Chúa Nhật I Mùa Vọng Năm B
 
 


Hãy tỉnh thức!

Titanic là con tầu được kiến trúc cách rất kỹ lưỡng và an toàn tối đa, khiến công ty đóng tầu đã bảo đảm rằng con tầu này không thể đắm được. Con tầu dài 882.5 feet và nặng 46 ngàn tấn, được bọc bằng hai lớp vỏ kiên cố, bên trong chia thành 16 ngăn có cửa chặn nước. Giả như nước có vào hết 4 ngăn thì tầu vẫn nổi trên mặt nước cách an toàn.
Thật không ngờ, ngày 14 tháng 10 năm 1912 chuyến khởi hành từ Luân Đôn đến Hoa Kỳ, với tốc độ 22 hải lý một giờ, con tầu vĩ đại đã đụng phải tảng băng sơn vĩ đại, nước tràn vào hết 5 ngăn. Thế là con tầu từ từ chìm xuống lòng biển lạnh với 1.513 người thiệt mạng. Không ai ngờ con tầu kiên cố ấy lại biến thành một một chiếc quan tài khổng lồ táng xác họ trong lòng biển cả.

Với sự tân tiến của khoa học, con người có thể dự đoán và tiên liệu cách khá chính xác những gì có thể xảy ra trong tương lai, để tránh những bất trắc ngoài ý muốn. Thực thế, không mấy ai trên đời ưa hai chữ BẤT NGỜ, cho dù chúng ta biết và chấp nhận sự bất ngờ sẽ đến như sự chết. Nhưng Chúa không tiết lộ cho chúng ta biết trước giờ chết của mình. Do đó chúng ta phải luôn sẵn sàng. Chúa dạy: "Các con hãy cầu nguyện, tỉnh thức và sẵn sàng luôn, vì các con sẽ không biết biến cố sẽ xẩy ra lúc nào" (Mc.13:33).

Khi nói đến danh từ "MÙA VỌNG" phải chăng chúng ta chỉ liên tưởng đến đêm Noel linh thiêng, tưng bừng nhộn nhịp với hình ảnh Chúa Cứu Thế giáng trần? Không, nó không những là chuẩn bị chờ đón một kỷ niệm lịch sử xảy ra cách đây hơn hai ngàn năm, mà còn là một chuẩn bị cho cuộc tái thế của Chúa Giêsu với mỗi người chúng ta nữa.

Chuyến bay hôm nay của tôi có thể là chuyến bay cuối cùng? Bữa cơm thân mật của tôi hôm nay có thể là bữa tiệc ly... Vì vậy, trong tư thế tỉnh thức và chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng chúng ta hãy ý thức cách mình sống đạo - sống với Chúa và sống cho tha nhân trong tâm tình khoáng đạt, bình tâm, đại độ, chân thành, yêu mến.

Ước gì mỗi người chúng ta biết cách sửa soạn đón chờ Chúa Giáng Sinh, thì cũng biết cách đón chờ Chúa đến gọi chúng ta về trong khi thi hành nhiệm vụ mỗi ngày.

Lm. Đức Khiêm, CMC

 

Chúa Nhật I Mùa Vọng – Năm B; 30-11-2008
Lời mời gọi tỉnh thức- Mc 13, 33-37

Tỉnh thức, theo Đức Giêsu, như bài Tin mừng thuật lại là một trạng thái của tâm hồn. Một tâm hồn luôn biết hướng vọng về sự trở lại của Chúa, luôn thao thức, tìm kiếm để gặp và kết hợp với Ngài. Câu chuyện Đức Giêsu dùng để minh hoạ về sự tỉnh thức cho chúng ta một cái nhìn rõ rệt: không biết khi nào chủ nhà trở về, không biết khi nào thời ấy đến. Thế nên theo Đức Giêsu, một thái độ sẵn sàng, một thái độ thức tỉnh luôn được coi là sự khôn ngoan nên có và cần có. Nhưng rõ ràng là Đức Giêsu còn đi xa hơn khi mời gọi chúng ta không dừng lại ở một thái độ mà còn là một sự cải thiện cách sống bởi vì chỉ thái độ thôi thì chưa đủ, mà còn cần có sự thực hành nữa. Qua sự cải thiện cách sống chúng ta thể hiện niềm tin, bộc lộ hay diễn tả sự mong chờ Chúa đến. Một cuộc sống hiền hoà nhân ái, luôn ngay thẳng, quang minh chính đại, sống sát với những chuẩn mực đòi hỏi của Tin Mừng mà Đức ái luôn là trọng tâm.

Có cần gặp Chúa không? Tại sao lại phải gặp Chúa? Thưa là cần lắm bởi vì Chúa mới chính là Đấng đem lại hạnh phúc đích thực, là Đấng thoả mãn mọi sự nơi ta. Tất cả sẽ là vô nghĩa nếu Chúa đứng bên lề cuộc sống của chúng ta. Đó một chân lý chắn chắn đúng. Những ai có tuổi đời càng cao, có kinh nghiệm về sự cận kề với cái chết sẽ càng có kinh nghiệm và xác tín về điều này. Lời mà ngôn sứ Isaia ở bài đọc thứ nhất sử dụng để diễn tả sự khao khát được gặp Chúa bằng những lời lẽ thống thiết: “Ngài mới là Cha, là Đấng cứu chuộc; xin Ngài mau mau trở lại, phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống” cũng là một ví dụ minh hoạ về chân lý ấy.

Một cách nào đó, câu chuyện mà Đức Giêsu dùng hôm nay có thể được coi như đồng nghĩa với câu ngụ ngôn mà người Việt hay dùng: “Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm”. Ai trong chúng ta, tuỳ theo bậc sống cũng từng có kinh nghiệm về sự tự do khi Ba Mẹ vắng nhà hay khi Bề trên vắng mặt. Những lúc ấy người ta thường buông lỏng sự thực hành kỷ luật đang có để sống tự do thoải mái hơn theo ý thích riêng tư của mình. Hậu quả là sự xáo trộn và mất thăng bằng, để rồi sau đó, khi trở về với cuộc sống hiện tại, chúng ta cần có một khoản thời gian cần thiết để lấy lại sự quân bình.

Lời mời gọi tỉnh thức của Đức Giêsu hôm nay được coi như một lời cảnh báo vì ngày giờ và sự trở lại của Thiên Chúa không ai biết. Không ai biết chính xác lúc nào và khi nào thì Thiên Chúa đến. Nhưng đó cũng là một lời khuyên nên biết tận dụng thời gian Chúa cho để chuẩn bị sẵn sàng mà không bối rối, bỡ ngỡ hay hối tiếc trước những sự kiện sẽ xảy đến.

Học thái độ khôn ngoan của Tin Mừng, Mùa Vọng năm nay phải hơn hẳn Mùa Vọng năm trước. Tôi vẫn là tôi. Vẫn với nhịp sống bình thường hằng ngày. Tôi vẫn phải chu toàn những công việc và bổn phận của tôi vì sự sinh tồn; tôi vẫn phải miệt mài học tập và làm việc… nhưng chắc chắn tôi phải có một thái độ và một tâm tình khác, mới mẻ hơn, đầy sự nhạy bén hơn trong một nhận thức sâu sắc rằng Chúa đang đến với nhân loại và với riêng tôi.

Xin có một đề nghị nho nhỏ thiết thực cho những độc giả của báo Mẹ trong Mùa Vọng này. Những ai thấy mình đang sống không hoà hợp với những người xung quanh do tính khí nóng nảy, khó chịu của mình, hãy ý thức về điều đó để biết kiềm chế bản thân, để cư xử dịu dàng, nhân ái, thân thiện hơn; những ai đang có một cuộc sống thiếu công bằng bái ái, không lương thiện hãy dừng ngay lại và thay đổi cách sống ấy; hay những ai là cha là mẹ, là chồng hay vợ mà thấy mình chưa thực sự chu toàn trách nhiệm và bổn phận của mình, hãy cố gắng suy nghĩ để nhận ra bổn phận của mình và chu toàn chúng tốt hơn; những ai là con cần xem lại thái độ của mình với cha mẹ hay bề trên của mình để có những ứng xử đầy tình hiếu thảo và kính trọng.

Có những thái độ và tâm tình ấy, chúng ta sẽ tích cực thay đổi cách sống và sẽ có một tương quan tốt hơn về sự việc và con người chung quanh. Thiên Chúa luôn trông mong nhìn thấy thiện chí của con người thay đổi trong chiều hướng hướng thiện và tích cực. Phải chăng tôi đang quá bận tâm, mải mê với những gì thuộc về trần gian, hay tôi đam mê hưởng lạc thú, tận hưởng những tháng ngày đang sống, với những thứ mà nay còn mai mất mà quên mất Chúa đang đến để cứu độ và đem tôi về với Chúa Cha? Cần phải coi lại những giá trị tinh thần mà tôi đang sở hữu, bởi vì Chúa sẽ đến vào lúc chúng ta không ngờ, vào thời mà chúng ta không biết. Với những tâm tình ấy chúng ta bước vào Mùa Vọng trong niềm vui và sự hy vọng. Chúa đang đến và đến rất gần rồi. Nào cùng nhau chúng ta đón tiếp Ngài.

Pt. Louis Kim

 

CHÚA NHẬT 1 Mùa Vọng 30-11-2014
Tỉnh thức – đợi chờ (Mc 13: 33-37)

Ngày 24-07-2014, các hãng thông tấn quốc tế như AFP, UPI  đưa tin  ĐTC Phanxicô  đã tiếp  đón bà Meriam Ibrahim đã không chịu chối bỏ đức tin Công Giáo dù toà án Sudan tuyên án treo cổ. Bà bị buộc tội ngoại tình với hình phạt  đánh 100 roi vì  đã kết hôn với người theo Kitô giáo. Luật Hồi giáo  ở Sudan cấm phụ nữ Hồi kết hôn với người khác đạo. ĐTC đã ngỏ lời cám ơn bà vì giữ đức tin và can đảm. Bà cám ơn ĐTC vì lời cầu nguyện và quan tâm hỗ trợ.

Bà Ibrahim lúc đó đang mang thai 8 tháng, đã bị xiềng xích xuốt thời gian giam cầm và đã sinh một  đứa con gái vào ngày 27-5-2014 trong khi tay chân vẫn bị xiềng vào tường.  Đứa con trai lớn Martin Wani, 20 tháng (1 tuổi rưỡi,) cũng bị coi là con rơi, và bị giam giữ không được gặp cha đẻ. Bà lập gia đình vào năm 2011 với một người Mỹ gốc Nam Sudan là ông Daniel Wani đang sống và làm việc ở New Hampshire.

Bản án khắc nghiệt gây phẫn nộ trên toàn thế giới. Giới ngoại giao gọi đó là 'man rợ'.  Chính quyền Sudan  đã phải chữa mặt bằng cách dùng To à  Phúc  T hẩm tuyên bố bản án sai lầm. Ngày 23-6 bà Meriam Ibrahim cùng chồng và gia đình ra phi trường Kharthoum rời khỏi Sudan. Nhưng tại đây bà lại bị nhà cầm quyền Sudan bắt lại với tội danh giả mạo giấy tờ. Sau hai ngày bị giam giữ , tội danh của bà cũng được xóa bỏ và gia đình bà đã về trú ngụ tại tòa  đại sứ Ý  ở thủ  đô Khartoum từ ngày 26-6 cho đến khi rời khỏi Sudan vào ngày 23-7. Sau nhiều cuộc thương thảo ngầm của chính quyền Ý, bà Meriam Ibrahim và gia đình đã được chính Thứ trưởng Ngoại giao Ý là Lapo Pistelli  đem ra khỏi Sudan trên một máy bay cuả chính phủ Ý.

Hôm nay bắt  đầu năm Phụng Vụ mới, Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng. Hào hứng sửa dọn mừng Lễ Giáng Sinh, Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta chúng ta phải sửa dọn cho ý nghĩa sâu xa của lễ Giáng Sinh. Thiên Chúa hiện diện giữa dân Chúa trong con người Đức Giêsu. Chúa đến trong ngày lễ Giáng sinh  đổ tràn chúng ta với hy vọng và khích lệ chúng ta giữa muôn khó khăn của cuộc  đời vì tương lai chúng ta  ở trong tay Chúa. Lễ Giáng sinh công bố rằng Chúa không bỏ dân Chúa. Thiên Chúa  đã sai Con Mình  đến trợ giúp và giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. Mùa Vọng đón mừng sự hiện diện miên viễn của  Đức Kitô trên thế giới và sinh ra trong mỗi trái tim. Chờ mừng lễ Giáng sinh, chúng ta hướng xa hơn tới ngày Chúa trở lại vinh quang và cùng cầu xin: Xin Chúa hãy đến Maranatha!

Các bài đọc nhắc nhở “Hãy tỉnh thức vì không biết giờ nào.” Thách đố của Mùa Vọng là sửa soạn thân xác và linh hồn mình cho giờ phút trọng đại đó bằng cách để Chúa hiện diện và làm việc trong đời mình. Cuộc đời sẽ không hoàn toàn nếu thiếu Chúa và chúng ta sẽ vô ích và bất xứng nếu vắng Chúa. Chúa quyền phép hơn các tổ chức nhân đạo, giải cứ chúng ta cách lạ lùng hơn chính phủ ý cứu bà Meriam. Chỉ Chúa làm thỏa mãn những  ước vọng sâu thẳm nhất của chúng ta. Mùa Vọng cho chúng ta ý thức chúng ta cần trở về với Chúa trong hy vọng, khiêm tốn cầu xin Chúa cứu chữa. Nếu chúng ta đã bỏ Chúa, lơ là việc cầu nguyện hay lỗi luật Chúa, đây là lúc cần tái tạo mối thân tình. Chúa Kitô đến sẽ vô nghĩa nếu Chúa không sống động trong lòng chúng ta. Mùa Vọng cũng là lúc chúng ta vươn tới những người bất hạnh và đem cho họ niềm vui Chúa đến!

Thế Ân Mai

 

VUI MỪNG VÀ HY VỌNG (1)

[CN.I/MV-B]  

Năm Phụng vụ là chu kỳ thời gian biểu trưng sự can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, từ khởi nguyên đến tận cùng. Với nhãn quan thần học nhìn vào lịch sử cứu độ, Phụng vụ không chỉ tưởng niệm các biến cố đã xảy ra, nhưng còn hiện tại hóa, làm cho các biến cố ấy đi vào đời sống đương đại một cách mầu nhiệm, đồng thời còn hướng vọng tới tương lai trông chờ ngày thẩm định chung cuộc. Nói cách cụ thể, năm Phụng vụ diễn tả lịch sử cứu độ, và tuyệt đỉnh của lịch sử này là mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giê-su Ki-tô. Khởi đầu năm Phụng vụ là mùa Vọng (mùa trông đợi Chúa đến lần thứ nhất), kết thúc là lễ Chúa Ki-tô Vua Vũ Trụ (ngày Chúa quang lâm lần thứ hai – ngày chung thẩm). Như vậy có thể hiểu Mùa Vọng cũng là thời gian tĩnh tâm và sám hối  trong suốt cuộc đời, để người Ki-tô hữu thể hiện niềm tin và hy vọng (“Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa, tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.” – Kinh Tin Kính) vào ngày chung thẩm sẽ được hưởng “sự sống muôn đời” (Mt 25, 46). 

Ở Việt Nam trước đây (khoảng 70 – 80 năm) vẫn gọi mùa Vọng là mùa Át. Đó là tiếng gọi tắt của từ La-tinh “Adventus”. Theo ngôn ngữ cổ, “Adventus” có một nghĩa chuyên môn, chỉ sự “đến” (viếng thăm một vùng dân cư) của vua chúa thời phong kiến, về mặt tôn giáo thì “Adventus” biểu thị ý nghĩa một thần minh “đến” với cộng đồng tín hữu. Giáo Hội quy định 4 Chúa nhật mở đầu năm Phụng vụ nhắm tới sự tỉnh thức đón chờ Chúa “đến”: Chúa nhật thứ nhất đề cao thái độ tỉnh thức và sẵn sàng đón chờ Chúa quang lâm. Các Chúa nhật còn lại thì trưng dẫn những mẫu gương của những người đón chờ Chúa Cứu Thế. Chúa nhật thứ hai và thứ ba giới thiệu thánh Gio-an Tẩy Giả, người dọn đường cho Chúa đến không những chỉ bằng lời giảng sám hối và thực hiện phép rửa, mà còn bằng chính cuộc đời khổ hạnh và trung trực của mình (bị Hê-rô-đê giết – xc Mc 6, 17-29). Chúa nhật thứ tư được dành cho Đức Maria. Mẹ Maria giữ một vai trò rất lớn lao, rất quan trọng trong lịch sử cứu rỗi, đến nỗi, nếu giả thiết không có Đức Mẹ, chắc chắn nhân loại đã khác. 

Do đó, Mẹ Maria được Phụng vụ giới thiệu là nguồn ơn thiêng vô tận của Thiên Chúa. Mẹ là mạch suối không bao giờ cạn của Thiên Chúa. Mẹ chính là “Đức Mẹ Mùa Vọng” của Hội Thánh Chúa (Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm trong tập sách “Giải Nghĩa Lời Chúa” đã viết: “Cuộc đời của chúng ta sẽ nên như cuộc sống của Người và khuôn mặt của Giáo Hội sẽ đang vẽ lại dung nhan Ðức Mẹ Mùa Vọng.”). Như vậy cả 4 Chúa Nhật đều nêu bật tinh thần trông chờ hy vọng Chúa Cứu Thế đến trong thế gian. Vì thế Giáo Hội Việt Nam dịch tiếng Adventus là Vọng, 4 Chúa nhật trông đợi Chúa đến là mùa Vọng. Mùa Vọng là mùa trông chờ, hy vọng Đức Vua Giê-su Ki-tô “đến” lần thứ nhất (giáng trần cứu thế) và Người lại “đến” lần thứ hai trong vinh quang ở ngày chung thẩm (tận thế). Sách Giáo lý HTCG (số 524) chỉ rõ: “Hằng năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Hội Thánh hiện tại hóa niềm mong đợi Đấng Mê-si-a: khi hiệp thông với việc chuẩn bị lâu dài cho Đấng Cứu Thế đến lần thứ nhất, các tín hữu làm bừng sáng niềm khát khao mong mỏi Người đến lần thứ hai (x. Kh 22,17).” 

Lúc con người đặt trọn vẹn niềm tin của mình vào Thiên Chúa, thì lời hứa (Giao Ước) của Thiên Chúa chính là sự trao ban hy vọng cho con người. Dân Chúa thời Cựu Ước đã tin tưởng mãnh liệt vào lời hứa “chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.” (Is 7, 14). Mùa Vọng chính là dấu chỉ thời điểm Cựu Ước trông chờ và hy vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa, và Lời Hứa ấy đã được thực hiện cách đầy hơn 2000 năm tại hang đá Bê-lem. Bước sang thời Tân Ước thì các tín hữu được nhắc nhở “chúng ta hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì trong lòng thì đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, còn ngoài xác thì đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền. Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín” (Dt 10, 22-23).  

Với “một đức tin trọn vẹn... tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng vào Đấng đã hứa là Đấng trung tín”, đó phải chăng là “Đức Tin và Hy Vọng” như Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI đã dạy: “SPE SALVI facti sumus ” – chúng ta được cứu rỗi nhờ hy vọng, Thánh Phao-lô đã nói như thế với dân chúng thành Rô-ma, cũng như với chúng ta (Rm 8, 24). Theo niềm tin Ki-tô, “ơn cứu chuộc” – hay ơn cứu độ – không chỉ đơn giản là một điều được trao ban. Ơn cứu chuộc được ban cho chúng ta theo nghĩa là chúng ta đã được trao cho hy vọng – một niềm hy vọng đáng tin cậy, qua đó chúng ta có thể đối diện với thực tại của chúng ta: thực tại mà cho dù là cam go đi nữa cũng có thể sống được và chấp nhận được nếu nó dẫn đến một mục đích, nếu chúng ta có thể được bảo đảm về mục đích này, và nếu mục đích này cao cả đến mức biện minh được cho nỗ lực của cuộc hành trình.” (Thông điệp “Spe Salvi – Được Cứu Rỗi nhờ Hy Vọng”, số 1) 

Điều đó cho thấy giữa đức tin và hy vọng luôn có một tương quan mật thiết, đến độ có thể nói “Đức Tin là Hy Vọng” (“chúng ta cần lắng nghe gần hơn một chút với chứng tá của Thánh Kinh về hy vọng. “Hy vọng”, thực ra, là một từ chủ yếu trong Thánh Kinh – đến mức trong nhiều đoạn những từ “đức tin” và “hy vọng” dường như có thể hoán chuyển cho nhau. Vì thế Thư Do Thái liên kết chặt chẽ “sự viên mãn của đức tin” (Dt 10, 22) với “sự tuyên xưng cách quả quyết niềm hy vọng của chúng ta” (Dt 10, 23). Cũng thế, trong thư Thứ Nhất khi Thánh Phêrô khích lệ các Kitô hữu hãy luôn luôn sẵn sàng đưa ra câu trả lời liên quan đến logos – ý nghĩa và lý do – cho niềm hy vọng của họ (1Pr 3, 15), từ “hy vọng” là tương đương với “đức tin”. – Tđ “Spe Salvi”, số 2). 

Rõ ràng, con người khi đã “ngộ” ra được niềm tin của mình đặt đúng nơi chốn, đúng đối tượng, sẽ có nguồn hy vọng được thắp sáng bởi chính niềm tin ấy. Hy vọng đã có, nhưng chủ thể mang niềm hy vọng ấy cần phải biết trau giồi, củng cố cho hy vọng ngày một bền chặt, vững mạnh hơn. Bẳng cách nào? Chính là bằng cách kiên trì đưa niềm tin ấy vào trong suy tư và hành  động (“Đức tin không thể hiện ra hành động là một đức tin chết” – Gc 2,17 ), để đưa niềm tin ấy từ khách thể trở thành máu thịt của chủ thể, ở chỗ biến niềm tin thành một trong những nhân đức nhân bản của con người, với Ki-tô hữu thì đó là nhân đức đối thần: Đức Tin. 

Nói thì có vẻ đơn giản, nhưng đụng vào thực tế muôn hình ngàn trạng, muôn chiều muôn hướng của cuộc sống con người hiện nay, thật không dễ chút nào. Đức tin bị nghiêng ngả, hụt hẫng, chao đảo cũng là vì thế. So sánh thế kỷ XXI với thế kỷ I cũng chẳng khác bao nhiêu, có khác chăng là ở chỗ sự hời hợt trong đức tin và niềm hoài nghi trong hy vọng còn trầm trọng hơn. Rõ ràng, muốn “ngộ” được hy vọng, chắc chắn phải cậy trông vào ơn soi sáng, dẫn dắt bởi Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, phải biết cầu nguyện, bởi vì “Bối cảnh thiết yếu đầu tiên cho việc học hỏi hy vọng là cầu nguyện. Khi không còn ai lắng nghe tôi nữa, Chúa vẫn nghe tôi. Khi tôi không còn có thể tâm sự hay kêu cầu được với ai, tôi luôn luôn có thể thưa với Chúa. Khi không còn ai giúp tôi biết xử sự thế nào trước nhu cầu hay mong đợi vượt quá khả năng hy vọng của con người, Chúa có thể giúp tôi. Dù tôi bị đắm chìm ngập lụt trong cô liêu hoàn toàn...; nếu tôi cầu nguyện thì tôi không bao giờ hoàn toàn đơn côi.”  (Tđ “Spe Salvi”, số 32). 

Một tấm gương sáng chói trong bài học “cầu nguyện” là Đức cố Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận “một người tù trong 13 năm, trong đó có 9 năm bị biệt giam, đã để lại cho chúng ta cuốn sách nhỏ quí giá: “Những Lời Cầu Nguyện của Niềm Hy Vọng”. Trong vòng 13 năm tù đầy, trong một tình trạng hầu như là tuyệt vọng, sự kiện là ngài có thể lắng nghe và thân thưa với Chúa đã trở nên một quyền năng hy vọng gia tăng cho ngài, khiến ngài, sau khi ra khỏi tù, đã trở nên một chứng nhân hy vọng cho dân chúng trên toàn thế giới – chứng nhân của một niềm hy vọng lớn lao không tàn lụi ngay cả trong những đêm đen của cô liêu” (Tđ “Spe Salvi”, số 32). Sở dĩ Đức Hồng y FX Nguyễn Văn Thuận viết cuốn sách “Những Lời Cầu Nguyện của Niềm Hy Vọng” (như lời khen tặng của Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI trong Tđ nêu trên), chính là vì ngài đã chọn cho mình khẩu hiệu “Gaudium et Spes – Vui Mừng và Hy Vọng” (2). 

Chỉ nội một việc Đức Hồng Y chấp nhận ở tù cũng đủ cho biết ngài kiên trì với Đức Tin Ki-tô Giáo như thế nào. Và đó chính là việc làm chứng nhân cho Tin Mừng Cứu Độ của Đức Giê-su Ki-tô. Tin Mừng Cứu Độ dành cho toàn thể nhân loại, thì không lý gì người sẵn sàng chiu đau khổ để làm chứng cho chân lý ấy, lại chỉ nghĩ về mình. Vâng, “Niềm hy vọng của chúng ta luôn luôn thiết yếu là niềm hy vọng của người khác: chỉ như thế nó mới thật sự là niềm hy vọng của cả tôi nữa.  Là Ki-tô hữu chúng ta không bao giờ được tự giới hạn mình để chỉ biết hỏi: làm sao để tôi được cứu rỗi ? Chúng ta cũng phải hỏi : tôi phải làm gì để cho người khác có thể được cứu chuộc, và để cho đối với họ ngôi sao hy vọng có thể tỏa sáng trên trời ? Như thế tôi cũng đã làm hết sức mình cho việc cứu rỗi của chính tôi” (Thông điệp “Spe Salvi”, số 48). 

Đức Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê lấy khẩu hiệu “Vui mừng và Hy Vọng” từ chủ đề Hiến Chế về Mục Vụ “Gaudium et Spes” của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, khi ngài nhận chức Giám mục năm 1967. Ngài chọn phương châm này, không những vì trong trái tim ngài luôn có niềm vui và hy vọng trong mọi chuyện xảy đến với ngài, nhưng cũng vì ngài muốn nói rằng, ngài thấy giáo huấn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II chứng tỏ Giáo Hội đang mở cửa ra để đến với thế giới loài người với tinh thần “Vui mừng và Hy vọng”. Vì thế, khi chính thức chấp nhận việc mở hồ sơ phong chân phước cho Đức Hồng y Fx Nguyễn Văn Thuận, ĐTC Bê-nê-đic-tô XVI đã nói: “Đức Hồng y Thuận là một con người của Hy Vọng, Ngài sống bằng Hy Vọng, Ngài phổ biến Hy Vọng cho tất cả những ai Ngài gặp. Chính nhờ năng lực thiêng liêng này mà Ngài đã chống lại được tất cả những khó khăn thể lý và luân lý.“  

Con người ta sống ở đời không thể không có hy vọng, dù cho đó là một con người không có niềm tin tôn giáo, thì niềm hy vọng của họ vẫn là cái tương lai của cuộc đời họ mà họ luôn mong ước, hy vọng được tươi sáng và hạnh phúc. Kinh nghiệm cho thấy trong cuộc đời này, mọi chuyện, mọi sự rồi cũng sẽ qua đi, sẽ mai một… và điều còn lại duy nhất cần phải có đó là niềm hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu ở đời sau. Chính niềm hy vọng này là động lực giúp người Ki-tô hữu sống một cuộc sống luôn hướng về một ngày mai tươi sáng trong niềm tín thác vào Đấng Cứu Thế. Nói cách cụ thể “Chúng ta có thể nghĩ một cách hợp lý rằng số phận mai sau của nhân loại nằm trong tay những người có khả năng trao cho hậu thế những lý do để sống và để hy vọng.” (Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng “Gaudium et Spes”, số 31). Để thắp sáng niềm hy vọng vào tương lai, nền Giáo dục Ki-tô giáo là phải luôn luôn và mãi mãi hỗ trợ, thúc đẩy cho đức tin trưởng thành nơi mỗi Ki-tô hữu, không phân biệt tuổi tác, giới tính, thành phần, giai cấp. Giáo dục Ki-tô giáo phải làm sao cho – ở nơi mỗi Ki-tô hữu – ĐỨC TIN là niềm HY VỌNG viên mãn và bất diệt. 

Tóm lại, có tin thì mới hy vọng, bởi chính "Đức Tin là Hy Vọng". Vậy thì người Ki-tô hữu còn đợi gì mà không thể hiện niềm “Hy Vọng” vào “Đức Tin” của mình qua hành động dọn đường cho Chúa đi, bằng cách bạt phẳng gò đống chia rẽ, phát quang chông gai hận thù, san bằng gập ghềnh ghen tị, và với một kiệu hoa rực rỡ hào quang Bác Ái trong Chân Lý đón Chúa vào lòng. Và như thế, thì tại sao chúng ta lại không duy trì 4 tuần Mùa Vọng bằng cả cuộc lữ hành trần thế này, để làm hành trang trông đợi ngày Chúa quang lâm lần thứ hai? Vâng, xin hãy bắt đầu ngay từ bây giờ, ngay từ hôm nay ngẩng cao đầu “tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng” (Dt 10, 23), để mạnh dạn bước vào MÙA VỌNG – MÙA TRÔNG ĐỢI CHÚA ĐẾN – MÙA TRÔNG ĐỢI CUỘC SỐNG VĨNH CỬU mai sau. Ước được như vậy. 

Ôi! Lạy Chúa! “Từ trần gian con ngước trông lên Chúa ơi, cầu xin hãy mưa Ðấng Thiên sai Chúa ơi, nghe lời van thiết tha. Ngày và đêm con vẫn van xin Chúa thương, Người ban ơn cứu rỗi yêu đương bốn phương cho đoàn con ngóng chờ. TK. 2- Xin mưa xuống trần gian Ðấng Cứu Tinh, phá mọi nghịch mưu xấu xa tội lỗi. Xin ban xuống đời con Chúa chí linh, nối lại tình thương thế gian Nước trời.” (TCCĐ “Nguyện Mùa Vọng”). 

JM. Lam Thy ĐVD. 

Chú thích: (1) và (2) - Đó là hình ảnh tấm huy hiệu của Đức Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận.Huy hiệu hàm chứa thật nhiều ý nghĩa sâu sắc: 

Huy hiệu có nền màu xanh với ngôi sao trắng và ba ngọn núi màu nâu đất. Nổi bật trên màu xanh tượng trưng biển đời là ngôi sao trắng. Ngôi sao trên biển (Sao Biển) chính là một trong những ý nghĩa cao vời của danh thánh Đức Trinh Nữ Maria (Maris Stella). Đó là Ngôi Sao dẫn đường cho những con thuyền tín hữu vươt biển đời giông tố tiến về Quê Trời vĩnh cửu. Dùng hình ảnh ba ngọn núi có lẽ Đức Hồng y muốn ngụ ý về ba ngọn núi thần kỳ trong Kinh Thánh: * NÚI XI-NAI – “Núi Giao-Ước” (Ngôn sứ Mô-sê ký Giao Ước với Đức Chúa – Xh 24, 1-18); * NÚI TA-BO – “Núi Vinh Quang” (hiển dương mầu nhiệm Cứu Độ – Lc 9, 28-36); * NÚI GÔN-GÔ-THA – “Núi Tình Yêu” (hiện thực hóa Giao Ước Mới – Lc 23, 33-56; 24, 1-7). Ba ngọn núi còn là biểu trưng cho ba miền Việt Nam: Bắc, Trung, Nam. Núi và biển cả cũng còn tượng trưng cho Nha-Trang, là Giáo phận mà Đức Hồng y làm Giám mục chính tòa. 

Bao xung quanh nền xanh là 10 đoạn trúc mà 2 đoạn trên cùng kết thành cây Thánh Giá. Đó chính là Cựu Ước (Giao Ước trên núi Si-nai “Thiên Chúa ban Mười Điều Răn cho Mô-sê” – xc Xh 20, 1-17; 34, 28 và Đnl 4, 13; 5, 6-22). Cây Thánh Giá lại biểu trưng cho Tân Ước (Giao Ước Tình Yêu do chính Đức Giê-su Thiên Chúa thực hiện). Người Á châu (trong đó có Việt Nam) vốn bị ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Mạnh (Khổng Tử + Mạnh Tử) nên lấy “trúc” làm biểu tượng cho người quân tử với đức tính “công minh chính trực” (ngay thẳng + công tâm + trung tín + bao dung). Dưới chân Thánh giá  treo một bức hoành phi (như kiểu hoành phi câu đối ngày xưa). Giữa hoành phi là khẩu hiệu “Gaudium et Spes” (Vui mừng và Hy vọng); 2 đầu hoành phi (ở 2 bên phải, trái) cuộn tròn, ôm lấy hai ngọn đuốc sáng (ánh sáng Chân Lý – biểu tượng Chúa Thánh Thần). 

Xin mở ngoặc nói thêm về “hoành phi – câu đối” : Ngày xưa, vì Việt Nam ảnh hưởng Hán học của Trung Quốc nên các cụ đồ nho rất thích treo hoành phi câu đối tại lớp học hay tại nhà ở (từ đường), dân gian thì hay nhờ các cụ đồ cho chữ để chưng ở đền, chùa. “Hoành phi” là những tấm biển gỗ có hình thức trình bày theo chiều ngang treo trên cao. Thường ở trên đó khắc từ 03 đến 04 chữ đại tự. Đình chúa hay từ đường và nói chung là những ngôi nhà to hay nhỏ thường tính bằng số lượng “gian” nhiều hay ít (“gian” : khoảng cách giữa hai bộ kèo nhà. Vd: Trong bài Thu Ẩm, Nguyễn Khuyến viết: “Năm gian nhà cỏ thấp le te”). Số lượng gian nhà thường tính theo số lẻ. Vd: nhà 1 gian, 3 gian, 5 gian… Nếu ít gian quá, thường làm thêm 2 chái ở hai bên (1 gian 2 chái, 3 gian 2 chái…). 

Vì gian nhà tính theo số lẻ nên các cụ treo hoành phi câu đối ở gian giữa: Bức hoành phi treo trên cùng, sát mái nhà, viết chữ lớn (đại tự), 2 câu đối treo vào 2 cái cột ở 2 bên viết chữ nhỏ hơn. Vd: bức hoành phi dẫn chứng dưới đây viết 4 chữ “THIÊN CHÚA QUANG LÂM 天  主  ” (Chúa đến trong vinh quang); 2 câu đối treo hai bên, câu bên trái là: “THƯỢNG GIỚI VINH DANH THIÊN CHÚA GIẢ  上 界 榮 名 天 主 者 ” (Vinh danh Thiên Chúa trên trời); còn câu bên phải là “HỒNG TRẦN AN LẠC THIỆN TÂM NHÂN  紅 塵 安 樂 善 心 人 ” (Bình an dưới thế cho người thiện tâm)

 

dongcong.net November 28, 2014 .

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)