ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

 

ĐTC Phanxicô - Bài Giảng Lễ Đêm Phục Sinh

3 tháng 4 năm 2021

 

Các người nữ nghĩ rằng họ thấy thi thể của Chúa để xức dầu, thế nhưng họ lại thấy một ngôi mộ trống. Họ đã khóc thương một người chết, thế nhưng họ đã nghe thấy một lời loan báo về sự sống. Thế nên Phúc Âm nói rằng những người phụ nữ ấy "đầy sợ hãi và ngỡ ngàng" (Mk 16:8), đầy sợ hãi, khiếp đảm và đầy lạ lùng. Tâm trạng bàng hoàng ở trường hợp này là một nỗi sợ hãi lẫn lộn với niềm vui, một niềm vui làm cho lòng họ cảm thấy lạ lùng khi thấy tảng đá lớn chắn cửa mồ bị đẩy ra chỗ khác, và trong đó có một nam nhân trẻ trung mặc chiếc áo khoác trắng. Thật là ngỡ ngàng khi nghe thấy những lời này: "Đừng sợ! Các người đang tìm kiếm Giêsu Nazarét, Đấng tử giá. Ngài đã sống lại rồi" (v.6). Sau đó là lời mời gọi: "Người đi đến Galilêa trước các người, ở đó các người sẽ thấy Người" (v.7). Cả chúng ta cũng đón nhận lời mời gọi này, lời mọi gọi Phục Sinh, đó là chúng ta đến Galilêa, nơi Vị Chúa Phục Sinh đã đến trước chúng ta. Thế nhưng, đâu là ý nghĩa cho việc "đi đến Galilêa"?

Đi đến Galilêa trước hết có nghĩa là bắt đầu lại. Đối với các môn đệ thì nó có nghĩa là hãy trở về nơi mà Chúa đã tìm gặp họ lần đều tiên và đã kêu gọi họ theo Người. Chính là nơi gặp gỡ ban đầu và là mơi của tình yêu ban đầu. Từ lúc ấy, bỏ chài lưới, họ đã theo Chúa Giêsu, lắng nghe lời giảng dạy của Người và chứng kiến thấy những việc lạ lùng Người thực hiện. Tuy nhiên, cho dù luôn ở với Người, họ vẫn không hoàn toàn hiểu được Người, họ thường hiểu lầm lời của Người và tẩu thoát cho khỏi thập giá, bỏ mặc Người một mình. Bất chấp cái thất bại ấy, Vị Chúa Phục Sinh tỏ mình ra như Đấng đến Galilêa trước họ một lần nữa; Người đến trước họ nghĩa là Người đứng trước họ. Người gọi họ và gọi họ theo Người, không hề cảm thấy mệt mỏi. Đấng Phục Sinh đang nói với họ rằng: "Nào chúng ta hãy bắt đầu lại từ nơi chúng ta đã khởi sự. Chúng ta hãy bắt đầu lại. Thày muốn các con ở với Thày một lần nữa, bất chấp và gạt đi tất cả mọi thất bại". Nơi Galilêa này, chúng ta cảm thấy lạ lùng về tình yêu thương của Chúa, một tình yêu vạch vẽ ra những con đường mới nơi những nẻo đường thua bại của chúng ta. Chúa là như thế đó, Người vạch ra những con đường mới nơi những nẻo đường thua bại của chúng ta. Người là thế đó và Người mời gọi chúng ta đến Galilêa để làm điều ấy.

Đây là lời loan báo Phục Sinh đầu tiên tôi muốn gửi đến anh chị em, đó là bao giờ cũng có thể bắt đầu lại, vì luôn có một sự sống mới là những gì Thiên Chúa có thể hồi sinh nơi chúng ta, vượt qua tất cả mọi thất bại của chúng ta. Thậm chí từ đống gạch vụn của tấm lòng chúng ta - mỗi người chúng ta đều biết, biết được đống gạch vụn của lòng mình - ngay từ đống gạch vụn của cõi lòng chúng ta, Thiên Chúa vẫn có thể kiến thiết lên thành một công trình nghệ thuật, thậm chí từ những mảnh tàn rụi của nhân loại chúng ta Thiên Chúa đang sửa soạn cho một lịch sử mới. Người luôn đi trước chúng ta: nơi thập giá khổ đau, cô độc và chết chóc, cũng như nơi vinh quang của một sự sống được tái sinh, của một lịch sử đang thay đổi, của một niềm hy vọng đang được tái sinh. Trong những tháng ngày tối tăm của dịch bệnh, chúng ta nghe thấy Vị Chúa Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy bắt đầu lại, đừng bao giờ mất hy vọng.

Sau nữa, đến Galilêa có nghĩa là theo đuổi những đường lối mới. Đó là di chuyển ngược chiều với ngôi mộ. Những người nữ tìm kiếm Chúa Giêsu ờ mồ, tức là họ nhớ đến những gì họ đã sống với Người và là những gì bấy giờ vĩnh viễn đã bị mất đi. Họ đến để làm bừng lên nỗi buồn khổ của họ. Đó là hình ảnh của một đức tin trở nên tưởng nhớ về một sự kiện tuyệt vời những đã chấm dứt, chỉ còn là ký ức. Nhiều người - chúng ta nữa - đang sống một "đức tin của những thứ hồi niệm", như thể Chúa Giêsu là một nhân vật của quá khứ, một người bạn thời còn trẻ của họ giờ đây đã xa cách vời vợi, một sự kiện đã xẩy ra một thời gian lâu lắm rồi, khi tôi còn một đứa bé học giáo lý. Một thứ đức tin được làm nên bởi các thói quen, bởi những gì trong quá khứ, của những hồi niệm tốt đẹp thời còn nhỏ, những sự không còn đụng chạm đến tôi nữa, không còn thách thức tôi nữa. Đến Galilêa, trái lại, nghĩa là học biết rằng đức tin muốn sinh động thì phải tái lên đường. Nó cần phải hằng ngày trở lại với khởi điểm của cuộc hành trình, sống lại cái ngỡ ngàng của cuộc gặp gỡ ban đầu. Và rồi lòng tin tưởng, không cho rằng mình đã biết hết mọi sự, mà với sự khiêm nhượng của một kẻ biết ngỡ ngàng trước những đường lối của Thiên Chúa. Chúng ta sợ những việc lạ lùng của Thiên Chúa; chúng ta thường sợ Thiên Chúa làm cho chúng ta bỡ ngỡ lạ lùng. Hôm nay đây Chúa mời gọi chúng ta hãy để mình cảm thấy lạ lùng bỡ ngỡ. Chúng ta đến Galilêa để khám phá ra rằng Thiên Chúa không thể bị để giữa các thứ hồi niệm của thời còn bé mà là vị Thiên Chúa sống động, luôn lạ lùng. Sống lại, Người không thôi khiến chúng ta lạ lùng bỡ ngỡ.

Đây là lời loan báo Phục Sinh thứ hai: đức tin không phải là một cái kho dự trữ của quá khứ, Chúa Giêsu không phải là một nhân vật hủ lậu. Người đang sống, ngay nơi đây và vào lúc này đây. Đang bước đi với anh chị em hằng ngày, nơi tình trạng anh chị em đang trải nghiệm, nơi thử thách anh chị em đang chịu đựng, nơi những mộng mơ anh chị em đang ấp ủ trong lòng. Đức tin này mở ra những con đường mới dường như anh chị em chưa hề biết, nó thúc đẩy anh chị em dám đi ngược triều sóng của những gì là ân hận tiếc xót và của những gì là "biết rồi". Ngay cả khi anh chị em cảm thấy mình dường như mất hết mọi sự, thì xin anh chị em cứ cởi mở một cách ngỡ ngàng trước tính chất mới mẻ của nó, nó sẽ làm cho anh chị em cảm thấy bàng hoàng sửng sốt.

Đến Galilêa cũng còn có nghĩa là đến tận các nơi biên cương bờ cõi. Vì Galilêa là nơi xa xôi nhất: ở miền ô hợp ấy có những con người sống xa vời nhất với tính chất tinh tuyền về nghi lễ của Giêrusalem. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại bắt đầu sứ vụ của Người từ đó, khi lên tiếng loan báo cho những ai tác hành cuộc sống hằng ngày một cách khó khăn, cho thành phần bị tẩy chay loại trừ, cho những người hèn yếu, cho người nghèo khổ, Người trở thành dung nhan và sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng đi tìm kiếm những ai cảm thấy thất vọng và lạc loài, Đấng di chuyển đến tận những hạn hữu của cuộc sống, không ai là cuối cùng, không ai bị loại trừ. Đấng Phục Sinh đã xin các môn đệ của Người đến đó, ngay cả hôm nay đây, Người xin chúng ta hãy đến Galilê, đến "chốn Galilêa" thực hữu này. Nó là nơi của cuộc sống hằng ngày, là những con đường chúng ta hành trình hằng ngày, là những góc phố, nơi Chúa đã đến trước chúng ta và hiện diện ở đó, ở ngay nơi cuộc sống của những ai qua đường và chia sẻ với chúng ta giờ giấc, nhà cửa, việc làm, nỗ lực và niềm hy vọng. Ở Galilêa chúng ta biết rằng chúng ta có thấy gặp Đấng Phục Sinh, nơi gương mặt của những người anh chị em, nơi lòng nhiệt thành của những ai mơ tưởng, cũng như nơi việc thoái lui của những ai đang thất vọng, nơi những nụ cười của những ai hân hoan, cũng như nơi nước mắt của những ai đau khổ, nhất là nơi người nghèo, và nơi những người bị loại ra ngoài lề xã hội. Chúng ta sẽ bàng hoàng trước cách thức tỏ hiện sự cao cả của Thiên Chúa nơi những gì là nhỏ bé, trước cách thức vẻ đẹp của Ngài chiếu tỏa nơi thành phần thô sơ và nghèo khổ.

Thế rồi lời loan báo Phục Sinh thứ ba ở đây là Chúa Giêsu, Đấng Phục Sinh, yêu thương chúng ta vô biên và đến viếng thăm từng trường hợp của đời sống chúng ta. Người gieo trồng sự hiện diện của Người giữa lòng thế giới, và cũng mời gọi chúng ta hãy thắng vượt các ngãng trở, các thành kiến, tiến đến với những ai ở chung quanh chúng ta hằng ngày, hãy khám phá ra ân sủng của cuộc sống hằng ngày. Chúng ta hãy nhận ra ân sủng này ở Galilêa của chúng ta, ở cuộc sống hằng ngày. Cuộc sống với Người sẽ đổi thay. Đấng Phục Sinh đang sống và đang dẫn dắt lịch sử bất chấp tất cả mọi thua bại, sự dữ và bạo lực, mọi khổ đau và chết chóc.

Anh chị em thân mến, nếu đêm hôm nay anh chị em đang cưu mang trong lòng mình một giờ khắc tối tăm, một ngày chưa tỏ rạng, một thứ ánh sáng bị vùi dập, một mộng mơ tan vỡ, thì hãy đến, hãy mở lòng mình ra một cách ngỡ ngàng trước lời loan báo: "Đừng sợ, Người đã sống lại rồi! Người đang chờ đợi các người ở Galilêa". Các nỗi trông mong của anh chị em sẽ được thành tựu, các giọt lệ của anh chị em sẽ được lau khô, các nỗi sợ hãi của anh chị em sẽ được khống chế bởi niềm hy vọng. Vì, như anh chị em biết, Chúa luôn đi trước anh chị em, bao giờ cũng bước đi trước anh chị em. Nên, với Người, đời sống luôn được bắt đầu lại. 

https://www.vatican.va/content/francesco/it/homilies/2021/documents/papa-francesco_20210403_omelia-vegliapasquale.html

 Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT LỄ PHỤC SINH

và SỨ ĐIỆP PHỤC SINH 2018

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp và chuyển dịch

BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT LỄ PHỤC SINH

"Thiên Chúa là một vị Thiên Chúa của những gì là bàng hoàng bỡ ngỡ. Sự kiện này đã từng là đường lối xẩy ra ngay từ ban đầu của lịch sử cứu độ với tổ phụ Abraham, từ ngỡ ngàng này đến bỡ ngỡ kia. Thiên Chúa không còn cách nào để loan báo cho chúng ta ngoài cách làm cho chúng ta bàng hoàng bỡ ngỡ.... Lòng tôi có cởi mở trước những sự lạ lùng của Thiên Chúa hay chăng?"  

Trong bài giảng của mình cho Chúa Nhật Phục Sinh ở Quảng Trường Thánh Phêrô, ngài đề cập đến 3 tư tưởng chính yếu như sau: Thiên Chúa làm cho con người bàng hoàng ngỡ ngàng, con người đã vội vàng đáp ứng và phần mỗi người chúng ta bây giờ đáp ứng ra sao. 

Trước hết ngài cảm nhận về phía Thiên Chúa là Đấng mạc khải thần linh rằng: Thiên Chúa đã làm cho các người phụ nữ ngạc nhiên bằng một lời loan báo đã trở thành lời chào của Giáo Hội sơ khai là: "Chúa đã sống lại rồi". Những người phụ nữ đã ra đi để xức dầu cho thân thể Chúa lại chợt thấy một điều ngạc nhiên xẩy ra. Khi Thiên Chúa loan báo một điều gì đó thì bao giờ cũng là những gì ngỡ ngàng, vì Thiên Chúa là một vị Thiên Chúa của những gì là bàng hoàng bỡ ngỡ. Sự kiện này đã từng là đường lối xẩy ra ngay từ ban đầu của lịch sử cứu độ với tổ phụ Abraham, từ ngỡ ngàng này đến bỡ ngỡ kia. Thiên Chúa không còn cách nào để loan báo cho chúng ta ngoài cách làm cho chúng ta bàng hoàng bỡ ngỡ. 

Sau nữa ngài nói đến đáp ứng của con người qua hành động vội vàng của các người phụ nữ: Những sự lạ lùng của Thiên Chúa đòi phải được tức thời đáp ứng. Tông đồ Phêrô và Gioan chạy ngay ra mồ. Các mục đồng vào đêm Chúa giáng sinh vội vàng đến coi những gì được thiên thần tỏ cho biết. Người phụ nữ Samaritano cũng chạy ngay về với dân làng của mình mà rằng "thật là một điều mới lạ. Tôi đã gặp được một người đã nói với tôi hết những gì tôi đã làm - và dân làng đều biết những gì nàng đã làm". Chàng Anrê đã không mất thời gian đến cùng Phêrô mà nói rằng chàng đã gặp Đấng Thiên Sai hay sao. Người ta bỏ lại những gì họ đang làm - "người vợ nội trợ bỏ lại món khoai ở trong nồi. Nó sẽ bị cháy là cái chắc, thế nhưng điều quan trọng ở đây đó là thấy được việc biểu lộ của lời loan báo này". Có một người trong Phúc Âm cứ từ từ, không muốn liều mình, đó là tông đồ Toma. Thế nhưng Chúa nhân lành đã chờ đợi chàng cũng bằng cách nhẫn nại đợi chờ những con người không đứng lên đáp ứng ngay lời loan báo lạ lùng.  

Sau hết là vấn nạn áp dụng vào bản thân chúng ta, ngày đặt vấn đề: Còn tôi thì sao? "Lòng tôi có cởi mở trước những sự lạ lùng của Thiên Chúa hay chăng?" Tôi có mau mắn hay bao giờ cũng lẩn quẩn tìm cách thoái thác cho tới ngày mai. "Một điều lạ lùng xẩy ra có ý nghĩa gì đối với tôi?" Tông đồ Gioan và Phêrô chạy ra mồ được Phúc Âm cho biết rằng họ tin tưởng. Việc tin tưởng của tông đồ Phêrô "hơi bị lẫn lộn với lòng hối hận vì đã chối bỏ Chúa". Giờ đây tới phần chúng ta tự vấn xem "còn tôi thì thế nào hôm nay đây ở Lễ Phục Sinh 2018 này. Còn anh chị em thì thế nào?"

cao tấn tĩnh chuyển dịch..

 

SỨ ĐIỆP PHỤC SINH

 

Chúc Mừng Phục Sinh Anh Chị Em thân mến!

Chúa Giêsu đã sống lại từ trong kẻ chết!

Sứ điệp này đang âm vang trong Giáo Hội trên khắp thế giới, cùng với bài ca Alleluia: Đức Giêsu là Chúa; Chúa Cha đã làm cho Người sống lại và Người muôn đời sống giữa chúng ta.

Chúa Giêsu đã nói trước về cái chết và phục sinh của Người bằng hình ảnh hạt lúa miến. Người đã nói rằng "Trừ phi hạt lúa miến rơi xuống đất có chết đi bằng không thì nó vẫn trơ trơ như vậy; nhưng nếu nó chết đi nó mới sinh nhiều hoa trái" (Gioan 12:24). Đó chính là những gì đã xẩy ra: Chúa Giêsu, hạt lúa miến được Thiên Chúa gieo xuống những luống cầy của trái đất này, đã chết đi, đã bị sát hại bởi tội lỗi của thế gian. Người đã ở trong mồ hai ngày; thế nhưng cái chết của Người chất chứa tình yêu của Thiên Chúa với tất cả quyền năng của nó, đã giải thoát và đã tỏ hiện vào ngày thứ ba, ngày chúng ta đang cử hành hôm nay đây: Lễ Phục Sinh của Chúa Kitô.

Kitô hữu chúng ta tin tưởng và biết rằng cuộc phục sinh của Chúa Kitô là niềm hy vọng chân thực của thế giới, niềm hy vọng không làm thất vọng. Nó là một quyền năng của hạt lúa miến, quyền năng của một tình yêu hạ mình và ban mình cho đến cùng, nhờ đó đã thực sự canh tân đổi mới thế giới. Quyền năng này tiếp tục sinh hoa kết trái cho tới ngày nay ở những luống cầy lịch sử chúng ta, được đánh dấu bằng quá nhiều hành động bất công và bạo lực. Nó sinh hoa trái của niềm hy vọng và phẩm giá ở những nơi bị hụt hẫng và bị loại trừ, đói khổ và thất nghiệp, ở những nơi đang có những người di dân và tị nạn (rất thường hay bị tẩy chay bởi thứ văn hóa sa thải), và có những nạn nhân của nạn buôn lậu thuốc phiện, nạn buôn người và các hình thức nô lệ hiện đại.

Hôm nay chúng ta nài xin các hoa trái hòa bình xuống trên toàn thế giới, bắt đầu là mảnh đất Syria thân yêu đau thương đã dài lâu, mà nhân dân nước này đang bị xâu xé bởi một cuộc chiến dường như vô tận. Lễ Phúc Sinh này, xin ánh sáng của Chúa Kitô phục sinh soi chiếu lương tâm của tất cả các vị lãnh đạo chính trị và quân sự, để mau chóng chấm dứt cuộc tàn sát đang diễn ra, để luật nhân đạo được tôn trọng và các thứ tiếp tế được dễ dàng đến với những người anh chị em chúng ta rất khẩn trương cần đến, đồng thời cũng bảo đảm những điều kiện thích hợp cho việc trở về của những người di tản.

Chúng ta nài xin hoa trái hòa giải cho Thánh Địa, nơi cũng đang trải qua trong những ngày này các thương tích của cuộc xung đột diễn ra bất chấp thành phần không thể tự vệ, cho Yemen cũng như cho toàn Trung Đông, để việc đối thoại và tương kính được tôn trọng hơn là chia rẽ và bạo lực. Chớ gì anh chị em của chúng ta trong Chúa Kitô, thành phần thường xuyên chịu đựng bất công và bách hại, trở thành các nhân chứng rạng ngời của Chúa Kitô phục sinh và của cuộc chiến thắng sự lành trên sự dữ.

Hôm nay chúng ta nài xin hoa trái hy vọng cho những ai mong mỏi có được một đời sống giá trị hơn, nhất là ở những miền đất thuộc Phi Châu đang bị hoạn nạn rất nhiều bởi đói khổ, bởi các cuộc xung đột ở địa phương và nạn khủng bố. Xin bình an của vị Chúa phục sinh chữa lành các vết thương ở South Sudan và hướng các tấm lòng về cuộc đối thoại và cảm thông. Chúng ta đừng quên các nạn nhân của cuộc xung đột ấy, nhất là trẻ em! Chớ gì tình đoàn kết không bị vắng bóng đối với tất cả những ai bị buộc phải bỏ lại quê hương đất nước của mình và đang thiếu thốn những gì thiết yếu để sống còn.

Chúng ta nài xin hoa trái đối thoại cho bán đảo Triều Tiên, để các cuộc bàn luận đang diễn tiến đạt được sự hòa hợp và hòa bình tiến bộ hơn ở miền đất này. Chớ gì những ai đang trực tiếp có trách nhiệm biết tác hành một cách khôn ngoan và ý thức trong việc phát động thiện ích của nhân dân Đại Hàn và xây dựng các mối liên hệ của lòng tin tưởng trong cộng đồng thế giới.

Chúng ta cũng nài xin hoa trái hòa bình cho Ukraine, để các diễn tiến xẩy ra thiên về sự hòa hợp được củng cố, và những khởi động về nhân đạo mà nhân dân nước này cần đến được dễ dàng hơn.  

Chúng ta cũng nài xin hoa trái của niềm an ủi cho nhân dân Venezuela, một nhân dân như được các vị giám mục của họ viết lên rằng đang sống ở một thứ "đất lạ quê người" ngay trong chính xứ sở của mình. Chớ gì quốc gia này, nhờ quyền năng phục sinh của Chúa Giêsu, tìm thấy một con đường công chính, an bình và nhân bản để mau chóng thắng vượt các thứ khủng hoảng về chính trị và nhân đạo đang kềm kẹp nó. Chớ gì việc đón nhận và trợ giúp không thiếu hụt giành cho những người con nam nữ của nó buộc phải lìa bỏ quê hương của mình.

Chớ gì Chúa Kitô phục sinh mang lại hoa trái sự sống mới cho những trẻ em ấy, thành phần trẻ em là hậu quả của chiến tranh và đói khổ, thiếu giáo dục và không được chăm sóc sức khỏe; và hoa trái sự sống mới cho thành phần lão niên bị loại trừ bởi thứ văn hóa vị kỷ tẩy chay những ai không còn "sản xuất".

Chúng ta cũng nài xin hoa trái khôn ngoan cho những ai có tránh nhiệm về chính trị trên thế giới của chúng ta, để họ biết luôn tôn trọng phẩm giá con người, chủ động dấn thân theo đuổi công ích, và bảo đảm việc phát triển cùng an ninh cho những người công dân của mình.

Anh chị em thân mến,

Những lời được các người phụ nữ nói ở mộ Chúa cũng ngỏ cùng chúng ta nữa: "Tại sao các bà lại tìm người sống nơi kẻ chết chứ? Người không còn đây nữa mà đã sống lại rồi" (Luca 24:5-6). Chết chóc, cô độc và sợ hãi không phải là phán quyết cuối cùng. Có một lời vượt trên chúng nữa, một lời mà chỉ có một mình Thiên Chúa mới có thể nói: đó là lời phục sinh (cf. John Paul II, Conclusion of the Way of the Cross, 18 April 2003). Bằng quyền lực của tình yêu Thiên Chúa, lời ấy "xua tan gian ác, tẩy xóa lỗi lầm, phục hồi tính chất vô tội cho kẻ sa phạm, và niềm vui cho ai than khóc, xóa tan hận thù, nuôi dưỡng những gì là hòa hợp và hạ gục những gì là mãnh lực" (Easter Proclamation).

Chúc mừng Phục Sinh cho tất cả anh chị em!

 

ĐTC PHANXICÔ: Giảng Lễ Đêm Vọng Phục Sinh

Chúng ta cử hành việc cử hành này ở bên ngoài, chìm trong bóng đen của đêm tối và lạnh lẽo. Chúng ta cảm thấy một sự thinh lặng nặng trĩu về cái chết của Chúa, một thinh lặng mỗi người chúng ta có thể nhận thức, một thinh lặng thấm sâu vào tâm can của mỗi người môn đệ, thành phần đứng nín thinh trước cây thập tự giá.

Có những khoảng thời giờ người môn đệ đứng đau đớn nín thinh trước cái chết của Chúa. Còn lời nào có thế nói trước giây phút như thế chứ? Người môn đệ cứ nín thinh nơi nhận thức về các phản ứng của mình vào những giờ phút quan trọng ấy trong cuộc đời của Chúa. Trước cái bất công đã lên án Vị Thày này, các môn đệ của Người đều nín thinh. Trước những vu khống và những chứng gian mà Vị Thày này phải chịu, thì các môn đệ của Người chẳng biết nói năng gì hết. Trong cái nguy ngập, những giờ phút đớn đau của Cuộc Thương Khó, các môn đệ của Người đã cảm thấy một cách thảm thương cái bất lực của họ trong việc liều mạng để vì Thày mà lên tiếng. Hơn thế nữa, họ chẳng những không nhìn nhận Người, mà họ còn đi ẩn nấp, còn tháo chạy thoát thân, còn câm nín (xem Gioan 18:25-27).

Đó là một đêm thinh lặng của các môn đệ là thành phần vẫn cứ câm nín, bị tê liệt và bất định về những gì cần phải làm giữa rất nhiều trạng huống đớn đau và chán nản. Nó cũng là cái đêm của thành phần môn đệ ngày nay, chỉ biết im hơi lặng tiếng trước những tình trạng chúng ta không thể kiểm soát, khiến chúng ta cảm thấy, thậm chí còn tệ hơn nữa, tin rằng chẳng làm gì được để có thể lật ngược tất cả những gì là bất công đang xẩy ra cho anh chị em của chúng ta nơi tấm thân của họ. 

Đó là cái đêm im lặng của những người môn đệ lạc hướng, vì họ bị vùi dập vào một thứ thói lệ rã rời khiến mất đi ký ức, làm câm nín niềm hy vọng và dẫn đến chỗ nghĩ rằng "đó là cách bao giờ cũng là như thế nơi các sự vật thôi". Những người môn đệ này, thành phần bị choáng váng, chẳng còn gì để nói và tiến đến chỗ coi là "bình thường" và chẳng có gì lấy làm lạ khi Caipha nói: "Các người không thấy rằng thà một người chết cho nhiều người còn hơn là cả nước bị hủy diệt hay sao?" (Gioan 11:50).

Giữa sự thinh lặng của chúng ta, sự thinh lặng bất khả chống cưỡng thì các hòn đá bắt đầu kêu lên (xem Luca 19:40), và mở đường cho sứ điệp trọng đại nhất lịch sử chưa từng nghe thấy: "Người không còn đây, vì Người đã sống lại rồi" (Mathêu 28:6). Tảng đá trước cửa mồ đã kêu lên và đã tuyên bố mở ra một con đường mới cho tất cả mọi người. Chính thiên nhiên tạo vật là tạo vật đầu tiên âm vang cuộc vinh thắng của sự sống trên tất cả những gì đã cố gắng bịt miệng và dập tắt niềm vui Phúc Âm. Tảng đá trước ngôi mộ là thứ đầu tiên nhẩy lên, và bằng kiểu cách của mình, vang lên một bài ca chúc tụng và ca khen, vui mừng và hy vọng, một bài ca tất cả chúng ta được mời gọi tham gia.

Hôm qua, chúng ta đã liên kết các người phụ nữ vào việc chiêm ngưỡng "Đấng bị đâm thâu qua" (xem Gioan 19:36; xem Zacharia 12:10). Hôm nay, với họ, chúng ta được mời gọi để chiêm ngưỡng ngôi mộ trống và nghe những lời của vị thiên thần là: "Đừng sợ... vì Người đã sống lại rồi" (Mathêu 28:5-6). Những lời ấy cần phải tác dụng vào những niềm xác tín và tin tưởng sâu xa nhất của chúng ta, những cách thức chúng ta phán đoán về các biến cố hằng ngày trong cuộc đời của chúng ta, nhất là cách thức chúng ta liên hệ với người khác. Ngôi mộ trống cần phải trở thành thách đố cho chúng ta và phục hồi tinh thần của chúng ta. Nó cần phải làm cho chúng ta suy nghĩ, nhưng trước hết, nó cần phải phấn khích chúng ta tin tưởng và tin rằng Thiên Chúa "tỏ mình" ở hết mội hoàn cảnh và hết mọi con người, và ánh sáng của Người có thể chiếu tỏa vào xó xỉnh không ngờ nhất và kín đáo nhất của đời sống chúng ta. Người đã phục sinh từ trong cõi chết, từ một nơi mà chẳng có ai đợi chờ gì hết, và giờ đây Người đang chờ đợi chúng ta - như Người đã chờ đợi các người phụ nữ - để giúp chúng ta có thể tham phần vào công cuộc cứu độ của Người. Trên nền tảng ấy và bằng sức mạnh này, Kitô hữu chúng ta mới mang đời sống của chúng ta và nghị lực của chúng ta, trí thông minh của chúng ta, cảm tình của chúng ta và ý muốn của chúng ta ra để khám phá ra, nhất là để kiến tạo những đường lối có phẩm vị.

Người không còn đây nữa... Người đã sống lại rồi! Đó là sứ điệp duy trì niềm hy vọng của chúng ta và hướng nó vào các cử chỉ của lòng bác ái yêu thương. Quan trọng biết bao cần chúng ta để cho cái mỏng dòn của chúng ta được xức dầu bằng cảm nghiệm này! Quan trọng biết mấy cần chúng ta để cho đức tin của chúng ta được tái sinh động! Quan trọng biết bao cần chúng ta để cho các chân trời cận thị của chúng ta được thách đố và canh tân đổi mới bởi sứ điệp ấy! Chúa Kitô đã sống lại, và với Người, Người làm cho niềm hy vọng và tính chất sáng tạo của chúng ta thăng hoa, nhờ đó chúng ta có thể đối diện với các vấn đề hiện nay của chúng ta khi nhận thức rằng chúng ta không lẻ loi cô độc một mình.

Việc cử hành Lễ Phục Sinh là việc lại tin rằng Thiên Chúa liên lỉ can thiệp vào tiểu sử riêng tư của chúng ta, thánh đố "những thói lệ" của chúng ta, những đường lối cố định trong việc suy nghĩ và tác hành dẫn chúng ta đến chỗ bị tê liệt. Việc cử hành Lễ Phục Sinh là việc để cho Chúa Giêsu có thể chiến thắng trên nỗi sợ hãi nhát hèn rất hay thường tấn công chúng ta và cố gắng chôn vùi đi hết mọi thứ hy vọng.

Tảng đá trước ngôi mộ đã tham phần vào việc cử hành ấy, các người phụ nữ trong Phúc Âm cũng tham dự vào việc cử hành này, và giờ đây lời mời gọi lại được ngỏ cùng anh chị em và cùng tôi. Một lời mời gọi phá vỡ những gì là thói lệ của chúng ta và canh tân đổi mới đời sống của chúng ta, các quyết định của chúng ta, và việc hiện hữu của chúng ta. Một lời mời gọi cần phải được qui hướng về nơi chúng ta đang đứng, những gì chúng ta đang làm và những gì chúng ta là, ở "mức độ năng lực" của chúng ta. Chúng ta có muốn tham phần vào sứ điệp sự sống này hay chăng, hay chúng ta chỉ thích tiếp tục đứng một cách câm nín trước các biến cố xẩy ra vậy thôi?

Người không còn đây... Người đã sống lại rồi! Và Người đang đợi chờ anh chị em ở Galilêa. Người kêu gọi anh chị em hãy trở về với thời gian và địa điểm của tình yêu ban đầu nơi anh chị em, và Người nói cùng anh chị em rằng: Đừng sợ, hãy theo Thày.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

 

April 5, 2021