hai suy tư tuần 2 mùa chay, 2016

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ hai mùa Chay năm C 21/02/2016

Tin Mừng (Lc 9: 28b-36)
Hôm ấy, Đức Giêsu lên núi cầu nguyện đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê. Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà. Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia. Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem. Còn ông Phêrô và đồng bạn thì ngủ mê mệt, nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu, và hai nhân vật đứng bên Người.

Đang lúc hai vị này từ biệt Đức Giêsu, ông Phêrô thưa với Người rằng:
"Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia."

Ông không biết mình đang nói gì. Ông còn đang nói, thì bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Khi thấy mình vào trong đám mây, các ông hoảng sợ. Và từ đám mây có tiếng phán rằng:
"Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!"
Tiếng phán vừa dứt, thì chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu. Còn các môn đệ thì nín thinh, và trong những ngày ấy, các ông không kể lại cho ai biết gì cả về những điều mình đã thấy.

“Mặc sa-mạc biến-hình khóm cỏ gai, bụi vùi”
                                                                  Chờ cơn mưa Phục Sinh.”
(Dẫn từ thơ Trương Thái Du)

Mưa Phục Sinh, thật ra chẳng cần chờ. Bởi, mưa Phục Sinh, mưa ơn cứu độ đã xảy ra qua sa mạc - biến hình. Biến hình chốn hoang vu.  Biến hình nơi sa mạc. Sa mạc dương gian. Sa mạc cuộc đời. Của người người sống cảnh vu vơ, đời biến dạng. Và, thực trạng biến hình đổi dạng nói lên Sự thật. Một Sự rất thật về mặc khải Sống Lại trước Phục Sinh.
Vâng. Mặc khải Sống lại trước Phục Sinh đã được thánh Phêrô xác nhận trước đó qua khẳng định về Đấng Thiên Sai. Khẳng định thật rõ nét khi Thầy Chí Thánh hỏi: người ta bảo Con Người là ai? Và hôm nay, mặc khải về Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa Hằng Sống, được xác nhận một lần nữa trên non cao, đầy sa mạc. Non cao là nơi Yavê Thiên Chúa vẫn tỏ lộ mặc khải quan trọng cho Môsê và Êlya. Hai trụ cột của Giao ước cũ được Thiên Chúa thiết lập cho Dân Ngài chọn.
Là một trong các cột trụ mới nơi Tân ước, thánh Phêrô cũng được chứng kiến cảnh “đám mây phủ bóng trên mình Ngài” (Lc 9: 34, Ys 42: 1) và được nghe “tiếng vọng phát ra từ đám mây” (Lc 9: 35, Tl 18: 15-19). Như thế, thánh nhân đại diện cho nhân loại phàm trần được ban cho, trong cuộc “Biến Hình” thần thánh, khẳng định mới về Thiên tính của Đức Chúa. Và, khẳng định này xác nhận sự Sống lại trước Phục Sinh của Đức Chúa.
Trình thuật sa mạc - biến hình hôm nay, lại một lần nữa, long trọng xác nhận Thiên tính của Đức Chúa từ nơi Cha: “Ngài là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Ngài.” (Lc 9: 35). 
“Hãy vâng nghe lời Ngài”, vừa là xác minh, vừa là mệnh lệnh. Xác minh chứng tỏ rằng: chính Ngài là Đấng Thiên Sai. Là Đức Chúa mang phận loài người. Và, mệnh lệnh cũng chứng tỏ: đây chính là kim chỉ nam hướng dẫn các tín hữu dấn thân theo bước chân mềm của Đức Chúa, trong rao truyền. Thiên Chúa là Cha, xác minh và lan truyền mệnh lệnh, bởi vì dân con nhà Đạo vẫn chưa hiểu nổi các mặc khải và chưa sẵn sàng để chấp nhận: Đức Kitô Giê-su là Đấng Mê-Sia, có đủ Thiên tính.
“Hãy vâng nghe lời Ngài”, còn minh xác: Đấng Cứu độ muôn loài đã bị người trần gian chối bỏ. Chính họ đã đưa Ngài vào sa mạc hành hình, đầy chết chóc. Nhưng, Ngài chấp nhận mọi khổ nhục cũng như cái chết sầu thảm, ngõ hầu mọi kẻ tin sẽ tuân theo mệnh lệnh Cha trao. Ngài chấp nhận những “bụi vùi” và “khóm cỏ gai” của đời sầu khổ để nhân gian có được “mưa Phục sinh”.
Trình thuật hôm nay, xác định với dân con nhà Đạo tư thế Thiên Sai Ngài nhận lãnh qua thân phận làm người, để rồi  “mưa Phục sinh” - mưa cứu độ được loan báo từ trước, sẽ đổ tràn xuống trên muôn dân, cả trong sa mạc – biến hình. Trình thuật cũng khích lệ các tín hữu “hãy vâng nghe lời Ngài” mà yêu thương hết mọi người, cho đến cùng.
“Hãy vâng nghe lời Ngài” còn là chấp nhận đau thương thấp hèn, trong cuộc sống. Chưa vâng nghe lời Ngài, thì chưa thể nào hiểu được thân phận của Đấng Thiên Sai được khẳng định nơi sa mạc – biến hình. Chưa vâng nghe lời Ngài, như thế cũng chưa thể chấp hành mệnh lệnh Chúa Cha trao ban mà đi vào cuộc sống thường nhật. Sống yêu thương. Sống vâng lời.
Chấp hành mệnh lệnh yêu thương trong cuộc sống là kinh nghiệm của người xưa,. Của các cột trụ trong Giao ước, lẫn dân con nhà Đạo. Chấp hành mệnh lệnh yêu thương như thế sẽ không còn tình trạng “bụi vùi, cỏ gai” ở trần gian, nữa. Nhưng, sẽ luôn “chờ mưa Phục Sinh” mưa ơn cứu độ đến với chính mình. Lại nữa, chấp hành mệnh lệnh “vâng nghe lời Ngài” là dấn bước tìm gặp Đức Chúa trong suy tư nguyện cầu với Ngài, trên  sa mạc có biến hình.
Con dân nhà Đạo chỉ được mặc khải về “Đấng-được-Thiên-Chúa-tuyển-chọn” khi suy tư nguyện cầu ở trên non cao. Suy tư nguyện cầu, là kinh nghiệm “vâng nghe lời Ngài” không phải của Môsê, Êlya hoặc thánh Phêrô mà thôi, nhưng là của tất cả con dân đi Đạo. Suy tư nguyện cầu, là tiếp xúc cận kề với chính Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa. Và cuối cùng, không thể suy tư nguyện cầu được, nếu không biết yêu thương đùm bọc, hết mọi người.
Nguyện cầu hôm nay, chứa đựng thêm một điều: đó là lời mời gọi ta hãy về với những gì đánh động tâm can ta. Đánh động về một Biến hình, đổi dạng chính con người mình. Biến hình đổi dạng để như thánh Phaolô đề nghị: “hãy kết hợp với Chúa mà sống vững vàng như vậy” (Pl 4:1).
Sống vững vàng, vì Đức Kitô đầy Quyền Năng sẽ biến đổi chúng ta nên giống như Người. Ngài biến đổi chúng ta như đã “Biến hình” trên non cao, sa mạc. Và, khi đổi mới chúng ta theo cách Biến-hình-nơi-sa-mạc, Ngài sẽ qui tụ chúng ta về với vòng tay ôm dịu hiền của Hội thánh. Tức, những người con yêu Đức Chúa.
Tham dự tiệc thánh qui tụ những người con yêu của Đức Chúa, ta cầu mong cho cộng đoàn tình thương của ta biết “vâng nghe lời Ngài”, trong mọi tình huống.
Cầu và mong sao hành trình yêu thương bảo đảm cho chúng ta một chỗ đứng trong Nước Trời ở trần gian này. Để, ta dùng đó làm đòn bẩy có sức biến hình đổi dạng cả thế giới gian trần này. Biến hình và đổi dạng để tất cả sẽ nên một. Một cộng đoàn. Một tình thương.
Và, cùng với cộng-đoàn tình thương của Nước Trời, ta hân-hoan cất lên câu ca trìu-mến của người nghệ-sĩ thân quen, mà hát rằng:

“Và bây giờ, ngày buồn đã qua.
Mọi lỗi lầm, cũng được thứ tha.
Tinh yêu đã đến trong ánh nắng mai,
Xoá tan màn đêm u-tối
Cho tôi biến-đổi tâm-hồn,
Thành một người mới…”
(Đức Huy – Và Con Tim Đã Vui Trở Lại)

Đúng là như thế. Có biến-đổi tâm-hồn để thành một người mới, ta ngại gì những “khóm cỏ gai, bụi vùi” miền sa mạc, mà không “chờ cơn mưa Phục Sinh”, mưa ơn cứu-độ của một Biến-hình thần-thánh, rất Thiên Sai. Rất yêu thương, với lệnh-truyền “Hãy vâng nghe Lời Ngài.”

Lm Richard Leonard, sj  biên soạn
Mai Tá lược dịch.

 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ hai mùa Chay năm C 21/02/2016

“Sống sót trở về, trên đường làng tươi mát”
Sống sót trở về, trên đại lộ thơm ngát.
Sống sót trở về, trên rừng đồi xanh ngắt.
Sống sót trở về, trên biển xanh cát vàng.”

(Phạm Duy – Sống Sót Trở Về)

(Rôma 11: 30-31/Huấn ca 18: 13)

Vâng. Mới đây không lâu. Chỉ đầu năm 2016 mới đây thôi, bần đạo lại được anh trai trưởng lái cho đi một vòng đồng quê đất Úc, tới một nơi mang tên là Kings Canyon gồm các núi đá, đất mòn nhấp nhô sau khi chạy qua 150 cây số ngàn băng đường đất đỏ đầy gập-ghềnh hiểm trở, đến hết hồn.
Kịp tới nơi, lại đã nghe ca sĩ Duy Quang hát bài “Sống Sót Trở về” của bố Phạm Duy đã viết những câu như:

“Sống sót trở về, anh thợ cầy sung sức.
Sống sót trở về, anh thợ mỏ náo nức.
Sống sót trở về, anh mục đồng thao thức.

Sống sót trở về, anh thợ chài bâng khuâng.
Sống sót trở về, anh hùng rực chiến công.
Cũng giống anh hiền, ưa cuộc đời tối tăm.

 
Sống sót trở về, ta đều ngập ước mong.
Má ấp môi kề, ôm người đẹp suốt năm.
Sống sót trở về, linh mục dựng gác chuông.
Chúa giáng ơn lành cho bổn đạo bốn phương.

Sống sót trở về, nơi Phật đài ngát hương
Tiếng mõ chen vào lời Thượng Tọa xót thương.”

(Phạm Duy – bđd)

Thế nghĩa là: hôm nay đây, vừa đặt chân về lại căn nhà tuy bé nhỏ nhưng đầy đủ mọi thứ, mới thấy mình cũng đã “sống sót trở về” mà viết và lách, cũng thành chuyện.
Quả là, cứ mỗi lần viết xong câu chuyện này/khác rồi lại lách. Lách đi lách lại mãi suốt một đời người, chí ít là cuộc đời có nhiều chuyện để viết và lách. Lách rồi viết, về các tình-huống trong đời hiển-hiện với mọi người đến là dễ sợ. Sợ một hồi, rồi lại lấy giấy bút ra để viết. Viết cho nhanh. Cho nhiều. Thế mới gọi là phiếm chuyện Đạo vào đời, rất nhiều chuyện
Dẫn nhập thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào luận-đề khá nóng bỏng, thời thượng như câu hỏi đầy thắc mắc của ai đó viết về cho đấng bậc vị vọng ở thị thành, rất như sau:

“Thưa cha. Theo-dõi tin tức trên báo/đài nhiều chuyện, nay con được biết là: Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã biên thư gửi về đấng bậc giám-mục chủ-quản địa-phận nọ nói về sự-kiện Đức Mẹ hiện ra mang tên là Đức Bà Từ Bi.

Câu chuyện Mẹ hiện ra như thế, phải hiểu làm sao đây? Xin cha giãi-bày để đàn con ở dưới biết đường mà thưa thốt với mọi người…”

Lại vẫn “một ngày như mọi ngày”, là ngày dẫy đầy những chuyện để hỏi han. Hỏi thày hỏi bạn, hỏi lan man hết mọi người; để rồi biết đâu lại sẽ lọt tai đấng bậc ở trên nào đó có những lời giải-mã để còn thương. Thương Mẹ, thương đấng bậc và cũng thương dân con mọi người ở Giáo hội truyền-thống rất Rôma.
Và tình cờ, người hỏi lại được đấng bậc ở Sydney có những lời đối-đáp, rất ư là bài bản/hẳn hòi. Nhưng trước khi đi vào chi-tiết của lời đáp, tưởng cũng nên trở về với bài ca từng được hát rất dài như sau:

             “Sống sót trở về, tên cường đạo lau kiếm.
Xé áo giang hồ, xin chèo đò trên bến.
Sống sót trở về, quên mầu hồng gái điếm.
Trút phấn son rồi, xin mặc lại áo huyền.

Sống sót trở về, tôi tạ từ vũ khí.
Sống sót trở về, tôi trở lại nhỏ bé.
Sống sót trở về, đeo một bầu rượu quý.
Sống sót trở về, vui một mình... tôi đi.”
(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đã sống sót trở về rồi, cũng là điều mừng. Mừng hơn nữa, khi người trở về lại đã tìm ra được câu đáp-án của nhiều thứ, giống như người dân bình thường, mộ-đạo đã tìm ra lời đáp của Đấng Từ Bi, như sau:

“Đúng thật là Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đặt năm thánh Từ Bi đặc-biệt dưới bàn tay che chở của Mẹ Từ Bi, lâu nay danh-hiệu này vẫn được tôn-sùng theo nghĩa ấy ở thôn làng Savôna, nước Ý.

Ngày 10 tháng 5 năm 2015, Đức Giáo Hoàng đã biên thư cho Giám-mục Savôna-Nôli là có ý thế, để nói về “suối-nguồn đổ mọi ơn lành từ trời tại Đền Đức Mẹ Từ Bi ở Ý.

Đức Giáo Hoàng có viết: “Mẹ Từ Bi luôn gần gũi giúp đỡ đám con của Mẹ trong cơn nguy-biến vì nhiều thứ.”

Việc sùng-kính Mẹ ở Savôna nước Ý có nguồn gốc phát-xuất từ lần Mẹ hiện ra vào năm 1536 với Chân Phước Antôniô Botta, một nông-dân sinh năm 1471. Ông là tín-hữu sốt-sắng luôn đọc kinh Mân Côi nguyện cầu cùng Mẹ mỗi khi ông đi làm.

Thế rồi vào thứ Bảy ngày 18 tháng 3 năm 1536 trong lúc quỳ gối rửa bàn tay vấy bẩn nơi giòng sông nhỏ, ông phát-hiện ra lằn ánh-sáng cả thể chiếu xuống từ trời, rồi nghe có tiếng từ trên cao vọng về, bảo rằng: “Hãy trỗi dậy và đừng nghi-ngờ gì nữa, ta là Đức Nữ Trinh Maria…”

Ông mô-tả Đức Mẹ sự-kiện hôm ấy Đức Mẹ mặc cỗ áo trắng tinh, quanh mình Mẹ toả chiếu ánh-sáng lung-linh, chập chờn. Mẹ đứng đó trên viên đá tảng lớn nhìn xuống giòng nước chảy trên sông Lêtimbrô.

Và Đức Mẹ bảo ông hãy xin vị linh-mục giải-tội của ông đi mà loan báo tại nhà thờ rằng dân chúng trong vùng phải ăn kiêng vào 3 ngày thứ Bảy sắp tới và tổ-chức kiệu/rước để vinh-danh Đức-Chúa và Mẹ Ngài.

Mẹ cũng khuyên ông Antôniô hãy đi xưng thú mọi lỗi tội và hiệp-thông rước Mình Thánh Chúa  rồi trở lại cùng một chỗ như thế vào thứ Bảy lần thứ tư để đón-nhận thông-điệp mới. Ông Antôniô lập tức chạy đi kể lại cho vị linh-mục chánh xứ họ đạo của mình là, thày dòng Bartholomêô Zabrêri, và rồi vị này lại chạy đi loan tin này cho vị Giám mục sở tại, để ngài rõ.

Dù các vị nói trên đều tin vào những gì ông Antôniô kể cho các ngài nghe biết, bởi lẽ các vị này đều dư biết tính thật-thà đôn-hậu của ông Antôniô, nhưng ông chánh-trương làng này là tiên-chỉ Gênôêsê Đôra, lại không thế. Ông nhất quyết đòi Antôniô ngay tối hôm ấy, dắt ông đến tận nơi đã xảy ra sự việc ít thấy như thế. Chẳng mấy chốc, tin đồn lan rộng cả làng đều biết chuyện và mọi người đều đón nhận thông-điệp của Đức Mẹ vào tận tâm can của họ.

Vào ngày thứ Bẩy ngày 8 tháng Tư năm ấy, trước lễ Lá, ông Antôniô trở lại nơi Đức Mẹ hiện ra hôm trước và quỳ gối xuống mà nguyện cầu. Tức thì, ông lại thấy một luồng sáng chiếu toả còn sáng hơn hôm trước nhiều bỗng chốc đáp xuống hòn đá tảng ở giữa sông. Và, ông thấy nơi lằn sáng ấy, khuôn mặt dịu dàng của Đức Mẹ mặc áo trắng tinh, trên đầu đội triều-thiên bằng vòng óng ánh.

Ông Antôniô kể: lần này, Mẹ đứng trên đó hai tay giang rộng theo tư-thế tuôn đổ lòng từ-bi nhân-hậu xuống với ông. Và, một lần nữa, Mẹ yêu-cầu ông phải ăn kiêng trong 3 ngày thứ bảy liên-tiếp và về nói với vị linh-mục tổ-chức kiệu rước và khuyên dân chúng ăn-năn từ bỏ con đường lầm-lỡ, nếu không cuộc sống của họ sẽ bị rút ngắn đi.

Khi ông Antôniô xin Mẹ ra dấu hiệu để mọi người theo đó mà tin lời ông kể, thì Mẹ tra-lời rằng: ông không cần điều đó để rồi Mẹ sẽ linh-ứng dạy cho giáo-dân biết cách sống cho phải phép.

Sau đó, Mẹ giơ cánh tay và hướng mắt lên trời như thể cầu xin Thiên-Chúa điều gì và nói: “Xin cho chúng lòng Từ-bi nhân-hậu chứ không phải công-lý”. Nói xong, Mẹ biến mất.

Sau đó, toàn vùng vẫn được hương thơm ngào ngạt. Ông Antôniô bèn tức tốc chạy nhanh về kể cho chúng dân làng Savôna biết về thông-điệp thứ hai và cũng là thông-điệp cuối cùng này từ Đức Nữ Trinh Maria, phán ra.

Từ ngày đó, Đức Mẹ được tôn-sùng tại làng Savôna như Mẹ Từ Bi Nhân-hậu, với mọi người. Tin về việc Mẹ hiện ra được loan đi rất nhanh chóng và chẳng bao lâu số đông dân chúng đã bắt đầu hành-hương viếng thăm nơi Mẹ hiện đến. Dân làng lập một Ủy-ban để điều-hành lượng người đến hành hương và vô số tiền của được mọi người ban tặng để xây-dựng một đền kính Đức Mẹ Từ Bi ở đây.

Ngày 21 thánh Tư năm ấy, Giám mục Batôlômêô Chiabrers đã ra lệnh cho xây nguyện-đường ở đây. Dự-án này cũng được hội-đồng thị-xã chấp-thuận và Đức Hồng Y Spinola Horace cũng đã đồng ý cho làm thế vào ngày 24 tháng 7 cùng năm ấy.

Và, ngày 11 tháng 8 năm ấy, mọi người tiến-hành việc xây-dựng nguyện-đường mới này. Bốn năm sau, cộng-đồng trong thị-xã đã tuyên-bố ngày 18 tháng 3 là ngày mọi người tổ-chức lễ-hội mừng kính Đức Mẹ với danh xưng này, và mỗi năm đều có kiệu rước đi đến đền Mẹ Từ Bi.

Từ năm 1809-1812, Đức Giáo Hoàng Piô thứ 7 bị giam cầm tại Savôna theo lệnh của vua Napôlêon, và ngài có tuyên-bố rằng: nếu ngài được trao trả tự-do, ngài sẽ đặt vương-miện lên tượng kính Đức Mẹ Từ Bi Nhân-hậu.

Và, ngài đã giữ lời hứa thực-hiện điều ấy vào ngày 10 tháng 5 năm 1815. Nay, đúng 200 năm sau, Đức Giáo Hoàng Phanxicô  đã biên thư riêng cho Giám-mục thành Savôna yêu-cầu thiết-lập Năm Thánh Ngoại Thường kính Đức Mẹ Từ Bi Nhân-Hậu.

Và ngày nay, ta có làm giống như Đức Giáo Hoàng Phanxicô là để cố-gắng tạo sự tin tưởng vào Năm Thánh Từ Bi dâng tặng Đức Mẹ là Mẹ Từ Bi Nhân Hậu vì biết rằng Mẹ sẽ luôn nghe lời ta cầu bàu.” (x. Lm John Flader, The ‘cascade of grace from heaven’ at Our Lady of Mercy shrine, Question Time, The Catholic Weekly 17/1/2016, tr. 12)

             Nghe đấng bậc cha cố kể chuyện Đức Mẹ giống như bọn trẻ nghe mẹ cha kể chuyện cổ tích, vào mỗi tối. Thôi thì, có tin hay không chuyện hiện ra và phép lạ Mẹ làm, là chuyện tư riêng của mỗi người. Vấn-đề quan-trọng là hỏi rằng: ta có quyết-tâm thực-thi lòng từ-bi nhân hậu với mọi người, như lời dạy của Đức Chúa hay không mà thôi.
Bởi, lúc nào và bao giờ cũng thế, đấng thánh nhân-hiền bao giờ cũng nhủ-khuyên dân con trong Đạo Chúa, hãy làm thế. Làm như lời thánh-nhân từ bii nhân-hiền vẫn luôn dạy, rằng:

“Thật vậy,
trước kia anh em đã không vâng phục Thiên Chúa,
nhưng nay anh em đã được thương xót…”
(Rôma 11: 30-31)

Và, sách Cựu Ước còn nói rõ hơn về lòng từ bi của Chúa với tất cả mọi người, rằng:

“Con người thì thương xót cận thân,
còn Đức Chúa xót thương mọi xác phàm.
Người trách cứ, sửa sai, dạy dỗ,
và dẫn đưa, như mục tử dẫn đàn chiên.”
(Huấn ca 18: 13)

Xem thế thì, lòng từ-bi/nhân-hậu –mà người thời nay gọi là “xót thương” đã đổ tràn lên  tất cả mọi người, không phân biệt lương/giáo, già/trẻ, trái/gai. Tất cả, đều đã được Chúa tỏ bày lòng từ-bi/nhân-hậu, rất “thương-xót”.
Lòng từ-bi/nhân-hậu đổ tràn từ Thiên-Chúa có từ thuở đầu đời của con người. Ngài ban tặng cách “cho không/biếu không” mà chẳng cần một ai trung-gian/giời-thiệu. Và, Ngài vẫn tiếp-tục ban tặng cả với những người đầy những lỗi cùng tội. Ngài còn đùm bọc ôm ấp, rất thân thương những người ra như thế. Như thế, mới gọi là từ-bi/nhân-hậu, rất trọng đại.
Còn, lòng từ-bi mẹ hiền của Đức Maria, theo thiển ý, chỉ là phó-bản sao chép tấm lòng đại-độ của Thiên-Chúa. Sao và chép theo kiểu người phàm, cho dễ hiểu. Chứ, thực ra, Mẹ chẳng tài ba được bằng Chúa.
Và, cũng theo thiển-ý, sở dĩ đấng bậc vị vọng chuyển-tải câu truyện kể về sự nhân-từ của Mẹ hiền rất Maria, là để người người cứ theo đó mà bắt chước. Bởi, mỗi người và mọi người đều là “mẹ hiền” từ bi nhân hậu theo kiểu nào đó, rất âm-dương.
Còn nhớ, một đấng bậc khác tuy không kém phần vị vọng, cũng từng biểu-tỏ lý-do ta tuyên-dương, tôn-sùng Đức Maria là tập-tục có từ thời thượng-cổ ở Đạo Chúa, khi ấy vào năm 1854, Đức Piô thứ 9 đã tuyên-dương rằng: Đức Nữ-Trinh Maria “ ngay từ buổi đầu cưu-mang con Thiên-Chúa đã được Chúa giữ gìn và bảo vệ khỏi mọi lỗi/tội, cả tội nguyên-tổ…”
Xem ra giáo-hấn tương-tự từ một Đấng Bậc ở chốn chóp bu Hội-thánh chỉ cốt tạo nỗ-lực khiến cho Đức Maria gần gũi tương-tự như các thần-nữ của dân ngoại, mà theo họ các đấng thần linh này được tin rằng các ngài cũng được cưu-mang một cách rất siêu nhiên…” (Xem thêm Mary Worship, trong Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow Evangelistic Association Inc. 1981 tr.20)
Nói gì thì nói, có nói thế nào đi nữa, cũng công-nhận rằng: Lòng từ-bi/nhân-hậu của Thiên-Chúa đổ tràn qua Mẹ Maria và các thánh, là để người người theo đó mà sống rất thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
Nói gì thì nói, cũng là nói theo cung-cách của phàm-nhân khi đề-cập đến chuyện từ-bi/nhân-hậu của Đức Chúa mà ngôn-ngữ loài người không thể diễn sao cho hết.
Nói gì thì nói, cũng chỉ như nói và kể như truyện kể rất phiếm ở đời có những lời dí dỏm như sau, để minh hoạ:

“Truyện rằng:

Trong cuộc tranh-luận về vai-vế của Ađam và Evà hỏi rằng: tổ-tiên loài người có từ-bi nhân hậu hay không và nếu có, sẽ giống sắc-tộc nào vào thời nay. Vì là tranh và luận nên có 3 đấng bậc tranh nhau nói:

Đấng bậc gốc Pháp nói: “Hai vị tiên-tổ ấy sống và ăn mặc theo kiểu trần như nhộng trước mặt Đức Giavê, thì chỉ có thể là dân Pháp, mà thôi.

Đấng bậc rất Mỹ, lại cãi: “Không phải thế đâu. Đúng ra, họ tự-do luyến-ái đến mức lẽ ra có thể sống hạnh-phúc, nhưng có một điều là nếu không phạm vào điều cấm-kỵ,  mà chỉ có mỗi khát-vọng tự-do cá-nhân mà vẫn không chịu được sự cấm-đoán đó, thì chỉ có thể là dân Hoa-Kỳ, mà thôi.

Một đấng bậc khác nghe xong, vẫn thấy không ổn bèn góp ý, tuyên-bố: Không áo/quần, nhà cửa lại cũng không, thậm chí ăn có mỗi quả táo thôi cũng bị cấm, thế mà vẫn bảo là mình đang sống ở thiên-đường, thì chắc chắn đấy là người Anamít mình, thôi…”

Thôi thì, truyện kể thế nào cũng vẫn là chuyện phiếm rất kể lể. Kể, để cho vui, chứ đã chắc gì có thật. Sống đời đi Đạo tức sống Đạo rày cũng thế. Nhiều lúc và cũng lắm khi người người cứ kể vô số truyện hay cãi tranh rất nhiều thứ chỉ cốt để nói lên rằng mình nắm vững chân-lý rất phiến diện, mà thôi.
Nhận-định thế rồi, nay mời bạn và tôi ta cứ hiên-ngang cất tiếng hát lên câu ca trích dẫn ở trên chỉ để nói lên điều gì đó, rất dễ hiểu. Hát rằng:

“Sống sót trở về, linh mục dựng gác chuông
Chúa giáng ơn lành cho bổn đạo bốn phương
Sống sót trở về, nơi Phật đài ngát hương
Tiếng mõ chen vào lời Thượng Tọa xót thương.”

(Phạm Duy – bđd)

Và cứ thế, đề nghị bạn đề-nghị tôi, ta lại sẽ cùng mọi người rằng: khi suy về lòng từ-bi rất nhân-hậu của Đức Chúa hoặc phó bản sao chép của Đức Maria, ta cứ vui lòng thực-hiện nỗi niềm từ-bi/hỷ xả với mỗi người và mọi người. Ở trong đời

Trần Ngọc Mười Hai
dám mở miện ra mà
đề nghị bạn và tôi
rất như thế.