật ngạc nhiên khi khoa học cho biết mỗi ngày cơ thể sản xuất ra tới 290 lít nước bọt. Vậy là nước rất cần cho sự sống.
Mưa là hiện thân của tình yêu thương cao cả, mưa cho cả người lành và kẻ xấu, không hề phân biệt ai:
Mưa không của riêng ai
Tưới mát cho tất cả
Dù thân quen hay lạ
Vĩ đại hoặc thấp hèn

Mưa vui với người vui, buồn với người buồn. Người vui thấy tiếng mưa reo như khúc nhạc, người buồn thấy tiếng mưa như lời than thở, trách móc. Mưa đem lại sự dịu mát cho con người, mưa là niềm an ủi, mưa gội sạch bụi bẩn, mưa là niềm vui. Trẻ em rất thích tắm mưa, chúng hạnh phúc khi được cha mẹ cho tắm mưa. Đó là mưa bình thường mà con người còn cần đến vậy. Có một loại mưa đặc biệt còn cần hơn:

Mưa Giêsu.
Mùa Vọng là mùa mong chờ Đấng Thiên Sai giáng thế để giao hòa trời đất, người Công giáo rất quen với bài thánh ca của cố nhạc sĩ Duy Tân (thuộc Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh do cố nhạc sư Hùng Lân khởi xướng): “Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng Chuộc Tội. Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng Cứu Đời”. Đó là Mưa Hồng Ân, Mưa Cứu Độ. Mưa Giêsu vô cùng cần thiết cho những mảnh-đất-tâm-hồn của chúng ta đã và đang khô cằn vì thói hư, tật xấu, và vì tội lỗi:

Mảnh đất con khô cằn
Khát khao Mưa tưới gội
Đời mang nhiều vết tội
Xin rửa sạch, Mưa ơi!

Dân Chúa ngày xưa đã mong chờ Đấng Cứu Độ mấy ngàn năm. Chúng ta cũng đang khao khát Ngài từng giây trên hành trình cuộc đời. Và chỉ có Mưa Giêsu mới khả dĩ tẩy rửa những vết nhơ hằn sâu trong tâm hồn mỗi chúng ta. Thật vậy:

Thiếu một giọt Mưa Trời
Cả đời con hạn hán
Rửa sạch mọi thù oán
Là giọt Mưa Giêsu

Hai người yêu nhau luôn khao khát gặp mặt nhau, dù không nói đôi lời mà chỉ được nhìn thấy nhau cũng thấy vui rồi. Một ngày không gặp thì lóng ngóng, đứng ngồi không yên. Những người yêu nhau hay buồn vì nhớ nhau, họ “buồn như anh chàng làm thơ” va rồi bất chợt hóa thành thi sĩ: “Anh sẽ vì em làm thơ tình ái, anh sẽ gom mây kết thành lâu đài” (Lâu Đài Tình Ái của cố NS Trần Thiện Thanh). Người này là nỗi nhớ của người kia, và là “giọt mưa tình” của nhau. Nỗi nhớ thương và mong chờ đó hóa thành nỗi tương tư!

Cũng vậy, người yêu Chúa sẽ bồn chồn vì mong chờ Chúa đến, không chỉ để được gặp mà còn được hàn huyên tâm sự và chia vui sẻ buồn với Ngài. Nhưng trước tiên, chúng ta phải nghe lời tiên tri Isaia kêu gọi: “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3:4-6).

Cuộc đời con người là con đường ngoằn ngoèo vì những ý nghĩ xấu xa; đầy những thung lũng hằn thù, đầy những núi đồi tham lam, ích kỷ; đầy những ổ gà, ổ voi tức giận, ghen tuông. Tất cả phải mau sửa cho ngay thẳng và bằng phẳng để xứng đáng đón Vị Thiên Vương tòan năng nhưng nhân hậu, giàu sang nhất mà nghèo khó nhất, quyền lực nhất mà khiêm nhu nhất, oai phong lẫm liệt nhưng vẫn thân thiện. Ngài đến để tìm những con chiên lạc (x. Mt 18:12-14) vì “người khỏe không cần bác sĩ, người yếu mới cần” (Lc 5:31), Ngài đến để phục vụ (Mt 20:28), Ngài đến để cho chúng ta được sống và được sống dồi dào (Ga 10:10), Ngài không đòi hỏi gì ở chúng ta mà chỉ yêu cầu chúng ta “hoàn thiện như Cha trên trời” (Mt 5:48).

Ngày nay chúng ta khó tìm ra được một người có quyền thế đến với dân nghèo ở mọi ngõ ngách cuộc đời như Chúa Giêsu. Các vị nguyên thủ quốc gia đến thăm nước nào thì cũng được tiếp đón nồng hậu, và họ chỉ thăm những thành phố lớn – và tiệc tùng. Các giám mục đi kinh lý thì cũng chỉ loanh quanh trong khuôn viên nhà thờ và nhà xứ, rồi nghe báo cáo tình hình giáo dân – và tiệc tùng. Linh mục gọi là ở “sát” giáo dân nhưng mấy người hiểu và chia sẻ nỗi đau đời của giáo dân?

Ngày xưa có những ông vua phải giả dạng để gặp trực tiếp những người dân thấp cổ bé miệng mới thấu hiểu nỗi oan dân tình. Chúa Giêsu cũng là “ông vua” như vậy. Cứ ngồi nơi nhà cao cửa rộng mà nghe báo cáo thì cũng có những người “làm láo, báo cáo hay”. Đó là những nịnh thần đáng sợ! Họ có 2 loại áo dài, một loại vạt trước ngắn và vạt sau dài, một loại vạt trước dài và vạt sau ngắn: Khúm núm trước bề trên mà lại hống hách với bề dưới!

Hiếm thấy có giám mục nào như cố giám mục thừa sai Jean Cassaigne (Pháp, qua đời ngày 30-10-1973), vị Tông đồ Người cùi, khi còn là giám mục Saigon, ngài thường xuyên đi thăm dân chúng ở các khu lao động nghèo Saigon – Chợ Lớn. Ngài đã sống đúng khẩu hiệu ngài chọn: “Bác ái và Yêu thương” như ngài nói: “Tôi là kẻ từng mơ thành một Thừa Sai tầm thường. Tôi là kẻ đã coi sự nghèo khó của mình là niềm hãnh diện và niềm vui, lại trở thành một hoàng tử của Giáo Hội. Họ đã tấn công dồn dập bắt tôi làm giám mục. Nhưng, dù người ta sẽ thay y phục và chỗ ở của tôi, song chẳng ai thay được con người chất phác nơi tôi. Linh mục dâng hiến tế Thánh Thể, cũng phải trở thành hy vật”. Ngài chưa được Giáo hội phong thánh, nhưng đời sống của ngài chứng tỏ ngài là một thánh nhân rồi, vì cả đời ngài đã thực sự sống tinh thần mùa Vọng.

Tuyệt vời nhất là sau khi kiên tâm mong chờ Chúa đến, chúng ta được Ngài ban Ơn Cứu Độ. Chắc hẳn lúc đó chúng ta cũng có thể mãn nguyện và vui mừng nói như ông Simêon: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ” (Lc 2:29-30). Mưa Giêsu chính là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga 1:29).

Hãy lắng tai, đừng tránh né, và hãy can đảm nghe lời thánh Gioan Tẩy giả cảnh báo: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1:10-12).

Mùa Vọng không chỉ là khoảng thời gian khởi đầu năm Phụng vụ, mà mùa Vọng kéo dài suốt cả cuộc đời chúng ta, từng giây phút hàng ngày.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con dám canh tân, dám thay đổi, dám nói sự thật theo Ý Chúa. Xin soi sáng và hướng dẫn chúng con có thể nghĩ ra những cách hay, dám thực hành đúng những điều đó, và kiên tâm mong chờ Ngài đến. Chúng con cầu xin nhân Danh Chúa Giêsu Kitô. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Mùa Vọng – 2011

 

DongCongNet - November 28, 2017

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)