Chúa Nhật III Mùa Vọng Năm B
 
 


Sáng suốt nhận ra dấu chỉ của thời đại

Những người thiếu nước đi trong sa mạc thường có ảo ảnh nhìn thấy suối nước, giòng sông, nhưng thật ra chỉ có một bãi cát mênh mông phía trước. Khi mong đợi một điều gì quá mạnh người ta dễ lầm lẫn, cái gì cũng tưởng rằng đây là điều mình khát mong. Những người Do Thái thời xưa luôn mong đợi Đấng Thiên Sai đến theo lời Chúa hứa trong Thánh Kinh. Họ đã nhiều lần lầm tưởng nhân vật nào đó là Đấng Thiên Sai. Bài Phúc Âm tường thuật câu chuyện những thày tư tế và Lêvi được sai đến để xác định chân tướng của thánh Gioan Tảy Giả.

Gioan đã đọc được tư tuởng của họ, nghĩ rằng ông là Đấng Cứu Thế. Gioan đã thẳng thắn xác định cho họ biết rằng ông không phải là Đấng Thiên Sai. Ông cũng không nhận mình là một tiên tri mà chỉ khiêm tốn mặc lấy vai trò làm tiếng kêu trong hoang địa: "Hãy dọn đường ngay thẳng cho Chúa đi", như lời tiên báo của ngôn sứ Isaia. Nhóm tư tế và Lêvi tỏ ra không hiểu lời Gioan nói khi hạch hỏi ông về việc làm phép rửa tại sông Jordan. Điều này cũng cho thấy họ không đến với tấm lòng chân thành để tìm hiểu sự thật về chân tướng của Gioan. Họ đến với thái độ như họ có quyền hành và Gioan là đối thủ tranh giành ảnh hưởng trên dân chúng.

Trong những ngày Mùa Vọng, Giáo Hội kêu mời chúng ta mặc lấy tâm tình đợi mong Đấng Cứu Thế đến của người Do Thái khi xưa, nhưng đừng theo thái độ kiêu hãnh, hạch sách của họ. Thái độ kiêu hãnh, ganh tỵ đã khiến những nguời Do Thái trở nên mù quáng không nhận ra Gioan là dấu chỉ đi trước để dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Để rồi khi Chúa đến họ đã không nhận ra Ngài và lên án xử tử Ngài. Một thái độ quan trọng khi chờ mong Chúa đến mà người Do Thái đã không có: cái nhìn minh mẫn nhận ra dấu chỉ của thời đại. Gioan là dấu chỉ lớn lao đi trước Đấng Cứu Thế. Lòng kiêu hãnh, ganh tỵ đã làm cho người Do Thái mất đi ánh mắt sáng suốt.

Vị giám khảo chấm điểm các cuộc thi thể thao cần có cái nhìn và nhận xét sáng suốt về khả năng trình diễn của các thí sinh, nên họ được ngồi chỗ cao và gần nhất. Khi mong đợi Chúa đến chúng ta cần có tâm hồn siêu thăng, vượt cao trên những ước vọng thấp hèn trần thế, tranh giành lợi lộc, danh tiếng, để có cái nhìn sáng suốt nhận ra sự hiện diện của Chúa qua tha nhân, qua tạo vật, qua những hoàn cảnh vui buồn, sướng khổ trong cuộc sống.

Lm. Nguyễn Hùng

Chúa Nhật 3 Mùa Vọng B,  14-12-2014
Gioan, Ông là ai? (Ga 1:6-8; 19-28)

Có truyện kể:  Sau khi nhóm tư tế và các thầy Lê-vi quan sát ông Gioan ra về, một người đến hỏi: “Thưa Thầy, nếu Thầy là tiếng hô trong hoang địa thì tại sao Thầy lại phải hô hét? Trong hoang địa đâu có ai, chỉ có dã thú và xương rồng, có mấy ai tới sa mạc để nghe Thầy giảng! Họ thà chờ Thầy ở bên bờ sông Gio-đan!” Ông Gioan trả lời:  “Tôi hô lớn để chính tôi cũng nghe được tiếng kêu mời:  Hãy sửa đường thẳng cho  Đức Chúa  đi!  Dù không ai nghe thấy, nhưng tôi cần nghe thấy, để sửa lại cuộc sống của chính mình.”

Bạn thân mến, bạn  đã sửa  đường của cuộc sống mình chưa? Trong tuần thứ ba mùa Vọng, Giáo Hội đưa ra hình ảnh Gioan Tẩy Giả, vị tiền hô của Đấng Cứu Thế và là “thợ sửa đường” tài tình của Chúa Thánh Thần. Ngài là thợ lành nghề vì trước khi chỉ lối cho người khác sửa đổi cuộc sống, Ngài đã chỉnh đốn con người tự nhiên của mình bằng một cuộc sống hãm mình, thanh bạch, và cầu nguyện. Nếu bạn chưa tìm  được  “dụng cụ” sửa mình, bạn hãy thử dùng “dụng cụ” của Gioan. Hãy hãm mình trong lời nói, thanh bạch trong cách ăn mặc, và chuyên chăm cầu nguyện với  Đấng  “biết rõ anh em cần gì trước khi anh em cầu xin” (Mt 6:8). 

Bạn thân mến, bạn sửa đường cho ai đi? Bạn sửa  đường cho mình, cho gia  đình, cho nghề nghiệp, hay cho  Đức Chúa  đi? Gioan  đã  “sửa đường” để Đức Chúa “đi vào” cuộc sống của ông. Ông tự nhận mình là người tiền hô, ông không phải là  Đức Kitô. Ông tự nhận mình làm phép rửa trong nước còn Đấng đến sau (nhưng lại có từ trước) sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa (cf. Mt 3:11).  Ông tự nhận ông không phải là chân lý nên đã giới thiệu môn sinh của mình đến với Chân Lý là Chúa Giêsu (cf. Ga 1:36-37). Vì Gioan đã cho Đức Chúa “đi vào” cuộc sống của mình, ông  được Chúa Giêsu khen ngợi:  “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không ai cao trọng hơn ông Gioan” (Lc 7:28). Bạn thân mến, bạn  đã  để cho ai  “đi” trên con  đường của cuộc sống của mình rồi? Ai đã khen ngợi bạn? Và lời khen của họ có còn tồn tại đến ngày hôm nay không?

Bạn thân mến,  “hãy vui mừng luôn… Vì  đó là thánh ý Thiên Chúa về tất cả anh em trong Chúa Giêsu Kitô”  (1 TX 5,16 – Bài  đọc 2).  Bạn  đừng buồn nếu bạn đã chậm trễ trong việc sửa đường cuộc sống của mình, hoặc là thay vì sửa chữa, bạn lại đi lạc vào “những con  đường ngược chiều,” thiếu hụt sự an ninh và vững chắc. Thánh ý của Chúa là bạn vui mừng luôn! Từ đâu Gioan Tẩy Giả có niềm vui? Bạn biết không, niềm vui  đã “kiếm tìm” Gioan trước khi chào  đời, qua lời chào của Mẹ Đức Kitô đến với mẹ của Ngài là bà Isave. Bà Isave đã lớn tiếng kêu lên: Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng (Lc 1:43).  Bạn hãy để cho Mẹ  Đức Kitô  đến viếng thăm ngôi nhà tâm hồn của bạn thì bạn sẽ có  được niềm vui.  Đừng trốn ánh mắt Mẹ, đừng chê bai Kinh Kính Mừng, đừng bỏ lỡ dịp đến trước tòa Mẹ để thắp một cây nến và tâm sự cùng Mẹ. Bạn đừng tìm kiếm niềm vui trong những thứ mau qua của đời này thì niềm vui sẽ “kiếm tìm” bạn qua Đức Mẹ.

Bạn hãy lắng nghe Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận nhắn nhủ trong sách  Đường Hy Vọng: “Làm sao con hết buồn? Hãy cầu nguyện! Tại sao thế! Vì con gặp Chúa.” (Đường Hy Vọng #541).  Chắc chắn Gioan Tẩy Giả, vị tiền hô của  Đấng Cứu Thế  và “thợ sửa đường” tài tình, sẽ giúp bạn tìm gặp Ngài! Chắc chắn Đức Mẹ, là cửa Thiên Đàng, sẽ dẫn  đưa bạn  đến với Con của Mẹ là Chúa Giêsu!

Sister Janine Trần Ngọc Vân, CMR

 

Có một vị đang ở giữa các ông

(Ga 1,26) 

           Mùa Vọng, mùa trông đợi đã trở về với nhân lọai chúng con. Tuần này đã là tuần thứ ba của mùa Vọng. Đó đây trong khuôn viên các nhà thờ đã có đèn sao nhấp nháy trên những cây thông xinh xắn. Những hang đá máng cỏ đang được dựng lên chuẩn bị cho ngày đại lễ. Trên những xóm ngõ của các xứ đạo, người người chăng đèn kết sao. Những hàng chữ MERRY CHRISTMAS bên những Ông già Noel vai đeo túi quà tươi cười vẫy chào. Không khí ngày lễ đang tràn về trên phố phường khiến mọi người có thêm niềm vui. 

           Lạy Chúa, 

           Con cũng đang chuẩn bị cho ngày đại lễ, con dọn lại nhà cửa, sắp xếp cho Chúa một chỗ nhỏ trong căn phòng khách. Nơi đó sẽ có một cây thông nhỏ, có bộ tượng be bé xinh xinh, có những dây đèn điện, những quả cầu trang trí, những dây kim tuyến đủ màu. Nhìn vào là thấy một bầu khí ấm cúng của đêm Chúa ra đời, thay cho  một đêm đông giá rét ngòai đồng vắng không người qua lại, chỉ có những chú mục đồng nghèo nàn trong các căn chòi tá túc hơn 2000 năm trước đây. Con dọn chỗ đón Chúa bằng những hình thức quả có trang trọng, đẹp đẽ trong nhà của con với những thứ bên ngòai, như mọi người trên thế giới này. Như thế có đầy đủ ? 

          Bài tin mừng hôm nay giới thiệu: “ Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan, ông đến để làm chứng “. Ông xác định mình: “Tôi không phải là Đức Kytô “, cũng không nhận mình là Ông Êlia hay một vị Ngôn sứ. “Tôi  là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như Ngôn sứ Isaia đã nói “. Lời Chúa cho con nhận ra rằng chuẩn bị cho ngày lễ bằng những hình thức bên ngòai không có gì sai, nhưng quả thật là chưa đủ. Con còn phải sửa con đường tâm linh cho thẳng để Chúa đi và để con đón Chúa đến. Ông Gioan, một vị sứ giả của Thiên Chúa, ông cũng rao giảng, nhưng không phải nói về ông, đề cao mình là một Rabbi trong dân Israel, mặc dầu có rất nhiều người ngưỡng mộ. Thậm chí có nhiều người đến xin làm môn đệ. Ông chỉ nhận mình là người giới thiệu:” Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết “. 

         Chúa đến trần gian này để con người được chia sẻ hạnh phúc là con Thiên Chúa. Được hưởng niềm vui Chúa trao, đó là sự bình an. Con người không còn sống trong tội lỗi, không còn tranh chấp, khinh chê lẫn nhau, áp bức nhau. Sẵn sàng coi nhau là anh em con một Cha, sẵn sàng đến với nhau, giúp nhau cùng thăng tiến. Và để có được những điều ấy con phải mở lòng đón tiếp Chúa, dọn cho Chúa một con đường đi vào nhà Linh hồn con. Con đường ấy không thể lồi lên những thói xấu, những ích kỷ. Không lõm xuống nhửng đam mê dục vọng. 

       Những  núi đồi kiêu căng, tự mãn, coi rẻ người khác nơi con phải được bạt đi cho phẳng. Những khúc quanh dối trá, lươn lẹo của con phải được uốn nắn lại theo sự công chính và ngay thẳng . Con có dám làm những điều ấy ? Con có xứng đáng là người loan báo Chúa cho những anh chị em con chưa nhận biết Người ? Con có nói về Chúa, sống làm gương ngay trong gia đình, để giới thiệu Chúa cho con cái, người thân của con ? Lời Chúa vẫn đang tra vấn con.. . 

       Nếu con vẫn sống như con đang sống hôm nay, và mỗi năm, mùa Vọng về, vẫn dọn nhà cửa, trang trí trong ngòai căn nhà vật chất này thôi, thì nhà con, tâm hồn con đâu có chỗ cho Người ngự vào . 

      Xin cho con nhân những ngày này biết dọn lòng đón Chúa vào gia đình, vào linh hồn con, biết thay đổi cách sống của mình. Bây giờ con còn tội lỗi, vấp phạm  thì nhờ ơn Chúa, con sẽ đứng lên và đến với Chúa xin ơn tha thứ. Xin Chúa giúp con. Chúa ơi! 

   Fx Đỗ Công Minh .

 

SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT III MV ( B ) 2014 

( Ga 1, 6-8; 19 -28)

 

 LÀM CHỨNG VỀ ÁNH SÁNG ( Ga 1, 8) 

Thưa quý vị, thưa các bạn. Lời Chúa Chúa Nhật III MV (B ) 2014 hôm nay theo thánh Gioan có hai phần rõ ràng, ai cũng biết. Phần đầu, từ ( Ga 1, 6-8), lời trình thuật của thánh Gioan về Đức Giêsu- Kitô, theo xác tín của ngài. Phần hai từ ( Ga 1, 19 -28), thánh Gioan thuật lại “sứ vụ thiên sai “ của thánh Gioan Tẩy Gỉa. 

Vâng, thưa quý vị, phần thứ hai ( c 19-28), nói về “sứ mạng tiền hô” cho Đấng Cứu Thế của Gioan Tẩy Gỉa , là một vần đề lớn. Nếu chỉ có vậy, thì phần chia sẻ tuần IIi MV không có gì khác so với tuần thứ II MV. Vậy, ý nghĩa chia sẻ Lời Chúa hôm nay ( Ga 1, 6- 8; 19 -28) III MV là gì, thưa quý vị ? Thưa, đó là : “Làm chứng về ánh sáng “.

 Đây là chi tiết, mà có ý nghĩa ở cả hai phần: ( c 6- 8 và 19- 28) của Ga 1.

 + “ Ông không phải là ánh sáng …” ( c 8). Thánh sử Gioan xác định như vậy.

  • “ Tôi không phải là Đấng Kitô …” ( c 20) . Thánh Gioan Tẩy Gỉa xác định như vậy.
  •  

Vâng, đây là “vấn đề”, vấn đề của vai trò “ làm chứng”. Chúng ta thấy, điều ấy có ý nghĩa gì? Thưa , hết sức có ý nghĩa :

  • Thứ nhất: Minh định cụ thể, có nghĩa là lời chứng rõ ràng về Đấng Cứu Thế. Làm nổi bật, làm rõ lên “Sứ mạng Đấng cứu thế “, Đấng phải đến trong thế gian là “ĐỨC GIÊSU – KITÔ “.
  • Thứ hai : Vai trò  “ làm chứng ” có giá trị là vai trò làm chứng “ trung thực ”. Vai trò nầy nói lên giá trị của  ” sứ vụ ” nhân chứng. Sứ vụ nhân chứng của Gioan Tẩy Gỉa là gì ? Thưa , đó là : “Sứ Vụ Thiên Sai “.  “ Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan “ ( c 6). Hết sức rõ ràng, nhưng người mang tên là : “GIOAN “nầy mang sứ vụ “ làm chứng cho Đấng Cứu Thế “. Chứ không phải là Đấng Cứu Thế. Bởi vì, ông là người làm chứng.
  • Thứ ba : Lời chứng thật có giá trị . Điều nầy nói lên “ chân lý “, Chân Lý là : Thiên Chúa, bởi vì, “ người làm chứng nầy được Thiên Chúa sai đến “, chứ không phải được thế gian sai đến. Lời chứng rất quan trọng, nó làm thay đổi vấn đề, nó nói lên giá trị của nhân chứng. Đồng thời, suy tôn và bảo vệ công lý, công lý là sự thật. Sự thật không bị “bóp méo ” thì mới đúng là sự thật. Bênh vực sự thật thì mới xứng đáng là” người được  Thiên Chúa sai đến “. Đó là căn tính cơ bản của người Kitô hữu nói chung và của người Công Giáo nói riêng.

 Tôn Trọng và bảo vệ công lý mới đúng là tinh thần của Kitô giáo. Muốn bảo vệ sự thật, thì trước hết phải làm chứng cho sự thật, sự thật đó là ”ánh sáng thật ”. Ánh Sáng thật chính là Đức Giêsu- Kitô. Sự làm chứng của Gioan Tẩy Gỉa nói lên “ánh sáng thật “ là Đức Giêsu- Kitô, Đấng phải đến trong thế gian để làm chứng về “Chân lý và tình yêu “ của Thiên Chúa.

 Theo đó , chúng ta thấy khởi đi từ bài đọc I hôm nay, ( Is 61, 1- 2a; 10 -11) như sau : “ Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Ngài sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó… công bố năm hồng ân cứu độ…”. Như vậy, lời của Thiên Chúa qua ngôn sứ Tiền Hô Isaia từ ngàn xưa cho thấy một sứ vụ “Cứu Chuộc “ của Vị Thiên sai đích thực là Đấng Cứu Thế, tuy nhiên, vương quyền và sứ vụ của Người đồng thời cũng chia sẻ cho nhưng ai được kêu mời tháp nhập với Người. Như vậy, sứ vụ ngôn sứ và vương đế của Người cũng liên đới với hy tế cứu chuộc, chính là vai trò tư tế, tức người chủ tế để hiến dâng lễ vật là hy lễ trường tồn để cứu chuộc tội nhân.

 Bài đọc II, thánh Phao-lô xác quyết ( 1Tx 5, 16- 24) và “nhắn nhủ “ chúng ta rằng : “Anh em đừng dập tắt Thần Khí… đừng khinh thường ơn nói tiên tri “ ( c 19 -20)… và Thiên Chúa , Đấng kêu gọi chúng ta là Đấng trung thành, sẽ thực hiện lời hứa.” ( c 24).

 Như vậy, sứ vụ Tiền Hô là sứ vụ làm chứng cho ánh sáng, theo ý nghĩa tự nhiên, vốn ánh sáng không cần điều gì làm chứng nữa vì là ánh sáng. Nhưng, theo ý nghĩa Tin Mừng, ánh sáng ở đây chính là Đức Giêsu – Kitô, đã trở nên “Con Người” vì con người chúng ta, vì vậy, cần có sứ vụ “dọn đường ”, chính là “ tâm hồn “ con người, để “ánh sáng “ thật được tiếp nhận bởi những “tâm hồn “ khát khao. Như vậy,  “ làm chứng cho ánh sáng”, hay sứ mạng tiền hô là một sứ vụ thật ý nghĩa. Vì ánh sáng tự nhiên vốn dĩ phải chiếu sáng, nhưng nếu có những vật cản, thì tự nhiên phía sau những vật cản ấy bị che khuất, khi đó, ánh sáng không được tiếp nhận, mặc nhiên, bóng tối ngự trị.

 Ánh sáng siêu nhiên là Đức Giêsu- Kitô, nghĩa là Đấng là Thiên Chúa được sai đến làm Đấng Cứu Độ trần gian. Thì mặc nhiên, ánh sáng ấy cũng chiếu soi vào tâm hồn con người, nhưng bị những vật cản là những tâm hồn còn chứa đầy những thung lũng, những quanh co khúc khủy, những gai góc, những bụi rậm, thì ánh sáng không chiếu soi , vì vậy, ánh sáng hữu nhiên bị cản trở. Muốn vậy, sứ mạng Tiền Hô phải dọn đường cho “ánh sáng “ấy. Từ đó, vai trò” làm chứng cho ánh sáng” thật của Gioan Tẩy Gỉa, nghĩa là trở nên chứng nhân thật sự cho Tin Mừng Cứu Độ, hầu vai trò “ người dọn đường” được sáng lên trong sứ vụ, hầu “sứ vụ cứu chuộc “của Đấng Cứu Thế được sáng lên trong tin yêu và hy vọng của từng tâm hồn nhân loại.

 Theo đó, Thánh Vịnh 112 là một bài ca chúc tụng Thiên Chúa, ngập tràn tâm hồn có Thiên Chúa ngự trị. CẢM NGHIỆM DẠT DÀO của Đức Trinh Nữ Maria để Mẹ sáng tác nên Bài ca Magnificat, hầu ca ngợi Thiên Chúa đã trở thành kiệt tác của Mẹ Thiên Chúa./.

       Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng , Cha đã ban cho loài người một “ánh sáng “ diệu kỳ là Đức KITÔ, để chiếu giãi vào thế gian. Muốn vậy, Cha cũng sai một vị Tiền Hô để dọn đường cho “ánh sáng” chân lý là Đức Kitô. Để tâm hồn con người được. chiếu giãi, hầu “ánh sáng “ Chân Lý ấy được tỏa sáng một cách xứng hợp nơi tâm hồn nhân loại .Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. /. Amen

14/12/2014

P.Trần Đình Phan Tiến

 

CHỨNG NHÂN CỦA ÁNH SÁNG

(CN III/MV-B) 

Bài Tin Mừng hôm nay (CN III/MV-B – Ga 1, 6-8.19-28) trình thuật: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.” (Ga 1, 6-8). Mới thoạt nghe Tin Mừng, tự nhiên nảy sinh thắc mắc: Bình thường khi một người làm chứng thì chỉ có thể làm chứng về một sự việc có thật xảy ra (trong đó người hay vật chứng phải là người thật, vật thật). Ánh sáng không phải là một vật thể, lại càng không phải là một người thật, mà chỉ là sự phát sáng từ một vật thể khác, vậy thì làm sao để có thể “làm chứng về ánh sáng”? Vấn đề cần phải được hiểu như thế nào? 

Lời Chúa được các thánh sử trình thuật đều nằm trong giới hạn của “nghĩa chiểu tự và nghĩa thiêng liêng” (nghĩa đen và nghĩa bóng), mà Tông huấn Lời Chúa “Verbum Domini” (số 27) đã giải thích: “Về phương diện này, người ta có thể nhắc tới 2 câu thơ trung cổ diễn tả mối tương quan giữa các nghĩa khác nhau của Sách Thánh: "Littera gesta docet, quid credas allegoria, Moralis quid agas, quo tendas anagogia" (Chữ đen nói tới việc làm; ẩn dụ nói về đức tin; Luân lý nói tới hành động; loại suy nói về số phận ta)”. Như vậy là thánh sử Gio-an đã dùng từ “ánh sáng” theo nghĩa “ẩn dụ” – nghĩa thiêng liêng – để chỉ về Đức Giê-su Ngôi Lời nhập thể. Ngay từ Lời mở đầu trong sách Tin Mừng, thánh nhân đã viết: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.” (Ga 1, 1-5). Ấy là chưa kể chính Đức Giê-su cũng phán dạy: “Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối. Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian.” (Ga 12, 46-47). 

 Rõ ràng thánh sử Gio-an đã giới thiệu thánh Gio-an Tẩy Giả là người  “làm chứng về ánh sáng” với ngụ ý là một “chứng nhân của chân lý Cứu Độ”. Mà chân lý Cứu Độ là “điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống.” (1Ga 1, 1). Lời Sự Sống ấy chính là Đức Giê-su Ki-tô mà ở phần kết luận sách Tin Mừng, thánh sử đã xác quyết: “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 24-25). Cuối cùng, khi viết “Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực” thì thánh sử Gio-an lại là một nhân chứng của “người làm chứng về ánh sáng” .

 Không những thế, Người được làm chứng (là Đức Giê-su Ki-tô) cũng làm chứng về nhân chứng độc đáo ấy: “tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến. Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả.” (Mt 11, 9-11); “Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ. Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian.” (Ga 5, 34-35). Quả thực, không còn một lời chứng nào sáng tỏ và thuyết phục hơn về CHỨNG NHÂN CỦA ÁNH SÁNG: GIO-AN BAO-TI-XI-TA.

 Người làm chứng phải là người có kinh nghiệm thật sự về điều mình làm chứng: hoặc thấy tận mắt sự việc, hoặc cảm nghiệm được sự việc cách thấu đáo. Người làm chứng (chủ thể) chỉ có thể làm chứng về một người khác (khách thể), chớ không ai lại làm chứng về bản thân mình. Chính Đức Giê-su đã giải thích rõ ràng: “Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật. Có Đấng khác làm chứng về tôi, và tôi biết: lời người làm chứng về tôi là lời chứng thật. Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật.” (Ga 5, 31-33). Tuy được chính Đấng Ki-tô làm chứng về mình, nhưng khi bị một số Tư-tế và thầy Lê-si vặn hỏi, thánh Gio-an Tẩy Giả vẫn một mực khẳng định ngài "không phải là Đấng Ki-tô, không phải là Ê-li-a, không phải là ngôn sứ", mà chỉ khỉêm nhường tự nhận “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.” (Ga 1, 19-23).

 Đức tính tuyệt đối khiêm nhường cộng với những hành vi công minh chính trực đã khiến thánh Gio-an Tiền Hô từ một người “làm chứng về ánh sáng” lại trở nên “ngọn đèn cháy sáng” (Ga 5, 35) đã toả ra các làn ánh sáng sau đây:

 * Ánh sáng của sự tự nguyện sống khổ hạnh, hãm mình ép xác. Thánh Kinh đã ghi nhận: “Cậu bé Gio-an càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân It-ra-en.” (Lc 1, 80). Hoang địa là sa mạc hoang vu, cô tịch, đầy thú dữ, thời tiết lại khắc nghiệt (ngày thì nắng cháy da, đêm thì lạnh cóng ruột). Ngay từ nhỏ, Thánh nhân đã chấp nhận sống trong hoang địa với cách ăn mặc đơn sơ, đạm bạc (“Ông mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng” – Mc 1, 4-6), chứng tỏ ngài đã chấp nhận sống khổ hạnh để theo đuổi lý tưởng “làm chứng cho chân lý”. Vì thế, tự nơi ngài đã tỏa sáng tinh thần “làm tôi Thiên Chúa hơn là làm tôi của cải vật chất”.

 * Ánh sáng của sự công minh chính trực, sẵn sàng hy sinh “cái tôi” cho chân lý: Đức tính cương trực của thánh Gio-an Tẩy Giả đã bộc lộ ngay khi ngài bắt đầu rao giảng Tin Mừng, làm Phép Rửa cho dân chúng tại sông Gio-đan: “Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: "Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? (Mt 3, 7). Phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc là những phe phái quyền lực trong Do-thái giáo thời đó, vậy mà Thánh nhân cũng không chút e ngại khi nói họ là “nòi rắn độc”. Đến như vua Do-thái là Hê-rô-đê đã lấy bà Hê-rô-đi-a, vợ của người anh là Phi-líp-phê, thánh nhân cũng nói thẳng: "Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài!" (Mt 14, 3-12), và vì thế  mới bị Hê-rô-đê trảm quyết.

 * Nhưng bao trùm lên tất cả là: Ánh sáng của sự khiêm nhu tự hạ, quên mình trong  phục vụ chân lý: Thánh Gio-an Tẩy Giả đã không dám nhận mình là Đấng Ki-tô, là ngôn sứ, mà khẳng định: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.” (Ga 1, 23). Không những thế, ngài còn nói về Đấng mà ngài làm chứng: “Người đến sau tôi, nhưng tôi không đáng cởi dây dép cho Người  (Ga 1, 27); “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi.” (Ga 3, 30). Chính đức tính khiêm nhường, quên mình đi để thi hảnh sứ vụ “rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” đã khiến cho “Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan.” (Mc 1, 4-5).

 Tất cả những ưu điểm nổi bật nêu trên phải chăng là ân sủng của Thiên Chúa đã ban cho thánh Gio-an Tẩy Giả? Đúng là như vậy, bởi vì ngay từ khi được hình thành trong cung lòng bà Ê-li-da-bet, thiên sứ đã truyền cho ông Da-ca-ri-a đặt tên cho thánh nhân là Gio-an (Gioan hay Giokhanan tiếng Do-thái có nghĩa là "Thiên Chúa thương xót"). Quả thực thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta đã được Thiên Chúa đoái thương,  tiền định từ trước, nên ngài là một chứng nhân tuyệt hảo. Thánh nhân đã tự hạ mình xuống để Chúa được nổi bật lên; đã ẩn mình trong bóng tối để Chúa được xuất hiện trong ánh sáng; đã tự huỷ mình đi để Chúa được nhận biết. Ngài đúng là người đi dọn đường, sửa lối tâm linh con người để mừng đón Ánh Sáng Chúa Ki-tô. Ngài thực là chứng nhân của ánh sáng.

 Chúa nhật III/MV Giáo Hội cho phép các chủ tế trong Thánh lễ được dùng lễ phục màu hồng và kêu gọi tín hữu “hãy vui lên” vì ngày Chúa quang lâm đã cận kề. Ấy cũng bởi vì chính “người làm chứng về ánh sáng” đã khẳng định: “Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi.” (Ga 3, 30). Người Ki-tô hữu ngày hôm nay hãy vui mừng, vì không chỉ có “người làm chứng về ánh sáng” là “ngọn đèn cháy sáng”, mà chính mình cũng được Ngôi Lời phán dạy “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5, 14). Hãy học theo thánh Gio-an Tiền Hô chiếu tỏa ánh  sáng “khổ hạnh, trung thực, quên mình và nhất là khiêm nhường chịu lụy” của bản thân ra môi trường xung quanh (từ gia đình lan tỏa ra cộng đoàn xã hội), ngõ hầu dọn đường đón Chúa quang lâm. Ước được như vậy.

 Ôi! “Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, này dân Chúa đem tất cả niềm tin đợi chờ ngày lễ Sinh Nhật Ðấng Cứu Thế. Xin hướng niềm vui chúng con về chính nguồn hoan lạc của mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả để tâm hồn chúng con hoàn toàn đổi mới, mà họp mừng ngày cứu độ đã gần kề. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.”

(Lời nguyện nhập lễ CN III/MV).

 JM. Lam Thy ĐVD.

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)