dongcong.net
 
 


Mùa vọng 4-B : Trầm Thiên Thu


Chân dung Gioan Tiền hô

Gioan cất tiếng hô vang:
Bạt đồi, xẻ núi, lấp sông, uốn đường
Để Ngôi Hai, Chúa thiên cung
Giáng trần cứu độ, yêu thương nhân loài

Thánh Gioan Tiền hô luôn gắn liền với Mùa Vọng như một “định mệnh”. Ông là người “mở đường” cho Chúa đến, là nhân vật quan trọng trong công cuộc Cứu độ của Thiên Chúa, nhưng ông lại rất khiêm nhường, không nhận mình là ngôn sứ hoặc là gì khác, chỉ tự nhận mình là “tiếng người hô trong hoang địa” (Ga 1:23) và “không đáng cởi quai dép cho Chúa Giêsu” (Ga 1:27).

Thánh Gioan Tiền hô là một thanh niên trẻ nhưng nhìn rất “bụi” trong trang phục áo da thú, hẳn là nhìn ông rất khắc khổ vì ông ăn chay trường: Hàng ngày chỉ ăn châu chấu và mật ong rừng. Có thể coi Thánh Gioan Tiền hô là Mặt Trăng, còn Chúa Giêsu là Mặt Trời, nhưng không hề “đối kháng” theo ý câu “như mặt trời và mặt trăng” khi chúng ta nói về 2 người đối lập. Mặt trăng sáng nhờ mặt trời, “mặt trăng” Gioan Tiền hô sáng nhờ “mặt trời công chính” Giêsu. Chúng ta là những ngôi sao bé nhỏ trong vòm trời yêu thương nên chắc chắn cũng chỉ sáng nhờ Mặt Trời Giêsu.

Thánh Gioan Tiền hô có “nét” độc đáo và khác người, ước muốn của ông cũng chẳng giống ai: Ông muốn Chúa phải LỚN lên, còn ông phải NHỎ lại. Đó là “chất riêng” của ông, không lẫn với ai. Ông quá khiêm nhường. Có lẽ đây là điều rất khó đối với chúng ta, vì chúng ta thường muốn mình nổi trội hơn người khác, ngay cả khi chúng ta làm những việc mà chúng ta gọi là “làm việc tông đồ”, làm việc bác ái hoặc làm từ thiện. Dù không nói ra, nhưng động thái của chúng ta chứng tỏ chúng ta “ngụ ý rằng “trước khi sáng Danh Chúa thì phải sáng danh con”.

Có lần LM Vinh sơn Ngô Minh Tân (Gx Bình Lợi, hạt Gia Định) nói trong một thánh lễ chiều (mùa Vọng, 2011): “Chúng tôi vẫn được dạy rằng linh mục luôn phải coi chừng vì có thể chính mình che choán hết Thiên Chúa!”. Con người dễ ảo tưởng và kiêu sa lắm, dễ suy luận chủ quan theo ý mình, vì thế mà lúc nào cũng phải “tỉnh thức” và phải dám “luôn luôn lắng nghe” để có thể “luôn luôn thấu hiểu”. Cương vị nào cũng khả dĩ có cách kiêu ngạo đặc thù. Mặc dù “con người chỉ là cây sậy có lý trí” nhưng “cái TÔI đáng ghét” kia vẫn sẵn sàng trỗi dậy bất kỳ lúc nào!

Người ta nói: “A-xít làm cháy tiền, tiền làm cháy tim phụ nữ, phụ nữ làm cháy tim đàn ông”. Một cách nói “độc đáo” thật. Còn Thánh Phaolô nói: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10). Tiền bạc có hệ lụy với quyền lợi, quyền lợi có hệ lụy với con người, vì thế mà tiền bạc có ma lực khiến người ta mê muội và kiêu ngạo. Có lẽ vì vậy mà người Pháp có câu: “Tiền bạc là đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu” (L’argent est un servant bon, mais un maitre mal).

Thánh Gioan Tiền hô là người có cuộc sống thoát ly tiền bạc, vật chất. Tài sản của ông chỉ có bộ áo da thú khoác trên mình. Ông sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian, không lệ thuộc vật chất. Thánh Phaolô tâm sự: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2:20).

Con người có nhiều thứ giằng co trong mình, đôi khi cảm thấy mình như bất lực với chính mình. Chua biết rõ mười mươi, vì thế Ngài đã động viên: “Đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa” (Ga 14:1), và Ngài còn hứa rõ ràng và quyết liệt: “Thầy ở cùng anh chị em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).

Lạy Đấng Thiên Sai, xin cho chúng con can đảm noi gương sống của Thánh Gioan Tiền hô. Xin Ngôi Hai mau đến cứu chúng con thoát khỏi ngục-tù-tội-lỗi. Chúng con cầu xin nhân Danh Đức Kitô. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Mùa Vọng – 2011

 

Chuyện cái lưỡi
(CN IV mùa Vọng, năm B)

Mùa Vọng đã bước vào giai đoạn cuối. Như vậy, nỗi mong chờ của chúng ta sắp được mãn nguyện, nhưng không vì thế mà lơ là bổn phận. Trong những ngày cuối của mùa Vọng, Giáo hội nhắc nhở chúng ta về “cái lưỡi”.

Chuyện kể rằng chủ nhân sai gia nhân ra chợ mua thứ gì ngon nhất, gia nhân đi và mua về “cái lưỡi”. Hôm sau ông lại sai gia nhân ra chợ mua món gì dở nhất, gia nhân đi và lại mua về “cái lưỡi”. Chủ nhân “mắt chữ O và miệng chữ A”, gia nhân điềm nhiên giải thích: “Tốt hay xấu cũng do cái lưỡi mà ra”. Quả thật, lưỡi không xương nhiều điều lắt léo!
Người ta nói được nhờ cái lưỡi, có người dùng cái lưỡi để nói những “lời hay, ý đẹp”, khuyến khích, khuyên bảo, cầu nguyện, hòa giải,… Nhưng có người lại dùng cái lưỡi để chỉ trích, gây chia rẽ, phỉ báng, nguyền rủa, trách móc, chê bôi, chửi rủa,… Tốt hay xấu cũng từ cái lưỡi, và chính cái lưỡi tạo nên nhiều rắc rối, do đó mà ca dao Việt Nam có câu nhắc nhở:

Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Sách Huấn ca khuyên: “Hãy nghe dạy bảo về lời ăn tiếng nói, vì ai tuân giữ, không bị bắt lỗi bao giờ. Chính do môi miệng mà tội nhân bị bắt bẻ, cũng do đó, đứa lăng mạ và kẻ tự cao phải vấp phạm” (Hc 23:7-8), và dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin đẩy dục vọng xa khỏi con, xin chớ để thói ăn chơi trụy lạc thống trị con, đừng để con đắm chìm trong những dục vọng trơ trẽn” (Hc 23:5-6).

Người khôn dùng cái lưỡi theo cách khác, người dại dùng cái lưỡi theo cách khác. Người khôn ít nói, vì:

Chim khôn chưa bắt đã bay
Người khôn chưa nói đã cay lòng rồi

Dư luận có thể tốt, cũng có thể xấu, thường thì xấu nhiều hơn, người ta thường “đổ dầu vào lửa”, cho nên đôi khi phải can đảm “đạp dư luận” mà sống. Cứ nghe và xét mình, đừng vội tin và đừng hoảng sợ. Miệng lưỡi thế gian mà:

Chỉ đâu mà buộc ngang trời
Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

Đáp ca tuần IV mùa Vọng là Tv 88: “Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời”. Ca ngợi thì phải dùng miệng, nghĩa là cũng liên quan “cái lưỡi”. Chúng ta không chỉ dùng miệng lưỡi để ăn uống, giúp duy trì sự sống, và để đối thoại với nhau hàng ngày, chúng ta còn phải dùng miệng lưỡi để xưng tụng Thiên Chúa: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài” (Tv 88, 2). Vâng, “tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời” (Tv 88, 3). Giao ước đó đã được thề hứa với thánh vương Đavít, và sẽ bền vững đến ngàn đời, qua muôn thế hệ” (x. Tv 88, 4-5).

Chúng ta còn phải dùng cái lưỡi để nói về Chúa, rao truyền Ơn Cứu Độ, quảng bá Lời Chúa, làm vinh danh Thiên Chúa (x. Rm 16:25-27). Trách nhiệm của chúng ta là phải khôn khéo dùng miệng lưỡi. Có những điều không nên nói hoặc không được nói, nhưng có những điều phải nói, không nói không được, không nói là có lỗi.

Về cách dùng miệng lưỡi, chúng ta hãy học tập Đức Maria: “Xin vâng”. Trình thuật Lc 1:26-38 kể rằng khi sứ thần Gáprien tuân lệnh Thiên Chúa đến truyền tin: “Mừng vui lên, hỡi người đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Chị”. Nghe vậy, thôn nữ Maria đã bối rối và chẳng hiểu “ất giáp” gì ráo trọi. Sứ thần trấn an: “Thưa Chị Maria, xin đừng sợ, vì Chị đẹp lòng Thiên Chúa. Chị sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu”. Đức Maria càng rối hơn, vừa hoảng hốt vừa e thẹn nói: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”. Nghe sứ thần giải thích đó là quyền năng Chúa Thánh Thần và chứng minh người chị họ Êlisabét, bị mang tiếng là hiếm hoi, già rồi mà cũng đang cưu mang một nam nhi được sáu tháng. Đặc biệt sứ thần nói rằng đối với Thiên Chúa thì không có gì là không thể làm được. Thế là thôn nữ Maria an tâm, phấn khởi và tin tưởng nói ngay: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.

Đức Mẹ là thôn nữ nhưng kiều diễm, nét đẹp dịu dàng ấy hẳn khiến bao chàng trai “lé mắt”. Dù là mỹ nhân nhưng thùy mị, đoan trang, sống giản dị, luôn khiêm nhường, đặc biệt là tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Nhờ lời “xin vâng” của Đức Mẹ, nhẹ nhàng mà quyết liệt, chúng ta mới có niềm hy vọng nhận lãnh Ơn Cứu Độ được Thiên Chúa trao ban. Đức Mẹ đã sử dụng cái lưỡi thật khôn khéo! Xin cảm ơn Đức Mẹ.
Có những người trở thành vĩ nhân nhờ cái lưỡi, họ đã khôn ngoan dùng cái lưỡi để nói vì nền hòa bình thế giới. Đó là một Mohandas Gandhi (Ấn giáo), một Martin Luther King (Tin Lành), một Chân phước Mẹ Têrêsa Calcutta (Công giáo) và một Đức Đạt Lai Lạt Ma (Karmapa Lama, Phật giáo).

Xin mượn lời của Homer W. Grimes để tâm sự với Chúa: “Làm sao con có thể cho Ngài ít hơn những gì con có khi Ngài đã cho con tất cả? Con có thể dâng tặng cho Ngài những gì, thưa Thầy, Đấng đã ban tất cả cho con, Đấng đã từ bỏ ngai vàng trên trời để chịu chết trên đồi Canvê? Con có thể dâng tặng cho Ngài những gì, thưa Thầy, Đấng đã ban tất cả cho con, không chỉ một phần hay một nửa trái tim con? Con sẽ dâng tặng Ngài tất cả!.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện, xin dạy chúng con biết cẩn thận từng lời nói, biết sử dụng cái lưỡi cho đúng Tôn Ý Ngài. Chúng con luôn ngưỡng vọng Ngôi Hai giáng trần, chúng con khao khát Ơn Cứu Độ, xin tuôn tràn Mưa Giêsu gội mát mảnh đất tâm hồn khô cằn của chúng con. Xin giúp chúng con can đảm bạt đồi, xẻ núi, lấp sông, để tạo nên con đường thẳng tắp và phẳng phiu cho Vương Nhi Giêsu đến với chúng con. Xin ân thương tha thứ mọi tội lỗi, xin tha thứ cả những lúc chúng con không tích cực làm điều tốt. Chúng con cầu xin nhân Danh Vương Nhi Giêsu, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

CN 4 Mùa Vọng B
(Hc 23:5-8)

Xin đẩy dục vọng xa khỏi con,
6 xin chớ để thói ăn chơi truỵ lạc thống trị con, đừng để con đắm chìm trong những dục vọng trơ trẽn. Thề thốt
7 Hỡi các con, hãy nghe dạy bảo về lời ăn tiếng nói, vì ai tuân giữ, không bị bắt lỗi bao giờ.
8 Chính do môi miệng mà tội nhân bị bắt bẻ, cũng do đó, đứa lăng mạ và kẻ tự cao phải vấp phạm
(Tv 72:1,12-13,18-19)

Người giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, 13 chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ. 18 Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en, chỉ có Ngài làm nên những công trình kỳ diệu. 19 Muôn muôn đời xin chúc tụng danh Chúa hiển vinh, ước gì vinh quang Chúa chiếu toả khắp hoàn cầu!
(Mt 1:18-24)

Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.19 Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. 22 Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. 24 Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.

Ông lão cô độc 

Buổi sáng, tôi thường “ngồi đồng” ở quán cà phê Trung Nguyên trên đường Nơ Trang Long (P. 13, Q. Bình thạnh, TPHCM). Tôi chú ý một ông lão hay đi ra đi vào ngang qua chỗ tôi ngồi. Ông trạc tuổi 70, thân hình gầy ốm, ít nói, ít cười, nhiều lần tôi thấy ông ăn cơm ngoài quán. Nhìn ông có gì đó thật đáng thương! Trước đây, tôi thường thấy ông cặm cụi sửa xe đạp cho khách vãng lai ở một góc phố trên đường Nơ Trang Long, gần quán cà phê Trung Nguyên.

Lâu rồi không thấy ông sửa xe ở góc đường đó nữa. Ông đi lại khó khăn trên đôi nạng do chân ông bị sưng, khó đi lại. Người ta nói ông bị té xe đạp, bị thương ở hông, tuổi cao sức yếu nên khó lành. Ông thường ngồi một mình ở một bàn gần cổng, cúi đầu, lặng lẽ với dáng vẻ cô độc. Tôi không dám trực tiếp hỏi ông!

Ông không vợ, không con, không người thân. Người ta thương tình cho ông trú ngụ tại quán cà phê. Ông sống âm thầm với số phận, chịu đựng cảnh nghèo, chịu đựng tuổi già cô độc, hiu quạnh, không ai nương tựa,… Chạnh thương ông mà tôi không thể giúp gì cho ông!

Tôi chợt nhớ nỗi niềm của cố NS Trịnh Công Sơn: “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi? Ôi, cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp trong tôi?”. Cát bụi cũng có lúc cảm thấy thực sự mệt mỏi lắm. Cũng một kiếp người mà có người giàu, kẻ nghèo; có người sung sướng, có kẻ khốn khổ; có người may mắn, có kẻ bạc phận hẩm hiu!

Những ngày Lễ, Tết, dịp vui này hoặc dịp mừng nọ, mọi người đều nô nức và hạnh phúc. Ai đi đâu xa cũng tìm về nhà sum họp gia đình. Còn ông chỉ một mình ngồi cúi đầu lặng lẽ, không ai trò chuyện, có ngước lên cũng chỉ là ánh mắt nhìn vô định xa xăm, chắc hẳn ông còn buồn hơn rất nhiều! Cần lắm chút tình người và những tấm lòng hỉ xả, cần lắm những thiện cử thể hiện Tình yêu Thiên Chúa và theo Học thuyết Xã hội Công giáo…

TRẦM THIÊN THU

 

Giáo dục trẻ em: Rau nào sâu nấy

Cha mẹ nuông chiều con cái có thể khiến trẻ dễ lo âu và trầm cảm trong tương lai. Không những thế, sự nuông chiều còn làm cho chúng tự quan trọng hóa và trở nên ích kỷ.

Tiết kiệm và khước từ có giá trị quan trọng. Một số thiếu niên đã thiếu (hoặc mất) các “đức tính” đó. Chưa thể trách các em, vì chính cha mẹ nuông chiều mà con cái trở nên như vậy. So với 10 hoặc 15 năm trước, trẻ em ngày nay lười làm việc nhà hơn. Một nghiên cứu ở Úc cho thấy, 53% trẻ muốn mua vật dụng xài riêng để cảm thấy hãnh diện và 73% các cha mẹ nói rằng con cái họ “tập trung” vào mua sắm và hoang phí. Cha mẹ càng phải làm việc nhiều hơn để con cái “không thua kém bạn bè”.

Nhu cầu của trẻ tăng cao cũng do làn sóng tiếp thị nhắm vào chúng. Viện Nhi khoa Hoa Kỳ ước tính, mỗi năm trung bình một đứa trẻ Mỹ xem 40.000 chương trình quảng cáo. Đó là áp lực vô thức lên cả cha mẹ và con cái, khó tránh khỏi. Cha mẹ cần biết cân bằng giữa các thuận lợi của xã hội và các giá trị nhân bản của cuộc sống: Muốn đạt được mục đích thì phải biết chờ đợi, tiết kiệm và làm việc chăm chỉ. Trẻ em có thể học tự kiềm chế bằng cách quan sát cách xử sự của người khác, đặc biệt là cách xử sự của cha mẹ.

Muốn vậy, cha mẹ phải mất nhiều thời gian để quan tâm tới con cái. Cha mẹ chú trọng các giá trị sống thì mới đủ uy tín để dạy các con những tiêu chuẩn sống. Hạn chế yêu sách của trẻ không phải là “cấm” mà phải giải thích cho trẻ hiểu những gì thực sự cần thiết hoặc chưa cần thiết, đồng thời cũng cần lắng nghe trẻ trình bày, tuyệt đối đừng áp chế chúng. Thật ra khó nhận biết thế nào là “đủ” nhưng vẫn có thể nhận ra sự “quá đáng” để dừng lại.

Phụ huynh cần luyện tập kỹ năng làm cha mẹ để giáo dục con cái, đồng thời cần hiểu rõ tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của các loại hình thông tin đại chúng (báo chí, phim ảnh...) tác động vào con trẻ hằng ngày. Hãy lưu ý nói chuyện và lắng nghe trẻ. Nhờ vậy mà có thể ngăn ngừa những thói hư tật xấu và động viên con trẻ hướng thiện.

Được động viên thì trẻ thêm lòng tin, được chia sẻ thì trẻ biết rộng lượng, được tha thứ thì trẻ biết khoan dung và nhẫn nại. Ngược lại, trẻ sẽ lên án khi sống với những người hay chỉ trích, trẻ sẽ nhút nhát, sợ sệt khi sống giữa cảnh hãi hùng, trẻ sẽ tham lam khi sống trong không khí đố kỵ. Rau nào, sâu nấy. Cha mẹ trung thực thì con cái công bằng, cha mẹ hạnh phúc thì con cái nhân ái, cha mẹ hiền hậu thì con cái đức độ. Những cảnh thương tâm có thể dạy cho trẻ biết đồng cảm.

Chúng ta không chỉ dạy con bằng những điều bảo ban mà quan trọng hơn là bằng cách sống của chính mình.

TRẦM THIÊN THU

 

Suy tư

Đời người như viên đá cuội lăn mòn trên những con dốc đời, rồi một ngày nằm chết lẻ loi bên vệ đường mà vẫn trăn trở, vì bao mơ ước chưa trọn vẹn!

Đó là bản tính tự nhiên nơi con người, nhất là ở những người muốn thắng vượt chính mình, khao khát đổi mới chính mình trước tiên: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Nhưng hình như luôn có sự mâu thuẫn, vì khi tư tưởng chín muồi thì thân xác bắt đầu rã rời. Đó là một nghịch lý, nhưng lại là một nghịch-lý-thuận. Cũng có thể đó là sự nghiệt ngã của cuộc đời (!?).

Cũng là con người, nhưng có người sung sướng từ trong trứng nước, có người lại đau khổ và thiếu thốn suốt cuộc đời, không chút thanh thản, thậm chí đến hơi thở cuối cùng. Đâu ai khả dĩ hiểu hết triết lý cuộc sống!

Nhà soạn nhạc Beethoven tự bạch: “Lạy Chúa, con chỉ viết được nhạc, còn ngoài ra con chẳng làm được gì khác”. Còn đại văn hào Shakespeare nói: “Có người sinh ra được sự nổi tiếng rơi vào mình, có người tìm mãi cũng thấy, nhưng có người tìm cả đời cũng không thấy”, và V. Foscolo phân tích: “Danh vọng của các vĩ nhân 1 phần ở sự can trường, 2 phần ở sự may mắn, phần còn lại ở sự mưu lược của họ”. Suy nghĩ hòai, trầm tư mãi, nhưng tôi chỉ thấy mình quá “vô duyên” về mọi phương diện! Hát Xẩm (Việt Nam) có câu: “Một đời đánh phấn đeo hoa, một đời khổ ải cũng qua một đời”. Nghe mà buồn quá, nhưng vẫn thật chí lý!

Giá trị cuộc đời không được đo bằng chiều dài mà đo bằng chiều rộngchiều sâu. Thánh Thomas Aquinas (Tiến sĩ Hội thánh) và thánh Teresa Hài đồng Giêsu, các ngài sống không lâu trên trần gian nhưng vẫn thực sự vĩ đại. Còn nhiều thánh nhân “vô danh” khác đã và đang hiện hữu giữa đời thường này mà chúng ta không biết… Không thể xét người theo ngoại diện. Thật vậy, ca dao có câu:

Chớ thấy áo rách mà cười
Những giống gà nòi lông nó lơ thơ

Cuộc sống có biết bao điều phải suy nghĩ, cần bàn luận, nên đổi mới,… Jack Penn có “mẹo” này: “Một trong những bí ẩn của cuộc sống là làm cho những viên đá trên đường đi không trở thành chướng ngại vật”. Và một trong nhiều vấn nạn là “ngôn hành”. Người ta khâm phục người Mỹ vì họ hễ nói là làm, thế mà người Mỹ lại “nể” người Nhật vì họ làm rồi mới nói, nhưng người Nhật lại “sợ” người Trung quốc vì họ làm mà không nói, người Trung quốc lại “ớn” người Việt Nam vì họ nói một đàng làm một nẻo. Nếu vậy, người Việt Nam là người giành “vòng nguyệt quế” trong “cuộc thi chạy đường vòng” này!

Mỗi người có một loại thần tượng riêng và ở các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, tôi lại cảm thấy thú vị với nhận định của thi sĩ Mỹ Emerson: “Hâm mộ là ngu ngốc, bắt chước là tự sát. Dù tốt xấu thế nào cũng vẫn phải là chính mình”. Tôi có thể khâm phục tài năng một người nào đó, nhưng tôi quyết không bao giờ bắt chước ai một cách mù quáng.
Đổi mới hoặc canh tân là điều cần, nhưng không dễ, đòi hỏi phải can đảm “vượt qua chính mình”. Vì có “tu thân” thì mới khả dĩ “tề gia”, để rồi mới có thể “trị quốc” và “bình thiên hạ”. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, nhà đạo đức học TK 18, nói: “Ngọc không mài không thành đồ quí, người không học không biết đạo làm người. Chúa tầm thường, tôi nịnh hót, quốc phá, gia vong, mọi tai họa đều bắt đầu từ đó”. Chỉ nghe thôi cũng thấy “nổi da gà”!

Tuy nhiên, Chúa đã nhiều lần trấn an: “Đừng sợ!” (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Kh 1:17). Nhờ vậy mà có thêm can đảm để hành động.

TRẦM THIÊN THU
Cuối năm 2011

 

Mầu nhiệm Nhập Thể và Đức Maria

Chị Êlisabét có thai được sáu tháng thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Chị”. Nghe lời ấy, Maria rất bối rối và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: “Thưa Chị Maria, xin đừng sợ, vì Chị đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây Chị sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1:26-33).

Nhập thể là gì? Nhập thể là Con Thiên Chúa hóa thân làm người, mặc xác phàm, có nhân tính nhưng vẫn có thiên tính. Để dễ hiểu, chúng ta cứ nghĩ như thân xác và linh hồn chúng ta vậy.

Nhập thể là hóa thành xác phàm, hóa thành nhục thể, đó là hành động khiêm nhường nhất. Nghĩa là Ngôi Hai Thiên Chúa hằng hữu, toàn năng, vô tận và bất biến đã tự nguyện làm người và cũng có những yếu đuối thể lý của nhân loại. Ngài tự hạn chế trong thân xác nhân loại, cũng cảm thấy đau đớn và bệnh tật, và với linh hồn của nhân loại cũng làm cho Ngài cảm thấy đau khổ, cô đơn, ưu sầu.

Bởi tác động của Chúa Thánh Thần, Con Thiên Chúa xuống thế làm người ngay khi Đức Mẹ khiêm nhường nói lời “xin vâng” (Lc 1:38), vì Đức Mẹ tin tưởng rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1:37). Thiên tính của Đức Kitô có từ đời đời, chỉ có nhân tính của Ngài bắt đầu từ khi Ngài nhập thể.

Không bao giờ chúng ta có thể hiểu hết Mầu nhiệm Nhập thể, nhưng chúng ta phải tin kính và tôn thờ.

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14). Đức Kitô là người như chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi. Ngài không thể phạm tội vì Ngài là Thiên Chúa toàn thiện. Nhưng về các phương diện khác thì Ngài cũng như chúng ta: Ngài có thân xác, có linh hồn, có ý muốn của một con người. Hầu như chúng ta không thể hiểu được điều này theo lý luận của con người. Thánh Gioan Chrysostom nói: “Tôi biết Con Thiên Chúa trở nên con người, nhưng tôi không biết như thế nào”. Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ hư vô, Ngài cũng khả dĩ tạo nên Mầu nhiệm Nhập thể.

Con Thiên Chúa được thụ thai trong lòng Đức Trinh nữ Maria và trở nên Con Người nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hợp tác trong Mầu nhiệm Nhập thể, nhưng chỉ có Ngôi Hai làm người khi hóa thành nhục thể.

Nhập thể là công việc đặc biệt của Tam vị Nhất thể. Chúa Ba Ngôi hình thành linh hồn và cơ thể nhân loại nơi Ngôi Hai Thiên Chúa: Đức Giêsu Kitô, một Thiên-Chúa-Con-Người. Quyền năng Chúa Thánh Thần tạo nên Mầu nhiệm Nhập thể, vì Ngôi Ba Thiên Chúa là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con, Ngôi Ba Thiên Chúa đặc biệt diễn tả Tình yêu ấy. Mầu nhiệm Nhập thể là ví dụ tối cao và điển hình về Tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Đúng là Chúa Con nên nhập thể, hơn là Chúa Cha hoặc Chúa Thánh Thần, vì Chúa Con xuất phát từ Chúa Cha và được Chúa Cha sai đến trần gian. Chúa Con là hoa trái của Ơn Cứu Độ và gởi Chúa Thánh Thần đến. Như vậy qua Chúa Con chúng ta trở thành dưỡng tử của Thiên Chúa.

Chúa Con được thụ thai và hóa thành nhục thể từ khi Sứ thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria, thế nên Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Trinh nữ Maria là một thôn nữ nhu mì và giản dị sinh sống tại Nadaret, thuộc miền Galilê. Một hôm, Sứ thần hiện ra với Đức Maria và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Chị” (Lc 1:28).

Thôn nữ Maria quá đỗi kinh ngạc, nhưng Sứ thần đã trấn an: “Thưa Chị Maria, xin đừng sợ, vì Chị đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây Chị sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao” (Lc 1:30-32). Sự kiện trọng đại này được gọi là Truyền tin, lễ kính vào ngày 25-3.

Đức Mẹ biết Sứ thần được Thiên Chúa sai đến, nên Đức Mẹ liền thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Thiên Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1:38). Ngay lúc Đức Mẹ nói những lời đó, Đức Giêsu Kitô trở thành con người trong cung lòng Đức Mẹ, thế là sự nhập thể hoàn tất.

Mầu nhiệm Nhập thể được kính nhớ hàng ngày khi chúng ta đọc kinh Truyền tin (Angelus) – chúng ta quen gọi là “sai Thiên thần” (Đức Chúa Trời sai Thánh Thiên thần truyền tin cho Đức Bà Maria… Chốc ấy Ngôi thứ Hai xuống thế làm người…). Lời cầu nguyện này được Giáo hội đọc mỗi buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, và khi kéo chuông Truyền tin.

Trong mùa Phục sinh, kinh Nữ vương Thiên đàng (Regina Coeli – Lạy Nữ vương Thiên đàng hãy vui mừng, Alleluia…) được thay thế kinh Truyền tin. Xin “mở ngoặc”: Ai không thuộc kinh Truyền tin và kinh Nữ vương Thiên đàng thì có thể đọc thay bằng 5 kinh Kính mừng.

Chúa Giêsu có cha mẹ là con người? Ngài có một hiền mẫu nhân loại là Đức Maria, nhưng không có một người cha nhân loại. Đức Thánh Giuse chỉ là dưỡng phụ (1). Đức Maria là Mẹ thật của Đức Giêsu Kitô, nhưng Đức Maria không là Thiên Chúa. Nhân tính và thiên tính của Chúa Con không thể tách biệt. Cũng vậy, chúng ta vẫn gọi song thân là cha và mẹ dù cha mẹ không là người cho chúng ta thể xác, cũng chẳng cho chúng ta linh hồn.

Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu nhưng Đức Mẹ vẫn hoàn toàn đồng trinh. Việc sinh Chúa Giêsu là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu thấu. Chúng ta chỉ có thể dùng đức tin để chấp nhận đó là sự thật dựa vào Lời Chúa, vì Thiên Chúa là Đấng toàn năng.

Đức Thánh Giuse là hôn phu hợp pháp của Đức Maria, nhưng cả hai đều khấn giữ mình đồng trinh. Các ngài chung sống với nhau nhưng luôn coi nhau như anh em. Đức Thánh Giuse là “vệ sĩ” hoặc dưỡng phụ của Chúa Giêsu.

Chúng ta phải kính trọng và yêu mến Đức Thánh Giuse vì chính Chúa Giêsu đã kính trọng và yêu mến Đức Thánh Giuse. Kinh thánh đã tôn xưng Đức Thánh Giuse là Người Công Chính, là người khiết tịnh, đó là lý do Thiên Chúa tuyển chọn Đức Thánh Giuse làm Thánh phu trinh khiết của Đức Maria, để chăm sóc Thánh thê Maria và Thánh tử Giêsu. Chúa Giêsu cũng đã luôn tuân phục ý muốn của Đức Thánh Giuse, dù Đức Thánh Giuse chỉ là một bác thợ mộc.

Mầu nhiệm Nhập thể hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta – vì nhân loại bất túc, bất trác, bất toàn. Mầu nhiệm Nhập thể là sự siêu việt của Thiên Chúa. Những người không có niềm tin tôn giáo luôn thắc mắc về “sự đồng trinh của một phụ nữ đã sinh con” như Đức Maria. Khái niệm về Thiên Chúa trở thành phép ẩn dụ đối với sự sống thấm nhập vào vũ trụ và khả năng hiểu biết của nhân loại.

Chúng ta đã và đang tạo ra nhiều vị thần để “giám sát” cuộc đời chúng ta, thậm chí chúng ta còn “tôn thờ” nhiều thụ tạo mà chúng ta không biết gì về nguồn gốc của họ. Hàng ngày chúng ta vẫn tôn thờ nhiều loại ngẫu tượng, nhưng chúng ta cứ cho đó là điều tất nhiên của cuộc sống.

Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể hơn 2.000 năm qua. Đó là một mầu nhiệm mà cứ ngỡ là một nghịch lý. Nhưng chính Thiên Chúa đã tỏ mình cho nhân loại biết tỏ tường, Ngài không hề mơ hồ hoặc giấu giếm: “Ai thấy Tôi là thấy Cha”. Qua Đức Giêsu Kitô, chúng ta có thể quan hệ mật thiết với Thiên Chúa tới mức riêng tư, Ngài không câu nệ điều gì. Đó là thách đố đối với luận lý học và lý lẽ của nhân loại.

Nhập thể là mầu nhiệm và là tín lý về Ngôi-Lời-Làm-Người. Các Giáo phụ từ thế kỷ IV đã phổ biến dùng từ Ngôi Lời. Thánh Giêrônimô, Ambrôsiô, Hilariô,… cũng sử dụng từ đó. Từ “Ngôi Lời” dựa vào Phúc âm của thánh sử Gioan: “Ngôi Lời hóa thành nhục thể” (Ga 1, 14). Theo cách hoán dụ của ngôn ngữ Kinh thánh, nhục thể nghĩa là bản chất con người hoặc nhân loại. Con người là xác thịt, điều này nhấn mạnh đến bản chất yếu đuối của con người. Khi Ngôi Lời trở thành xác phàm, hóa thành nhục thể, bản chất tốt lành của Thiên Chúa được diễn tả tốt hơn khi Ngài tự biến mình thành “không” như thánh Phaolô diễn tả: “Ngài hoàn toàn trút bỏ vinh quang để mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2:7). Đó là bản chất và hiệu quả của Mầu nhiệm Nhập thể. Ngài tự nhận bản tính nhân loại – nghĩa là Ngài cũng chịu đau khổ, bệnh tật và chết như một người bình thường. Ngài trở nên phàm nhân để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và cứu độ chúng ta, những tử-tội-đáng-nguyền-rủa. Mầu nhiệm Nhập thể còn được diễn tả bằng những cách khác: Epiklepsis (2), vì “những kẻ được Người giúp đỡ không phải là các thiên thần, mà là con cháu của Ápraham” (Dt 2:16).

Chúng ta tin rằng “tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính” (1 Tm 3:16).

Tất nhiên vẫn có cách khác, nhưng có thể nói rằng nếu Đức Mẹ không “xin vâng” thì chúng ta không được hưởng Ơn Cứu Độ. Đức Mẹ và Mầu nhiệp Nhập thể được coi là mối quan hệ gần gũi.

Lạy Chúa, chúng con mạo muội cả dám xin Ngài “dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11:2-4; Mt 6:9-13), kiên trì mong chờ Chúa đến, và sống Mầu nhiệm Nhập thể. Chúng con cầu xin, nhân Danh Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng con. Amen.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU

Saigon, Mùa Vọng 2011
----------------------------
(1) Chúng ta quen xưng hô là Thánh Giuse, riêng tôi muốn gọi là Đức Thánh Giuse. Chúng ta gọi là Đức Maria, tại sao lại không thể xưng hô Đức Thánh Giuse? Trong Việt ngữ, tiếng “đức” để tỏ lòng tôn kính một người: Đức giáo hoàng, Đức khâm sứ, Đức hồng y, Đức giám mục, Đức viện phụ, Đức ông, Đức thượng phụ, Đức vua, Đức Khổng Tử, Đức Dalai Latma,… Người đời bình thường còn được thêm từ “đức” phía trước thì huống chi đối với Ngài Giuse, một người cũng có công lớn trong Mầu nhiệm Nhập thể.

(2) Epiklesis: Phần kinh khẩn cầu Thánh Linh, tức là kinh khẩn cầu Chúa Thánh Linh do chủ tế đọc sau lời nguyện Truyền phép. Kinh này được đọc trong mọi phụng vụ của Giáo hội Đông phương và được xem là cốt yếu trong Giáo hội Chính thống đối với hiệu lực của Hy tế Tạ ơn. Kể từ Công đồng Vatican II, mọi Lễ Quy mới của Thánh lễ đều có Kinh khẩn cầu Thánh Linh.

 

Nhân quyền

Ngày 10-12 hàng năm là Ngày Nhân Quyền. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế (Universal Declaration of Human Rights – UDHR) có từ năm 1948. Mục đích bản tuyên ngôn này đặt ra các tiêu chuẩn quốc tế cơ bản tối thiểu để bảo vệ quyền lợi và tự do của mỗi người. Bản chất cơ bản của các điều khoản này ngày nay được coi là nền tảng của luật pháp quốc tế. Đặc biệt, các nguyên tắc trong UDHR được coi là luật quốc tế thông thường và không đòi hỏi chữ ký hoặc được nhà nước phê chuẩn mới hợp pháp.

UDHR là tài liệu nòng cốt đã được dịch sang hơn 3.000 ngôn ngữ và phương ngữ. Trong khi một số quy luật không thể dùng trực tiếp đối với kinh doanh, kiên định với bản tuyên ngôn này là điều quan trọng.

Nhân quyền là gì?

Nhân quyền là những quyền liên quan con người, không phân biệt quốc tịch, nơi sinh sống, giới tính, sắc tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, hoặc địa vị xã hội. Chúng ta đều được trao cho nhân quyền mà không bị phân biệt đối xử. Nhân quyền có tương quan với nhau, tương thuộc và bất khả phân chia.
Nhân quyền toàn cầu thường được diễn tả và được bảo đảm bởi luật pháp, trong dạng luật pháp thỏa hiệp, theo thông lệ quốc tế, các quy luật tổng quát và các nguồn khác của luật pháp quốc tế. Luật nhân quyền quốc tế đặt ra những trách nhiệm của chính phủ để hành động theo những cách nào đó hoặc hạn chế các hành động nào đó, để thúc đẩy bảo vệ nhân quyền và tự do cơ bản của một người hoặc một nhóm.

Phổ biến và bất khả chuyển nhượng

Quy luật thế giới về nhân quyền là nền tảng của luật nhân quyền quốc tế. Quy luật này, như đã nhấn mạnh trong UDHR năm 1948, được lặp lại trong nhiều thỏa hiệp nhân quyền quốc tế, các bản tuyên ngôn, và các nghị quyết. Chẳng hạn, Hội nghị thế giới về Nhân quyền năm 1993 tại Vienna nói rằng nhiệm vụ của nhà nước là thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và sự tự do cơ bản, bất kể hệ thống chính trị, kinh tế và văn hóa nào.

Nhà nước phê chuẩn ít nhất 1 hiệp ước, và 80% các nước đã phê chuẩn từ 4 hiệp ước trở lên, thuộc các hiệp ước nhân quyền, phản ánh sự đồng thuận của nhà nước và đặt ra các trách nhiệm hợp lý đối với họ và diễn tả cụ thể với thế giới. Một số quy tắc nhân quyền cơ bản là tận hưởng sự bảo vệ toàn cầu bằng luật quốc tế theo thông lệ ở khắp các nước và các nền văn minh.

Nhân quyền không thể chuyển nhượng, không được tước đoạt, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt và tùy theo quá trình bắt buộc. Chẳng hạn, quyền tự do có thể bị giới hạn nếu ai đó bị tòa án xét thấy phạm tội.

Tương thuộc và bất khả phân

Nhân quyền không thể phân chia, dù là nhân quyền dân sự hay chính trị – chẳng hạn, quyền sống, bình đẳng trước pháp luật và tự do bày tỏ; quyền kinh tế, văn hóa và xã hội – như quyền lao động, an sinh xã hội và giáo dục, hoặc quyền tập thể – như quyền phát triển và quyền tự quyết – đều không thể phân chia, tương quan và tương thuộc. Chính phủ có nhân quyền làm thuận tiện cho người khác. Như vậy, tước đoạt nhân quyền gây ảnh hưởng xấu tới người khác.

Bình đẳng và không kỳ thị

Không kỳ thị là quy luật nhạy bén trong luật nhân quyền quốc tế. Các nguyên tắc có trong mọi hiệp ước quan trọng về nhân quyền và cung cấp chủ đề trung tâm của một số thỏa hiệp nhân quyền quốc tế như Hiệp ước Quốc tế về Loại trừ các dạng Kỳ thị Chủng tộc và Hiệp ước về Loại trừ các dạng Kỳ thị Phụ nữ.
Quy luật áp dụng co mọi người liên quan nhân quyền và tự do, đồng thời cấm kỳ thị on thevề nền tảng của các lĩnh vực không thấu đáo (non-exhaustive) như giới tính, chủng tộc, màu da,… Quy luật cấm kỳ thị được hoàn tất bằng quy luật bình đẳng, như đã nói trong khoản 1 của UDHR: “Mọi người được sinh ra tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi”.

 

Quyền lợi và Trách nhiệm

Nhân quyền dẫn đến quyền lợi và trách nhiệm. Nhà nước thừa nhận trách nhiệm và bổn phận theo luật quốc tế để tôn trọng, bảo vệ và thực hiện nhân quyền. Trách nhiệm tôn trọng nghĩa là nhà nước phải hạn chế can thiệp hoặc tước đoạt nhân quyền. Trách nhiệm tôn trọng đòi nhà nước phải bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại lạm dụng nhân quyền. Trách nhiệm thực hiện nghĩa là nhà nước phải hành động tích cực để tạo điều kiện thuận lợi tận hưởng nhân quyền cơ bản.

Ở mức cá nhân, khi chúng ta được trao nhân quyền thì chúng ta cũng phải tôn trọng nhân quyền của người khác.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ ohchr.org)

 

Điều gì ngăn cản bạn nên thánh?
Càng lớn càng tốt. Luôn luôn như vậy. Đó là câu châm ngôn của chúng ta. Từ xe cộ tới nhà cửa, từ chi phí tới vật dụng, được voi đòi tiên, chúng ta không bao giờ thỏa mãn với những gì mình có. Mỗi người có cách thức và mức độ khác nhau.
Ngay cả những người Công giáo cũng không ngoại trừ lối suy nghĩ đó – dù là giáo sĩ, tu sĩ hoặc giáo dân. Chúng ta muốn làm những gì có ý nghĩa đối với Thiên Chúa và vượt qua những gì đời thường. Chúng ta muốn đi truyền giáo ở Mỹ châu Latin nhưng lại không nói được một lời tử tế với cha mẹ! Chúng ta muốn phục vụ những người vô gia cư, nhưng chúng ta lại không muốn đụng ngón tay để làm việc lặt vặt ở nhà!
Những điều lớn có thể đòi hỏi nhiều nỗ lực trong một thời gian ngắn. Những điều nhỏ đòi hỏi ít thời gian nhưng phải lặp đi lặp lại. Nhiệm vụ là điều quan trọng, nhưng bảy ngày sau bạn có thể trở lại cuộc sống bình thường hằng ngày. Thay cái tã cho đứa bé là quá trình nhanh gọn, là “chuyện nhỏ”, nhưng đó là điều phải làm hằng ngày trong suốt vài năm – chuyện nhỏ hóa chuyện lớn đấy!
Ai cũng có thể vác thập giá trong một thười gian ngắn, nhưng rất khó để kiên trì vác thập giá hằng ngày, thậm chí là mọi lúc và mọi nơi. Chúng ta không thể chỉ vác thập giá khi thuận tiện, vui thì vác, buồn thì nghỉ. Thánh Teresa Hài Đồng nhắc nhở chúng ta: “Bạn không thể làm thánh nửa vời, mà phải làm thánh trọn vẹn hoặc không làm thánh”. Làm thánh trọn vẹn đòi hỏi chúng ta phải làm mọi thứ vì yêu mến Chúa, dù vui hay buồn.
Chướng ngại vật duy nhất trên đường nên thánh là chúng ta không đồng ý với kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng ta – tức là chúng ta chỉ muốn theo ý riêng.
Nhiều người muốn có những cách khác để nên thánh: Là nhà truyền giáo, là diễn giả, là người sáng lập hội từ thiện, là giám mục, là linh mục, là tu sĩ, là người lập dòng, là nhân vật nổi tiếng,… nhưng chúng ta quên rằng Thiên Chúa đã trang bị cho chúng ta cách nên thánh ngay tại văn phòng, trường học, bệnh viện, công sở, gia đình,… hoặc ở bất cứ nơi nào chúng ta được Thiên Chúa đặt vào, với bất cứ cương vị nào chúng ta được Thiên Chúa trao cho.
Các thánh dạy chúng ta rằng con đường nên thánh có ngay trong cuộc sống trần gian này, với các công việc bình thường. Bình thường mà không tầm thường. Làm điều bình thường một cách phi thường. Đừng đòi hỏi hoặc áp đặt Thiên Chúa.
Các thánh đều có cách nên thánh khác nhau. Thánh Giuse chu toàn bổn phận làm chồng và làm cha, Thánh Isidore là một nông dân, và Thánh Teresa Hài Đồng cho chúng ta biết “con đường nhỏ” đến với Thiên Chúa. Trung thành với bổn phận bình thường của cuộc sống là chúng ta đến gần với Thiên Chúa, để nhờ Ngài mà chúng ta nên thánh. Bằng cách chấp nhận Thánh Ý Ngài dành cho cuộc đời chúng ta và dâng cho Ngài mọi động thái nhỏ nhất vì sáng danh Ngài, chúng ta có thể trở nên người như Ngài muốn. Những việc chúng ta làm chẳng là gì đối với Ngài, nhưng cách chúng ta làm mới quan trọng. CP Mẹ Teresa Calcutta khuyên: “Chúng ta chẳng làm được việc gì lớn lao, hãy làm những việc nhỏ với lòng yêu mến lớn”.
Mùa Vọng là cơ hội tốt để chúng ta làm những điều nho nhỏ nhưng với lòng yêu mến Thiên Chúa. Thay vì biện hộ cho việc chúng ta không thể nnê thánh, hãy tìm những cách hữu hiệu để thánh hóa đời sống hằng ngày. Hãy nói lời tử tế với bất kỳ ai chúng ta gặp, hãy cười với người lạ, hãy vui làm việc nhà, hãy dâng mọi sự cho Thiên Chúa: “Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen” (Kinh Sáng Soi). Khi chúng ta chuẩn bị đón mừng Chúa giáng sinh, hãy làm những việc nhỏ với lòng yêu mến lớn, đó là cách bạn biết mình sẽ là một thánh nhân.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)
Chúa Nhật III Mùa Vọng – 2014


Mong chờ Chúa đến
Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị tâm hồn để mừng đón Con Thiên Chúa giáng trần làm người, đem Ơn Cứu Độ đến cho nhân loại. Mùa Vọng cũng là khoảng mong chờ Chúa đến riêng với mỗi người, đặc biệt là chung với mọi người: Ngài Chúa Giêsu tái lâm, Ngày Cánh Chung.
TƯƠNG LAI XA HAY GẦN?
Ngôn ngữ nhân loại khá mơ hồ, không chính xác, dù chỉ là tương đối chính xác. Ví dụ: Hẹn gặp nhau lúc 7 giờ, có ai đến đúng 7 giờ chưa? Thì tương lai có tương lai gần và xa, nhưng thế nào là xa hoặc gần? “Sẽ xảy ra” và “sắp xảy ra” đều là tương lai, nhưng “sẽ” và “sắp” là khi nào? Thật khó xác định!
Từ vài chục năm rồi, nhất là trong thời gian gần đây, có nhiều “lời tiên tri” về cuối thời. Người ta có nhiều cách “đồn thổi”, nhưng thường liên quan “ba ngày, ba đêm”. Khi nghe “tin đồn” về ba ngày tối thui, có người gởi mail cho biết: “Lo thì có lo, nhưng lo vẫn hơn. Điều dự đoán có thể xảy ra hoặc không, nhưng có thể thật đấy!”.
Đã có nhiều lần người ta rỉ tai nhau chuyện Chúa đến hoặc tận thế. Có người nói rằng nghe tin “biến động” mà người Maya dự báo xảy ra vào ngày 21-12-2012, hoặc đất trời tối đen vào các ngày 23, 24 và 25-12-2012, thì “toát mồ hôi hột”; có người lại cho đó là “tin vịt”, không đáng tin. Mỗi người mỗi vẻ, chẳng ai giống ai; kẻ nhát đảm thì chết khiếp, người gan lì thì coi trời bằng… nắp bia! Chắc hẳn cũng có người thở dài, bĩu môi, và nói: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.
Tôi đặt ra những cái “nếu”. Một thanh niên cho rằng người ta có những cái nuối tiếc, còn tôi thì “không có gì để mất”, ý nói tôi chỉ có cái “mạng cùi” thì có gì phải tiếc (sic!). Tôi biết, dù là “mạng cùi” thì người ta vẫn có loại “của cải riêng” khiến người ta vẫn nuối tiếc và sợ chết. Tại sao? Ai cũng biết mình không trường sinh bất tử, trước sau gì cũng chết, thế mà nghe nói đến sự chết thì người ta cho là “xui xẻo”, hoặc mới chợt “thấy” tử thần đứng nhìn từ xa mà người ta đã run còn hơn tử tội ra pháp trường. Chưa chết thật nhưng đã chết khiếp!
Thật ra người ta chưa thực sự hiểu đúng ý tôi. Giả sử “sự cố” xảy ra đúng như người ta dự báo thì sao? Đặc biệt nếu đúng là tận thế thì sao? Cứ nghĩ cho cùng thì tiếc có được không? Và như thế, chắc chắn người ta chỉ miễn cưỡng! Người ta chỉ tin cái gì “hợp” ý mình, còn cái “không hợp” ý mình thì họ cương quyết không tin.
Thông tin trên internet cũng có nhiều thứ “tạp pí lù”. Có những website đáng tin, nhưng có những website không đáng tin. Lướt web cũng cần có khả năng chọn lựa nhạy bén, vì nếu không khéo sẽ nguy hiểm! Kể cũng lạ, có những cái xạo thì người ta dễ tin, có những cái thật thì người ta lại không tin hoặc không muốn tin. Cũng có thể họ đang tự đánh lừa mình. Và rồi những lần “dự báo tận thế” đó lại qua đi, người ta lại “vô tư” như xưa!
Tất nhiên, điều dự báo hoặc tiên đoán thì có thể hoặc không thể xảy ra, không ai dám chắc chắn, dù chỉ 1%. Tuy nhiên, dù đó là “tin vịt” hay “tin gà”, nếu bạn tin (chứ không dị đoan hoặc cuồng tín) thì vẫn có lợi hơn là không tin (chứ không nhẹ dạ cả tin, thiếu suy xét). Tin không phải để dao động, hoang mang hoặc run sợ, mà tin để sẵn sàng “trực chiến”. Đó là mong chờ Chúa đến, chờ đợi cả đời chứ không chỉ trong mùa Vọng hoặc trong một khoảng thời gian nào đó.
Chúng ta cũng đã nghe Phúc Âm nhiều lần về lời cảnh báo của Chúa Giêsu: “Cũng như thời ông Nô-ê, sự việc đã xảy ra cách nào, thì trong những ngày của Con Người, sự việc cũng sẽ xảy ra như vậy. Thiên hạ ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu, và nạn hồng thủy ập tới, tiêu diệt tất cả. Sự việc cũng xảy ra giống như vậy trong thời ông Lót: thiên hạ ăn uống, mua bán, trồng trọt, xây cất. Nhưng ngày ông Lót ra khỏi Xơ-đôm, thì Thiên Chúa khiến mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống tiêu diệt tất cả. Sự việc cũng sẽ xảy ra như thế, ngày Con Người được mặc khải. Ngày ấy, ai ở trên sân thượng mà đồ đạc ở dưới nhà, thì đừng xuống lấy. Cũng vậy, ai ở ngoài đồng thì đừng quay trở lại. Hãy nhớ chuyện vợ ông Lót. Ai tìm cách giữ mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình thì sẽ bảo tồn được mạng sống. Thầy nói cho anh em biết: đêm ấy, hai người đang nằm chung một giường, thì một người sẽ được đem đi, còn người kia bị bỏ lại. Hai người đàn bà đang cùng nhau xay bột, một người sẽ được đem đi, còn người kia bị bỏ lại. Hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người sẽ được đem đi, còn người kia bị bỏ lại” (Lc 17:26-36).
Quá rõ ràng! Thế nhưng “nghe để mà nghe”, có “nghe” nhưng có “tin” hay không lại là chuyện khác, vì có “tin” thì người ta mới “hành động”.
Khi nghe Thầy mình nói vậy, các môn đệ cũng đã phải lên tiếng hỏi: “Thưa Thầy, ở đâu vậy?”. Ngài thản nhiên nói với các ông: “Xác nằm đâu, diều hâu tụ đó” (Lc 17:37). Có lẽ Ngài thấy người ta vẫn cứng lòng nên không thèm nói rõ nữa, vì có nói cũng như “nói với đầu gối”, chỉ là “nước đổ đầu vịt” hoặc “nước đổ lá môn” mà thôi.
Chúa vẫn thường nói: “Ai có tai thì nghe [ai có tai nghe thì (hãy) nghe] (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43; Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35; Kh 13:9). Tùy mỗi người, Chúa không hề ép buộc bất kỳ ai!
TẠI SAO NGƯỜI TA VẪN CỨNG LÒNG?
Các tin đồn về “biến động” nọ hoặc “sự cố” kia, rốt cuộc không thấy gì xảy ra. Và đã nhiều lần như vậy. Rồi những lần Đức Mẹ hiện ra, điển hình là Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ em tại Fatima, nhưng rồi từ đó tới nay gần trăm năm rồi, thậm chí từ thời Chúa Giêsu đến nay hơn 2000 năm rồi, thế nên người ta lại cứ “vô tư”, và tất cả cũng chỉ là… “chuyện nhỏ”! Có lẽ người ta nghĩ Chúa và Đức Mẹ là những người thích đùa dai, chứ người ta có thể không nghĩ đó là sự nhẫn nại của Lòng Chúa Thương Xót, chỉ muốn mọi người được cứu độ, được Chúa Giêsu diễn tả qua hình ảnh người cha nhân hậu mong ngóng đứa con hoang đàng trở về (Lc 15:11-32).
Thiên Chúa biết chúng ta vừa yếu đuối vừa cứng lòng, nóng không nóng hẳn, mà lạnh cũng chưa nguội hẳn, chỉ dở dở ương ương (x. Kh 3:16), thế nên Ngài mới tiếp tục cho chúng ta cơ hội. Nước đến chân thì không ai nhảy kịp. Lửa đã bốc cháy thì chỉ có nước khóc. Tất cả đã muộn! Thật vậy, Thánh Phaolô nói: “Bạn lòng chai dạ đá, không chịu hối cải, và như vậy bạn càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu bạn, trong ngày Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và biểu lộ phán quyết công minh” (Rm 2:5). Gậy ông đập lưng ông. Tự mình hại mình mà thôi. Thánh Phaolô giải thích: “Tâm trí họ đã ra tối tăm, họ xa lạ với sự sống Thiên Chúa ban, vì lòng chai dạ đá khiến họ trở nên dốt nát (Ep 4:8).
Nhiều lần Đức Mẹ hiện ra ở nhiều nơi với nhiều dạng, kể cả nhiều mặc khải tư, đều cho biết rằng thời đại của chúng ta hiện nay là “cuối thời”. Chủ đề chung của những lần Đức Mẹ hiện ra và các mặc khải tư: Thời của chúng ta sẽ chứng kiến Đức Kitô đến lần thứ hai.
Khi hiện ra ở Rwanda (Phi châu), các thị nhân nhận sứ điệp chuẩn bị cho lần đến thứ hai của Chúa Giêsu. Alphonsine cho biết: “Đức Mẹ nói phải cầu nguyện nhiều – hiện nay chúng ta phải chuẩn bị cho lần đến thứ hai của Chúa Giêsu”.
Chắc hẳn chúng ta không thể làm ngơ sứ điệp mà Chúa Giêsu đã trao cho Thánh Maria Faustina Kowalska (Ba Lan, 1905-1938) về Lòng Chúa Thương Xót: “Con chuẩn bị cho thế giới về lần đến cuối cùng của Ta… Hãy làm cho cả nhân loại nhận biết Lòng Thương Xót sâu thẳm khôn dò của Ta. Đó là dấu hiệu của thời cuối cùng, sau đó sẽ là ngày công lý. Và chúng ta thấy trên cả thế giới, việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót càng ngày càng được lan rộng và được nhiều người dần dần nhận biết.
Khi hiện ra với nữ tu Agnes Katsuko Sasagawa ở Akita (Nhật Bản, 1973), Đức Mẹ cũng nhắc đến ngày giáng lâm của Con Thiên Chúa. Thị nhân Akita đã nói về “sự trừng trị dữ dội bằng lửa” sẽ xảy ra nếu nhân loại không ăn năn.
Chắc chắn Chúa Giêsu sắp đến thế gian lần thứ hai, nghĩa là sắp tận thế. Nhưng người ta không muốn tin đó là sự thật. Có tin cũng chỉ là môi miệng! Chúng ta không thể biện luận bằng cách nào vì động thái của phàm nhân đã và đang thể hiện rõ tư tưởng của mình. Chính miệng Chúa Giêsu nói mà chúng ta còn chưa tin thì chẳng ai có thể làm chúng ta tin. Đó là động thái cố chấp, mà cố chấp thì vô cùng nguy hiểm!
Qua lịch sử, Thiên Chúa luôn trao các sứ điệp qua các “mặc khải tư”. Bụi cây cháy với tiên tri Mô-sê, rồi từ các tiên tri Nô-ê, Đa-ni-en, tới Gioan Tông đồ (sách Khải Huyền), tất cả các mặc khải tư đó không hề khác với những gì đã và đang xảy ra ngày nay. Sự khác nhau giữa các mặc khải tư thời xưa và các mặc khải tư thời nay là các mặc khải tư thời xưa được ghi lại trong Kinh Thánh. Nếu chúng ta làm ngơ các mặc khải tư, không chịu tìm tòi và không xin Chúa ban ơn hiểu biết, chúng ta sẽ chẳng khác những người trong thời ông Nô-ê. Người ta đã chế diễu ông Nô-ê và coi thường lời ông cảnh báo về Đại Hồng Thủy, cuối cùng thì họ phải “trả giá”.
Ngay cả cách đối xử của chúng ta với Lòng Chúa Thương Xót cũng vậy. Thật ra Lòng Chúa Thương Xót có từ xa xưa, vì chính Đức Maria đã nói: “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1:50). Người ta không tin, rồi Chúa Giêsu lại mặc khải cho Thánh Margarita Maria Alacoque (1647-1690) về Thánh Tâm, đặc biệt là tháng 6-1675, nhưng rồi người ta cũng chỉ tin một thời gian, cuối cùng Chúa Giêsu lại đổi cách khác là mặc khải Lòng Thương Xót cho Thánh Faustina.
Khi mặc khải về Thánh Tâm với Trái Tim Chúa bị lửa và vòng gai quấn quanh, Chúa Giêsu truyền cho cách cầu nguyện vắn tắt: “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”. Khi mặc khải về Lòng Chúa Thương Xót, Chúa Giêsu truyền cho cách cầu nguyện vắn tắt: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”. Chúng ta thấy rất giống nhau, dù hai cách sùng kính mang tên gọi khác nhau. Mà Thánh Tâm Chúa hay Lòng Chúa Thương Xót cũng là MỘT, vì cũng vẫn là Thiên Chúa Tình Yêu như Thánh sử Gioan định nghĩa (1 Ga 4:8 và 16).
Vậy mà có những người vẫn cho rằng việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót là thế này, thế nọ, thậm chí là ngăn cản. Tôn vinh và chúc tụng Thiên Chúa là trách nhiệm và bổn phận, nghĩa là phải truyền bá (cũng như loan báo Tin Mừng và truyền giáo), chứ không phải vui thì cho, mà buồn thì cấm.
Trong sách nguyện “Hồng Ân và Lòng Thương Xót” (Graces and Mercy), ĐGH Urbanô VIII (1623-1644) đã viết: “Trong những trường hợp liên quan các mặc khải tư, nên tin hơn là không tin, vì nếu bạn tin thì điều đó được minh chứng, và bạn sẽ hạnh phúc vì bạn đã tin, vì Đức Mẹ đã yêu cầu như vậy. Còn nếu bạn tin mà điều đó sai, bạn vẫn được chúc lành như thể điều đó đã xảy ra, vì bạn tin điều đó là thật”. Quả thật, Chúa Giêsu đã xác định trong trường hợp đa nghi của Tông đồ Tôma: “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20:29).
Trường hợp mặc khải tư cho Lm Gobbi, các sứ điệp được loan truyền khắp thế giới, đó là Phong trào Đức Mẹ của các Linh mục và Giáo dân (Marian Movement of Priests and Lay People) mà ngày nay có hàng triệu hội viên trên khắp thế giới, trong đó có hơn 300 giám mục và 60.000 linh mục. Đức Mẹ gọi các linh mục của phong trào này là “Tông Đồ của Thời Cuối Cùng” (Apostles of the Last Times). Trong sứ điệp ngày 24-12-1990, Đức Mẹ cho Lm Gobbi biết rằng Đức Mẹ đặc biệt nhắc đến “cuộc trở lại của Chúa Giêsu trong vinh quang” đã gần: “Con đang đi vào thời cuối cùng. Như vậy, hãy nhận lấy những lời tiên báo được trao cho con là Lần Sinh Thứ Hai của Chúa Giêsu đã gần kề. Với tư cách là Mẹ của Mùa Vọng Thứ Hai, Mẹ đang chuẩn bị cho con về lần sinh mới này. Vì vậy, ở khắp nơi trên thế giới, Mẹ đang quy tụ những người con bé nhỏ của Mẹ, đó là những người nghèo khổ, những người khiêm nhường, và những người có lòng trong sạch để chuẩn bị chiếc nôi quý giá cho Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang”.
Trong thông điệp ngày 31-12-1992 trao cho Lm Gobbi, Đức Mẹ nói: “Mẹ đã nói nhiều lần rằng thời cuối cùng đang đến và việc Chúa Giêsu đến trong vinh quang cũng đã gần. Bây giờ Mẹ muốn con nhận biết các dấu chỉ đã được mô tả trong Kinh thánh, cho thấy việc trở lại trong vinh quang của Con Mẹ gần lắm rồi... Mẹ muốn dạy cho con biết các dấu chỉ mà Chúa Giêsu đã nói trong Phúc Âm, để chuẩn bị cho con về thời cuối cùng, vì các dấu chỉ này sẽ xảy ra trong thời của con”.
Dấu chỉ thứ nhất: LAN TRUYỀN SỰ LẦM LẠC.
Trong thư thứ hai gởi giáo đoàn Thêxalonica, Thánh Phaolô nói: “Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. Đừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào” (2 Tx 2:2-3). Thánh nhân gọi đó là “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7), và nói về việc xuất hiện của tên bịp bợm: “Tên gian ác xuất hiện là do tác động của Satan, có kèm theo đủ thứ phép mầu, dấu lạ, điềm thiêng, và đủ mọi mưu gian chước dối, nhằm hại những kẻ phải hư mất, vì đã không đón nhận lòng yêu mến chân lý để được cứu độ” (2 Tx 2:9-10). Như vậy, “tất cả những kẻ không tin sự thật, nhưng ưa thích sự gian ác thì sẽ bị kết án (2 Tx 2:12).
Những sai lầm về đức tin cũng đang lan tràn khắp thế giới, thậm chí ngay cả các thần học gia danh tiếng cũng bắt đầu lệch lạc về Giáo lý và Giáo huấn về sự hiện hữu của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, vai trò trung gian của Đức Mẹ, luật độc thân, và nhiều vấn đề khác. Hậu quả chung là mất đức tin ở nhiều người trên thế giới ngày nay. Đúng như Chúa Giêsu đã quan ngại: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8).
Dấu chỉ thứ nhì: CHIẾN TRANH, TAI ƯƠNG và HUYNH ĐỆ TƯƠNG TÀN.
Chiến tranh, loạn lạc, cha mẹ và con cái đối nghịch nhau, anh chị em ruột hại lẫn nhau, nước này “gờm” nước kia, mọi người nghi ngờ lẫn nhau, nhìn nhau bằng ánh mắt mang hình viên đạn hoặc gươm giáo, chỉ là xích mích nhỏ mà người ta cũng có thể đâm nhau chết, tai ương hoành hành, bệnh dịch nan y,… Những chuyện đó đã và đang xảy ra từng ngày, thậm chí là “chiến tranh lạnh” ngay trong các gia đình và các cộng đoàn.
Dấu chỉ thứ ba: BÁCH HẠI CÁC KITÔ HỮU.
Chúa Giêsu nói cặn kẽ: “Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt anh em, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính Ta đây là Đấng Kitô”, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Anh em sẽ nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã; coi chừng, đừng khiếp sợ, vì những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là tận cùng. Quả thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những cơn đói kém, và những trận động đất ở nhiều nơi. Nhưng tất cả những sự việc ấy chỉ là khởi đầu các cơn đau đớn. Bấy giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy. Bấy giờ sẽ có nhiều người vấp ngã. Người ta sẽ nộp nhau và thù ghét nhau. Sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người. Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 2:4-13).
Tại nhiều nước trên thế giới vẫn thường xảy ra những cuộc đàn áp tôn giáo, không chỉ là người vô thần ghét người có đạo, mà thậm chí là các tôn giáo vẫn đàn áp lẫn nhau. Trung quốc có hơn 1 tỷ người vô thần, Giáo hội tại Trung quốc chủ yếu là Giáo hội thầm lặng. Thậm chí Trung quốc còn có phe không hiệp thông với Tòa Thánh và bất tuân lệnh của giáo hoàng.
Dấu chỉ thứ tư: TỘI PHẠM THÁNH.
Đó là những người phản Kitô. Kinh Thánh đã nói trước về việc xuất hiện của những người xảo quyệt có quyền lực đối với thế giới, họ xuất hiện ngay trước khi Chúa Giêsu đến lần thứ hai, họ sẽ cai trị thế giới và lừa bịp nhiều quốc gia trên thế giới.
Thánh Phaolô cho biết: “Tên đối thủ tôn mình lên trên tất cả những gì được gọi là thần và được sùng bái, thậm chí nó còn ngồi trong Đền Thờ Thiên Chúa và tự xưng là Thiên Chúa. Khi tôi còn ở với anh em, tôi đã từng nói những điều ấy, anh em không nhớ sao? Anh em biết cái gì hiện đang cầm giữ nó, khiến nó sẽ chỉ xuất hiện được vào thời của nó. Thật vậy, mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành. Chỉ đợi người cầm giữ nó bị gạt ra một bên, bấy giờ tên gian ác sẽ xuất hiện, kẻ mà Chúa Giêsu sẽ giết chết bằng hơi thở từ miệng Người, và sẽ tiêu diệt bằng ánh huy hoàng, khi Người quang lâm. Còn việc tên gian ác xuất hiện là do tác động của Xa-tan, có kèm theo đủ thứ phép mầu, dấu lạ, điềm thiêng, và đủ mọi mưu gian chước dối, nhằm hại những kẻ phải hư mất, vì đã không đón nhận lòng yêu mến chân lý để được cứu độ. Vì thế Thiên Chúa gửi đến một sức mạnh mê hoặc làm cho chúng tin theo sự dối trá; như vậy, tất cả những kẻ không tin sự thật, nhưng ưa thích sự gian ác, thì sẽ bị kết án” (2 Tx 2:4-12).
Con người dễ ảo tưởng, thậm chí là tự đánh lừa mình bằng những ảo giác. Thật thế, Thánh Phaolô nói: “Khi người ta nói: ‘Bình an biết bao, yên ổn biết bao!’ thì lúc ấy tai hoạ sẽ thình lình ập xuống, tựa cơn đau chuyển bụng đến với người đàn bà có thai, và sẽ chẳng có ai trốn thoát được” (1 Tx 5:3).
Kinh Thánh còn tiên tri sẽ có “sự hy sinh vĩnh viễn” bị hủy bỏ, tức là Thánh Lễ. Điều này có trong những lời tiên tri của Đa-ni-en, một trong những lời tiên tri về “thời cuối cùng” trong Kinh thánh: “Tiên tri Đa-ni-en nghe tiếng nói của người mặc áo vải gai đứng trên mặt sông. Người ấy giơ tay phải, tay trái lên trời mà thề nhân danh Đấng Hằng Sống: “Cho đến một thời, hai thời và nửa thời. Khi nào sức mạnh của dân thánh hết bị bẻ gãy, thì tất cả các điều ấy cũng sẽ hoàn tất”. Tôi nghe mà không hiểu. Tôi liền nói: “Thưa ngài, cuối cùng những điều ấy sẽ như thế nào?”. Người đáp: “Không sao, Đa-ni-en, những lời ấy được giữ kín và niêm phong cho đến thời cùng tận. Nhiều kẻ sẽ được thanh luyện, tẩy trắng và thử bằng lửa. Ác nhân tiếp tục làm điều ác và không ai trong họ sẽ hiểu, còn hiền sĩ thì sẽ hiểu. Từ thời lễ thường tiến bị bãiđồ ghê tởm khốc hại được đặt lên, sẽ có một ngàn hai trăm chín mươi ngày. Phúc thay ai kiên tâm chờ đợi suốt một ngàn ba trăm ba mươi lăm ngày. Phần ngươi, hãy đi cho tới cùng. Ngươi sẽ được an nghỉ, rồi sẽ đứng lên lãnh phần dành cho ngươi khi thời gian chấm dứt” (Đn 12:7-12).
Đức Mẹ giải thích với Lm Gobbi rằng lời tiên tri trên đây về việc bỏ “Hy Lễ Hằng Ngày” bao gồm việc hủy bỏ Thánh Lễ bởi kẻ phản Kitô: “Bằng cách chấp nhận giáo lý phản nghịch, người ta sẽ cho rằng Thánh Lễ không là Hy Lễ mà chỉ là bữa ăn thánh, nghĩa là chỉ tưởng nhớ việc Chúa Giêsu làm trong Bữa Tiệc Ly. Như vậy, việc cử hành Thánh Lễ sẽ bị bỏ. Trong việc bỏ Hy Lễ hằng ngày như thế là tội phạm thánh của kẻ phản Kitô, việc này sẽ kéo dài khoảng ba năm rưỡi, tức là một ngàn hai trăm chín mươi ngày”. Điều này chưa xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, chúng ta có thể chắc rằng các sự kiện dẫn tới việc Chúa Giêsu đến lần thứ hai đang dần tới cao điểm – phàm ngôn gọi là Giờ G.
Dấu chỉ thứ năm: DẤU LẠ.
Những hiện tượng lạ xuất hiện trên trời, chúng ta thường gọi là “điềm thiêng, dấu lạ”. Chúa Giêsu giải thích những gì sẽ xảy ra ngay trước khi Ngài đến lần thứ hai: “Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến” (Mt 24:30).
Dấu lạ Con Người xuất hiện là Dấu Thánh Giá xuất hiện trên trời mà Chúa Giêsu mặc khải cho Thánh Faustina được ghi trong Nhật Ký: “Trước ngày công thẳng sẽ có dấu lạ trên trời: Mọi ánh sáng trên trời sẽ tắt lịm, và sẽ có tối tăm bao trùm trái đất. Rồi Dấu Thánh Giá sẽ xuất hiện trên trời, từ những lỗ đóng đinh chân và tay Đấng Cứu Thế sẽ chiếu tỏa ánh sáng soi chiếu trái đất một lúc. Điều này sẽ xảy ra ngay trước ngày cuối cùng”.

KHI NÀO TẬN THẾ?
Chẳng ai biết trước: “Về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi” (Mt 24:36; Mc 13:32).
Trong sứ điệp trao cho Lm Gobbi ngày 15-9-1991, Đức Mẹ mô tả đó là tân kỷ nguyên (thời đại mới) của hòa bình và niềm vui xảy ra đồng loạt với thời cuối cùng: “Tân kỷ nguyên xảy ra đồng loạt với sự hoàn tất Ý Chúa... Từ việc hoàn tất Ý Chúa, cả thế gian đang trở nên mới, vì Thiên Chúa thấy đó là Vườn Địa Đàng Mới, nơi Ngài có thể cư ngụ trong tình yêu thương hài hòa với các thụ tạo... Tân kỷ nguyên mà Mẹ đang chuẩn bị cho con sẽ xảy ra đồng loạt với sự sụp đổ của Satan và triều đại của nó. Mọi quyền lực sẽ bị hủy diệt”.
Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4:6-7). Sau hàng loạt biến động xảy ra, “kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 24:13). Và Chúa Giêsu kết luận: “Bấy giờ sẽ là tận cùng” (Mt 24:13-14).

TẬN THẾ – VUI HAY BUỒN?
Trước bất kỳ sự kiện nào đó đều có những cách nhìn và cảm nhận khác nhau. Có người vui, có người buồn, và cũng có người bàng quan – chẳng vui chẳng buồn. Trước sự kiện trọng đại Tận Thế cũng không tránh khỏi “lẽ thường” ấy. Người Việt chúng ta có câu: “Thà chết một đống hơn sống một mình”. Thế cũng hay đấy!
Dù biến động nào xảy ra thì chúng ta vẫn phải tiếp tục cuộc sống đời thường, nhưng có điểm khác: Cầu nguyện nhiều hơn và thành tâm hơn, tỉnh thức hơn và sẵn sàng hơn. Chúng ta tiếp tục sống theo cách sống của một Kitô hữu đích thực: Sống mỗi ngày như ngày cuối cùng. Nghĩa là phải hành động như mình bất tử, nhưng hãy sống như mình sắp chết. Chân thành yêu thương mọi người như thể mình không còn cơ hội để thể hiện nữa, và hãy cầu nguyện như thể mình cầu nguyện lần cuối với Chúa.
Chúng ta có sẵn những linh cụ là Ơn Chúa, Thánh Lễ, Bí Tích Hòa Giải, Chuỗi Mân Côi, Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, và Ơn Toàn Xá. Nếu chúng ta tận dụng các linh cụ đó thì ngày tận thế sẽ không làm chúng ta lo sợ, mà đó là lúc vui mừng tận hưởng hạnh phúc. Khi một người qua đời, chúng ta không nói là “hân hoan về Nhà Cha” đó sao? Về Nhà Cha sao lại buồn? Nếu về Nhà Cha mà cảm thấy buồn thì vậy là bạn thích đi hoang!
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ cách cầu nguyện khi một trong các tông đồ nói: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11:1). Và Ngài đã dạy lời cầu nguyện “tiêu chuẩn” nhất: Kinh Lạy Cha (Mt 6:7-13; Lc 11:2-4). Trong đó có mọi thứ con người mong muốn. Lương thực hằng ngày, sự tha thứ và sống tốt lành là những vấn đề “nóng” của cuộc sống, Thiên Chúa biết hết. Vì thế mà các Thánh luôn khôn ngoan: Phó thác cho Thiên Chúa quan phòng. Quả thật, “lòng có đầy, miệng mới nói ra” (x. Lc 6:43-45).
Dù có điều gì xảy ra, điều lớn hoặc nhỏ, điều bất thường hay bình thường, hãy noi gương Đức Mẹ “ghi nhớ và suy niệm trong lòng” (x. Lc 2:19 và 51). Vì người khôn là người nghe nhiều, nhìn nhiều và làm nhiều nhưng ít nói, không ngừng suy nghĩ và cân nhắc vấn đề cho thấu đáo.
Thiên Chúa đã “tính rất kỹ” khi tạo dựng con người: Hai con mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai tay, hai chân, thậm chí là hai bán cầu não, thế nhưng chỉ một miệng và một trái tim. Hai con mắt để nhìn nhiều, hai lỗ tai để nghe nhiều, hai lỗ mũi để “ngửi” nhiều (hiểu theo nghĩa bóng), hai tay để hành động nhiều, hai chân để đi nhiều, hai bán cầu não để suy nghĩ nhiều. Ngược lại, một miệng để nói ít, một trái tim để chung thủy: Kính mến Chúa hết lòng, hết sức và hết trí khôn, đồng thời cũng yêu thương mọi người như chính mình. Chúa quả là Đại Siêu Nhân. Bạn thấy kỳ diệu không?
Để không dao động và hoang mang trước mọi biến cố, hãy áp dụng “bí quyết” mà Chúa Giêsu đã truyền dạy: “Hãy tỉnh thứccầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21:36). Thánh Phaolô cũng cầu chúc: “Chúa là nguồn mạch bình an, xin Người ban cho anh em được bình an mọi lúc và về mọi phương diện. Xin Chúa ở cùng tất cả anh em” (2 Tx 3:16). Chắc chắn Chúa luôn ở với chúng ta, vì Đức Kitô đã hứa: “Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).
Nói cho cùng, có sợ cũng chẳng làm gì được, thế thì sợ làm gì cho “tổn thọ” chứ? Chuyện gì đến sẽ đến: “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào, sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Lc 21:25-27).
Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết trước như vậy, và Ngài căn dặn: “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳngngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc (Lc 21:28). Ai được chứng kiến giây phút tận thế là người diễm phúc. Không biết chúng ta có được diễm phúc đó hay không, nhưng chắc chắn một điều là ai cũng chứng kiến giây phút tận thế của chính cuộc đời mình: CHẾT. Đó là lúc tận thế thực tế nhất và minh nhiên nhất đối với mỗi chúng ta.
Mùa Vọng lại về, nhắc mọi người phải luôn tỉnh thức mà chờ Chúa Giêsu đến, đó là lúc Ngài gọi chúng ta ra khỏi thế gian để trình diện và báo cáo về cuộc đời mình với Thiên Chúa Cha. Hãy tập trung vào Chúa Giêsu và tín thác vào Ngài, đừng chú ý vào ngày tận thế, nếu “yếu bóng vía” sẽ hoang mang và có thể mất đức tin!
Lạy Thiên Chúa, xin Ngài nên như núi đá cho chúng con trú ẩn, và như thành trì để cứu độ chúng con (Tv 31:3). Xin thêm Đức Tin cho chúng con để chúng con an tâm, can đảm vững bước và kiên trì mong chờ Chúa đến. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Giao thừa Năm Phụng vụ, năm A qua năm B, 2014-2015.


Im lặng thánh
Im lặng khổ lắm, nó có thể hành hạ chúng ta. Thậm chí đôi khi chúng ta không biết cách im lặng. Xã hội ngày nay có thể cho chúng ta biết mọi thông tin mau chóng, liên kết với thân nhân và bạn bè mọi nơi và mọi lúc. Vì thế, sự im lặng là một đức tính trong thế giới ngày nay, thậm chí người ta coi động thái im lặng là thứ xa xỉ phẩm, là khinh khỉnh, không thân thiện, khó tính, sống xa rời thực tế.
Chúng ta tránh né im lặng vì chúng ta “lệ thuộc” vào các loại điện thoại, iphone, ipad, máy tính bảng, máy vi tính, hoặc bất cứ thứ gì làm cho mình không cảm thấy cô đơn. Khi ngồi im lặng, chúng ta than phiền vì không nghe được tiếng Chúa. Chúng ta bồn chồn lo lắng như đứa bé bập bẹ tập nói, không thể hiểu nhu cầu im lặng là gì.
Sự im lặng như cây chờ mưa… Chờ mãi. Cây bị khô. Cuối cùng, khi cây nghĩ nó không thể chờ đợi thêm nữa thì có mưa. Cuối cùng, cây được thỏa mãn. Nó đón nhận những hạt mưa làm cho nó phát triển. Rễ nó hút lấy nước mưa để dưỡng nuôi cả thân, cành và lá. Nhờ đó nó có thể sinh hoa kết trái ngọt lành.
Cũng như cây, thiếu sự im lặng nên chúng ta khát khô. Sau khoảng thời gian im lặng, dĩ nhiên chúng ta luôn cảm thấy lâu, nhưng rồi “mưa” sẽ đến. Khi “cây” để cho “mưa” thấm sâu vào rễ, Lời Chúa và Sự Sống của Thiên Chúa sẽ thấm sâu vào “rễ” của chúng ta. Chúng ta sẽ hết khát khô, được thỏa nỗi mong đợi, và chúng ta sẽ sống dồi dào trong Ngài. Chúa Thánh Thần sẽ nói khi chúng ta im lặng, khi chúng ta dành khoảng trống tâm hồn cho sự im lặng vang lên. Tiếng nói của Thiên Chúa trong cuộc đời của chúng ta không thể nghe như âm thanh bình thường, Chúa Thánh Thần vẫn thúc đẩy mỗi chúng ta hằng ngày. Bạn có im lặng để lắng nghe Chúa Thánh Thần?
Trong miền sa mạc tâm hồn, hãy tìm kiếm sự an ủi trong khoảng “vô vi” kỳ diệu đó. Vì không có khoảng trống nên chúng ta không thể lãnh nhận. Khoảng trống cho phép chúng ta lấp đầy. Trong lúc khô cằn thì chúng ta mới biết hy vọng những điều tốt lành. Những khoảnh khắc im lặng với điều mình yêu thích sẽ đem lại sự thân mật hơn. Thân thiện với người thân là sự êm đềm quý giá của cuộc sống.
Có những lúc tình yêu không cần lời nói. Sự im lặng, đặc biệt khi ở trước Thánh Thể, cho phép chúng ta đắm mình trong tình yêu và sự an ủi của Chúa Giêsu. Sự im lặng cũng có thể là sự khủng khiếp. Thậm chí nó có vẻ khó vận dụng trong thế giới này khi người ta mê Instagram, Twitter, hoặc Facebook. Nhưng sự im lặng luôn cần thiết vì nó giúp tu dưỡng đời sống tâm linh của chúng ta, đó là tìm kiếm Thiên Chúa.
Giáo Hội đang sống trong Mùa Vọng, khoảng Im Lặng Thánh, khoảng mong chờ Đấng Cứu Thế. Ánh sáng sẽ mờ nhạt khi chúng ta ngồi trong bóng tối. Mỗi tuần, chúng ta thắp sáng một ngọn nến cho tới khi Vòng Lá Mùa Vọng sáng đủ bốn ngọn nến, và Giáo Hội lại bừng sáng lên. Mùa Vọng là thời gian im lặng, mong đợi. Đức Mẹ đã mong chờ Con Chúa giáng sinh, và thế giới mong chờ Vị Cứu Tinh. Hãy chờ đợi và im lặng, chờ đợi trong bóng tối, nhưng không luống công vô ích. Ánh sáng sẽ bừng sáng khi Con Thiên Chúa giáng sinh. Hãy im lặng và cứ để Chúa Thánh Thần hành động!

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

 

Ơn gọi
Lm JOHN A. HARDON, Dòng Tên (SJ)

Không có gì lạ đối với bất cứ ai đã quen với quang cảnh ở các quốc gia như Hoa Kỳ, có hai khái niệm rất khác nhau về đời sống tôn giáo được thể hiện rộng rãi.
Một nhãn quan coi đời sống tu trì có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, tính từ những người sáng lập các cộng đoàn hiện có, qua các nhân vật quan trọng của Công giáo như các Thánh Inhaxiô, Đa-minh, Phanxicô, Bênêđictô, Vinh-sơn Phaolô, Frances de Chantal và Angela Merici. Vẫn có sự nối tiếp về truyền thống nguyên vẹn của Kitô giáo Công giáo, ngay từ các Tông đồ đầu tiên theo tiếng gọi của Đức Kitô để sống đức nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời.
Theo quan điểm này, rõ ràng đời sống tu trì có một quá khứ lâu dài, thích nghi với mọi thời đại. Sự hiện hữu hiện nay có một tương lai chắc chắn vì nó được xây dựng trên nền tảng suốt hơn 20 thế kỷ của Kitô giáo. Do đó, đời sống tu trì được nâng đỡ bởi cùng một tinh thần của Đức Kitô vẫn duy trì Giáo hội của Ngài, dù ngày nay có canh tân nhưng vẫn là một, bất kể thời gian và mọi thứ tàn phá.
Một nhãn quan khác về đời sống tu trì không chỉ khác mà còn tương phản. Nó sẵn sàng chấp nhận quá khứ, và gọi là “quá khứ vinh quang”. Nhưng ngày nay, thời hoàng kim đó không còn, mà chỉ còn là điều mong ước.
Theo đó, đời sống tu trì thực sự không có quá khứ theo dạng kiểu mẫu của hiện tại, nhưng là tương lai tạm thời và không chắc. Đó là một phần của sự mặc khải liên tiếp mà Thần Khí Thiên Chúa mà ngày nay chỉ thấy mờ nhạt, và có thể sẽ dần dần “mở ra” khi thế giới ngày nay đi xuyên qua lớp sương mù của các ý thức hệ xung khắc đang bao phủ Tây phương như đám mây đen.
Theo tiền đề đó, không cần phải nói rằng khái niệm này vẫn có thể dùng thuật ngữ “đời sống tu trì”, và giữ lại nhiều từ ngữ mà ngày xưa đã dùng – nhưng ngữ nghĩa đã thay đổi.
Do đó, ý nghĩa của ơn gọi tu trì cũng thay đổi nhiều. Nếu mỗi ơn gọi (ơn thiên triệu, sự hướng nghiệp) là lời đáp lại tiếng gọi từ nội tâm, sự đáp lại đó được xác định bằng ý niệm của người đó về những gì được nâng đỡ. Chẳng hạn, sự đáp lại của tôi là muốn trở thành bác sĩ, hiểu theo cách nào đó là “nghề thuốc”. Theo cách này, đó là vấn đề tiêu chuẩn được các trường y dược đòi hỏi ở những người thỉnh cầu. Điều cuối cùng họ muốn là một con người chưa rõ về nghề nghiệp mà người đó mong muốn.
Có lợi khi biết các quan điểm đối lập về đời sống tu trì và ơn gọi. Sự phân tích sẽ cho thấy điều gì đó. Phía sau mỗi quan điểm đều có khái niệm khác về Giáo hội. Điều đó cũng cho thấy những gì mà nhiều người vẫn không tin là thật, rằng chúng ta đối diện với những gì còn hơn là ngữ nghĩa học (semantics), thậm chí còn hơn là quen thuộc, và hiện nay, các tính từ có nghĩa xấu như “bảo thủ” và “phóng khoáng”, hoặc “tĩnh” và “động”, vẫn có điều gợi ý.
Mục đích của tôi đặc biệt hơn. Đó là nói thẳng ra rằng chỉ có một khái niệm xác thực về đời sống tu trì, nghĩa là khái niệm thứ nhất, có nguồn gốc là thiêng liêng, vì Đức Kitô đã thực hiện cách sống này, và ngày nay, Ngài vẫn mời gọi cả nam và nữ đi theo Ngài và sống như Ngài đã sống: Sống theo lời khuyên Phúc Âm (evangelical counsels).
Chúng ta trở lại vấn đề tảo luận: “Ơn gọi tu trì”. Kế hoạch của tôi là phản ánh các phương diện của vấn đề này: Điều này có ý nghĩa gì? Ngụ ý thần học là gì? Và điều gì là hệ quả thực tế, thậm chí là phê phán, khi thúc đẩy ơn gọi tu trì?

Ý NGHĨA. Khi chúng ta xác định ơn gọi tu trì phát xuất từ Thiên Chúa, về cơ bản, chúng ta nói rằng đời sống tu trì là sản phẩm của con người – các ơn gọi đáp lại.
Một số người bảo chúng ta tin rằng đời sống tu trì có trong Giáo hội trễ hơn sự phát triển của văn minh Kitô giáo. Chúng ta được biết nhiều điều. Cuối thế kỷ II và III, một số Kitô hữu muốn thoát khỏi sự bách hại và sự vô luân của các thành phố ở Rôma, Alexandria và Antioch, nên họ đã trốn vào hoang địa và lập thành các cộng đoàn để họ sống an toàn, khỏi bị sự cám dỗ và sự đe dọa của chủ nghĩa ngoại giáo suy đồi. Chúng ta chắc rằng Thánh Bênêđictô đã làm điều tương tự khi trốn khỏi cuộc xâm lược man rợ trong thời của ngài. Cũng vậy, Thánh Phanxicô là một nhà thần bí (mystic) chống lại sự xa hoa phản Kitô giáo trong thời của ngài. Thế kỷ XVI, Giáo hội cần người lãnh đạo quân đội để bảo vệ giáo hoàng và chống lại sự xâm nhập của Tin Lành. Ngay sau đó, cuộc Cải Cách Đối Lập (Counter Reformation) kêu gọi thành lập các trường học Công giáo. Với sư hòa giải của Bắc Mỹ và Nam Mỹ, và mới đây là thuộc địa Á châu và Phi châu – người lao động nghèo ở các trại và các nhà cho người già, các nơi học tập và chăm sóc người khuyết tật.
Trong mỗi trường hợp, người lãnh đạo uy tín đã thành lập một tổ chức để thỏa mãn nhu cầu của thời đại. Chắc chắn được gợi hứng bởi đức ái Kitô giáo, các thành viên được tuyển mộ để đáp ứng nhu cầu hiển nhiên, và rồi một cộng đoàn khác được thành lập rất nhanh.
Chỉ có vậy thôi sao? Đúng, chỉ có vậy chứ không có gì hơn. Tôi không chối rằng trong nhiều trường hợp, đối với những gì ngày nay chúng ta đang trả giá mắc, các ngành nghề được tuyển chọn khi chính phủ tuyển mộ người cho quân đội để thỏa mãn chỉ tiêu nào đó về giáo viên, y tá, nhân viên từ thiện, người quản lý các tổ chức,...
Nhưng sự lạm dụng không là tiêu chuẩn để hiểu ý nghĩa. Khi Giáo luật được biên soạn năm 1917, và Bộ luật này đã chuẩn bị chi tiết về đời sống tu trì – để ngăn ngừa hoặc làm giảm các sai lỗi tương tự – không vạch ra tiêu chuẩn chính về ơn gọi tu trì. Tiêu chuẩn đã có trong Phúc Âm, và do đó phải theo nguồn gốc, như Hiến pháp Giáo hội đối với “giáo huấn và mẫu gương của Chúa”.
Chúa Giêsu Kitô là Tu sĩ đầu tiên. Đời sống và giáo huấn của Ngài đã gợi hứng nhiều người từ khi Giáo hội sơ khai, họ bán tất cả những gì họ có và cho người nghèo, rồi đi theo Chúa, họ khước từ quyền kết hôn và quyền thừa kế, vui vẻ vâng phục những người hướng dẫn họ nhận ra tiếng Chúa gọi.
Khoảng năm 100, không ai nói rằng có những dòng tu phát triển mạnh hơn so với ngày nay. Nhưng với cùng dấu hiệu, ngày nay không được diễn tả đầy đủ hoặc được hiểu rõ ràng. Cũng có điều tương tự khi phát triển giáo lý. Thánh Thể, quyền tối cao của Giáo hoàng, đời sống ân sủng sâu sắc và mức độ thích hợp không chỉ có hồi năm 100, năm 700, hoặc thậm chí là năm 1900.
Tuy nhiên, nói vậy không là vấn đề, điều đó xác nhận rằng bản chất và các yếu tố cần thiết của các mầu nhiệm chính trong Kitô giáo và chắc chắn được Đức Kitô mặc khải, do đó đã hiện hữu trong lòng Giáo hội từ thời các Tông đồ.

NGỤ Ý THẦN HỌC. Khi chúng ta chân nhận rằng tinh hoa của đời sống tu trì là một phần trong sự mặc khải Kitô giáo, với vô số ngụ ý thần học theo sau, ở đây tôi chỉ chọn ba điều: Các ngụ ý về Kitô học, Giáo hội học, và Thần học Khổ hạnh (Christology, Ecclesiology, Ascetical Theology). Trong các vấn đề cơ bản mà các nhà Kitô học đặt ra là vấn đề đã được tóm lược trong tác phẩm nổi tiếng của Thánh Anselmô, tác phẩm “Cur Deus Homo!” (Tại sao Thiên Chúa làm người).
Xin trả lời ngay lập tức rằng Thiên Chúa làm người để cứu độ nhân loại, giải thoát họ khỏi tội lỗi và kéo họ ra khỏi bóng tối. Nhưng nếu người ta chưa thỏa mãn, họ nói: “Thế thôi ư?”. Chúng ta phải nói rằng Thiên Chúa làm người không chỉ cứu độ thế giới bằng cách thánh hóa, không chỉ giải thoát các tội nhân chúng ta khỏi tội lỗi, mà còn dẫn chúng ta tới nguồn thánh thiện nhờ kết hợp với Ngài.
Tương tự, chúng ta phải nói rằng Đức Kitô đã thiết lập Giáo hội không chỉ là phương cách cứu độ, mà còn là phương cách thánh hóa. Nói cách khác, Ngài muốn các tín hữu của Ngài không chỉ được giải thoát khỏi cái ác mà còn được nâng tới sự hoàn hảo. Qua Giáo hội, Ngài cung cấp cho các tín hữu cách nên thánh trong đời sống riêng, để người khác thấy gương của họ mà theo, và người khác được giúp đỡ để đạt tới sự thánh thiện bằng cách thực hành các nhân đức.
Thánh Phaolô có lời khuyên mạnh mẽ: “Hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Đức Kitô” (1 Cr 11:1). Một mệnh lệnh ngắn gọn nhưng tóm lược đời sống tu trì, do đó động lực chính phải thu hút ơn gọi tu trì. Hơn nữa, ơn gọi không đưa tới sự thánh thiện bình thường, mà tới sự từ bỏ mình hoàn toàn, thề hứa suốt đời – gọi là khấn trọng hoặc vĩnh thệ. Đó là sự hy sinh hoàn toàn qua ba lời khấn (vâng lời, khó nghèo, khiết tịnh), phục vụ hoàn toàn vì người khác để thánh hóa thế giới.
Nếu chúng ta lầm lẫn ơn gọi nên thánh này với ơn gọi mọi Kitô hữu nên giống Đức Kitô, chúng ta quên bài học về ơn gọi tuyển chọn của Thiên Chúa, từ thời Tổ phụ Áp-ra-ham, đối với một số người được chọn làm khí cụ của ân sủng đối với những người khác. Từ chối sự tuyển chọn này là trở thành nạn nhân của chủ nghĩa quân bình cách mạng (revolutionary egalitarianism), tìm cách làm giảm các điều kỳ diệu và sự phụ thuộc lẫn nhau về xã hội (social interdependence) của những người trong thế giới của Thiên Chúa đối với sự không tưởng về xã hội không giai cấp của huyền thoại chủ nghĩa Mác-xít (classless Utopia of a Marxist mythology).

QUAN ĐIỂM GIÁO HỘI. Mọi thứ khác là phụ, như hiện nay chúng ta được biết, tệ hơn là không dùng khi thiếu quan tâm. Một tu sĩ có thể có các công việc khác và tham gia nhiều hoạt động tông đồ. Ơn gọi của người đó là NÊN THÁNH. Từ quan điểm Giáo hội, nguồn gốc đời sống tu trì ngụ ý rằng sự duy trì và cách hiểu, sự phê chuẩn và quy tắc của đời sống này thuộc về Giáo hội và Tòa Thánh.
Đây không là sự quan sát bình thường. Một công nghị mới đây nói: “Lời khuyên là tặng phẩm từ trời mà Giáo hội đón nhận từ Thiên Chúa, luôn an toàn với sự giúp đỡ của ân sủng”. Sự bảo đảm của ân sủng này khi nuôi dưỡng và duy trì ơn gọi tu trì phải được chấp nhận về vấn đề này theo hướng dẫn của Giáo hội. Chưa bao giờ có sự vâng lời đối với các chỉ thị của Giáo hội lại rõ ràng và quan trọng hơn.
Các bề trên của các dòng tu được mời gọi có thể so sánh với trách nhiệm nặng nề như các giám mục trong Giáo hội Công giáo. Các bề trên cũng đang được thử thách, nhất là việc trung thành với Giáo hội – nghĩa là phù hợp – đối với các nguyên tắc của Giáo hội được Công đồng Vatican II đưa ra, và sự ủy thác mà Đức giáo hoàng dùng để hướng dẫn Giáo hội. Điều đó không mới lạ hoặc bất thường, nghĩa là để làm chứng nhân trên thế gian về Thiên Chúa Ba Ngôi.

NHU CẦU HƯỚNG DẪN. Vì sự đa dạng hiệu quả này rất quý giá, cần có những người thề hứa để duy trì Giáo hội. Cũng vậy, trong các cộng đoàn không có hai người giống nhau, và chính sự xác định của mỗi người là riêng biệt. Chúng ta cũng không phải chờ các tâm lý gia cho biết về điều đó.
Nhưng vì tính cá nhân rất quý giá, cần có những người thề hứa để tránh vị kỷ thái quá. Một điều mỉa mai ngày nay là Rôma có hơn một người người bảo vệ tính đa dạng trong các gia đình và các cộng đoàn, đó là người bảo vệ tính cá nhân.
Điều gì là nguồn gốc của đời sống tu trì ngụ ý trong lĩnh vực thần học khổ hạnh? Ngụ ý quan trọng nhất là ơn gọi trong tình trạng của đời sống. Thiên Chúa kêu gọi thì Ngài cũng ban ân sủng để duy trì ơn gọi. Nhiều người khởi hành từ tu viện và đời sống tu trì. Không có điều như vậy xảy ra, ít là từ thế kỷ XVI, và có thể không bao giờ có trong Kitô giáo trước đó.
Hình ảnh đó đã không còn trong đầu của hàng triệu người. Thay vì ổn định thì lại không ổn định. Thay vì vĩnh viễn, ấn tượng còn lại nơi các tín hữu là các lời khấn của các tu sĩ. Vấn đề quá phức tạp khi xem xét các chi tiết. Sự không vững bền này là khái niệm sai lầm cho rằng đời sống tu trì là sự lầm lẫn.
Thế giới ngày nay được mô tả bằng sự thay đổi nhanh đến chóng mặt. Ngay cả cách nói về “lối sống” cũng là triệu chứng của khuynh hướng chung. Lối sống thay đổi có lý do. Vì vậy, đời sống của con người cũng bất ổn, ai dám sống khác thì bị coi là “cấp tiến” hoặc “phản động”. Sự thật được Thiên Chúa mặc khải thì bất biến. Thực sự có những người được kêu gọi theo Thầy chí thánh Giêsu để sống theo các lời khuyên Phúc Âm.
Có một hệ lụy thực tế, hệ lụy tất yếu đối với đời sống tu trì có nguồn gốc linh thiêng, do đó ơn gọi tu trì đến từ Thiên Chúa, Đấng làm người để sống lời khuyên Phúc Âm và muốn những người khác cũng sống như vậy. Họ được tuyển chọn, được đào tạo để phục vụ chứ không để được phục vụ (Mt 20:28; Mc 10:45).

TUYỂN CHỌN. Chúa Giêsu xác định: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi” (Ga 15:16). Đó là cách diễn tả bất ngờ về mầu nhiệm ơn gọi. Trong thực tế, điều đó có nghĩa là chúng ta phải hiểu rõ hơn rằng chúng ta hành động theo lời mời gọi của Thiên Chúa, chính Ngài tuyển chọn những người sống theo cách này.
Dấu hiệu ơn gọi là có Đức Tin mạnh mẽ và đúng đắn – như Áp-ra-ham được Thiên Chúa kêu gọi. Đức Tin đó đơn giản và rõ ràng, được tôi luyện trong đau khổ, hoàn toàn tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, và chỉ hành động theo Thánh Ý Ngài. Thay vì tìm kiếm những người có mức cao về Chỉ Số Thông Minh (I.Q. – Intelligence Quotient) cao, hãy tìm những người có mức cao về Chỉ Số Đức Tin (F.Q. – Faith Quotient).
Chỉ Số Đức Tin là tặng phẩm quý giá, sẵn sàng trung tín và hy sinh. Khi Thiên Chúa chọn, Ngài cũng ban ân sủng để có thể vác thập giá theo Đức Kitô.

ĐÀO TẠO. Chúa Giêsu đã quan tâm: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9:37). Tương quan với việc tìm kiếm điều đúng để nhận biết ơn gọi đích thực, cần có sự đào tạo về siêu nhiên để người được gọi sống đúng đời sống tu trì. Trong đó, đào tạo cầu nguyện là điều cơ bản nhất. Nhờ đó, chúng ta có thể hy vọng một tương lai tốt đẹp về ơn gọi.
Tuy nhiên, họ có môi trường cầu nguyện? Họ có thấy những tấm gương cầu nguyện? Họ có được hướng dẫn đúng cách cầu nguyện?
Cầu nguyện là nghệ thuật giao tiếp với Thiên Chúa, nói đơn giản là cách nói chuyện với Thiên Chúa. Không khí cầu nguyện là môi trường tĩnh lặng đủ để có thể tập trung, không bị chia trí. Nói theo văn hoa, đó là sự hiểu biết về đức ái. “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Gương sáng luôn rất quan trọng.
Có nhiều cách cầu nguyện, nhưng hướng dẫn phải đúng cách để giúp người ta biết cách tâm sự với Thiên Chúa một cách thân mật và hiệu quả. Cầu nguyện là một nhân đức. Cầu nguyện làm chúng ta nên thánh, phù hợp với Ý Chúa, vì Ngài muốn mọi người nên thánh (x. Mt 5:48).

CẤU TRÚC. Thoạt đầu, chúng ta thấy có vẻ không phù hợp để nói về “cấu trúc” trong việc liên kết ơn gọi tu trì, thậm chí còn có vẻ đối lập.
Quan điểm thứ nhất lưỡng lự cho rằng đời sống tu trì có nền tảng trong Phúc Âm, trong mọi thời của Giáo hội, và là phần quan trọng trong truyền thống Kitô giáo. Quan điểm thứ hai xác định những gì quan điểm thứ nhất bác bỏ. Cả hai quan điểm đều cho rằng ơn gọi tu trì xuất phát từ Thiên Chúa. Đó có phải là một cộng đoàn có cấu trúc, có bề trên và tu luật?
Đời sống tu trì là một dạng vườn nho của Chúa, hữu hình, có tổ chức và có trận tự. Trong số các phụ nữ liễu yếu đào tơ vẫn có người hướng dẫn. Đó là các phụ nữ như Thánh Teresa Avila, Julie Billiart, Sophie Barat và Francesca Cabrini. Họ là những người sáng lập các viện cứu tế cho những người cần được quan tâm (thể lý và tâm linh). Chính họ đã tạo nên những kỳ công cho Giáo hội Công giáo.

PHỤC VỤ. Chúng ta có còn một phương diện nữa về hệ quả thực tế trong việc hiểu biết ơn gọi tu trì có nguồn gốc từ Phúc Âm. Đó là “sự phục vụ” và chính đặc tính của việc tông đồ của các cộng đoàn tu.
Mỗi người đều được Chúa Thánh Thần tác động hoặc linh hứng, được chuẩn bị bằng bản chất và ân sủng để tìm kiếm việc tông đồ và việc riêng, mọi việc đều vì lợi ích cho to dân Chúa.
Có thể kiểm nghiệm lý thuyết này trên nền tảng lý thuyết. Nhưng để thuyết phục hơn, có thể xem đặc tính của việc tông đồ từ thời các Thánh Tông Đồ, từ thời khai sinh Kitô giáo. Năm 1000, có 100 giáo phận đã được thành lập dọc duyên hải Địa Trung Hải. Khi vua Henry VIII áp bức các tu viện ở Anh quốc, hơn 2.000 trường học Công giáo dành cho trẻ em cũng bị cấm hoạt động. Khi cộng sản chiếm Hungary và Tiệp Khắc (nay là Cộng hòa Séc và Slovakia), mục đích đầu tiên của họ là phá hủy các cơ sở Công giáo được các tu sĩ nam nữ điều hành.

KHÔNG AI “SAI” CHÍNH MÌNH. Sự thật cho biết rằng các giáo phận của Giáo hội Công giáo và các tổ chức trong thế giới Công giáo không hiện hữu hoặ phát triển mạnh – hoặc là đối tượng đối lập với chủ nghĩa duy vật Mác-xít. Công giáo Rôma có ý tưởng rất rõ ràng về bản chất ơn gọi là phục vụ Giáo hội, dĩ nhiên được Đức Kitô ủy thác, nhưng sự ủy thác này bao gồm yếu tố “được sai đi”. Đó là nhận một sứ vụ từ những người có quyền nhân danh Đức Kitô, trừ phi chúng ta xuyên tạc ý nghĩa của từ ngữ, vì “không ai có thể tự sai mình”.
Do đó, mỗi ơn gọi tu trì đều bao gồm ân sủng của sự khiêm nhường vâng lời đối với những người đại diện Giáo hội. Họ không phân công ngẫu nhiên hoặc bừa bãi, hoặc không quan tâm khả năng và sự ưu tiên của những người họ “giao nhiệm vụ”. Nhưng họ sai phái như mọi chứng cớ của Phúc Âm bảo đảm với chúng ta rằng Đức Kitô đã sai những người mà Ngài đã kêu gọi. Cũng như ơn gọi, sứ vụ có nguồn gốc Thiên Chúa.

VĨ NGÔN. Xin được khép lại bài viết ngắn này. Những năm sắp tới sẽ rõ ràng hơn bây giờ, tùy mức độ tin tưởng rằng ơn gọi tu trì do từ Thiên Chúa. Từ Thiên Chúa, Đấng làm người để trở nên linh mục và tu sĩ. Thiên Chúa làm người tiếp tục gợi hứng rất nhiều người theo con đường nên thánh của Ngài và phục vụ nhân loại. Từ Thiên Chúa làm người, ân sủng nâng đỡ những người nói sự thật khi rằng ơn gọi là “hạt giống từ trời”. Kinh nghiệm đã chứng tỏ rằng hạt giống này khả dĩ sinh hoa kết trái khi được tiếp nhận trong niềm tin và được hỗ trợ bằng tình yêu thương.


TRẦM THIÊN THU

(Lược dịch từ TheRealPresence.org)

 

DongCongNet - December 13, 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)