suy niệm của Lm. Jude Siciliano

năm C Lm Jude Siciliano, OP

Phục Sinh NĂM C

 

                                                                                                                                                                    
Lm Jude Siciliano, OP
Phụng vụ năm C

 

CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH, NĂM C-2019

TĐCV 14: 21-27; Tvịnh.144; Kh 21:1-5; Gioan 10: 27-30

Đã đến lúc tôi thú nhận: Như tôi đã nói trước, khi nào chúng tôi, các cha giảng bắt đầu soạn bài giảng, chúng tôi thường hỏi "Phúc âm nào"?. Câu chuyện trong Phúc âm có làm chúng ta tập trung chú ý vào bài Phúc âm hơn là chú trọng đến Chúa Giêsu, nơi Ngài rao giảng và các việc tuyệt vời Ngài làm. Bài Phúc âm cũng là bài đọc cuối cùng, rồi đến ngay bài giảng. Và các tín hữu thường nhớ bài Phúc âm họ vừa nghe. Dù vậy, trong bài giảng tuần này tôi sẽ chú trọng đến bài đọc thứ nhất trích từ sách Công Vụ Tông Đồ.

It lời về sách Tông Đồ Công Vụ: Tác giả sách Công Vụ là thánh Luca, và đó là sách thứ hai thánh Luca viết sau khi viết phúc âm. Có người muốn đặt tên cho phúc âm thánh Luca là "Luca-Công Vụ". Ý kiến lý giải đều đó là trong lời mở đầu của hai sách. Trong phúc âm thánh Luca viết lời mở đầu như sau: "Thưa ngài Thêôphilô đáng kính". Luca hứa là sau khi "đã cẫn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài". Còn sách Tông Đồ Công Vụ cũng mở đàu bằng câu gắn liền với phúc âm: "Thưa ngài Thêôphilô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giê su làm và những điều Người dạy..." Phúc âm kết thúc với Việc Chúa Giêsu gởi các môn đệ đi rao giảng (Lc 24: 46-47) và sách Công Vụ bắt đầu từ đó.

Độ một phần ba sách Công Vụ Tông Đồ nói về lời phát biểu và các bài giảng của những nhân vật chính trong giáo hội tiên khởi. Các bài giảng đầu tiên xãy ra ở Giêrusalem (Cv 1:1 - 8:3), rồi chuyển đến Giuđêa và Samaria (Cv 8:4 - 9: 43). Ngôn sứ Isaia đã hứa là Ísrael sẽ là "ánh sáng cho mọi nước", nên sau đó các tông đồ nhận sứ mệnh đi đến các dân ngoại (Cv 10: 1-15 - 15:35). Phần cuối, các bài giảng của thánh Phaolô là minh họa lời Thiên Chúa kêu gọi các tông đò ra đi rao giảng "đến tận cùng thế giới" (Cv 15:36 - 26: 31).

Thánh Phaolô và Banaba trở lại rao giảng ở Lystra, Iconium và Antiokia là những nơi họ đã bị truy bắt. Ở Lystra người ta ném đá vào Phaolô và bỏ mặc Phaolô cho đến chết. Hôm nay, trong bài đọc, các tông đồ trở lại với các cộng đoàn tín hữu do họ đã thành lập, huấn giáo và khuyến khích các cộng đoàn cũng cố đức tin của họ. Khì chúng ta theo dõi dể học hỏi các việc rao giảng của các tông đồ, chúng ta biết được có một số người chấp nhận sứ điệp của tin mừng, và một số khác đã từ chối và bắt bớ các ông.

Trong lúc các tông đồ kiên trì và chịu đau khổ vì lời rao giảng của họ, Các tông đồ ban đầu không chỉ cố gắng dựa vào năng lực và sự hiểu biết của họ mà thôi. Điều các ông nêu ra là chính Chúa Giêsu đã giữ lời hứa của Ngài và đã ban cho họ ơn Chúa Thánh Thần. Chính thần khí Chúa Thánh Thần đã ban cho họ sự hăng hái rao giảng và làm nhân chứng cho sự sống lại của Chúa. Mỗi khi họ trở về cộng đoàn của các tông đồ, các ông không khoe khoan về các thành quả mà họ đã gặt hái được, nhưng các ông xác nhận việc Chúa Thánh Thần đã tác động qua họ một cách đặc biệt. Vì thề, hôm nay bài đọc kết thúc với Phaolô và Banaba khi họ trở về nhà ở Antiokia. Ở đó họ "kêu gọi cộng đoàn giáo hội họp để tường trình lại những gì Thiên Chúa đã làm với họ, và Thiên Chúa đã làm thế nào mở cửa đức tin cho dân ngoại".

Trong các giáo xứ chúng ta cũng có những việc được tường trình như thế khi có các tình nguyện viên được mời dạy giáo lý cho các trẻ em vị thành niên, hay dạy giáo lý cho các tân tòng, hay thâu gom thức ăn, hoặc kiệu Mình Thánh Chúa cho các người đau ốm v.v... Thường thì những người đó có sự hiểu biết và kinh nghiệm khá hạn chế, họ vẫn "thưa vâng" lãnh nhận sứ vụ; họ được mời gọi. Họ chăm chỉ sửa soạn cho nhiệm vụ họ phải thực hiện và nghe lời hướng dẫn của các "vị cao niên". Họ khám phá ra là cộng đòan rất cảm động về việc họ làm. Và hơn nữa các người đi phục vụ như thế cảm thấy đức tin của họ được như có một sức sống mới như Phaolô và Banaba. Họ lãnh nhận trách hiệm rao giảng phúc âm. Làm sao mà họ lại thay đổi như thế được?. Không gì cả, đó chính là ơn Chúa Thánh Thần – Ngài xức dầu và đồng hành qua sự cố gắng của họ.

Bởi thế chúng ta sẽ đi đâu, vì chúng ta cũng đã được giao phó trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho thế giới? Có thể chúng ta không đi rao giảng một cách nhanh chóng như hai tông đồ mà chúng ta vừa nghe nói. Nhưng, dù sao đi nữa, Bí Tích rửa rội đã xức dầu cho chúng ta nên ngôn sứ ở những nơi chúng ta sống. Không có cách nào trốn tránh bổn phận đó!

Bạn hãy nói lên "nơi bạn phục vụ": như nơi bàn ăn sáng (đó có thể là một nơi phục vụ thật sự cho một số người); nơi bạn làm việc; ở giữa bạn bè khi hội họp nhau; trên máy vi tính, ở các cứa tiệm? Tôi không muốn đề nghị là bạn đứng trên bục gỗ để rao giảng. Mặc dù bạn có chút ngại ngùng về yếu kém đức tin của bạn cũng không sao. Nhưng, trong việc làm thường ngày, các giá trị và phán đoán của bạn, phong cách sống của bạn có thể làm cho những người xung quanh bạn ngạc nhiên. Ai biết được, họ có thể tò mò để đặt một câu hỏi lớn: "điều gì đã làm người đó khác như thế? Với tất cả những khó khăn của người đó, làm sao anh/ chị ta có thể tiếp tục như thế? Làm sao mà anh/chị ta có thể giũ hy vọng như thế" Rồi sẽ có dịp cho chúng ta làm như hai ông Phaolô và Banaba là "rao giảng Tim Mừng".

Chúng ta có thể cảm thấy là bản thân không được đào tạo về mặt thần học. Nhưng chúng ta cần phải nói lên với kiến thức và sự hiểu biết của chúng ta, vói kinh nghiệm và đức tin của chúng ta. (học hỏi về tín lý sẽ không sao đâu). Cũng như Phaolô và Banaba, chúng ta sẽ có ơn phù trợ trên đường dương thế. Chúa Thánh Thần sẽ là "người dẫn dắt" chúng ta. Và đó là điều sách Công Vụ Tông Đồ nói lên: Chúa Thánh Thần làm việc qua những con người tầm thường để giúp họ loan báo Tin Mừng và gây nên "một số lượng môn đệ lớn lao". Vậy bạn hãy thử xem !

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP


5th SUNDAY OF EASTER -C-
Acts 14: 21-27; Psalm 145; Revelation 21: 1-5; John 13: 31-33, 34-35

Confession time: as I have mentioned before, when we preachers start our preparation we tend to ask, "What’s the gospel?" Gospel narratives catch the imagination as they focus on Jesus, the world in which he preached and his stunning works. The gospel passage is also the last of the readings – the preaching follows immediately – and our hearers are most likely to remember the gospel they just heard. Nevertheless, in my preparation this week, I’m going to focus on our first reading from the Acts of the Apostles.

A few words about Acts. It was written by Luke and is considered his "second volume." Some would name both under one title, "Luke-Acts." A clue to this relationship is in the opening lines of the two documents. Luke’s gospel begins addressing "most excellent Theophilus"; promising after "investigating everything," to "write an orderly account for you." Acts opens with a clear link to the gospel: "In the first book, Theophilus, I wrote all that Jesus did and taught…." The gospel ended with Jesus’ sending his disciples to preach (24:46-47). That’s where Acts picks up.

About a third of Acts features speeches and preachings from key figures in the early church. The initial setting for the preachings takes place in Jerusalem (1:1-8:3) and then moves to Judea and Samaria (8: 4-9:43). Isaiah had promised that Israel would be a "light to the nations" and so next, the preachers take up their mission to the Gentiles (10:1-15 – 15:35). In the last part, Paul’s preaching exemplifies God’s call for the mission to reach the "ends of the earth" (15:36–26:31).

Paul and Barnabas returned to preach at Lystra, Iconium, and Antioch – the very places they had suffered persecutions. In Lystra Paul was stoned and left for dead by his opponents. In today’s reading the apostles return to the Christian communities they established to teach and encourage the communities and to strengthen their faith. As we follow the preaching missions of the apostles we learn, while some accepted their message, others rejected and persecuted them.

In their perseverance and suffering, because of their preaching, the early evangelists were not just drawing on their own energies and grit. What these preachers reveal is that Jesus had kept his word and had given them the gift of the Holy Spirit. It was that Spirit that filled their spirits with a burning desire to preach and witness to their resurrected Lord. When they returned to their home communities they would not boast of their accomplishments, but of the Holy Spirit working through them in unique ways. Thus, today’s reading ends with Paul and Barnabas at their home base in Antioch, where they "… called in the church together and reported what God had done with them and how God had opened the door of faith to the Gentiles."

Something like that happens in parishes when members volunteer, or are asked, to teach religion to teens; be an RCIA team member; start a food pantry; take communion to the sick, etc. Often they profess their limited knowledge and experience, yet they say "Yes" to the invitation. They studiously prepare for their mission and take guidance from the "elders." They discover people are moved by their ministry and more – the ministers’ own faith takes on new life as, like Paul and Barnabas, they undertake the mission of preaching the gospel. How do those changes come about? How else, but through the work of the Holy Spirit – anointing and working through their efforts.

So, where do our travels take us, for we too have been assigned to proclaim the Good News to the world? Probably we won’t have to go on a whirlwind evangelizing mission like our two featured apostles. But still, our baptism has anointed us to be prophets in the places we find ourselves. There is no getting around that responsibility!

Name your own "mission field": around the breakfast table (that can be real mission territory for some!); at work; among friends at social gatherings; on line at the supermarket? I’m not suggesting we stand on a soapbox and start preaching; though being a little less shy about our faith wouldn’t hurt. But our habitual actions, values, judgments, style of life, etc. should stir up curiosity for those around us. Who knows, they might be curious enough to ask the big questions: "What makes you so different?" "With all the problems you have, how do you get your strength to go on?" "How can you be remain so hopeful?" Then the opportunity will arise for us to do what Paul and Barnabas were doing – "proclaim the Good News."

We may feel we are not theologically trained enough, but we should speak from the knowledge we do have – our heart and the experience of our faith. (A little study wouldn’t hurt either!) Like Paul and Barnabas, we won’t be unaccompanied on our journey, because the Spirit will be our "tour guide." Which is what the Acts of the Apostles is really about: the Holy Spirit working in ordinary people to help them proclaim the Good News and make, as Acts tells us, "a considerable number of disciples." Give it a try!

 

CHÚA NHẬT V PS (C) 24-04-2016
Cv 14: 21-27; T.vịnh 144; Khải huyền 21: 1-5;
Gioan 13: 31-33, 34-35
Lm. Jude Siciliano, OP

 

BIẾT YÊU THƯƠNG NHAU; SẼ ĐƯỢC DIỆN KẾN NHAN THÁNH CHÚA

Vì sao chúng ta phải lùi lại và nhìn vào gương để xem phía sau? Các bạn có nghĩ là bài phúc âm hôm nay thật lạ cho mùa Phục Sinh phải không? Tôi chắc là giáo dân ngồi trong nhà thỏ̀ đang còn trang hoàng vỏ́i hoa huệ và đ̀èn Phục Sinh cũng nghĩ nhủ vậy. Khi họ nghe câu mỏ̉ đầu bài phúc âm "Khi Giuđa đi rồi...". Vì sao chúng ta lại còn ỏ̉ bàn tiệc ly trong câu chuyện Phuc Sinh? Tôi nghĩ Chúa Giêsu chịu thủỏng khó và chịu chết đã qua rồi, và bây giỏ̀ giáo dân hàt bài Alleluia cho mùa Phục Sinh cỏ mà.

Rồi đến Chúa Giêsu nói về "tôn vinh": "Giỏ̀ đây, Con Ngủỏ̀i đủọ̉c tôn vinh và Thiên Chúa được vinh hiển nỏi Ngủỏ̀i. Nếu Thiên Chúa tôn vinh nỏi Ngủỏ̀i, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Ngủỏ̀i nỏi chính mình". Trủỏ́c hết, chúng ta có bối cảnh hình nhủ theo thời gian đã không được đặt đúng chổ, rồi kế đến nói về "đủọ̉c tôn vinh". Nghe nhủ lạ tai quá. Các bạn có nghĩ nhủ̃ng giáo dân ngồi trong nhà thỏ̀ tỏ vẽ bối rối hoang man phải không? Hôm nay người thuyết giảng phải giải quyết vấn đề ngỏ̀ vụ̉c này.

Lỏ̀i Chúa Giêsu nói về "tôn vinh" không tách rỏ̀i khỏi sụ̉ thật, mặc dù đôi khi dân chúng dùng lỏ̀i đó vỏ́i ý nghĩa nhủ thế. Bối cảnh luôn luôn là phần quan trọng để trình bày Kinh Thánh. Ngay trủỏ́c đoạn văn hôm nay, Chúa Giêsu tiên đoán "Thật, Thầy bảo thật anh em: có một ngủỏ̀i trong anh em sẽ nộp Thầy". (Ga13:21). Sau khi ăn miếng bánh Chúa Giêsu trao cho ông Giuđa, ông ta liền ra đi."Lúc đó trỏ̀i đã tối".(13:30). Sau đoạn văn hôm nay, Chúa Giêsu tiên đoán ông Phêrô sẽ chối Ngài: "Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chủa gáy, anh đã chối Thầy ba lần".(13: 38). Trỏ̀i vủ̀a tối, chủa đến tối sầm khi một ngủỏ̀i bỏ ra đi, hay chối Chúa Giêsu, thì "tôn vinh" ỏ̉ đâu, và các môn đệ đã đủọ̉c Chúa Giêsu chọn lại không ỏ̉ gần Ngài trong giỏ̀ phút Ngài cần họ nhiều nhất?

Chúa Giêsu bắt đầu nói "giỏ̀ đây…". Thật, hình nhủ đó không phải là lúc thuận lợi nhất để nói về sụ̉ tôn vinh. Khi "giỏ̀ đây" chính là lúc Chúa Giêsu bị bao vây, bị phản bội và chán nản. Rõ ràng là Chúa Giêsu có ý nói về "tôn vinh" không giống nhủ một họa sĩ thêm một nét ánh sáng hưng phấn vào một khung cảnh tôn giáo. Và cũng không phải lả lúc thích hợp cho một nhạc sĩ đệm thêm một giai điệu với kèn trống bập bùng. Chúng ta nghĩ tôn vinh phải thêm ánh sáng và vinh quang hơn nữa chứ. Nhủng, trong khi loài ngủỏ̀i thất bại, là chính thời điểm đó cuộc sống của Chúa Giêsu và của chính Chúa Cha lại không bị thất bại. Không điều gì có thể ngăn chận được những diễn tiến sắp xãy đến - là Thiên Chúa mặc khải tình yêu thủỏng của Ngài cho nhân loại. "Giỏ̀ đây" là vinh quang vì là lúc tình thủỏng của Thiên Chúa chiếu rọi qua tội lỗi và bóng tối của loài ngủỏ̀i. Có thể đó là lúc trỏ̀i "đã tối", nhủng, Thiên Chúa chiếu rọi một ánh sáng khác trên việc loài ngủỏ̀i tách khỏi Thiên Chúa và rỏ̀i khỏi nhau.

Chúa Giêsu tỏ rõ là Ngài không phải là ngủỏ̀i lử khách bất đắc dĩ, hay là một nạn nhân trong chủỏng trình của Thiên Chúa. Sau Bài giảng cuối cùng mà Chúa Giêsu nói vỏ́i các môn đệ nỏi bàn tiệc, rồi Ngài đi vỏ́i các ông lên vủỏ̀n là nỏi Ngải bị bắt. Thánh Gioan không kể câu chuyện Chúa Giêsu lo buồn đauđớn trong vủỏn cây dầu. Trái lại thánh Gioan cho thấy Chúa Giêsu tụ̉ điều khiển mọi sụ̉ việc về tâm trí cùng đỏ̀i sống của Ngài hoà theo chủỏng trình của Thiên Chúa. Cho nên Ngài nói "Giỏ̀ đây, Con Ngủỏ̀i đủọ̉c tôn vinh…". Ngay cả trong một khung cảnh bị thất bại cho đỏ̀i sống và sứ vụ của Ngài đến thực hiện, Ngài tỏ ra là mọi việc đủọ̉c hoàn tất. Thủ̉ hỏi chúng ta có thể nói đó là lúc hài lòng và biết trủỏ́c hay không?

Trủỏ́c khi Chúa Giêsu ra đi, Ngài nói: "Thầy ban cho anh em một điều răn mỏ́i là anh em hãy thủỏng yêu nhau" (13:34). Vậy có điều gì mới về việc Chúa Giêsu kêu gọi thủỏng yêu nhau trong lúc này? Thật thế, bối cảnh chiếu rọi ánh sáng trên bản chất của tình thủỏng mà Chúa Giêsu bảo các môn đệ phải làm. Đó là tình thủỏng không bị dập tắt ngay cả trong lúc bị bội phản  bởi những người gần gủi nhất. Trong những thủ̉ thách và lúc bị xủ̉ phạt trái lẽ. Đó là tình yêu không hề bị dập tắt dù chỉ mới khởi sự và ngay cả khi bị đối xử bất công. Đó là một tình yêu mà ngay cả đối vỏ́i kẻ thù cũng thế, và trong lúc bị chống đối nói lên sụ̉ thật mà Chúa Giêsu sẽ tỏ ra trong lúc Ngài bị xét xủ̉.

"Giỏ̀ đây" có thể có ý nghĩa là "giỏ̀ đây" Chúa Giêsu sẽ chủ́ng tỏ tình thủỏng mà các môn đệ phải có đối vỏ́i nhau. "Giỏ̀ đây" các ông sẽ thấy tình thủỏng của Thiên Chúa đối vỏ́i thế gian nhủ thế nào, và "giỏ̀ đây" các ông đủọ̉c kêu gọi làm theo. Nhủng, các ông và cả chúng ta cũng không thể nào tụ̉ làm để bắt chủỏ́c đủọ̉c tình thủỏng Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta. Bỏ̉i thế, "giỏ̀ đây" Chúa Giêsu sẽ yêu thủỏng chúng ta cho đến cùng, và nhủ chúng ta đã nghe trong các bài phúc âm trủỏ́c trong mùa Phục sinh :"giỏ̀ đây" Chúa Giêsu sẽ sống lại tủ̀ kẻ chết và "giỏ̀ đây" Ngài ban Thần Khí của Ngài cho các môn đệ đang sọ̉ hãi và do dụ̉. Sau khi Chúa Giêsu sống lại, Ngài sẽ thổi hỏi Thần Khí Ngài trên các môn đệ. Chúng ta sắp sủ̉a mủ̀ng lễ Chúa Thánh Thần và sẽ nhỏ́ lại Thần Khí mà chúng ta đã lãnh nhận là chính Thần Khí của tình thủỏng Chúa Giêsu đối vỏ́i thế gian và làm cho chúng ta có thể bắt chủỏ́c Ngài đủọ̉c. Thần Khí Chúa Giêsu ban cho chúng ta năng lụ̉c yêu thủỏng nhủ Ngài đã yêu thủỏng. Bỏ̉i thế tình yêu thủỏng mà Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta sống là "điều răn mỏ́i". Thế gian chủa bao giỏ̀ trông thấy điều nhủ vậy và chắc chắn là "giỏ̀ đây" chúng ta cần điều đó

Thời gian nào tốt nhất để yêu, Chúa Giêsu hình nhủ muốn nói lúc đẹp nhất là "giỏ̀ đây". Không phải vì chúng ta cảm thấy ấm cúng an toàn vỏ́i nhau, nhủng vì một đỏ̀i sống bắt đầu qua sụ̉ chết và sụ̉ sống lại của Chúa Giêsu và việc Ngài trỏ̉ về vỏ́i Chúa Cha. Một tình yêu thủỏng mà chúng ta cảm thấy không tụ̉ chúng ta sống đủọ̉c, giỏ̀ đây đã thụ̉c hiện cho chúng ta. Đỏ̀i sống mỏ́i  do Chúa Giêsu khai trủỏng phải đủọ̉c đánh dấu bằng tình thủỏng của các Kitô Hủ̃u. Nếu chúng ta yêu thủỏng nhủ Chúa Giêsu yêu thủỏng chúng ta thì "mọi ngủỏ̀i sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy" (13:35).

Trủỏ́c hết tình yêu thủỏng mà Chúa Giêsu nói đến có vẽ nhủ hẹp hòi chỉ gồm trong một nhóm nhỏ. Chúa Giêsu nói vỏ́i các môn đệ "anh em hãy yêu thủỏng nhau". Tình thủỏng yêu này có vẽ chỉ cho một nhóm nhỏ trong số theo Chúa Giêsu. Vậy Chúa Giêsu có nói vỏ́i chúng ta là tình yêu thủỏng hy sinh mà Ngài bảo chúng ta áp dụng vào nhủ̃ng ngủỏ̀i cùng ngồi chung dãy ghế vỏ́i chúng ta không? Không đâu, vì chúng ta biết qua các đoạn sách khác của phúc âm thánh Gioan là sứ vụ tình thủỏng bao gồm toàn thế gian (10:16). Chúa Giêsu cũng nói vỏ́i chúng ta là Thiên Chúa "yêu thủỏng thế gian đến nỗi đã ban Con Một… (3:16). Dù sao đi nủ̃a, Chúa Giêsu bao vây bỏ̉i các môn đệ gần gũi, Ngài khuyên bảo các ông hãy "yêu thủỏng nhau" nhủ Ngài đã yêu thủỏng họ. Chúa Giêsu muốn họ thật lòng hòa họ̉p vỏ́i Ngài, và vỏ́i nhau trong tình yêu thủỏng. Một cộng đoàn yêu thủỏng sẽ có ảnh hủỏ̉ng trên kẽ khác theo phúc âm. Vậy điều gì rõ ràng hỏn về việc rao giảng phúc âm là một nhóm ngủỏ̀i tủ̀ khắp các nỏi khác nhau hòa họ̉p vổ́i nhau không phải vì học thủ́c ngang nhau, hay vì kinh tế bằng nhau, hay vì láng giềng vỏ́i nhau, hay vì cùng một quốc tịch, hay cùng chủng tộc vỏ́i nhau v.v…, nhủng vì đã đủọ̉c Thiên Chúa giải thoát qua tình yêu thủỏng, và chủ́ng tỏ tình yêu thủỏng đó vỏ́i nhau phải không? Một cộng đoàn nhủ thế không thể nào không thu hút đủọ̉c kẻ khác đến vỏ́i Đấng là nguồn gốc tình thủỏng yêu khắp toàn trái đất.

Nếu có đoạn nào trong sách Khải Huyền quen thuộc vỏ́i chúng ta thì chính là đoạn đọc ngày hôm nay vỏ́i lỏ̀i hủ́a một "trỏ̀i mỏ́i, đất mỏ́i". Chúng ta không thể chỏ̀ đọ̉i điều đó đủọ̉c thụ̉c hiện. Bao giỏ̀ thì một "trỏ̀i mỏ́i, đất mỏ́i" sẽ xãy ra bỏ̉i Thiên Chúa?. Chúng ta tin thế gian và lịch sủ̉ loài ngủỏ̀i sẽ kết thúc. Và một ngày nào đó, khi Thiên Chúa thay đổi thụ̉c tại thành một "trỏ̀i mỏ́i, đất mỏ́i". Nhủng, chúng ta phải đọ̉i bao lâu nủ̃a để việc hoàn tất thay đổi tất cả tạo vật xãy ra? Giủ̃a nhủ̃ng hấp hối ai oán của thế gian, kể cả nhủ̃ng khủng bố giết hại ỏ̉ Paris và Bruxelles, giủ̃a nhũng khủng bố ngủỏ̀i mang bom nổ hằng lọat ỏ̉ Iraq, giủ̃a nhủ̃ng cảnh chết chóc vì bệnh AIDS ỏ̉ Phi Châu v.v… Chúng ta còn phải đọ̉i bao lâu nủ̃a để nhủ̃ng cảnh đau đỏ́n đó chấm dủ́t? Chúa Giêsu cùng các môn đệ ngồi quanh bàn tiệc trủỏ́c khi Ngài qua đỏ̀i không để lại cho chúng ta biết ngày Ngài sẽ trỏ̉ lại để đánh dấu trên lịch vỏ́i vành mụ̉c đỏ. Bỏ̉i thế chúng ta không biết ngày giỏ̀ lỏ̀i hủ́a sẽ đủọ̉c thụ̉c hiện, và mọi tạo vật sẽ đủọ̉c đổi mỏ́i. Tôi trông thấy một hình vẽ hài hủỏ́c: có một thầy giảng đủ́ng ỏ̉ góc đủỏ̀ng trủỏ́c một quán rủọ̉u cầm một tấm bảng viết "ngày tận cùng sắp đến". Một thủỏng gia đi vào quán rủọ̉u đủ́ng lại nói vỏ́i thầy giảng "Thầy có cách nào làm cho ngày tận cùng đến sỏ́m không?". Nhủ̃ng ngủỏ̀i nói là họ biết ngày giỏ̀ của ngày tận cùng đã sai lầm nhiều lần, và thế gian vẫn tiếp tục sống vỏ́i bao nhiêu điên rồ.

Có ngủỏ̀i nói là chúng ta không làm gì đủọ̉c để thúc đẩy việc thụ̉c hiện một "trỏ̀i mỏ́i, đất mỏ́i". Đó là điều ỏ̉ trong bàn tay Thiên Chúa, và khi nào Thiên Chúa sẵn sàng thì điều đó sẽ đến. Theo khía cạnh này, thi chúng ta phải làm gì để sủ̉a soạn sẵn sàng đến khi củ̉a thành Giêrusalem mỏ̉ ra cho chúng ta? Ngủỏ̀i khác lại nói là một "trỏ̀i mỏ́i, đất mỏ́i" sẽ đến khi chúng ta đã sủ̉a soạn thế gian sẵn sàng cho lúc đó, và khi chúng ta đã sẵn sàn đón Chúa Kitô thì Ngài sẽ đến. Ôi, thật là nhiều chuyện phải làm. Khía cạnh nào đúng theo ý nghĩ của phúc âm, thi việc làm trủỏ́c mắt chúng ta đã rõ ràng. Vỏ́i ỏn Chúa Thánh Thần, chúng ta phải thủỏng yêu nhau nhủ Chúa Giêsu đã yêu thủỏng. Rồi chúng ta chỉ chỏ̀ đọ̉i và hy vọng.

Đã có lần đến mủỏ̀i ngàn ngủỏ̀i ỏ̉ Trung Đông bỏ quê hủỏng ra đi. Tôi tụ̉ hỏi có phải là bài sách Khãi Huyền có ý chỉ gì về ngủ̃ng ngủỏ̀i di củ tị nạn. Nhất là vỏ́i ánh sáng về thỏ̀i gian và nhủ̃ng ngủỏ̀i mà sách Khãi Huyền nói đến hay không? Sách Khãi Huyền hình nhủ đã đủọ̉c viết bỏ̉i một tín hủ̃u Do Thái chạy trốn xủ́ Palestine trong lúc có nội loạn chống ngủỏ̀i La mã vào nhủ̃ng năm 60-70 Kỷ Nguyên. Có ngủỏ̀i mong chỏ̀ ngày trỏ̉ về, gặp lại quê hủỏng an toàn, tốt đẹp hỏn trủỏ́c khi có nội loạn, có thể nghĩ đến một "trỏ̀i mỏ́i, đất mỏ́i", một nỏi mà thiên Chúa sẽ ỏ̉ giủ̃a "loài ngủỏ̀i".

Vỏ́i chúng ta tất cả, nhủ̃ng ngủỏ̀i cảm thấy bị đi tránh nạn, chúng ta đã phải rỏ̀i bỏ gia đình, quê hủỏng, nỏi chúng ta sinh trủỏ̉ng, hay vì chúng ta đã sinh trủỏ̉ng ỏ̉ nỏi xa lạ đất khách quê ngủỏ̀i vỏ́i nhủ̃ng sụ̉ việc không theo thánh ý Chúa. Đối vỏ́i nhủ̃ng ngủỏ̀i này, sách Khãi Huyền giúp họ kiên trì và hy vọng.

Một ngày nào đó… một ngày nào đó...  Lúc đó chúng ta tiếp tục sống theo đủỏ̀ng lối Chúa Giêsu dạy, chỏ̀ đọ̉i trong hy vọng và thủỏng yêu nhau.

Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP

 

5th SUNDAY OF EASTER-C-APRIL 24, 2016
Acts 14: 21-27; Psalm 145; Revelation 21: 1-5;
John 13: 31-33, 34-35
By: Jude Siciliano, OP

 

 

Why are we backing up, looking in the rear view mirror? Don’t you think today’s gospel is a strange choice for an Easter season reading? I bet people in the pews in churches that are still decorated with lilies and the Paschal candle will think so when thy hear the opening line, “When Judas had left....” Why are we at the Last Supper in the narrative and Easter in the pews? I thought Jesus’ suffering and death were over and now we Easter people are singing our “alleluias.”

Then there’s Jesus’ talk about being “glorified”: “Now is the Son of Man glorified and God is glorified in him. If God is glorified in him, God will also glorify him in himself and God will glorify him at once.” First, we have a setting that seems chronologically misplaced; then all this talk about “being glorified.” It sounds very convoluted. Would you blame people in the pews for their confused looks? The preacher has work to do today to unpack what, on first impression, seems like obfuscation.

Jesus’ language about “glory” is not detached and out of touch with reality – though sometimes people who use the word a lot do seem that way. Context is always important when we interpret a biblical passage. Just prior to today’s selection Jesus predicted, “I tell you solemnly one of you will betray me” (13:21). Judas eats the morsel of food Jesus offers him and then leaves the table. “No sooner had Judas eaten the morsel than he went out. It was night” (13:30). After today’s passage Jesus predicts Peter’s denials (13:38). It is night and it doesn’t get much darker than that, when one’s table companions and intimates betray or deny you. Where’s the “glory” when hand-picked followers can’t even stand by you at your greatest hour of need?

Jesus begins speaking by saying, “Now....” This doesn’t seem like the most opportune time to speak of being glorified, when the “Now” is a moment surrounded by treachery and disappointment. It’s obvious Jesus’ sense of “glory” doesn’t look like an artist’s rendition of a typical light-enhanced religious scene. Nor does the moment seem to be appropriate for a composer to write accompanying music with trumpets and kettle drums. We expect more glow with our glory. But, while humans have failed at this crucial moment in Jesus’ life, neither he nor his Father will. Nothing seems able to thwart what is coming – God’s revelation of love for all humankind. “Now” is glorious because it is the moment when God’s love shines through human sin and darkness. It may be “night,” but God is shining another light on the matter of human alienation from God and from one another.

Jesus is quite clear that he is not a reluctant passenger, or victim dragged into God’s plan. After he finishes his last discourse to his disciples at table they go to the garden (18:1ff.), where he is arrested. John does not narrate an “agony-in-the- garden scene.” Instead he shows Jesus very much in charge of his fate and of one mind and heart with God’s plan. No wonder when he says, “Now is the Son of Man glorified...,” that even amid the seeming failure of his life and mission, he communicates a sense of accomplishment. Can one even say, satisfaction and anticipation?

Before Jesus departs he says, “ I give you a new commandment: love one another.” It’s not really new, is it? Certainly the bible speaks of loving one another. What’s new about Jesus’ call to love at this moment? Well the context certainly shines a light on the nature of the love he is asking his disciples to have. It is a love that is not turned off or restricted, even when one is betrayed or let down by those closest to us. It is a love that is not extinguished under trial and when one is treated unjustly. It is a love even for enemies and, in the face of opposition, speaks the truth—which Jesus will soon do at his trial.

“Now” – could mean – “now” Jesus is going to show the nature of the love his disciples should have for one another. “Now” they will see what God’s love for the world looks like and “now” they are invited to follow. But neither they nor we can imitate the love Jesus reveals to us. Not on our own. So, “now” he will love us to the end and, as we have been hearing in previous Easter gospels, “now” he will rise from the dead and “now” give his Spirit to his fearful and hesitant disciples. After his resurrection Jesus will return and breathe his Spirit into the disciples. Soon we will celebrate that event on Pentecost and be reminded that the Spirit we have received is the very one that spirited Jesus’ love for the world and makes our imitating him possible. His Spirit enables us to love as he did. That is why the love he calls us to is a “new commandment.” The world hasn’t seen anything like it before and certainly needs it – “Now.”

What better time to love, Jesus seems to be saying, then “Now.” Not because we feel kindly or warm towards another, but because a new age has begun through Jesus’ life, death, resurrection and return to his Father. A love we would have found impossible to live on our own, is now possible to us. The new age inaugurated by Jesus should be marked by the love Christians have. If we love as Jesus loved us then, “all will know that your are my disciples.”

At first, this love Jesus speaks of seems narrow and restrictive. He is addressing his disciples and says, “love one another.” This love may seem insular and applicable just to an inner circle of his followers. Is he telling us that the sacrificial love he calls us to applies only to those around us in the pews? No, because we know from other parts of John’s gospel that Jesus’ mission of love includes an outreach to the world (10:16). Jesus also told us that God, “so loved the world...”(3:16). Nevertheless, Jesus, surrounded by those closest to him, does urge them to “love one another,” as he has loved them. He wants us to be deeply united with him and one another in love. If he has laid down one commandment it is this one about love. A loving community has an evangelistic effect on others. What more articulate proclamation of the gospel can there be than a group of very diverse people drawn together, not by similarities in education, economic status, neighborhood, citizenship, race, etc., but by God’s freeing love for them and their manifesting that love for one another? Such a community couldn’t help but draw others to it and to One who is the source of their universal love.

If there is any reading from the Book of Revelation familiar to us, it’s today’s, with its promise of “a new heaven and a new earth.” We can’t wait for it to happen! When will the “heavenly city, a new Jerusalem,” come from God? We believe our world and human history will end someday, when God will renew and transform our reality into a “new heaven and a new earth.” But how long must we wait for the completion and renewal of all creation to finally happen? Amid all the world’s agonies, including the recent killings in Paris and Brussels, the daily suicide bombings in Iraq, the ongoing ravages of civil strife and AIDS in Africa, etc, how long must we wait for it all to be finished? Jesus, gathered with his disciples around the table the night before he died, didn’t leave a calendar behind with the date of his return circled in red. So, we don’t know the day or the hour when the promise is fulfilled and all things made new. I saw a cartoon: a street preacher is standing on a corner in front of a bar holding a sign that reads, “The end is near.” A business man, entering the bar says to the preacher, “Do I have time for a quick one?” People who claimed they knew the day and the hour have been proved wrong many times, as the world continues on its sometimes crazy and dizzying path.

Some say there is nothing we can do to hasten a “new heaven and a new earth,” that it is in God’s hands and when God is ready it will happen. What we must do, in this view, is to be prepared so the gates to the new Jerusalem will be open for us. Others hold that “a new heaven and a new earth” will come when we have properly prepared the world for their arrival: when we have done our work to receive Christ, he will come. Oh boy, have we a lot of work to do! Whichever view we favor, in the light of the gospel, the work before us is clear: inspired by the Spirit we must love the way Jesus loves. Then, all we can do is wait and hope.

At a time when tens of thousands have fled their homelands in the middle East, I wonder if the Revelation reading doesn’t have special appeal to exiles and refugees, especially in the light of when and by whom it was written? The book seems to have been written by a Jewish Christian who fled Palestine at the time of the rebellion against Rome (66-70 A.D.). Someone longing to return to a better, less conflicted and more secure home, could easily have penned images about a “new Jerusalem” – a place made holy by God’s dwelling “with the human race.”

For all of us who feel exiled because we have been displaced from our home and land of our birth; or, because, even though we were born in this place, we feel like strangers in a foreign land with its ungodly ways – for such exiles the Book of Revelation holds out hope and sustenance.

Someday...someday.... Meanwhile, we continue going about the ways Jesus taught us, waiting in hope and loving one another.

 

May 17, 2019