dongcong.net
 
 


Mùa vọng 3-B : Trầm Thiên Thu

NHÂN CHỨNG KHIÊM NHƯỜNG

(Chúa nhật III mùa Vọng, năm B-2017)

Khiêm nhường là nhân đức cần thiết đối với mọi người, lại càng quan trọng hơn đối với những người làm chứng về Thiên Chúa. Sống khiêm nhường không dễ, bởi vì “cái tôi” luôn muốn nổi loạn bất cứ lúc nào. “Không dễ” có nghĩa là “khó”, nhưng “khó” không có nghĩa là “không làm được” hoặc “bất lực”. Chúa Giêsu chỉ cho bí quyết sống khiêm nhường: “Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17:10). Đừng quan trọng hóa mình thì có thể sống khiêm nhường.

Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi? Như có lời chép: Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo tin mừng!” (Rm 10:14-15). Rất lô-gích!

BÀI SAI CỦA CHÚA

Ai cũng có trách nhiệm làm chứng về Đức Giêsu Kitô theo hoàn cảnh sống của mình. Khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, được trở nên con cái của Thiên Chúa, đồng thời mỗi Kitô hữu cũng được Thiên Chúa sai đi vào giữa cuộc đời để làm nhân-chứng-sống cho Ngài. Thật vậy, điều đó được ngôn sứ Isaia khi nói thay tất cả chúng ta: “Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta; Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than” (Is 61:1-2).

Trọng trách đó không của riêng ai, bổn phận đó của bất cứ ai tin tưởng và mong đợi Đấng Cứu Thế. Nhưng vấn đề là Chúa không sai ai đến với người giàu sang, người quyền cao chức trọng, người ăn trên ngồi trước,… mà Ngài sai chúng ta đến với kẻ nghèo hèn, người đau khổ, tù nhân, người bị bỏ rơi, kẻ bị khinh miệt, kẻ cùng đinh,… Nhưng thực tế xã hội thường đi ngược lại, nghe “lời sai đi” kia cho xong lần, qua tai rồi thôi, sau đó có thể lại tự hành động theo ý mình. Có lẽ vậy mà người nghèo khổ và kẻ thấp cổ bé miệng vẫn không thể ngóc đầu lên được, nhân vị của họ vẫn bị chà đạp, nhân phẩm của họ vẫn bị bôi nhọ, và nhân quyền của họ vẫn bị tước đoạt! Chính ĐGH Leo XIII đã xác định trong tông thư Tân Sự (Rerum Novarum, 15-5-1891): “Sự nghèo khổ không là điều hổ thẹn” (a. 37).

Không phải đi làm theo ý mình, mà bước chân ra đi và dấn thân vào đời để hành động theo hướng dẫn của Thiên Chúa, có vậy thì chúng ta mới có thể “như đất đai làm đâm chồi nẩy lộc, như vườn tược cho nở hạt sinh mầm, Đức Chúa là Chúa Thượng cũng sẽ làm trổ hoa công chính, làm trổi vang lời ca ngợi trước mặt muôn dân” (Is 61:11).

Đức Mẹ là một nhân chứng sống động và khiêm nhường. Lời Kinh Magnificat (Lc 1:46-50, 53-54) của Đức Maria chứa đầy niềm hân hoan: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi”. Tuy là người cao trọng và có cuộc sống tuyệt vời, nhưng Đức Mẹ vẫn tự nhận mình là “phận nữ tỳ hèn mọn”. Đó là sự khiêm nhường đúng Thánh Ý Chúa. Thiên Chúa là Đáng toàn năng, Ngài không chỉ làm cho Đức Mẹ biết bao điều cao cả, mà hàng ngày chúng ta cũng vẫn nhận “miễn phí” từ Thiên Chúa với bao điều kỳ diệu của cuộc sống! Đơn giản nhất mà cũng quan yếu nhất là không khí, nếu không có không khí trong vài giây thì không gì sống nổi. Một hồng ân kỳ diệu hiển nhiên vẫn xảy ra từng giây phút hàng ngày, nhưng đôi khi chúng ta “làm ngơ” và thậm chí còn đòi hỏi nhiều thứ hơn nữa.

Tất cả hồng ân đều bởi Lòng Thương Xót vô hạn của Thiên Chúa, bởi vì Ngài “hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1:50). Thiên Chúa là Đấng Thánh cao cả, luôn yêu chuộng sự công bình và đức khiêm nhường: “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1:53-54). Cựu Ước cũng đề cập tương tự: “Đức Chúa hạ bệ những ai quyền thế, và đặt kẻ hiền lành ngồi lên thay” (Hc 10:14). Ngôn sứ Isaia nói: “Đức Chúa các đạo binh đã quyết định điều ấy để làm nhục mọi đứa cao sang ngạo mạn và hạ bệ mọi kẻ hiển danh trên mặt đất” (Is 23:9). Và rồi chính vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cũng phải công nhận: “Giờ đây, ta, Na-bu-cô-đô-nô-xo, ta ca ngợi, tán dương và tôn vinh Vua Trời, vì mọi việc Người làm đều chân thật, đường lối của Người vốn công minh. Người có quyền hạ bệ kẻ quen thói kiêu căng hống hách” (Đn 4:34).

Có điều quan trọng: Mặc dù hành động nhưng vẫn không được xao lãng việc cầu nguyện. Thánh Phaolô căn dặn: “Anh chị em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng” (1 Tx 5:16-17). Không chỉ tạ ơn khi thuận ý mình mà “hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh” (1 Tx 5:18), vì “đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu”. Thánh Phaolô căn dặn thêm: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ, còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì lánh cho xa” (1 Tx 5:21-22). Tỉnh thức, vừa hành động vừa cầu nguyện để “thần trí, tâm hồn và thân xác được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm” (1 Tx 5:23).

Với kinh nghiệm dày dạn, thánh Phaolô xác định chắc chắn với chúng ta như đinh đóng cột: “Đấng kêu gọi anh chị em là Đấng trung thành: Người sẽ thực hiện điều đó” (1 Tx 5:24). Ôi, thế thì trên cả tuyệt vời! Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17:24). Nhưng cũng cần có điều kiện, điều kiện đó không vì lợi ích cho Chúa mà vì lợi ích cho chính chúng ta. Lợi ích đó là gì?

TRỞ THÀNH NHÂN CHỨNG

Thiên Chúa đã sai ông Gioan làm người tiền phong đến dọn đường trước khi sai Con Một Giêsu đến thế gian. Ông được gọi là tiền hô, ông không là ánh sáng nhưng ông đến để “làm chứng về ánh sáng để mọi người nhờ ông mà tin” (Ga 1:7). Và Thiên Chúa cũng trao “bài sai” cho những ai tin nhận Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ.

Lúc đó, nhiều người Do Thái từ Giêrusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi xem ông Gioan là ai, nhưng ông nói thẳng: “Tôi không phải là Đấng Kitô”. Họ lại hỏi ông có phải là ông Êlia hay là vị ngôn sứ chăng. Ông vẫn một mực từ chối: “Không”. Họ chưa thỏa mãn nên tiếp tục hỏi, ông Gioan đành nói thật: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ Isaia đã nói” (Ga 1:23). Nhân vật quan trọng Gioan thực sự khiêm nhường khi chỉ nhận mình là “tiếng hô trong hoang địa”.

Sao kỳ vậy nhỉ? Mấy người thuộc phái Pharisêu nghe nói vậy nên nhíu mày và tròn mắt ếch: “Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Kitô, cũng không phải là ông Êlia hay vị ngôn sứ?”. Đúng là bọn người “ma mãnh” mà lại quá chậm tiêu! Ông Gioan trả lời rành rọt: “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1:27). Lại một lần nữa ông Gioan thể hiện đức khiêm nhường khi nói mình “không đáng cởi quai dép” cho Đấng đến sau ông.

Đức khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức, nhưng cũng là nhân đức khó thực hiện, bởi vì “cái tôi” luôn “cản mũi kỳ đà”. Ai cũng muốn được khen, vì đó là bản tính bình thường của phàm nhân. Không ai muốn bị chê, nhất là những người có chức quyền, danh vọng, địa vị, “tai mắt” trong thiên hạ,… Tự ái là yêu mình, yêu mình là điều cần, nhưng đừng yêu mình quá. Đôi khi “chiếc ghế quyền lực” còn được người ta coi trọng hơn danh dự. Thực tế xã hội đã và đang cho chúng ta thấy rõ như vậy. Đó là một “hội chứng” đáng quan ngại, ngày nay người ta thường gọi các dạng đó là “chủ nghĩa” – chủ nghĩa quyền lực, chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa 5V (vội vàng vơ vét về).

Người Việt có cách nói: “Văn mình, vợ người”. Quả thật, văn mình lúc nào cũng hay, và vợ người bao giờ cũng đẹp. Người ta luôn muốn chứng tỏ mình đúng và “bản lĩnh” của mình hơn hẳn người khác. Ai “chạm” vào quyền lợi của mình thì “có chuyện”, dù đó chỉ là “chuyện nhỏ”, không đáng chi cả. Thật vậy, chỉ nhìn thấy “ngứa mắt” mà người ta cũng sẵn sàng “xử” nhau theo “luật rừng”, và họ lý luận là “đánh cho bõ ghét” hoặc “giết cho biết tay”. Quả thật, “cái tôi” và “cục máu tự ái” luôn sẵn sàng dâng cao như sóng thần bất cứ lúc nào. Đúng là không dễ gì sống khiêm nhường đâu!

Có lẽ ít ai lại không nghe nói tới vĩ nhân Mohandas Karamchand Gandhi (2/10/1869 – 30/1/1948). Ông được dân Ấn Độ tôn là thánh nhân và gọi ông là Mahatma (Tâm hồn Vĩ đại). Ông đã từng nhận định: “NẾU các Kitô hữu SỐNG ĐÚNG như Chúa Giêsu, tôi THEO đạo ngay”. Quả thật, một câu nói khiến chúng ta cảm thấy “nhức nhối” và phải suy nghĩ thật nhiều. Thiên Chúa muốn chúng ta phải thực sự là những nhân chứng sống động và khiêm nhường mà chúng ta chưa đạt đến tiêu chuẩn mà Ngài đề ra!

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, con đường Mùa Vọng đã bước sang chặng thứ ba (tuần III), nghĩa là đã được nửa đường. Do đó, hôm nay Giáo hội không sử dụng màu Tím mà sử dụng màu Hồng – gọi là “Chúa Nhật Hồng”, thể hiện niềm vui mừng vì sắp đến ngày Ngôi Hai giáng trần. Trong khi chờ mong, không thể ngồi “chờ sung rụng” mà phải tích cực hành động, nghĩa là chúng ta phải lên đường và vào đời…

Làm nhân chứng là trách nhiệm và bổn phận, nhưng làm nhân chứng mà không khiêm nhường thì vô ích, Chúa không cần loại nhân chứng đó!

Lạy Thiên Chúa, xin cảm tạ Ngài đã dựng nên chúng con để làm sáng danh Ngài, rồi Ngài lại sai chúng con vào đời để làm chứng về Tình Yêu vô biên và Lòng Thương Xót bao la của Ngài, xin ban Thánh Thần để chúng con can đảm và nhiệt tâm làm nhân chứng về Ngài, sẵn sàng dấn thân và hành động với tinh thần khiêm nhường, và luôn biết nhận mình thiếu sót để khả dĩ sửa sai theo đúng Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Đấng Thiên Sai, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU


CHÚA ĐẾN
[Niệm khúc Tv 85:8-12]

Đời là Mùa Vọng kéo dài
Nay chờ, mai đợi, đêm ngày chờ mong
Phàm nhân sớm tối long đong
Bao gian khổ khiến cõi lòng bất an
Tình thương, xin tỏ hiển nhiên
Ban ơn cứu độ và ban an bình
Để cho tín nghĩa, ân tình
Công lý, hòa bình hội ngộ giao duyên
Ai yêu kính Chúa từ nhân
Chúa thương cứu độ, ban nguồn sống vui
Kìa, Ngài sắp đến cứu đời
Mừng vui lên, hãy tươi cười hân hoan!
Tôi ơi, đừng có nhát gan
Đừng lo sợ, mạnh mẽ lên đi nào!
Ngày công lý, Chúa tối cao
Thưởng công, phạt tội, trước sau rạch ròi
Chính Ngài cứu độ loài người
Những ai thành tín, hãy cười vui lên! (*)

TRẦM THIÊN THU
Chiều 11-12-2017

(*) Is 35:4 – Hãy nói với những kẻ nhát gan: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em”.


GỐC ĐỜI

Diệu kỳ một gốc cây già
Hiện thân là gốc đời ta. Lạ lùng!
Thiên nhiên kỳ diệu, khác thường
Gốc đời một cõi, phận chung kiếp người
Sinh ra trẻ đẹp, hồng tươi
Tiến về cõi chết, mặt đời nhăn nheo
Chỉ còn lại nét thương yêu
Vẫn tươi trẻ, chẳng khi nào già nua
Lạy Thiên Sai, Đức Giêsu
Gốc đời xin mãi đẹp Mùa Hồng Ân

VIỄN ĐÔNG

 

Tiếng Vạc kêu sương
(Chúa Nhật III mùa Vọng, năm B)

Loài Vạc (Nycticorax), có người gọi là Hạc, là động vật có cánh, một loài chim thuộc họ Diệc, kiếm ăn ban đêm và có tiếng kêu buồn thảm. Tiếng Vạc kêu sương (*) nghe buồn thảm vì là tiếng lòng của kẻ lẻ bạn, đơn độc, một mình bay đi kiếm ăn ban đêm nhưng lòng vẫn thương nhớ khôn nguôi về người bạn tình phương xa. Não nề lắm! Tiếng Vạc kêu trong đêm vắng, kêu trong làn sương lạnh lùng, sao lại không buồn?

Cố NS Trịnh Công Sơn đã ví mình “Như Cánh Vạc Bay” với niềm trăn trở: “Nơi em về ngày vui không em, nơi em về trời xanh không em? Ta nghe từng giọt lệ, rớt xuống thành hồ nước long lanh”. Mình buồn thì buồn nhưng vẫn mong cho người hưởng trọn niềm vui. Cao thượng lắm!

Tương tự, ngày xưa Thánh Gioan Tẩy Giả cũng đã ví mình là “Tiếng Kêu Trong Sa Mạc”. Cũng buồn. Cũng lạc loài. Nhưng nỗi buồn của Ngôn sứ này không ảo não như “tiếng kêu” của đời thường. Vâng, có lẽ vì vậy mà Chúa Nhật III Mùa Vọng có màu Tím nhưng mang sắc Hồng, bâng khuâng mong chờ nhưng vẫn hân hoan hy vọng – gọi là Chúa Nhật Vui (Gaudete Sundae), còn Mùa Chay có Chúa Nhật IV là Chúa Nhật Mừng (Laetare Sundae).

Thiết tưởng cũng nên biết rằng Vòng Nến Mùa Vọng (Adventkranz) bắt đầu xuất hiện cách nay khoảng 150 năm, do sáng kiến của mục sư Tin Lành Johann Heinrich Wichern ở Hamburg (Đức).

Bốn ngọn nến tượng trưng cho [1] Hòa Bình, [2] Niềm Tin, [3] Tình Yêu, và [4] Hy Vọng. Thế giới hiếm khi không có chiến tranh, giữa người với người cũng vẫn thiếu sự hòa thuận, dù là những người trong cùng một gia đình. Ngọn nến Hòa Bình cứ mờ dần, chỉ còn leo lét, rồi… tắt. Cũng vậy, thế giới ngày nay đang mất dần niềm tin, coi niềm tin tôn giáo là xa xỉ phẩm, thậm chí còn bị phỉ báng hoặc bị bách hại. Ngọn nến Niềm Tin cứ tắt dần, tỏa ra làn khói trắng luyến tiếc. Tương tự, người ta cũng không cần ngọn nến Tình Yêu nên không muốn thắp sáng ngọn nến này nữa. Những người thân ruột thịt với nhau mà còn thổi tắt ngọn nến này thì nó làm sao tỏa sáng? Ba ngọn nến kia tắt hết, chỉ còn ngọn nến Hy Vọng vẫn sáng, dù ánh sáng yếu ớt, le lói…!

Ít ra cũng còn ngọn nến Hy Vọng. Cuộc sống này luôn cần ngọn nến này, dù các ngọn nến Hòa Bình, Niềm Tin và Tình Yêu đã tắt. Tại sao? Ngọn nến cần thiết vì chính ngọn nến Hy Vọng (đức Cậy) sẽ đủ sức thắp sáng ba ngọn nến kia. Vâng đó cũng là triết lý sống của Mùa Vọng, mùa đợi trông Đấng Cứu Thế. Hãy cố gắng ghi nhớ và thực hành theo lời khuyên của Thánh LM Don Bosco: “Càng khốn khó thì càng phải tin cậy vào Thiên Chúa”.

Ai biết tin cậy vào Ngài là biết hạ mình, tự nhận mình bé nhỏ, chắc chắn Ngài sẽ xót thương và cứu vớt. Ngôn sứ Isaia nói: “Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta” (Is 61:1-2). Công lý rất cần được tôn trọng, vì có công lý thì mới có hòa bình đích thực. Và rồi thế cờ hoàn toàn đảo ngược.

Niềm vui nối tiếp nỗi mừng, tăng vọt bất ngờ khi có Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia cho biết: “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa, nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao! Vì Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công minh, như chú rể chỉnh tề khăn áo, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang. Như đất đai làm đâm chồi nẩy lộc, như vườn tược cho nở hạt sinh mầm, Đức Chúa là Chúa Thượng cũng sẽ làm trổ hoa công chính, làm trổi vang lời ca ngợi trước mặt muôn dân” (Is 61:10-11). Không trang phục nào quý giá bằng chiếc áo Hồng-Ân-Cứu-Độ và áo choàng Chính-Trực-Công-Minh.

Đức Maria là một thôn nữ đơn nghèo, là một nữ tỳ khiêm hạ, nhưng lại trở nên một con người vĩ đại nhất. sau khi Bà Chị Êlidabét chúc mừng Cô Em Maria được làm Mẹ Thiên Chúa, Thôn Nữ Maria đã không thể trì hoãn cái sự sung sướng hạnh phúc thánh đức đó, nên đã đã thốt lên bài Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1:46-50).

Thiên Chúa chí minh luôn bảo vệ công lý, và Ngài cũng luôn có cách hành động khác hẳn so với phàm nhân: “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1:53). Tuyệt vời quá, từ bi quá!

Cuộc đời chúng ta là Mùa Vọng kéo dài, không ai biết mình đang ở “tuần” thứ mấy của Mùa-Vọng-Cuộc-Đời, nhưng có lúc chúng ta cảm thấy vui mừng như tâm tình của Chúa Nhật hôm nay, vui mừng vì chúng ta sắp về đích. Thánh Phaolô khuyên: “Anh em hãy vui mừng luôn mãicầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu. Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ, còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì lánh cho xa” (1 Tx 5:16-22).

Được vậy thì sẽ được Thiên Chúa chúc lành như ước mong của Thánh Phaolô: “Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hoá toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em, được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách, trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm. Đấng kêu gọi anh em là Đấng trung thành: Người sẽ thực hiện điều đó” (1 Tx 5:23-24). Ước gì chúng ta xứng đáng lãnh nhận ơn phúc như vậy!

Mùa Vọng là mùa mong đợi, bao hàm ý nghĩa “đến” của Chúa Giêsu – Adventus. Trước khi Chúa Giêsu đến, có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến làm chứng về ánh sáng để mọi người nhờ ông mà tin. Tin Mừng hôm nay nói tới “Lời Chứng” của ông Gioan (Ga 1:6-8,19-28; tương đương ở Mt 3:1-12; Mc 1:1-8; Lc 3:1-18).

Khi người Do-thái từ Giêrusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi xem ông là ai. Ông tuyên bố thẳng thắn và nói ngay: “Tôi không phải là Đấng Kitô”. Nhưng họ không tin, và họ lại hỏi ông như thế là thế nào, có phải Gioan là Êlia không. Ngớ ngẩn hết sức. Gioan mà sao lại là Êlia? Ông Gioan một mức xác nhận là “không phải”. Họ lại hỏi ông có phải là vị ngôn sứ hay không. Ông dứt khoát là “không”. Họ cứ lải nhải hỏi mãi, dai nhách như đỉa đói, vì họ có nhiệm vụ đi dò la tin tức để về báo cáo với cấp trên. Động thái của những người có ác ý đó nhắc nhở chúng ta về động thái cố chấp, thấy nhãn tiền mà vẫn không muốn tin. Hãy coi chừng: Không tin thì nhẹ tội hơn không muốn tin!

Họ nài ép ông Gioan nói về chính mình, ông không hề ấp úng: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ Isaia đã nói”. Hôm đó, trong số họ có mấy người thuộc phái Pharisêu, những kẻ chuyên “thọc gậy bánh xe”. Họ đặt vấn đề với ông Gioan rằng nếu ông không phải là Đấng Kitô, không phải là ông Êlia hay vị ngôn sứ thì sao lại làm phép rửa. Ông Gioan lắc đầu vì chán cái đầu bã đậu của tụi này, rồi ông cười: “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. Một ngôn sứ lớn, “nhịp cầu” nối Cựu Ước và Tân Ước, nhưng lại khiêm nhường quá. Điều này gợi nhớ câu nói khác của Thánh “trưởng lão” Gioan: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3:30). Câu này chỉ có Tin Mừng theo Thánh Gioan ghi lại, còn các Phúc Âm nhất lãm không ghi. Câu này quen “thu gọn” cho dễ nhớ: “Người phải lớn lên, tôi phải nhỏ lại”.

Kinh Thánh cho biết địa điểm đã xảy ra vụ này ở tại Bêtania, bên kia sông Giođan, chính nơi ông Gioan đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu. Thảo nào bè lũ Pharisêu và Sađốc quỷ quyệt thật, muốn “gài bẫy” người khác ngay nơi xảy ra sự việc. Chúng ta cũng có những lần đã từng ma mãnh như vậy vì muốn “hạ gục” người khác đấy. Tuy nhiên, mọi chứng cớ gian xảo đều không thể nào “bóp méo” sự thật!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết “thu nhỏ” trước người khác, chấp nhận là cánh vạc kêu sương vì Danh Đức Giêsu Kitô, vì sự thiện, vì công lý, vì sự thật, vì lợi ích của tha nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Điển  tích: Thôi Hộ là danh sĩ đời Trung Ðường, diện mạo khôi ngô, thích làm bạn với sách vở. Trên đường lên kinh ứng thí giữa tiết Thanh Minh, mọi người đang vui hội Ðạp Thanh (giẫm lên bãi cỏ xanh). Khi đi ngang qua vườn hoa đào tuyệt đẹp, chàng dừng lại ngắm và xin nước uống, một mỹ nhân duyên dáng ra mở cửa. Nàng mời trà, chàng đón nhận. Ðôi tay vô tình chạm nhau, nàng thẹn thùng cúi mặt, má ửng hồng, chàng cũng bồi hồi, ngượng nghịu. Gặp nhau không lâu nhưng cả hai thấy tâm đầu ý hợp, quyến luyến nhau. Thôi Hộ phải đi vì công danh sự nghiệp, Phụng Trinh đứng dưới gốc đào ngơ ngẩn nhìn theo...

Năm sau, vào ngày hội du xuân, chàng nho sinh nhớ người con gái đã khiến chàng dệt bao mộng đẹp. Chàng tìm đến vườn đào để thăm. Bước vội vã hân hoan của chàng khựng lại khi thấy cửa đóng then cài, cảnh cũ còn mà người xưa vắng bóng. Chàng buồn bã nhìn hoa đào nở tươi trong gió xuân mà bùi ngùi niềm cô quạnh. Chàng thờ thẫn đau lòng khi nghĩ nàng đã theo chồng. Quá thất vọng, chàng thảo bốn câu thơ trên cửa cổng, ghi lại tâm tư sầu nhớ ngậm ngùi của mình.

Chiều đến, nàng cùng cha trở về, chợt nhìn lên cổng thấy bốn câu thơ, nét chữ tinh xảo, ý thơ dồi dào, nàng xúc động khi biết rõ tình cảm nhớ mong của chàng ẩn chứa trong đó. Nàng buồn bã hối tiếc không về kịp để gặp lại chàng. Ngày qua ngày nàng tựa gốc đào tha thiết mong đợi và hy vọng nho sĩ phong nhã năm xưa trở lại. Thời gian cứ trôi, cánh chim bạt gió cất tiếng kêu thảm thiết não nùng vì lẻ bạn khiến lòng nàng tê tái. Cứ hết hè lại thu sang, đông qua rồi xuân về, nỗi nhớ nhung nung nấu khiến lệ trào khóe mắt, bóng chàng vẫn biền biệt. Nàng tuyệt vọng, bỏ ăn, bỏ ngủ, thân xác tiều tụy, dung nhan võ vàng.

Người cha lo tìm thầy giỏi chữa trị cho nàng. Làm gì có thuốc trị bệnh tương tư! Biết mình kiệt sức không sống được, nàng đành thuật lại tâm sự của mình cho cha nghe và xin cha tha tội bất hiếu. Người cha xúc động thương cho phận bạc của con gái. Nhìn con nằm lịm trên giường bệnh chờ đợi tử thần, ông nóng lòng đứng ngồi không yên. Ông nghĩ đến chàng thư sinh, chỉ có người ấy mới có thể cứu sống con gái. Vừa ra khỏi cổng, ông găp ngay một chàng thư sinh tuấn tú. Thấy ông già đi như chạy, chàng vội thăm hỏi. Ông kể lể sự tình...

Nhận ra nhau, hai người vội chạy vào nhà, nhưng cũng là lúc Phụng Trinh trút hơi thở cuối cùng. Chàng xúc động quỳ xuống, cầm tay nàng, úp mặt vào mặt nàng vừa khóc nức nở vừa kêu tên nàng thảm thiết. Tiếng kêu bi thương như lay hồn nàng thức tỉnh, và những giọt nước mắt nóng hổi của tình yêu nhỏ xuống mặt nàng khiến nàng hồi sinh. Nàng mở mắt nhìn chàng và nở một nụ cười sung sướng. Ðào Bạch Phụng bằng lòng cho Phụng Trinh và Thôi Hộ nên duyên cầm sắt.


Khiêm nhu làm chứng
(CN III Vọng/B – Ga 1:6-8,19-28)

Có một người được Thiên Chúa sai đến
Con người ấy tên gọi là Gioan
Ông đến để làm chứng về ánh sáng
Để mọi người nhờ ông mà vững tin
Ông Gioan không phải là ánh sáng
Nhưng ông đến làm chứng ánh sáng này
Người Do Thái từ Gia-liêm (*) mà đến
Cử một số tư tế và Lêvi
Đến hỏi ông: “Ông chính là ai vậy?”
Ông nói ngay: “Tôi không là Kitô”
Họ lại hỏi: “Có phải Êlia?”
Ông lắc đầu: “Tôi cũng không phải thế”
– “Ông có phải là một vị ngôn sứ?”
Ông Gioan thản nhiên: “Cũng không hề”
Họ liền nói: “Là ai, cứ nói ra
Để chúng tôi trả lời cấp trên nữa”
– “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa:
Hãy sửa đường cho thẳng để Chúa đi
Như ngôn sứ Isaia đã nói xưa”
Mấy người Pharisêu trong nhóm đó
Được cử đi, họ cũng chất vấn ông:
“Vậy tại sao ông lại làm phép rửa
Nếu ông không phải là Đấng Kitô
Không là Êlia hoặc ngôn sứ?”
“Tôi chỉ rửa trong nước”, ông nói rõ
“Nhưng có vị đang ở giữa các ông
Mà các ông không hay biết chi cả
Đến sau tôi nhưng Người rất lạ lùng
Tôi không đáng cởi quai dép Người đó”
Các việc đó đã xảy ra tỏ tường
Tại Bêtania, Giođan sông
Là nơi ông Gioan làm phép rửa!

Lạy Thiên Chúa, Đấng muôn trùng cao cả
Chỉ có Ngài là Thượng Đế con thờ
Xin giúp con biết sống đức khiêm nhu
Như Gioan, vị tiền hô của Chúa
Xin giúp con sống đơn sơ, giản dị
Nhưng can đảm làm nhân chứng cho Ngài
Và dạy con quyết làm đúng, tránh sai
Dù có thể con bị người ta ghét

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU
(*) Giêrusalem

TIẾNG VỌNG
(CN III mùa Vọng, năm B
– 
Ga 1:6-8,19-28; Mt 3:1-12; Mc 1:1-8; Lc 3:1-18)

Tôi đây nhỏ bé, mọn hèn
Tiếng kêu vang vọng giữa miền hoang vu
Vạc kêu sương giữa đêm khuya
Rạc người, khô cổ, bao giờ người hay?
Mọi người còn ngủ mê say
Chẳng ai thấu nỗi sầu đầy, Vạc ơi!
Mau mau tỉnh thức, hỡi người!
Ăn năn sám hối, Chúa Trời xót thương
Tiếng tôi vang vọng đêm trường
Gọi người mau mắn sửa đường Chúa đi
Giờ Ngài đến chẳng còn xa
Giêsu Con Chúa đến kìa, người ơi!
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm (*)

TRẦM THIÊN THU
(*) Lc 2:14.

 

Nhân Chứng Sống
(CN III mùa Vọng, năm B)

Chặng đường mùa Vọng bước sang tuần III, nghĩa là được nửa đường. Thế nên hôm nay Giáo hội không sử dụng màu Tím mà sử dụng Hồng, thể hiện niềm vui mừng vì sắp đến ngày Ngôi Hai giáng trần. Khi chờ mong, không thể ngời “chờ sung rụng” mà phải hành động, nghĩa là chúng ta phải “lên đường”…

ĐƯỢC SAI ĐI…

Mỗi Kitô hữu đều được Thiên Chúa sai đi vào giữa cuộc đời để làm nhân-chứng-sống cho Ngài, điều đó thể hiện qua ngôn sứ Isaia khi ông nói thay mọi người: “Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta; Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than” (Is 61:1-2).

Đó là trọng trách của mọi người tin tưởng và mong đợi Ngài. Nhưng vấn đề là Chúa không sai ai đến với người giàu sang, người quyền cao chức trọng, người ăn trên ngồi trước,… mà Ngài sai chúng ta đến với kẻ nghèo hèn, người đau khổ, tù nhân, người bị bỏ rơi, kẻ bị khinh miệt, kẻ cùng đinh,… Nhưng thực tế xã hội thường đi ngược lại, nghe “lời sai đi” kia cho xong lần, qua tai rồi thôi, sau đó có thể lại tự hành động theo ý mình. Có lẽ vậy mà người nghèo khổ và kẻ thấp cổ bé miệng vẫn không thể ngóc đầu lên được, nhân vị của họ vẫn bị chà đạp, nhân phẩm của họ vẫn bị bôi nhọ, và nhân quyền của họ vẫn bị tước đoạt! Chính ĐGH Leo XIII đã xác định trong tông thư Tân Sự (Rerum Novarum, 15-5-1891): “Sự nghèo khổ không là điều hổ thẹn” (a. 37).

Có ra đi, vào đời và hành động theo hướng dẫn của Thiên Chúa thì chúng ta mới có thể “như đất đai làm đâm chồi nẩy lộc, như vườn tược cho nở hạt sinh mầm, Đức Chúa là Chúa Thượng cũng sẽ làm trổ hoa công chính, làm trổi vang lời ca ngợi trước mặt muôn dân” (Is 61:11).

Nhân chứng sống động và khiêm nhu được tỏ rõ nơi Đức Mẹ. Lời Kinh Magnificat (Lc 1:46-50, 53-54) của Đức Maria chứa đầy nét hân hoan: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi”. Tuy là người cao trọng và có cuộc sống tuyệt vời, nhưng Đức Mẹ vẫn tự nhận mình là “phận nữ tỳ hèn mọn”. Thiên Chúa Toàn Năng không chỉ làm cho Đức Mẹ biết bao điều cao cả, mà hàng ngày chúng ta cũng vẫn nhận “miễn phí” từ Thiên Chúa với bao điều kỳ diệu của cuộc sống! Đơn giản nhất mà cũng quan yếu nhất là không khí, nếu không có không khí trong vài giây thì không gì sống nổi. Một hồng ân kỳ diệu hiển nhiên vẫn xảy ra từng giây phút hàng ngày.

Đó là nhờ Lòng Chúa Thương Xót, vì “Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1:50). Thiên Chúa là Đấng Thánh cao cả nhưng Ngài lại yêu chuộng sự công bình và đức khiêm nhu: “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (Lc 1:53-54).

Dù hành động nhưng vẫn không được xao lãng cầu nguyện. Thánh Phaolô căn dặn: “Anh chị em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng” (1 Tx 5:16-17). Không chỉ tạ ơn khi thuận ý mình mà “hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh” (1 Tx 5:18), vì “đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu”. Thánh Phaolô căn dặn thêm: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ, còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì lánh cho xa” (1 Tx 5:21-22). Tỉnh thức, vừa hành động vừa cầu nguyện để “thần trí, tâm hồn và thân xác được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm” (1 Tx 5:23).
Kinh nghiệm đầy mình nên thánh Phaolô đoan chắc với chúng ta như đinh đóng cột: “Đấng kêu gọi anh chị em là Đấng trung thành: Người sẽ thực hiện điều đó” (1 Tx 5:24). Thế thì trên cả tuyệt vời! Vì chính Chúa Giêsu đã cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17:24). Nhưng cũng cần điều kiện, điều kiện đó không vì lợi ích cho Chúa mà vì lợi ích cho chính chúng ta. Đó là…

…LÀM NHÂN CHỨNG

Trước khi sai Con Một Giêsu đến thế gian, Thiên Chúa đã sai ông Gioan đến chuẩn bị trước. Ông được gọi là tiền hô, ông không là ánh sáng nhưng ông đến để “làm chứng về ánh sáng để mọi người nhờ ông mà tin” (Ga 1:7).
Nhiều người Do Thái từ Giêrusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi ông Gioan: “Ông là ai?” Ông tuyên bố thẳng thắn: “Tôi không phải là Đấng Kitô”. Họ lại hỏi ông: “Vậy ông có phải là ông Êlia hay là vị ngôn sứ chăng?”. Thánh Gioan vẫn nói “không”. Họ hỏi dai như đỉa đói nên thánh Gioan đành nói thật: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ Isaia đã nói” (Ga 1:23). Thánh Gioan thật khiêm nhu khi tự nhận là “tiếng hô trong hoang địa”.

Nghe vậy, mấy người thuộc phái Pharisêu nhíu mày và tròn mắt ếch: “Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Kitô, cũng không phải là ông Êlia hay vị ngôn sứ?”. Đúng là bọn người “ma mãnh” mà lại quá chậm tiêu! Ông Gioan trả lời rành rọt: “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1:27). Thánh Gioan lại một lần nữa khiêm nhu khi nói mình “không đáng cởi quai dép” cho Đấng đến sau ông.
Khiêm nhu là nền tảng mọi nhân đức, nhưng cũng là nhân đức khó thực hiện. Ai cũng muốn được khen. Đó là bản tính bình thường của nhân loại. Không ai muốn bị chê, nhất là những người có chức quyền, danh vọng, địa vị, “tai mắt” trong thiên hạ,… Tự ái là yêu mình, yêu mình là điều cần, nhưng đừng yêu mình quá. Đôi khi “chiếc ghế quyền lực” còn được người ta coi trọng hơn danh dự. Thực tế xã hội đã và đang cho chúng ta thấy rõ như vậy. Đó là một “hội chứng” đáng quan ngại, ngày nay người ta thường gọi là chủ nghĩa: Chủ nghĩa quyền lực và chủ nghĩa hưởng thụ.

Người Việt thường nói: “Văn mình, vợ người”. Quả thật, văn mình lúc nào cũng hay, và vợ người bao giờ cũng đẹp. Người ta luôn muốn chứng tỏ mình đúng và “bản lĩnh” của mình hơn hẳn người khác. Ai “chạm” vào quyền lợi của mình thì “có chuyện”, dù chỉ là chuyện không đáng gì. Thật vậy, chỉ nhìn thấy “ngứa mắt” mà người ta cũng sẵn sàng “xử” nhau theo “luật rừng”: Đánh cho bõ ghét hoặc giết cho biết tay. “Cái tôi” và “máu tự ái” luôn sẵn sàng dâng cao như sóng thần. Sống khiêm nhu khó thật!

Vĩ nhân Mohandas Karamchand Gandhi (2/10/1869 – 30/1/1948) được dân Ấn Độ tôn là thánh nhân và gọi ông là Mahatma (Tâm hồn Vĩ đại). Ông nói: “Nếu người Kitô giáo sống đúng như Chúa Giêsu, tôi theo đạo ngay”. Một câu nói khiến chúng ta phải suy nghĩ nhiều, vì Chúa muốn chúng ta phải là những nhân chứng sống thực sự.

Lạy Chúa, Ngài đã tác tạo nên chúng con, sai chúng con vào đời để làm chứng về Tình yêu bao la của Ngài, xin ban Thánh Thần để chúng con can đảm và nhiệt tâm lo việc Chúa, sẵn sàng dấn thân và hành động với tinh thần khiêm nhu, luôn biết nhận mình thiếu sót để khả dĩ sửa sai theo đúng Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Đấng Thiên Sai. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

DongCongNet - December 11, 2017

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)