Chúa Nhật XXVI Thường Niên Năm B
 
 

 

Chúa nhật XXIX - Chúa nhật Truyền giáo - Năm B
HÃY ĐI LOAN BÁO TIN MỪNG
CHO MỌI THỌ TẠO

Phó tế Gioan M. Thiên Khải, CMC.

Kính thưa anh chị em,
Hằng năm, Giáo hội dành một ngày gọi là ngày thế giới truyền giáo, để kêu gọi mọi người tín hữu hay ý thức ơn gọi ngôn sứ của mình khi lãnh Bí tích Rửa Tội. Điều này công đồng Vat II đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sắc lệnh truyền giáo: “Mỗi Kitô hữu phải là một tông đồ cho Chúa”.

Vậy để tuân theo lệnh truyền của Chúa được nhắc lại trong bài Tin mừng hôm nay; cũng như để thi hành ơn gọi ngôn sứ của mình, chúng ta cần có ít nhất những hành trang sau đây:

1/ Cầu nguyện, liên kết với Chúa.
Trước khi sai các tông đồ đi truyền giáo, Chúa Giêsu lần lượt kêu gọi các ông và huấn luyện họ. Về phần các ông đi theo Chúa, sống với Chúa, học nơi Chúa, họ từng nghe lời Chúa giảng, từng thấy phép lạ Chúa làm. Các ngài đã thấm nhuần được tinh thần của Chúa. Nhưng để cho việc truyền giáo mang lại kết quả, thì Chúa bảo họ hãy cầu nguyện. Đời sống cầu nguyện tựa như cành nho liên kết với thân nho, nhờ sự liên kết này ơn Chúa mới giúp sức cho. Bởi vì Ngài đã khẳng định: “Không có ơn Ta các con không thể làm gì được”. Việc truyền giáo sẽ thất bại, lời nói trở nên trống rỗng, không có sức đánh động người nghe, nếu thiếu đời sống cầu nguyện kết hợp với Chúa.

2/ Tinh thần bác ái.
“Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau”. Đạo chúng ta là đạo yêu thương, do Thiên Chúa thiết lập. Cho nên khi chúng ta đi truyền giáo, là chúng đem tình thương Chúa đến cho người khác. Tin Mừng mà chúng ta loan báo sẽ trở thành vô nghĩa nếu nó không được thể hiện trong cuộc sống yêu thương, “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Trong thư chung HĐGMVN năm 2003 đã nhắc nhở: “Những hoạt động bác ái, là những lời rao giảng dễ đón nhận nhất, vì người đương thời sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy, hoặc nếu họ có nghe các thầy dạy, bởi các thầy dạy cũng là những chứng nhân”.

3/ Tâm hồn bình an.
Khi Chúa Giêsu sai các tông đồ đi rao giảng thì Ngài căn dặn: “Vào nhà nào, các con hãy chúc bình an cho nhà ấy”. Như vậy, nhà truyền giáo ra đi loan báo Tin Mừng mà không có sự bình an của Chúa thì chắc chắn sẽ không có kết quả “Vì không ai cho cái mình không có”.

Anh chị em thân mến,
Với ba hành trang trên, bây giờ chúng ta truyền giáo cho những đối tượng nào?

Chúa Kitô là mẫu gương truyền giáo. Đầu tiên Chúa đi tới các Miền Thập Tỉnh, những làng dân ngoại chưa biết Chúa. Ngài đến với người phụ nữ xứ Samaria, nhờ cuộc đối thoại mà bà đã nhận ra Chúa là Đấng Mêsia. Đồng thời, bà trở nên người đi loan báo cho người khác về Chúa.

Truyền giáo là đi tới những người lãnh đạo cao cấp trong dân. Chúa Giêsu đã gặp gỡ và tiếp viên sĩ quan thành Caphanaum, khi ông đến gặp Ngài. Chính nghĩa cử quan tâm mà Chúa Giêsu đã chinh phục được viên sĩ quan và gia đình ông. Để rồi Ông trở thành người làm chứng cho Tin mừng.

Truyền giáo là đi tới những người nghèo đói, yếu đau và tật nguyền. Chúa Giêsu đã không ngừng ra tay cứu giúp những người đui mù, câm điếc, què quặt và phong cùi… Khi gặp người bại liệt đã 38 năm, một người bị xã hội bỏ rơi, nằm chung giữa một đám người tê liệt. Chúa Giêsu đã cứu chữa anh và anh đã trở nên người công khai tuyên bố tin nhận Ngài.

Truyền giáo là ra đi. Chúa Giêsu bảo Phêrô: “ Hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”(Lc.5,4). Qua lệnh truyền mà Chúa bảo Phêrô, tôi  thiết nghĩ rằng: nhà truyền giáo chẳng những ra đi khỏi nhà, nhưng còn hiểu theo một cách khác, đó là phải ra đi khỏi chính mình, ra khỏi những kiêu căng tự phụ, và ra chỗ nước sâu của cái tôi ích kỷ, những tính toán hơn thiệt nhỏ nhen, đừng ỷ lại vào tài cán cá nhân, nhưng khiêm tốn coi mình chỉ là dụng cụ bé nhỏ trong tay Chúa, thành công thất bại là tuỳ ở Chúa.

Anh chị em thân mến,
Từ khi hạt giống Tin mừng được các vị Thừa Sai gieo vãi trên quê hương Việt Nam. Bắt đầu từ 1525 - 1633, thì số người tin theo Chúa được 5%.

Rồi từ 1633 -1888, kết thúc thời Văn Thân bắt đạo, thì số người theo đạo tăng được 7% dân số. Đến 1960 thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam, số tín hữu Việt Nam cũng chỉ 7%. Như vậy từ 1888 – 1960, số người tin vào Chúa dặm chân tại chỗ không có gia tăng.

Rồi đến 2010, nhân dịp kỷ 50 thành lập hàng Giáo phẩm và hơn 400 năm Giáo hội Việt nam lãnh nhận đức tin, làm một bản thống kê, số tín hữu tin vào Chúa được 8%.

Như vậy từ 1960 - 2010 con số phát triển được 1%, nhưng liệu 1% này, có phải là kết quả của một công trình loan báo Tin mừng của người tín hữu Việt Nam không? Trả lời câu hỏi này, tôi nghĩ rằng không chắc lắm. Bởi vì  trong số 1% này, có thể phát triển theo sinh sản tự nhiên, và số người vì hôn nhân mà theo đạo thôi. Thế thì, có bao giờ chúng ta tự đặt câu hỏi: tôi có trách nhiệm trong vấn đề này bao nhiêu phần trăm? Tôi có thao thức gì trong việc rao truyền Lời Chúa?

Thưa anh chị em,
Trước khi Chúa Giêsu về trời, Ngài để lại cho các tông đồ một lời di chúc đó là: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân....”. Thế nhưng, sau khi Chúa về trời các tông đồ vẫn còn nhúc nhát sợ hãi chưa dám ra đi thực hiện lời di chúc của Chúa, nhưng nhờ Mẹ Maria tập trung các ông trong nhà Tiệc Ly cầu nguyện, và nhờ sự hiện diện của Đức Mẹ mà Chúa Thánh Thần đã biến đổi các ông: từ những người dốt nát trở nên thông thái; từ những người nhút nhát sợ hãi trở nên mạnh mẽ tung cửa ra đi rao giảng  làm chứng cho Tin mừng của Chúa.

Xin Đức Mẹ Mân Côi, là mẫu gương truyền giáo đầu tiên trong việc mang Chúa đến cho người khác, giúp cho mỗi người chúng ta biết ý thức chức vị ngôn sứ của mình. Hầu tích cực loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến. Amen.

 

Chúa nhật XXIX - Chúa nhật Truyền giáo - Năm B-2012
TRUYỀN GIÁO
Lm Mathia M. Quang Thận CMC

Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây." Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì? Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang." Đức Giê-su bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giê-su bảo: "Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được. "Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người." (Mc 10, 35-45)

Kính thưa quý ông bà và anh chị em.
Năm nay, ngày thế giới truyền giáo mang một ý nghĩa của năm Đức Tin một năm hồng ân của Chúa Giêsu khi Ngài đến thế gian để đền bồi tội lỗi chúng ta ngang qua cái chết đau thương trên thập giá và giờ đây được tái diễn trên bàn thờ qua thánh lễ.

Thực ra, đau khổ, tủi nhục và thập giá đã từng được Isaia khắc họa khi nói về người tôi tớ của Thiên Chúa: Chúa đã muốn hành hạ Người bằng đau khổ. Đau khổ không do bởi Người nhưng do chính con người mang tội lỗi: vì Người đã gánh lấy tội ác của họ. Ngang qua sự tự hiến của mình, Chúa Giê-su đến với sứ mạng giải thoát con người khỏi ách nô lệ ma quỷ và tội lỗi, cùng đem con người vào vương quốc Thiên Chúa.

Thế nhưng nào các môn đệ đã hiểu. Chẳng vậy mà họ đã tìm cách đến xin với Chúa cho mình được tham dự vào vinh dự cai trị chư dân như trường hợp của hai anh em Gioan và Giacôbê con của Dêbêđê.

Không muốn để cho các môn đệ bị chìm đắm vào bã vinh hoa thế tục và óc thực dụng. Chúa Giê-su muốn thăng tiến các tông đồ bằng cách siêu nhiên hóa, cách nhìn cao cả lên Thiên Chúa, cảm thông với những yếu đuối tội lỗi của con người, và để chúng ta từ đây có quyền tin tưởng rằng: trong Chúa Giê-su Kitô niềm cậy trông của chúng ta sẽ không hề thất vọng.

Kính thưa quý ông bà và anh chị em,

Như các tông đồ, chúng ta khó chịu vì lối suy nghĩ quá thực dụng của hai anh em nhà Dêbêđê mà còn cả các Tông Đồ và hiện nay có cả mỗi người chúng ta, cũng đã nhiều lần suy nghĩ và sống như  các Ngài. Vì thế đây phải là dịp để chúng ta kiểm điểm lại chính mình: chúng ta có biết nhận ra điều đó, để thay cho những đòi hỏi, yêu sách, quyền lực là sự phục vụ trong quên mình, trong khiêm tốn, sẵn sàng hy sinh phần cá nhân để lợi ích anh em được nâng cao. Đây là cách truyền giáo tốt nhất chúng ta không chỉ rao giảng một giáo lý, chia sẻ cuộc sống yêu thương, cô đọng trong giới răn mến Chúa yêu người để rao giảng một thứ đạo, đó là “Đạo tình thương”

Dù là Con Thiên Chúa, là thượng tế cao cả, nhưng qua con đường nhập thể, Đức Kitô đã cảm thông với những yếu đuối của con người nhất là đối với những ai tội lỗi, hầu lôi cuốn họ về cùng Thiên Chúa. Phần chúng ta đã biết noi gương Chúa tỏ ra rộng rãi khoan dung, quan tâm và giúp đỡ hay đay nghiến ghét bỏ, trì chiết và tìm mọi cách để loại trừ người thân và anh em mình, dù người anh em đó đã nhìn ra nết xấu và ước mong được sửa chữa để nên tốt hơn. 

Chúng ta được mời gọi để cậy trông vững vàng trong khi tiến đến trước toà ân sủng của Chúa. Để hạ mình xuống phục vụ đã là cả một chén đắng. Nhưng khi phục vụ lại còn bị nghi ngờ, hiểu lầm, gặp những chống đối, ghen ghét lại càng dễ nản lòng hơn. Trong những giờ phút đó, chúng ta có biết nhìn ra lý tưởng chúng ta đang hướng về đó là công cuộc truyền giáo qua chính việc đóng góp phục vụ của chúng ta cho mọi người. Hội thánh đang dành cho việc Phúc Am hóa mới và tuyền giáo. “Không tín hữu nào, không tổ chức nào trong Giáo Hội có thể trốn tránh nhiệm vụ tối cao này là loan báo Đức Kitô cho mọi người” (RM số 3).

Cánh đồng truyền giáo thật rộng lớn bao la, có rất nhiều việc cần phải làm và nhiều tông đồ với nhân sự để thực hiện. Xin Chúa không chỉ ban cho Hội Thánh có nhiều tâm hồn dâng mình phục vụ Chúa trên cánh đồng truyền giáo, mà còn có nhiều tâm hồn quảng đại sẵn sàng đóng góp lời cầu nguyện của mình hoà trong những hy sinh bệnh tật vào sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh hôm nay.

Ai là người lớn nhất ?
Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng

Chúa Nhật 29
Như chúng ta đã biết, vào thời điểm hiện nay tại Hoa Kỳ, người dân của cường quốc này đang chú ý đến cuộc bầu cử tổng thống. Để lấy điểm dân chúng, các chiến dịch vận động tranh cử được các ứng cử tổ chức rầm rộ và quy mô, nhiều điều hứa hẹn được nêu ra qua các cuộc tranh luận…Tuy nhiên nói và làm là hai điều khác nhau. Đôi khi người ta không thực hiện được lời hứa. Có muôn ngàn lý do được nêu ra để thanh minh, nào là những khó khăn khách quan, nào là những hoàn cảnh ngoại cảnh tác động. Điều đáng nói ở đây vẫn là sự thiếu tinh thần trách nhiệm và thiếu tâm. Người ta vẫn nói rằng khoảng cách xa nhất vẫn là từ miệng lưỡi đến trái tim.

Nhân lời đề nghị của hai anh em trai Giacôbê và Gioan nhà Zêbêđê về chỗ ngồi trong nước vinh quang, Đức Giêsu đã cho các môn đệ của mình bài học về tinh thần trách nhiệm phục vụ trong bất kể chỗ đứng nào của mình : « Ai muốn làm lớn thì trở nên người phục vụ. Ai muốn làm đầu thì hầu tất cả mọi người » (Mc10, 43-44).

Đức Giêsu đã thực sự sống điều này trước khi nói ra cho các môn đệ mình. Hành động của Người luôn luôn phù hợp với những gì Người chỉ dạy. Nơi Người không hề có khoảng cách giữa lời nói và thực hành, « vì chưng Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người » (Mc10, 45). Đức Giêsu thực sự là Con Thiên Chúa, nhưng Ngài đã tự hạ mình xuống tận đáy của nhân loại để chia sẻ kiếp phàm nhân với chúng ta, ngoại trừ tội lỗi, nhằm nâng chúng ta lên địa vị làm con cái yêu dấu của Thiên Chúa.
Với Lời Chúa hôm nay, chúng ta được mời gọi đặt trọng tâm đến ý nghĩa của sự phục vụ hơn là tìm cho mình một chỗ đứng. Đó là điều căn bản để tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Đây cũng là cách thức nhìn nhận sự việc bằng con tim để tránh đi cái nhìn phiến diện bề ngoài.

Mỗi người đều có một chỗ đứng khác nhau để cùng xây dựng một kế hoạch chung trong tổng thể của việc cộng tác vào công trình sáng tạo. Tất cả công sức riêng của mỗi cá thể đều góp vào phần vào thành quả tốt đẹp chung. Cha Mẹ yêu thương con cái và làm hết bổn phận của mình để chúng được lớn lên về mọi phương diện. Người vợ và người mẹ được mời gọi trao hiến đời mình để phục vụ chồng và con. Cũng vậy, người chồng cần dấn thân để trở nên chỗ dựa cho vợ và con mình. Về phần mình, bậc làm con cần phải tôn trọng và vâng phục cha mẹ. Trong gia đình, mỗi thành viên thấy được chỗ đứng của mình để phục vụ người khác. Đó chính là bí quyết của hạnh phúc gia đình.

Trong khi suy niệm Lời Chúa của Chúa Nhật tuần 29 này, chúng ta nhớ đến thánh Phanxicô Khó Khăn, người đã muốn trở nên giống Đức Giêsu và sống sát với tinh thần Tin Mừng của Người. Chúng ta cũng được mời gọi trở nên sứ giả của tình thương và hòa bình :

« Lạy Chúa từ nhân
Xin cho con biết mến yêu
Và phụng sự Chúa trong mọi người
Lạy Chúa xin hãy dùng con
Như khí cụ bình an của Chúa
Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù
Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục
Ðem an hòa vào nơi tranh chấp
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm
Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng
Ðể con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm
Ðem niềm vui đến chốn u sầu

Lạy Chúa xin hãy dậy con
Tìm an ủi người hơn được người ủi an
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời

Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con
Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí
Ơn an bình».

Chúa nhật 29-năm B-2012

(Lễ Truyền giáo)

Tin mừng theo Lc 24, 46-53

"Phải nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân".

Bài kết Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Như đã ghi chép là Đức Kitô phải chịu khổ hình và ngày thứ ba từ cõi chết sống lại; và nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ Giêrusalem. Các con là nhân chứng những sự việc ấy. Thầy sẽ sai đến với các con Đấng Cha Thầy đã hứa; vậy các con hãy ở lại trong thành cho đến khi mặc lấy quyền lực từ trên cao ban xuống".

Rồi Người dẫn các ông ra ngoài, đến làng Bêtania, và giơ tay chúc phúc cho các ông. Sự việc xảy ra là đang khi Người chúc phúc cho các ông, Người rời khỏi các ông mà lên trời. Các ông thờ lạy Người, và trở về Giêrusalem lòng đầy vui mừng; các ông luôn luôn ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.  ---

Suy gẫm:

1.Bài Tin mừng hôm nay ngắn, nhưng rất cần nhớ, vì là những lời Chúa Giêsu dặn dò trước khi li biệt các Tông đồ để về trời. Chắc Chúa có nhiều điều cần dạy, nhưng Ngài chỉ dạy: Các con phải giảng dạy cho người mọi dân về "Đức Kitô đã chịu khổ hình và ngày thứ ba từ cõi chết sống lại; và nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem".

Tại sao Chúa dạy vắn tắt như vậy? Vì Người đã xuống thế mở đường cứu rỗi cho người Do thái, nhưng còn bao nhiêu người trên địa cầu cũng cần được cứu.

Ngài đã hứa ban Chúa Thánh Thần đến hướng dẫn bên trong, và nhờ các Tông đồ, các môn đệ của Ngài làm việc rao giảng ấy bên ngoài.

*Qua 2 ngàn năm, các cấp bậc trong Giáo hội đã vâng lệnh Chúa, nhất là các nhà truyền giáo hi sinh bỏ cha mẹ, quê hương đi rao giảng đạo Chúa khắp thế giới.

Việt nam ta cũng nhờ các nhà truyền giáo người Pháp, người Tây ban nha sang khó nhọc rao giảng và còn đổ máu tưới cho cây Giáo hội Việt nam tươi tốt trong 300 cấm đạo dã man. Cám ơn các Ngài muôn vàn.

*Hiện nay năm 2012, số người trên địa cầu là 7 tỉ người, trong đó mới có hơn 1 tỉ người Công giáo, còn bao nhiêu linh hồn cần  cần được cứu rỗi.

2. Nhưng thật buồn, nhiều người sống phất phơ như không care về ơn cứu rỗi, nhiều người có care nhưng sơ sơ, nhu cầu sinh sống vật chất đời này cần hơn, quan trọng hơn. Họ theo lí thuyết  "có thực mới vực được đạo", rồi lơ đạo luôn.

3. Tôi có thể làm gì để thi hành lời Chúa dạy?

-Tôi không đi giảng được. Không sao.

-Tôi bận rộn làm ăn sinh sống. Không sao.

*Nhưng chắc bạn có thể cầu nguyện vắn tắt, dễ dàng như Chúa Giêsu dạy trong sách " Chúa Giêsu ngỏ lời với thế giới: Hãy làm tác động mến yêu: "Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn". Mỗi lời cầu sốt sắng thành tâm là cứu rỗi một linh hồn đấy. Linh hồn còn sống, linh hồn tội lỗi, linh hồn vô thần, linh hồn luyện ngục...(ngày 20-6-1940)

*Chắc bạn có thể hi sinh làm trọn bổn phận, vui chịu đau khổ, và kết hợp với máu cứu chuộc của Chúa, cứu nhiều linh hồn?

Một hôm, Chúa xin nữ tu Beninha, Chúa nói: Bêninha, cho Cha các linh hồn? Chị hỏi: -Giêsu, con làm cách nào để cho Chúa? Chúa trả lời: Bằng hy sinh, con ạ! Các linh hồn sẽ không được cứu chuộc, nếu người ta không hy sinh gì cho họ. Phần Cha, Cha đã chết trên thánh giá để cứu chuộc họ ...Cha không xin con những hy sinh lớn lao, Cha chỉ xin con hãm một lời nói, dẹp một cái nhìn, cắt đứt một tư tưởng vui thích...Những cái nhỏ mọn đó, hợp nhất với công nghiệp vô cùng của Cha, sẽ cứu nhiều linh hồn. (Tình dịu dàng CGS, TTĐM xb,1994, trg 108).

Tại Fatima, Đức Mẹ cũng nói y như Con của Mẹ: "Nhiều linh hồn phải sa hỏa ngục, vì không có ai cầu nguyện và hi sinh cho họ" (hiện ra lần 4 ngày 15-8-1917)

Mời bạn làm những gì trong tầm tay của bạn thôi nhá. Chúa hài lòng với bạn đấy.

Truyện:

Cô Sophia được mướn đến trông coi 3 đứa nhỏ cho một gia đình. Ngày đầu tiên ông chủ đã nói: Trông coi con nít nhưng không được giảng đạo Công giáo. Cô viết mấy chữ vào một mảnh giấy, nhét sau bức ảnh Đức Mẹ. Cả ba đứa trẻ tò mò đòi coi, nhưng cô không cho.

- Đây là điều bí mật, không ai được coi.

Ba đứa trẻ càng ngày càng ngoan ngoãn, học giỏi, dễ thương.

Mùa đông năm ấy, ba đứa thay nhau vào nằm điều trị tại bệnh viện. Cô tình nguyện chăm sóc chúng ngày đêm. Tới lượt cô ngã bệnh. Sưng phổi. Ho loặc quặc, vì quá lao lực. Cô đã từ trần.

Hai năm sau, người ta thấy gia đình ông chủ cũ đi dự lễ nhân ngày qua đời của cô Sophia. Bức ảnh Đức Mẹ cũ của cô bị vứt xó.

Tình cờ một hôm bị vỡ tan mặt kính. Ông chủ mở ra, một hàng chữ hiện ra trước mặt ông: "Người ta cấm không cho tôi giảng đạo Công giáo, nhưng tôi sẽ giảng bằng đời sống của tôi, để làm chứng nhân cho Chúa".

Sophia đã thực hành quyết định trên bằng lao công của cuộc đời. Đáng khen chừng nào.

3. Chúa muốn tôi làm gì?

-Xin Mẹ Maria giúp con sốt sắng thực hành lời Chúa dạy là cầu nguyện, hi sinh trong bổn phận con để cứu thật nhiều linh hồn cho Nước Chúa.

"Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Ngài, để tất cả những ai tin vào Ngài, thì được sống đời đời. (Ga 3, 16)

(Loan báo tin vui -Don Hồ hát)

Lm Đoàn Quang CMC


**-dongcong.net 2012

Phục vụ là sứ điệp Tin Mừng

chúa nhật 29b thường niên, chúa nhật truyền giáo

Chủ đề “Sẵn sàng phục vụ” phù hợp với ngày Chúa nhật truyền giáo hôm nay. Nhà truyền giáo lý tưởng nên dành những điều tốt đẹp cho người dân mà họ được gởi đến để phục vụ. Kế hoạch, hoạt động, lối sống của nhà truyền giáo cần phải phù hợp với nhu cầu thực sự của dân chúng.
Tin Mừng hôm nay cho thấy tinh thần cống hiến để phục vụ tha nhân là điều cơ bản để làm môn đệ Chúa Kitô. Đức Giêsu đã đến “không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” và mẫu gương này phải luôn có một ánh sáng dẫn đường cho những người theo Ngài. Ngài đi khắp nơi ban ơn lành (Cv 10, 38), mang lại công lý, chữa bệnh và luôn tha thứ . Đây là lý do tại sao những người tin vào Ngài được thử thách để dâng hiến tài năng và thời gian để phục vụ người khác mà không tìm kiếm bất kỳ phần thưởng nào khác hơn. Hành động rửa chân của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly là một sứ điệp Tin Mừng.

Hai anh em Giacôbê và Gioan thật sự đầy tham vọng như hầu hết chúng ta, luôn tìm cách “biết điều” và “tranh thủ”. Hai anh em đã hành động nhanh trước các người trong nhóm. Không phải các môn đệ trong nhóm không nghĩ tới việc cao thấp nhưng mà hai anh em nhà Giêbêđê đã “tranh thủ”, táo bạo nói trước ý đồ của họ với Chúa Giêsu. Câu trả lời của Chúa Giêsu với hai anh em Giacôbê và Gioan đã cho thấy rằng muốn làm lớn phải theo một tiến trình. Nào là phải uống chén đắng như Thầy, nào là phải vác Thập giá theo Thầy, nào là phải chịu đau khổ cùng với Thầy. Trong công nghệ kỹ thuật số ngày nay, phương thức “nhanh - gọn - nhẹ” đang thịnh hành. Hôm nay mọi người muốn làm giàu mà không làm việc. Mọi người muốn vươn lên một tầm cao tuyệt vời mà không muốn leo thang, người muốn nhận được vào Đất Hứa mà không đi qua sa mạc, và những người muốn mặc chiếc vương miện mà không vác thập giá. Mahatma Gandhi đã tóm tắt những khuynh hướng trong bảy tội lỗi chết người của thế giới hiện đại:

Giàu có mà không làm việc. Vui hưởng mà không có lương tâm. Khoa học mà không có nhân bản. Kiến thức mà không có phẩm chất. Chính trị mà không có nguyên tắc. Thương mại mà không có đạo đức. Tôn giáo mà không có hy sinh.

Quả thực tôn giáo mà không có sự hy sinh thì rất đáng thất vọng! Làn sóng ngầm tính toán theo kiểu kinh tế đã và đang len lỏi vào sinh hoạt của Giáo hội. Cần cảnh giác nguy cơ chuyển dịch từ tinh thần phục vụ quên mình sang hình thức “dịch vụ” trong kế hoạch và hoạt động của các tổ chức Giáo hội.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta xem xét lương tâm của chúng ta, và đối mặt với những câu hỏi: “Những gì tôi có thể làm cho cộng đồng của mình, hơn là những gì có thể cộng đồng làm cho tôi”. Đó là một trong những giá trị căn bản nhất mà chúng ta phải tiếp tục học tập trong suốt cuộc sống của chúng ta. Cách tiếp cận của Giacôbê và Gioan trong Tin Mừng hôm nay không phải là giống như cách chúng ta đến với Chúa. Chúng ta tiếp cận Ngài trong lời cầu nguyện với lòng nhiệt thành. Chúa Giêsu muốn cho chúng ta phải ưu tiên hơn những gì chúng ta muốn cho chính mình. Chúng ta nên chia sẻ cùng chén đắng với Ngài và trong phép rửa của Ngài, chết cho tội lỗi và cái tôi của mình để phục vụ tha nhân trong niềm vui Tin Mừng.

NNH

 

KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO: LÀM CHỨNG
Jos. Hoàng Mạnh Hùng 

“Anh em là chứng nhân của Thầy”. Hai tiếng chứng nhân ấy không còn xa lạ với mỗi chúng ta. Chúa Giêsu trước khi về trời đã trao bài sai cho các môn đệ: “Anh em hãy ra đi khắp tứ phương thiên hạ, giảng dạy cho muôn dân và làm phép rửa cho họ”. Sứ điệp Lời Chúa ngày Khánh nhật Truyền giáo nhắc chúng ta về sứ mạng làm chứng cho Chúa bằng đời sống đức tin trong lòng xã hội hôm nay. 

Chính Chúa Giêsu là nhà truyền giáo đầu tiên và Ngài đã mời gọi: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Không chỉ có hàng Giáo phẩm, Giáo sĩ mới có nhiệm vụ làm chứng nhưng mọi Kitô hữu đều có nghĩa vụ và bổn phận đó. Để có thề làm chứng, trước hết người tông đồ giáo dân cần phải có niềm tin tuyệt đối vào Đức Kitô như thánh Phaolô đã nói: “Tôi biết tôi đã tin vào Đấng nào” (2Tm 1,12). 

Chính niềm tin vào Đức Giêsu Kitô Phục Sinh sẽ thúc đẩy người tông đồ mạnh dạn sống và loan báo Ngài cho người khác, như hai thánh tông đồ Phêrô và Gioan đã mạnh dạn nói trước Thượng hội đồng khi bị cấm rao giảng về Đức Giêsu: “Những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). 

Trong Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền giáo 2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói: “mọi thành viên của Hội Thánh được kêu gọi rao giảng Tin Mừng bằng chứng tá đời sống của mình“. Và trong tông huấn Niềm vui của Tin Mừng ngài cũng “mời mọi Kitô hữu ở khắp nơi, ngay từ lúc này, đi vào một cuộc gặp gỡ cá vị và mới mẻ với Đức Giêsu Kitô”. Gặp gỡ Đức Kitô  nơi giáo lý và giáo huấn của Giáo Hội, gặp gỡ Đức Kitô  trong những giây phút lắng đọng tâm hồn để lắng nghe, học hỏi Lời Ngài … là những điều cần thiết cho hành trang người tông đồ giáo dân. 

Sống chứng nhân bằng đức tin đòi hỏi người tông đồ phải có hoài bão, lí tưởng đem Lời Chúa đến cho mọi người. Luôn băn khoăn xao xuyến, thao thức dấn thân đế biến hoài bão, lí tưởng đó trở thành hiện thực. Trong thư thứ 1 gởi giáo đoàn Côrintô, Thánh Phaolô nhắn nhủ người tông đồ cần xác định việc “… rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm …” (1Cor 9,16) 

Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân của công đồng Vatican II đã nhấn mạnh đến sự góp phần của giáo dân vào công cuộc loan báo Tin Mừng bằng chứng tá của đời sống và bằng lời rao giảng. “Chính chứng tá của đời sống Kitô hữu và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa, vì Chúa phán: "Sự sáng của các con phải chiếu giãi trước mắt mọi người, để họ xem thấy việc lành các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời" (Mt 5,16). 

Tuy nhiên việc tông đồ này không chỉ ở tại việc làm chứng bằng đời sống. Người tông đồ đích thực còn tìm dịp loan truyền Chúa Kitô bằng lời nói hoặc cho người chưa tin để đưa họ đến đức tin, hoặc cho tín hữu để giáo huấn họ, củng cố và thúc đẩy họ sống sốt sắng hơn vì “tình yêu Chúa Kitô thôi thúc chúng ta" (2 Cor 5,14) và trong lòng mọi người phải âm vang lời Thánh Tông Ðồ: "Thật khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm" (1Cor 9,16.)”

Sứ mạng làm chứng của chúng ta không được ngộ nhận như một nghề nghiệp để tìm vinh danh cho mình, muốn người ta chú ý đến việc tốt mình làm. Người Kitô hữu truyền giáo không phải để bám rễ, xí phần nơi truyền giáo. Nhưng phải từ bỏ mình với những lợi lộc, vinh hoa trần thế như lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô : “Ra đi từ vùng đất tiện nghi của mình, để đến với mọi vùng “ngoại vi” đang cần ánh sáng Tin Mừng”. Làm chứng bằng đời sống đức tin là luôn nhân danh Chúa, để Chúa lớn lên trong lòng mọi người bằng những tương quan bác ái. 

Không phải ai cũng có thể truyền giáo bằng đời sống tương quan bác ái hoàn hảo. Chúa Giêsu đã Nhập Thể để kết nối tương quan tình thương của Thiên Chúa với tương quan bác ái cho con người. Để xây dựng tốt mối tương quan này, người tông đồ giáo dân phải luôn luôn ở trong Chúa. Nghĩa là chúng ta luôn ở trong lời cầu nguyện đơn sơ và hoàn toàn phó thác. 

Chúa Giêsu không sai các môn đệ đi truyền bá lý thuyết hay những tư tưởng cao siêu, nhưng sai đi để làm chứng về những gì các ông đã thấy, đã nghe và đã tin. Người tông đồ giáo dân cũng được mời gọi làm chứng về những điều mình đã tin. Nhưng để trở thành một chứng nhân đích thực, cần phải có kinh nghiệm bản thân về những điều mình tin, và sống kinh nghiệm ấy trong con người của mình. 

Một cô bé trước khi được phẫu thuật tim đã xin các bác sĩ trong ê-kíp giải phẫu cho mình được cầu nguyện cùng Thiên Chúa và dĩ nhiên đã được chấp thuận. Nhìn cô bé quỳ gối thành khẩn cầu nguyện với nét mặt ngây thơ tín thác, các bác sĩ đã xúc động. Cuộc phẫu thuật kéo dài hơn mấy tiếng đồng hồ và đã thành công. 

Chúa Nhật sau đó, vị bác sĩ trưởng bất ngờ đến thăm cô bé và nói: ”Chú cám ơn con nhiều lắm! Thật ra chú cũng là người có đạo như con, nhưng chú không tuyên xưng được đức tin như con vì nhiều lẽ. Chú đã sống như một người vô đạo, không nhớ tới Chúa. Chính con đã làm thức tỉnh lòng chú khi thấy con là một cháu bé mà tuyên xưng đức tin mạnh mẽ như vậy.” 

Sống đức tin đơn sơ phó thác như cô bé phải chăng là một chứng nhân  của đời sống Kitô hữu chưa cần tới lời rao giảng? Gặp trường hợp phải tuyên xưng đức tin của mình, chúng ta có dám làm như cô bé dù chỉ là một dấu thánh giá trên trán?

TRANH DANH ĐOẠT LỢI                       

(CN. XXIX/TN - CN TRUYỀN GIÁO) 

Ngồi buồn, mở tập cổ thi “Bach Vân Am Thi Tập” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) ra đọc, bắt gặp bài “Khuyến tu” (khuyên tu sửa bản thân). Bài thơ chữ Hán này (làm theo thể thất ngôn bát cú) rất hay, khuyên người ta nên tu tâm dưỡng tính hơn là sa vòng tục lụy, tranh danh đoạt lợi, tranh bá đồ vương. Bài thơ mở đầu bằng 2 câu: “Đoạt lợi tranh danh mãn thế gian, Bất như tích nội đạo nhân nhàn.” (Đoạt lợi tranh danh khắp thế gian, Chi bằng tích đạo sống an nhàn). Với chủ trương “thoát vòng danh lợi – vui thú điền viên”, Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ “Nhàn” đã tự nhận mình là “dại”, mặc cho những kẻ “khôn” mưu tính danh lợi, vàng son… bằng mọi giá (“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao.” Bài thơ kết thúc bằng một câu vượt trên nhân tình thế thái: “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” (*1). 

Trong cái xã hội nhiễu nhương, kiếm được một người “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”, mặc cho thiên hạ tranh danh đoạt lợi, quả thật rất khó! Bởi chỉ thấy toàn những cảnh tự cho mình là người khôn dùng đủ mưu gian chước lạ để chễm chệ ngồi trên nhung lụa vàng son, hoặc “ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy” (Mt 23, 2-3). Đó phải chăng là những kẻ “nhìn đời bằng nửa con mắt”, chỉ “ưa dạo quanh, súng sính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ." (Mc 12, 38-40). Rồi cũng từ cái vòng kim cô “Người khôn, người đến chốn lao xao” ấy phát sinh bao cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, gà nhà bôi mặt đá nhau. 

Không phải ngẫu nhiên mà ca dao Việt Nam có câu: "Khôn ngoan đối đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau", ngụ ý khuyên răn anh em trong nhà có cùng một huyết thống, cùng một cha mẹ sinh ra, phải thương yêu đùm bọc nhau, đừng nên tranh giành hơn kém rồi sinh ra cảnh "nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn". Lời khuyên răn ấy không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình, mà còn mở rộng ra cả nước. Sự tích bà Âu Cơ đẻ 100 trứng nở ra 100 con, cho thấy quan điểm toàn thể dân tộc Việt Nam đều chung một gốc là "con Rồng, cháu Tiên" cả. Vì thế, nên phải biết "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng". Tuy vậy nhưng vẫn xảy ra không ít cảnh “huynh đệ tương tàn”, “gà nhà bôi mặt đá nhau” (tiếm ngôi, cướp ngôi nhau, triều này hạ bệ triều kia, loạn 12 sứ quân, Trịnh Nguyễn phân tranh, cõng rắn cắn gà nhà v.v… và v.v…). 

Xã hội loài người không chỉ có cảnh anh em tàn sát lẫn nhau, mà còn hơn thế nữa, xảy ra cảnh “phụ tử tương tàn” nữa kia. Ngay từ thời Cựu Ước đã có chuyện "tranh bá đồ vương" giữa cha con với nhau xảy ra ngay trong hoàng cung một triều đại danh tiếng: Đó là vua Đa-vít và hoàng tử Ap-sa-lôm. Trong những người con của vua Đa-vit, thì Ap-sa-lôm là một người đẹp trai, tài giỏi, được vua cha yêu mến, nhưng chính Ap-sa-lôm đã muốn tranh giành địa vị của cha, rồi tự phong mình làm vua ở Khép-rôn. Cuộc khởi loạn này đã làm cho vua Đa-vít và cả triều đình phải chạy trốn khỏi thành Giê-ru-sa-lem, và Ap-sa-lôm đã tiến chiếm kinh thành; nhưng sau này đã bị đại tướng của vua Đa-vit là Giô-áp đánh bại và bị giết chết tại khu rừng gần Ep-ra-im. Cuộc chiến tranh "phụ tử tương tàn" này đã khiến cho 20 ngàn quân lính bị thiệt mạng! (xc. 2Sm, từ Ch. 15 tới Ch. 18). Quả thực từ cái tham vọng của người này nảy sinh ra cái ghen tức của người khác đã làm cho loài người xung đột, gây hấn với nhau, để rồi thì khủng bố, chiến tranh bùng nổ khắp mọi nơi. 

Ôi chao! Tham vọng "tranh danh đoạt lợi, tranh bá đồ vương" vẫn là vấn đề muôn thủa của con người. Và cái "miếng đỉnh chung", cái "miếng giữa làng hơn sàng xó bếp" luôn luôn và mãi mãi là cái hấp lực khó lòng từ chối, dứt bỏ. Ngay đến các Tông đồ ở cận kề với Người Thầy luôn dạy dỗ môn đệ phải sống bác ái và khiêm nhường, vậy mà cũng có hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an muốn được "một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang." (Mc 10, 37). Tin tưởng khi Thầy mình được vinh quang sẽ làm Vua, mà lại xin được ngồi bên tả và bên hữu Người, thì chẳng phải đó là muốn được ngồi "cỗ nhất", được hưởng “miếng đinh chung” bảnh nhất là ”Tả hữu Thừa tướng” đó sao? Không phải chỉ có 2 môn đệ này thôi đâu, mà các môn đệ khác cũng tỏ ra tức tối ("Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an." – Mc 10, 41). Tức tối tức là ghen tị, là mong muốn mình phải được coi trọng hơn, và "chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh" xảy ra cũng là điều tất nhiên ("Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau." – Gc 4, 1-3). 

Đức Giê-su quá hiểu tâm lý của con người ai cũng muốn mình có địa vị và được kính nể hơn người khác, ai cũng muốn làm ông chủ để được kẻ hầu người hạ và nếu có ai đó được hơn mình thì ngay lập tức ganh tị, thù hằn nhau. Vì thế, khi thấy Gio-an và Gia-cô-bê xin được ngồi “cỗ nhất”, Người phải nói thẳng: "Các anh không biết các anh xin gì!", rồi đặt câu hỏi: "Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" (Mc 10, 38). Cứ tưởng chén của Đức Giê-su sắp uống là chén rượu mừng vinh thăng và phép rửa Người sắp chịu cũng kiểu như phép rửa mà thánh Gio-an Tẩy Giả thực hiện trên sông Gio-đan, nên 2 Tông đồ mau mắn trả lời: "Thưa được". Thực ra, ở vào trường hợp đó, ít ai có thể ngờ được Đức Giê-su nói chén Người sắp uống là chén đắng, là chén "ĐỨC CHÚA đã muốn Người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu Người hiến thân làm lễ vật đền tội, Người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ Người, ý muốn của ĐỨC CHÚA sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, Người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, Người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ." (Is 53, 10-11). 

Đó cũng là chén "Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại." (Mc 10, 33-34). Và là chén mà Tông đồ Phê-rô cầu xin Chúa Cha cho Thầy khỏi phải uống để rồi được Thầy gọi là “Xatan!” (Mc 8, 31-33). Ngay cả đến chính người Thầy đã nói về chén đắng ấy, với bản tình loài người cũng kinh sợ mà thốt lên cùng Chúa Cha: "Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con.” Tuy nhiên, ngay lập tức, bản tính Thiên Chúa đã trỗi dậy, và Người nói tiếp: “Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn." (Mc 14, 36). Thật không thể ngờ chén đắng ấy lại cũng chính là phép rửa thanh tẩy tội lỗi loài người để được sống lại từ cõi chết như Người đã sống lại. 

Chỉ đến khi biến cố Thương Khó và Phục Sinh xảy ra, mọi người mới hiểu được hết ý nghĩa sâu xa Lời Thầy Chí Thánh nói về Chén Đắng và Phép Rửa mà Người phải chịu để đền vì tội lỗi nhân loại. Trước đây, vì chưa hiểu được ý nghĩa thâm thúy của Lời Chúa, nên các Tông đồ mới mạnh miệng nói là mình uống được chén mà Thầy sắp uông, nhưng tới lúc Thầy bắt đầu uống thì "Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mt 26,56). Chỉ đến khi các môn đệ được chịu phép rửa "trong Thánh Thần và lửa" (Mt 3, 11) trong ngày Lễ Ngũ Tuần, thì các ngài mới thật sự dũng cảm uống chén đắng ấy, và hiên ngang chịu phép rửa như Thầy mình đã tiên liệu: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu." (Mc, 10, 39). Chính nhờ vậy mà Giáo hội và nói chung là toàn thể nhân loại được vui hưởng vinh quang Phục Sinh cho đến muôn ngàn đời. 

Trải dài theo lịch sử Giáo hội, biết bao nhiêu thế hệ, biết bao nhiêu Ki-tô hữu đã uống chén đắng ấy. Chỉ riêng Giáo hội Việt Nam trong quá trình 5 thế kỷ truyền giáo, đã có tới 130.000 Ki-tô hữu anh dũng uống chén đắng. Chén đắng trong quá khứ do những thế lực thù địch hữu hình đưa tới cho sứ vụ truyền giáo, nó lại càng đắng hơn trong hiện tại và tương lai, vì thế lực thù địch ngày nay đã trở nên vô hình vô ảnh. Cũng vẫn những mũi giáo, lưỡi gươm, viên đạn xuyên phá khủng khiếp ấy, nhưng ngày nay tất cả chúng đều được bọc đường, một lớp đường hào nhoáng ngọt lịm. Chỉ đến khi chúng lọt vào thân thể và công phá mãnh liệt, lúc đó mới “à” lên một tiếng muộn màng. Cho nên, công cuộc truyền giáo hiện nay đòi hỏi người Ki-tô hữu phải tỉnh thức và có một động lực dấn thân, đó chính là: “Động lực của việc dấn thân loan báo Tin Mừng của họ là do xác tín rằng những người Ki-tô hữu không được run sợ trước thế gian, mà đúng hơn phải mạnh dạn chia sẻ kho tàng chân lý đã được giao phó cho mình. Cũng vậy, người Ki-tô hữu ngày nay, đang khi cởi mở với các thực tại hiện thời và tán đồng tất cả những gì tốt lành trong xã hội, phải có can đảm mời gọi mọi người nam và nữ hoán cải tận căn, cuộc hoán cải gắn liền với việc gặp gỡ Đức Ki-tô và khởi đầu một cuộc sống mới trong ân sủng. (Diễn văn của ĐTC Bê-nê-đic-tô XVI trong “Cuộc gặp gỡ đại kết” tại Tòa TGM Praha - CH Séc - ngày 27/9/2009). 

Ấy cũng bởi vì: “Hôm nay, sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội đang phải đối mặt với những thách thức trong việc đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi dân tộc là trở lại với cội nguồn của họ và bảo vệ các giá trị của nền văn hóa. Điều này có nghĩa là chúng ta cần hiểu biết và tôn trọng các truyền thống và các hệ triết học khác, và nhận ra rằng tất cả các dân tộc và các nền văn hóa có quyền được giúp đỡ từ bên trong truyền thống riêng của họ để bước vào mầu nhiệm sự khôn ngoan của Thiên Chúa và đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng và là sức mạnh biến đổi cho tất cả các nền văn hóa.” (Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền Giáo - 2015). Vì thế, mọi Ki-tô hữu cần – rất cần – nhìn lại quá khứ, nhìn lại mình để “không được run sợ trước thế gian, mà đúng hơn phải mạnh dạn chia sẻ kho tàng chân lý đã được giao phó cho mình.” (Diễn văn của ĐTC Bê-nê-đic-tô XVI –nt– ). Nhìn lại mình để tôi luyện đức tin, trui rèn ý chí, không chùn bước trước mọi thử thách, sẵn sàng “tham gia vào sứ mạng của Chúa Ki-tô”.  

Mong rằng mọi Ki-tô hữu sẵn sàng đón nhận lời dạy của ĐTC Phan-xi-cô: “Một nhà truyền giáo đích thực phải say mê Tin Mừng. Thánh Phaolô đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1Cr 9, 16). Tin Mừng là nguồn mạch của niềm vui, sự giải thoát và ơn cứu độ cho tất cả mọi người nam nữ. Giáo Hội nhận thức ân sủng này, và vì thế Giáo Hội không ngừng loan báo cho mọi người về “điều đã có ngay từ đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt” (1Ga 1, 1). Sứ vụ của những tôi tớ của Lời - tức là các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân – là làm cho mọi người không trừ một ai được đi vào một mối liên hệ cá vị với Chúa Ki-tô. Trong toàn bộ các hoạt động truyền giáo đa dạng của Giáo Hội, tất cả các tín hữu đều được mời gọi sống cam kết khi chịu phép rửa đến mức viên mãn nhất, theo hoàn cảnh cá nhân mỗi người. Một lời đáp trả quảng đại cho ơn gọi phổ quát này có thể được đưa ra bởi những người nam nữ sống đời thánh hiến qua một đời sống cầu nguyện mãnh liệt và hiệp nhất với Chúa và hy tế cứu độ của Ngài.” (Sứ điệp Truyền Giáo 2015). 

Ôi! Lạy Chúa! Cánh đồng truyền giáo hiện nay trên thế giới cũng như tại quê hương chúng con quả là lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít (Mt 9, 37). Cúi xin Chúa ban Thần Khí cho chúng con, để chúng con đủ can đảm bước ra khỏi “cái tôi vị kỷ”, “cái tôi chỉ ham tranh danh đoạt lợi”, để chúng con có đủ dũng khí đối diện với mọi thử thách, luôn sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, ngõ hầu trở nên những “thợ gặt” đúng như lòng Chúa mong đợi  Ôi! “Lạy Chúa! Xưa Chúa đã phán: Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt. Chúa hãy ban nhiều thợ biết nhiệt thành để Nước Chúa rộng lan khắp nơi. Xin Chúa ban cho đoàn chúng con nên Tông đồ thiện toàn mở Nước Chúa Trời” (Hoài Chiên - “Lời Nguyện Truyền Giáo” – TCCĐ). Amen. 

JM. Lam Thy ĐVD.  

-------------------------------

Chú thích: (*1) – Nguyên văn bài thơ “NHÀN” của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dù ai vui thú nào.

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

 


 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)