| |
TỪ TRỜI XUỐNG (CN XIX/TN-B)
Mở đầu bài Tin Mừng Chúa nhật XIX/TN-B (Ga 6, 41-51), thánh sử Gio-an trinh thuật sự kiện “Người Do-thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói: "Tôi là bánh từ trời xuống." Họ nói: "Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: "Tôi từ trời xuống?” Sở dĩ đám người Do-thái thắc mắc rồi xầm xì phản đối, bởi họ thấy Đức Giê-su là một con người rất bình thường, vì Người xuất thân từ một gia đình nghèo khó tại một miền quê hẻo lánh. Đối với họ, thật khó mà chấp nhận Người là một ngôn sứ, nói gì đến chuyện công nhận Người là Con Thiên Chúa từ trời xuống. Lý do khiến họ không chấp nhận là bởi họ nhìn vấn đề theo nhãn quan trần thế. Họ đã hiểu Thánh Kinh hoàn toàn theo nghĩa đen: Một người từ trời xuống có nghĩa là một người phải thật sự bay “từ trời xuống” như kiểu “mưa man-na” trong Cựu Ước, chớ không phải là một người sinh ra từ trong bụng một người mẹ ở trần gian như bao người khác. Từ cách hiểu trần tục đó, họ không chấp nhận được con người từ trời xuống lại chẳng có vẻ “từ trời xuống” một chút nào.
Người Do-thái tin vào lời các ngôn sứ lưu truyền về hiện tượng Đức Chúa “khiến man-na tựa hồ mưa đổ xuống, và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.” (Tv 78, 24); “Trong sa mạc, Người đã cho anh em ăn man-na, thức ăn mà cha ông anh em chưa từng biết, để bắt anh em phải cùng cực và thử thách anh em, hầu làm cho anh em được hạnh phúc trong tương lai.” (Đnl 8, 15-16). Man-na thực sự là vật chất (“Man-na như hạt ngò và trông nó như nhựa hương” – Ds 11, 7; ”Nó giống như hạt ngò, màu trắng và mùi vị tựa bánh tráng tẩm mật ong.” – Xh 16, 31), nên đã đổ từ trời xuống như mưa. Nhưng khi Đức Ki-tô nói “Tôi là bánh từ trời xuống” (Ga 6, 41) thì họ không thể tin nổi vì Đức Ki-tô là một con người bình thường như bao người khác, không phải và không thể là vật chất như man-na, đồng thời Người do bà Maria sinh ra chớ đâu có rơi từ trời xuống như man-na.
Với con người thì lúc nào cũng đòi được “thực mục sở thị” mới tin, nhưng đến khi được nghe thấy, trông thấy nhãn tiền thì lại chỉ hiểu theo những thành kiến, định kiến của loài người. Cũng vì sự non kém, bất toàn đó, nên Thiên Chúa phải mạc khải cho con người hiểu được những công trình kỳ diệu của Người. Mà muốn hiểu được những mạc khải, thì điều tiên quyết là phải có đức tin. Đám nguời Do-thái ngày xưa cũng như không ít con người ngày nay vì cứng lòng không tin, nên chỉ hiểu Lời Chúa theo nghĩa đen và nghe Lời Chúa bằng đôi tai nghễnh ngãng. Chính vì thế nên không lạ khi thấy họ cho rằng chỉ có đồ điên mới đại ngôn: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6, 51).
Nhưng nếu họ hiểu rằng Lời Chúa phải lắng nghe bằng tâm linh, chớ không thể nghe bằng hai lỗ tai của cái vỏ bằng đất là xác thịt nặng nề (“cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống” – Kn 9, 15). Với Lời Đức Ki-tô Thiên Chúa, lại càng cần phải lắng nghe bằng nội tâm kết hợp với lời cầu nguyện xin ơn soi sáng, thì mới hy vọng hiểu được, vì Người luôn dùng dụ ngôn với “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời), thậm chí có nhiều lúc Người còn dùng sự tương phản trong cách nói ẩn dụ để nhấn mạnh ý chủ đạo (Vd: "Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà.” – Mt 10, 34-35; "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ" – Lc 9, 60; “Ai tìm cách giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được mạng sống.” – Lc 17, 33).
Trở lại bài Tin Mừng hôm nay, với đám người Do-thái thì quả là phi lý khi một con người bằng xương bằng thịt bình thường lại dám nói mình là bánh hằng sống từ trời xuống, rồi còn khẳng định “ai ăn thịt tôi và uống máu tôi sẽ được sống đời đời”; bởi đây là lần đầu họ nghe nói và cũng vì những sự kiện minh hoạ cho lời nói đó chưa xảy ra. Họ không tin cũng không có gì lạ. Tuy nhiên, khi minh chứng hùng hồn đã thực sự xảy ra là chính Người nói câu nói kỳ dị ấy đích thị là Thiên Chúa từ trời xuống thế, chịu khổ hình thập giá và sống lại hiển vinh, đem lại sự sống vĩnh cửu cho những kẻ tin; thì sau đó cả hàng ngàn năm cũng vẫn còn nhan nhản những kẻ cứng lòng, vẫn cho Lời nói ấy là chướng tai, là phi lý. Ấy cũng chỉ vì họ cũng không hơn gì đám người Do-thái, chỉ hiểu Lời Chúa bằng nghĩa đen, nghĩa vật chất, không chịu loại suy để tìm đến chiều kích vũ trụ của Lời (“Truyền thống tư duy Ki-tô Giáo vốn khai triển yếu tố chủ chốt trong bản hòa tấu lời này. Như Thánh Bonaventura, chẳng hạn, người vốn theo truyền thống các Giáo Phụ Hy Lạp mà nhìn ra mọi khả thể sáng thế trong Logos, đã nói rằng “mọi tạo vật đều là lời Chúa, vì nó công bố Người”. Hiến Chế Tín Lý “Lời Chúa” đã tổng hợp các dữ kiện ấy khi cho rằng “Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và duy trì mọi vật bằng chính lời của Người (Ga 1:3), đã cho ta chứng cớ mãi mãi về chính Người ngay trong các thực tại tạo dựng.” – Tông huấn Lời Chúa “Verbum Domini”, số 7).
Tấm màn đã được vén lên (mạc khải), mọi sự đã rõ ràng: Để hiểu được Lời Chúa thì điều kiện tiên quyết là phải có đức tin (“Đức tin đến từ điều nghe được, và điều nghe được đến từ lời Chúa Ki-tô” – Rm 10, 17). Lời Chúa Ki-tô đích thị là Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể (“Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống, là Ngôi Lời.” – 1Ga 1, 1-3; “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời chính là Thiên Chúa… Và Ngôi Lời trở nên xác phàm.” – Ga 1, 1-14). Rõ ràng Ngôi Lời đã từ trời xuống mặc lấy xác phàm để cứu độ nhân loại bằng chính thân thể Người bị bầm giập vì đòn roi, chết treo trên thập giá còn bị lưỡi đòng của sự dữ đâm thâu trái tim khiến máu chảy ra đến giọt cuốí cùng. Thân xác ấy, dòng máu ấy há chẳng phải là nguồn ơn cứu độ đem lại sự sống vĩnh hằng cho những kẻ tin đó sao? Và như vậy, Lời dạy “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6, 51) đã là hiện thực 100%.
Liên tục 2 Chúa nhật XVIII và XIX, bài Tin Mừng đều được trích trong “Bài giảng tai hội đường Ca-phac-na-um” (Ga 6, 21-66) trình thuật về Bánh Hằng Sống. Đó cũng chính là phép Thánh Thể được Ngôi Lời thiết lập vào bữa Tiệc Ly trước ngày khổ nạn, và cũng chính vì thế mới gọi là Bí tích Thánh Thể (dấu tích bí nhiệm ẩn tàng Lời Chúa). Bí tích nhiệm mầu này được tái hiện hàng ngày hàng giờ trên bàn thánh ở khắp năm châu bốn biển để nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mọi tín hữu. Muốn được Lời Chúa dưỡng nuôi trên hành trình đức tin tiến về quê trời, không gì bằng chạy đến với MẸ CỦA LỜI, “vì Đức Maria hoàn toàn thấm nhuần Lời Chúa, nên ngài có khả năng trở thành Mẹ của Lời Nhập Thể … Khi chiêm ngưỡng nơi Mẹ Thiên Chúa một cuộc đời hoàn toàn do Lời lên khuôn, ta hiểu được rằng cả ta nữa cũng được mời gọi bước vào mầu nhiệm đức tin, nhờ đó, Chúa Ki-tô tới cư ngụ trong đời ta. Thánh Am-brô-si-ô nhắc nhở ta rằng xét theo một phương diện nào đó, mọi tín hữu Ki-tô đều tượng thai và sinh hạ Lời Thiên Chúa: mặc dù chỉ có Mẹ Thiên Chúa là tượng thai bằng xương bằng thịt, còn chúng ta, Chúa Ki-tô là con cái của mọi người chúng ta trong đức tin. Như thế, điều xẩy ra cho Đức Maria cũng hàng ngày xẩy ra nơi mỗi người chúng ta, trong việc nghe lời Chúa và trong việc cử hành các bí tích.” (Tông huấn Lời Chúa “Verbum Domini”,, số 20).
Ôi! Lạy Chúa Giê-su, xin ban Thánh Thần gia tăng lòng tin cho chúng con để chúng con luôn tin vào Chúa, tin vào sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh Thể và để mỗi lần chúng con tham dự thánh lễ, mỗi lần chúng con rước Chúa vào lòng, là chúng con được nhận lãnh bánh trường sinh ban sự sống đời đời. Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Mẹ của Lời Hằng Sống, Mẹ Đức Tin, xin Mẹ cho chúng con được ở trong cung lòng của Mẹ, để chúng con được “nhờ Mẹ, đến với Chúa” và tin vào sự hiện diện của Chúa Ki-tô trong Bí tích Thánh Thể, bây giờ và mãi mãi. Amen.
JM. Lam Thy ĐVD.
SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT XIX TN ( B ) ( Ga 6, 41 -51)
HÌNH ẢNH TỰ HIẾN TRỌN VẸN
Vâng, thưa quý vị , các bạn, không một thứ lương thực nào tồn tại vĩnh cửu ngoài “ Thần lương “ từ Thiên Chúa. Nhưng, thứ “ Thần Lương “ ấy là bánh từ trời “manna”, cũng không tồn tại. Vì con người trần gian phải ra công làm việc để có cái ăn nuôi thân xác. Vì thân xác con người được Thiên Chúa tạo dựng vốn vĩnh hằng cùng với linh hồn siêu nhiên. Nhưng, từ khi con người nghe theo quỷ chống lại Thiên Chúa, mang sự phản nghịch, bất trung. Vì thế, thân xác con người phải chịu nô lệ cho sự “phản nghịch “ ấy.
Vì vậy, tuy manna là lương thực từ trời , nhưng cũng chỉ là thứ lương thực nuôi sống “tạm thời “ thân xác của con người trong thời hữu hạn. Không phải là “thần lương “ nuôi lấy sự sống tạm bợ nơi thân xác đã chịu sự nô lệ của tội phản nghich, bất trung.
Vì thế, khi con người chứng kiến Con Thiên Chúa từ Trời đến, con người vốn dửng dưng không thể thấu hiểu “ân ban “ ơn cứu độ trọng đại là “Lương Thực “ nuôi linh hồn. Vâng, một “Thần Lương “ đích thực, một nhu cầu cao cả, mục đích tái tạo lại sự sống vĩnh hằng nơi loài thọ tạo bất trung.
Như vậy, khi Chúa Giêsu nói : “ Chính Tôi là Bánh Trường Sinh “ ( Ga 6, 35). Người ta thật sự ngỡ ngàng, khó hiểu, đầy sự nghi ngờ, bán tín, bán nghi. Vì sự khác biệt giữa thân xác và linh hồn, cũng như lương thực của thân xác và Thần Lương nuôi linh hồn, con người thật không thể hiểu một cách đơn thuần được.
Từ đó, chúng ta thấy, Chúa Giêsu không bác bỏ sự sống nơi thân xác, nhưng Người kiện toàn ý nghĩa siêu nhiên nơi thân xác con người. Vâng, đây đích thị là ân sũng ” Thần Lương “, là Lời của Ngôi lời Thiên Chúa, cũng là một thứ “ Thần Lương “ đích thực nơi Đấng Tạo Thành ban cho loài thụ tạo. Vì , Thiên Chúa chính là nguồn của sự sống, ngoài Thiên Chúa không có sự sống đích thực nào khác. Vì vậy, lương thực nuôi thân xác hằng ngày , mà người ta gọi là đồ ăn, cái ăn, miếng ăn nhằm chỉ để nuôi sự tạm bợ. Nên chi, Chúa Giêsu nói : việc làm lụng hằng ngày để kiếm cái ăn nuôi thân xác. Nhưng, cái ăn nuôi thân xác ấy để hướng đến sự sống viên mãn, chứ không phải dừng lại cái ăn nuôi thân xác.
Vâng, tai sao vậy, thưa quý vị? Thưa, bởi vì, nếu chỉ có cái ăn nơi thân xác mà thôi , thì mãi maĩ không có sự sống, hay nói cách khác, sự sống nơi thân xác không tồn tại. Vì , nguyên lý của sự sống không dừng lại nơi miếng ăn. Chỉ có chân lý và tình yêu mới là nguồn của sự sống, sự sống viên mãn, đích thực . Vì , chân lý đó, Thiên Chúa luôn ân ban sự sống cho con người. Sự sống đích thực, đó là sự “trao ban “ trọn vẹn sự sống từ Thiên Chúa qua Đức Giêsu – Kitô, Đấng Cứu Độ con người. Bởi vì, sự sống đích thực chính là ” Lương Thực Thần Linh ”, mà chỉ có từ nơi Thiên Chúa mà thôi.
Khi chúng ta nghiền ngẫm Lời Chúa hằng ngày chính là khi linh hồn chúng ta được no thỏa nhu cầu công chính là sự sống đích thực.
Để dễ chấp nhận chân lý trên, chúng ta cùng nhau đưa ra một dẫn chứng cụ thể vể lương thực cho thân xác và lương thực cho linh hồn.
Người ta thường tin rằng lương thực cho thân xác là nhu cầu của sự sống, nhưng , khi chúng ta ăn uống no say từ ngày này qua ngày khác, thì sự sống của chúng ta không còn là sự sống đích thực nữa, mà là “sự chết ”. Bởi vì, không ai sống trên đời mà cứ nằm rồi ăn, ăn rồi nằm. Nếu thực sự sự sống chỉ có thế thì không còn là sự sống, đó chính là sự chết, một sự chết đích thực.
Thứ đến, nếu sự sống chỉ có vậy, thì không mang một ý nghĩa siêu nhiên, tháp nhập vào Thiên Chúa được. Vì vậy, Chúa Giêsu đã hướng con người đến một một đích tối thượng đó là được tháp nhập vào sự sống vĩnh cửu nơi nguồn sống Thiên Chúa. Đó là của ăn, lương thực bất tử, sự sống siêu phàm từ Đấng vô biên.
Như vậy, lương thực là thức ăn cho sự sống nơi con người không phải duy nhất là cơm bánh, mà chính là Chúa Giêsu , vì khi con người không có Thiên Chúa, thì không bao giờ họ có được sự sống đích thực. Vì, khi con người chỉ có của ăn nuôi thân xác mà thôi, thì sự chết sẽ tiêu diệt họ. Cứ kẻ mạnh giết kẻ yếu và cuối cùng sự chết ngự trị, vì kẻ mạnh cuối cùng cũng phải chết.
Theo đó sự sống nuôi sống đích thực là chính Thiên Chúa, từ đó cho thấy sự giáo huấn của Chúa Giêsu chính là lương thực cho sự sống vĩnh hằng. một sự sống mà nơi đó Người đã tự hiến trọn vẹn cho con người.
Qua ba tuần lễ liên tiếp , chủ đề lời Chúa Chúa Nhật hôm nay minh họa cho chúng ta một sự tự hiến trọn vẹn của Chúa Giêsu, Đấng đã đến vì con người, trao ban trọn vẹn Thiên Tính và Nhân tính và chỉ có Người mới thực sự là Đường , là Sự Thật và là Sự Sống từ Thiên Chúa được trao ban cho con người mà thôi.
Chúa Giêsu không hứa hẹn trao ban của cải vật chất cho những kẻ đi theo Người, vì của cải của thế gian vốn có sẵn , nhưng không mang lại sự sống đích thực là chính Thiên Chúa. Theo đó, Thiên Chúa muốn ban cho con người chính Ngài, vì vậy, Người đã từ trời xuống thế…
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến thế gian để chỉ cho nhân loại một con Đường của sự Sống, một Con Đường Hằng Sống, đó là Lương Thực trường sinh, thứ Thần Lương vĩnh cửu là chính Người. Xin thương ban cho nhân loại nhận ra tình Chúa yêu thương, và trọn vẹn dâng hiến , hầu bước theo và được nhận lãnh./. Amen
09/08/2015
P.Trần Đình Phan Tiến
Chúa Nhật 19 TN B -12-8-2012
“Bí Quyết Trường Sinh” Ga 6:41-51
Tần Thủy Hoàng là một ông vua giầu có, nắm trong tay quyền uy muốn làm gì cũng được, nhưng ông lại rất sợ chết. Ông tìm mọi cách để cho mình được sống trường sinh bất tử. Ngày kia các nhà chiêm tinh và thầy pháp thưa ông rằng ở Biển đông có một hòn đảo địa đàng, dân cư ở đấy đã khám phá ra được bí thuật trường sinh. Nghe thế Tần Thủy Hoàng truyền lấy mấy chiếc tầu chở trân châu ngọc qúi và cho người đi tìm hòn đảo đó để đổi lấy cái bí thuật sống trường sinh bất tử. Truyện kể rằng đoàn tầu thám hiểm đó đã tìm thấy hòn đảo, nhưng dân cư ở đấy nhất định không chịu đổi bí thuật trường sinh bất tử bằng những món đồ qúi gía, nhưng dưới mắt họ lại chỉ là tầm thường rẻ mạt so với cuộc sống đời đời. Thực ra hòn đảo địa đàng kia làm gì có. Chẳng qua là do trí tưởng tượng, hoặc mưu kế của các nhà chiêm tinh và thầy pháp bày ra để trấn an sự sợ chết, để làm dịu bớt cái khát vọng sống bất tử của Tần Thuỷ Hoàng.
Nhưng cái bí thuật trường sinh bất tử mà dân cư trên hòn đảo trong câu chuyện không muốn đổi cho Tần Thủy Hoàng thì Chúa Giêsu lại ban tặng cho ta nhưng không (free gift). Chính Ngài giới thiệu và mời gọi ta đến lãnh nhận sự sống đời đời. Ngài tuyên bố thật rõ ràng: “Ta là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống” (Ga 6: 51). Như vậy, để đạt được sự sống đời đời thì phải tin Ngài là bánh ban sự sống bởi trời xuống. Phải lấy lòng tin mà ăn thịt và uống máu Ngài. Điều này không phải là dễ đối với những người Dothái thời Chúa Giêsu vì thế có một số người xầm xì: “Lời nói đó chói tai quá! Ai mà nghe được?” (Ga 6: 60), nên họ đã rút lui không theo Ngài nữa. Họ bảo Chúa Giêsu chỉ là con bác phó mộc Giuse, mẹ Ngài là Maria và anh em Ngài đang sống giữa họ. Cũng vậy, ngày nay có nhiều người cũng sống hoàn toàn theo lý trí tự nhiên. Họ nhìn Thánh Thể chỉ là một tấm bánh thường, làm bằng chút bột miến có thế thôi. Và số đó có cả một số người Công giáo nữa mới đáng buồn!
Vì thế Chúa Giêsu nói rõ ai được Chúa Cha ban cho thì mới có thể đến với Ngài: “Không ai đến được với Ta, nếu Cha là Đấng sai Ta không lôi kéo kẻ ấy” (Ga 6: 44). Cần phải được Chúa ban ơn cho, ta mới có thể nhận ra Chúa Giêsu là người thật và là Thiên Chúa thật. Cần phải có đức tin mới có thể nhận ra dưới hình bánh nhỏ mọn có thật Chúa Giêsu hiện diện, một Chúa Giêsu với trót cả bản tính Thiên Chúa và nhân loại.
Nếu rước lễ nên ta được kết hợp mật thiết với Chúa Kitô. Chúa đã phán: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, kẻ ấy ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy” (Ga 6: 56). Như giọt nước hòa tan với rượu nho trong chén thánh, ta cũng được tan hòa với Chúa Kitô như vậy. Rước lễ còn chuẩn bị thân xác ta sẵn sàng đón nhận cuộc phục sinh vinh hiển: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta sẽ được sống đời đời và Ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết” (Ga 6: 55). Khi kết hiệp với ta trong lúc rước lễ, Chúa Giêsu đặt trong ta mầm sự sống vinh quang, như mầm sống trong hạt giống nằm sẵn đó chờ ngày đâm chồi phát triển thành cây xanh tươi mang đầy hoa trái.
Vậy, để đáng Chúa ban ơn trường sinh bất tử, ta hãy dọn mình xứng đáng và kính cẩn đến rước Chúa với lòng tin yêu mạnh mẽ. Sau khi rước lễ, ta hãy cầm trí cám ơn Chúa tử tế. Nhưng rất tiếc, nhiều lần ta đã rước Chúa một cách máy móc, và vừa mới rước Chúa ngự vào lòng đã chia trí lo ra, chẳng nói với Chúa được một lời, chẳng biết bày tỏ với Người những nhu cầu, những ước vọng, chẳng biết thưa với Người những nỗi băn khoăn lo lắng trong cuộc sống xin Người hướng dẫn để ta biết sống đẹp ý Chúa.
Nói tóm lại, để việc rước Chúa sinh công hiệu tốt, ta phải gắng cất những ngăn trở: những tội lỗi, những dịp tội, những hành vi, cử chỉ, lời nói bất xứng. Trong khi rước lễ, ta lại phải giục lòng tin cậy, t ô n t hờ, yêu mến Chúa cách mạnh mẽ. Nhưng tự sức ta, ta khó có thể làm được cách hẳn hoi. Vậy ta hãy cậy nhờ Mẹ Maria và thánh Giuse đón tiếp Chúa và cám ơn Chúa với ta và thay cho ta.
Lm Gioan Vượng, CMC
"Đây
Là Màu Nhiệm Đức Tin" năm B -2009
Giáo lý của Chúa Kitô, nói chung, được nhiều người chấp nhận vì
tính cách "hợp tình hợp lý" của nó. Nhưng khi mặc khải
về nguồn gốc thần linh của mình và về bí tích Thánh Thể, Ngài
đã gặp những phản ứng hoàn toàn bất lợi. Thánh Gioan ghi lại rằng
khi Ngài nói: "Ta là bánh bởi trời", thính giả đã xì
xèo: "Ông này không phải là Giêsu con ông Giuse sao? Chúng
ta biết rõ cha mẹ của ông. Vậy tại sao ông ta lại nói: Ta là bánh
bởi trời xuống?"
Trước những phản ứng tiêu cực đó, Chúa Giêu đã không rút lại lời
tuyên bố, trái lại, tiếp tục giải thích: "Tôi là bánh từ
trời. Cha ông anh em đã ăn manna trong sa mạc và đã chết. Chính
tôi đây mới là bánh từ trời để ai ăn thì không phải chết. Bánh
đó chính là thịt tôi để nhân loại ăn mà được sống." Những
lời giải thích đã không đủ sức thuyết phục người nghe, trái lại
còn gây thêm rắc rối, đến mức độ họ phải kêu lên: "Lời gì
mà nghe thật chói tai. Làm sao ông ta có thể lấy thịt mình cho
chúng ta ăn đươc?" Và họ bỏ đi. (Xem Gioan 6:60,66)...
Quả thực, bí tích Thánh Thể là một điều khó tin, khó chấp nhận,
vì đây là một việc vượt xa lý luận và khả năng con người. Nói
cách khác, đây là một phép lạ, một sự việc hoàn toàn nằm trong
lãnh vực đức tin. Chính vì thế, mỗi khi đọc xong lời truyền phép,
linh mục chủ tế lớn tiếng tuyên bố với chúng ta: "Đây là
màu nhiệm đức tin". Cũng vậy, trước mỗi lần lãnh phép lành
Mình Thánh Chúa, chúng ta nói với nhau "Ta hãy lấy đức tin
bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì" (Ca khúc Pange lingua,
đoạn cuối).
Đúng thế, bí tích Thánh Thể là một mầu nhiệm đức tin, nên con
người không thể dùng lý trí để suy luận, cũng không thể dùng giác
quan mà cảm nhận. Vậy câu hỏi được đặt ra là, tại sao chúng ta
chấp nhận bí tích Thánh Thể? Chúng ta tin rằng Đức Kitô chính
là Thiên Chúa tòan năng và chân thật. Là Thiên Chúa toàn năng,
Ngài có thể làm bất cứ điếu gì Ngài muốn. Là Thiên Chúa chân thật,
Ngài không bao giờ dối trá và sai lầm. Lời Ngài là chân lý; Ngài
nói là phải có, phải đúng. Căn cứ vào hai ưu điểm này của Ngài,
chúng ta xác tín rằng:
- Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh
Thể.
- Bánh hằng sống từ trời ban xuống chính là thịt Ngài.
- Muốn có sự sống đời đời, con người phải ăn thịt Ngài.
Chính
qua niềm tin đó,và tuân theo lệnh truyền của Chúa "Hãy làm
việc này mà nhớ đến Thày", Giáo Hội Công Giáo luôn cử hành
Thánh Thể, đồng thời khuyến khích chúng ta rước lễ và chầu Mính
Thánh Chúa khi có thể. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II năm ngoái
đã gởi đến chúng ta một thông điệp về bí tích Thánh Thể, mang
tên "Ecclesia de Eucharistica" (Giáo Hội từ Thánh Thể
Chúa) và đặt năm 2005 là Năm Thánh Thể. Với thông điệp này và
năm Thánh Thể, Đức Thánh Cha cống hiến cho chúng ta một cơ hội
thuận tiện để đào sâu ý nghĩa của bí tích Thánh Thể, đồng thời
khơi lên tâm tình yêu mến Thánh Thể nơi tâm hồn chúng ta. Năm
Thánh Thể đã chấm dứt, nhưng niềm tin và tâm tình đối với Thánh
Thể cần phải được tiếp tục trong suốt cuộc sống của mỗi người.
Vững tin vào lời quả quyết của Chúa Giêsu và sự khích lệ của Giáo
Hội, ước gì chúng ta luôn đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm
cuộc sống của mình, bằng cách lợi dụng mọi cơ hội, đặc biệt ngày
Chúa Nhật, để đến với Thánh thể, nhờ đó, chúng ta được nuôi dưỡng
và thêm sức mạnh.
Lm.
Bùi Mạnh
|
|