chia sẻ

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa 
Mùa Vọng Tuần III
13-19/12/2015
 
 
 
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
 

(mến tặng các tâm hồn khao khát Lời Chúa theo Phụng Vụ hằng ngày 
- ngày nào đọc ngày đó, không cần đọc hết một lúc nếu không có giờ.
Nếu cần xem lại các tuần trước, xin bấm vào cái link sau đây:
http://thoidiemmaria.net/TDM2015/SN-SD/index.html)
 
 
 

 

Chúa Nhật

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Xp 3, 14-18a

"Chúa sẽ hân hoan vì người".

Trích sách Tiên tri Xôphônia.

Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn! Chúa đã rút lại lời kết án ngươi và đã đẩy lui quân thù của ngươi. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn sợ khổ cực nữa.

Trong ngày đó, ở Giêrusalem thiên hạ sẽ nói rằng: Hỡi Sion, đừng sợ, tay ngươi sẽ hết rã rời! Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi, Người sung sướng reo mừng. Những kẻ hư hỏng bỏ lề luật, Ta sẽ quy tụ họ lại, vì họ cũng là con cái ngươi.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6

Ðáp: Hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì ở giữa ngươi có Ðấng Thánh của Israel thật cao cả (c. 6).

Xướng: 1) Ðây Thiên Chúa, Ðấng Cứu Chuộc tôi. Tôi sẽ tin tưởng mà hành động, tôi không run sợ: vì Thiên Chúa là sức mạnh của tôi và là Ðấng tôi ca ngợi. Người trở nên phần rỗi của tôi. - Ðáp.

2) Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng cứu độ: Hãy tung hô Chúa, hãy kêu cầu thánh danh Người, hãy công bố cho các dân tộc biết các kỳ công của Người, hãy nhớ rằng danh Người rất cao trọng. - Ðáp.

3) Hãy hát mừng Chúa, vì Người đã làm những việc cả thể, hãy công bố việc này trên khắp địa cầu. Hỡi dân Sion, hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì ở giữa ngươi, có Ðấng Thánh của Israel thật cao cả. - Ðáp.

 

Bài Ðọc II: Pl 4, 4-7

"Chúa gần đến".

Trích thơ Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Philipphê.

Anh em thân mến, anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên! Ðức ôn hoà của anh em phải sáng tỏ trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Is 61, 1 (x. Lc 1, 18)

Alleluia, alleluia! - Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 3, 10-18

"Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: "Vậy chúng tôi phải làm gì?" Ông trả lời: "Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy". Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?" Gioan đáp: "Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi". Các quân nhân cũng hỏi: "Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?" Ông đáp: "Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình".

Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: "Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng?" Gioan trả lời cho mọi người rằng: "Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!" Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.

Ðó là lời Chúa.

 


 

 

Suy niệm

 

nhập thể bóng dáng 

 

Chủ đề chung Mùa Vọng là "Lời đã hóa thành nhục thể" lại càng hiện tỏ hơn vào Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng hôm nay là thời điểm Chúa gần đến, như phụng vụ hôm nay của Giáo Hội mang một mầu hồng tươi vui chứ không còn mầu tím xám hối nữa.

 

Đúng thế, ngay trong Tuần Ba Mùa Vọng này, Giáo Hội sẽ bắt đầu tuần bát nhật trước Giáng Sinh, từ ngày 17 đến hết 24 tháng 12, một thời điểm với những bài Phúc Âm trực tiếp liên quan đến biến cố nhập thể và giáng sinh của Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế.

 

Bởi vậy, Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng hôm nay đây chẳng khác gì như một dạo khúc về mầu nhiệm và biến cố "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), Đấng sắp đến với dân của Chúa là thành phần đang trông đợi (thậm chí cho đến bây giờ) Người đến như một Vị Thiên Sai Cứu Độ.

 

Đó là lý do chúng ta thấy Bài Đọc 1 và 2, kể cả bài Đáp Ca đều có nội dung hân hoan vui mừng và đều kêu gọi dân Chúa hãy vui lên. 

 

Bài Đọc 1 hôm nay Tiên Tri Xôphônia đã kêu gọi dân Chúa hãy vui lên như sau: "Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn! Chúa đã rút lại lời kết án ngươi và đã đẩy lui quân thù của ngươi. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn sợ khổ cực nữa. Trong ngày đó, ở Giêrusalem thiên hạ sẽ nói rằng: Hỡi Sion, đừng sợ, tay ngươi sẽ hết rã rời! Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi, Người sung sướng reo mừng. Những kẻ hư hỏng bỏ lề luật, Ta sẽ quy tụ họ lại, vì họ cũng là con cái ngươi".

 

Bài Đáp Ca hôm nay Tiên Tri Isaia cũng kêu gọi dân Chúa hãy vui lên như thế này:

 

1) Ðây Thiên Chúa, Ðấng Cứu Chuộc tôi. Tôi sẽ tin tưởng mà hành động, tôi không run sợ: vì Thiên Chúa là sức mạnh của tôi và là Ðấng tôi ca ngợi. Người trở nên phần rỗi của tôi. 

 

2) Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng cứu độ: Hãy tung hô Chúa, hãy kêu cầu thánh danh Người, hãy công bố cho các dân tộc biết các kỳ công của Người, hãy nhớ rằng danh Người rất cao trọng. 

 

3) Hãy hát mừng Chúa, vì Người đã làm những việc cả thể, hãy công bố việc này trên khắp địa cầu. Hỡi dân Sion, hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì ở giữa ngươi, có Ðấng Thánh của Israel thật cao cả. 

 

Bài Đọc II Thánh Phaolô Tông Đồ cũng hợp với Bài Đọc 1 và Bài Đáp Ca đồng thanh kêu gọi Kitô hữu Giáo Đoàn Philiphê như sau: "Anh em thân mến, anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên! Ðức ôn hoà của anh em phải sáng tỏ trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô". 

 

Bài Phúc Âm hôm nay, tuy không thấy tỏ tường bầu khí và tính cách kêu gọi "hãy vui lên... vì Chúa đã gần đến" như Bài Đọc 1, Bài Đáp Ca và Bài Đọc 2, chúng ta cũng cảm thấy như có một cái gì đó gần đến khi thấy một Tiền Hô Gioan Tẩy Giả xuất hiện bằng chính ngôn từ của ngài, những ngôn từ được Thánh ký Luca kết thúc bài Phúc Âm hôm nay cho biết tính chất vui mừng ở lời của ngài như sau: "Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng".

 

Thật vậy, theo tiến trình của phụng vụ Lời Chúa trong Mùa Vọng chu kỳ Năm C, thì Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả chưa hoàn toàn xuất hiện cho đến chính Chúa Nhật III Mùa Vọng này. Ở bài Phúc Âm Chúa Nhật II Mùa Vọng, ngài mới chỉ được Chúa Kitô nói tới, và ở 3 ngày (Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bảy) cuối Tuần Thứ Hai Mùa Vọng vừa rồi cũng thế, ngài cũng chỉ mới được Chúa Giêsu nói tới mà thôi.

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đang đích thân thực hiện sứ vụ "rao giảng tin mừng cho dân chúng" chẳng những bằng lời nói của ngài mà còn bằng chính bản thân của ngài nữa. 

 

Trước hết, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đang thực hiện sứ vụ "rao giảng tin mừng cho dân chúng" bằng lời nói của ngài:

 

"Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: 'Vậy chúng tôi phải làm gì?' Ông trả lời: 'Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy'. Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: 'Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?' Gioan đáp: 'Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi'. Các quân nhân cũng hỏi: 'Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?' Ông đáp: 'Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình'".

 

Sau nữa, Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đang thực hiện sứ vụ "rao giảng tin mừng cho dân chúng" bằng chính bản thân của ngài:

 

"Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: 'Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng?' Gioan trả lời cho mọi người rằng: 'Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!' Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng".

 

Qua bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy một Tiền Hô Gioan Tẩy Giả xuất hiện để báo trước một Đấng đến sau ngài. Đầu tiên, ở phần đầu, ngài dọn lòng cho dân chúng đủ mọi thành phần đón chờ Đấng Thiên Sai Cứu Thế, rồi sau đó, ở phần cuối, ngài chính thức nói về Đấng Thiên Sai Cứu Thế là Đấng đến sau ngài cũng là Đấng cần ngài được sai đến trước để dọn đường cho Người.

 

Ngài đã dọn lòng cho dân chúng tùy theo hoàn cảnh xã hội của họ. Tiêu biểu cho những ai đến với ngài là ba thành phần: dân chúng nói chung, thu thuế và binh lính. Với cả 3 thành phần tiêu biểu trong dân chúng đến với ngài này, cho dù hoàn cảnh khác nhau, nhưng ngài vẫn khuyên một điều giống nhau đó là sống công bình bác ái yêu thương: 1- "Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy" (với dân chúng); 2- "đừng đòi gì quá mức đã ấn định" (với thu thuế); và 3- "Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình" (với binh lính).

 

Ngài quả thực đã thực hiện sứ mệnh dọn đường cho Đấng đến sau nơi dân chúng bằng cách, như bài Phúc Âm Chúa Nhật II Mùa Vọng tuần trước đã nói về những gì ngài cần phải làm đó là: "sửa đường Chúa cho ngay thẳng (với chung dân chúng trong Bài Phúc Âm hôm nay), lấp mọi hố sâu và bạt mọi núi đồi (với thành phần thu thuế); uốn ngay đường lối cong queo, san bằng đường lối gồ ghề (với thành phần binh lính)", nhờ thế "mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa", hay mới có thể nhận biết Đấng Thiên Sai Cứu Thế được ngài báo trước.

 

Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã chính thức làm chứng về Chúa Kitô, trước hết bằng cách phủ nhận mình không phải là "Đức Kitô" như dân chúng tự nhiên cảm nhận, một "Đức Kitô" là Đấng đến sau ngài nhưng lại là "Ðấng quyền năng hơn tôi - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người". Ở chỗ, trong khi ngài chỉ "lấy nước mà rửa", một phép rửa chỉ có tính cách thống hối chứ không có thể tha tội, thì "chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa", một phép rửa tái sinh con người để con người chẳng những được sự sống mà còn được sự sống viên mãn (xem Gioan 10:10), đến độ họ có thể trở thành chứng nhân cho Chúa Kitô như các vị tông đồ ở Giêrusalem trong ngày Lễ Ngũ Tuần sau khi đã lãnh nhận "phép rửa trong Thánh Thần" với hình lưỡi lửa đậu trên đầu từng vị (xem Tông Vụ 1:5,8;2:1-13).

 

Phần Kitô hữu chúng ta, đã "được tái sinh bởi trên cao" (Gioan 3:3), "bởi nước và Thánh Linh" (Gioan 3:5), khi lãnh nhận Phép Rửa, và sau đó cũng đã được rửa "trong lửa" nơi Bí Tích Thêm Sức để có thể làm chứng về Chúa Kitô và cho Chúa Kitô, "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14).

 

Thế nhưng, thực tế cho thấy, Kitô hữu chúng ta tự bản chất "là ánh sáng thế gian" (Mathêu 5:14) với vai trò là "chứng nhân của Thày cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 1:8) chẳng những không làm chứng về Chúa Kitô và cho Chúa Kitô mà còn có những xu hướng, ý nghĩ, ước muốn, chọn lựa, quyết định, ngôn từ, tác hành và phản ứng hoàn toàn phản chứng, chỉ là những gì phản Kitô, như hưởng thụ hơn phục vụ, gian dối hơn thành thật, tự cao hơn tự hạ, hận thù hơn tha thứ v.v.

 

Trong Mùa Vọng để dọn mừng đón Chúa Giáng Sinh năm nay cũng như hằng năm, nếu chúng ta là một người đang đứng chờ tới phiên xưng tội, chúng ta không cần phải hỏi "chúng tôi phải làm gì?" như 3 thành phần dân chúng trong Bài Phúc Âm hôm nay hỏi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, vì họ chưa biết Chúa Kitô là ai, nên mới hỏi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả mà họ tưởng là "Đức Kitô" như vậy. 

 

Kitô hữu chúng ta, theo đức tin, đã biết Người, Đấng đã đến, là ai, và vì thế chúng ta đã có thể biết được chúng ta đã sống xứng với Người hay chưa, để mà quyết tâm làm sao mỗi ngày một hơn Người có thể "thần hiển - theophany" một cách rạng ngời nơi thành phần chứng nhân chúng ta trước những ai đang khao khát thần linh và Ơn Cứu Độ của Vị Thiên Chúa vô cùng yêu thương nhân hậu của chúng ta. 

 

 

 

 

Thứ Hai

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Ds 24, 2-7. 15-17a

 

"Ngôi sao từ nhà Giacóp mọc lên".

Trích sách Dân Số.

 

Trong những ngày ấy, Balaam ngước mắt lên nhìn Israel cắm trại theo từng bộ lạc, và Thánh Thần Chúa ngự xuống trên ông, ông liền tuyên sấm và nói: "Lời sấm của Balaam, con ông Beor, lời sấm của người đang mở mắt; lời sấm của người nghe lời Thiên Chúa, của người chiêm ngắm Ðấng Toàn Năng, của người ngã mà mắt vẫn mở. Hỡi nhà Giacóp, doanh trại của ngươi đẹp biết bao! Hỡi Israel, chỗ cư ngụ của ngươi tốt dường nào! Nó rộng lớn như thung lũng, như những vườn bên dòng sông, như cây trầm hương mà Thiên Chúa đã trồng, như cây hương nam bên suối nước. Nước tràn ra khỏi thùng chứa, và hạt giống của ngươi được tưới dư dật. Vua ngươi sẽ trổi vượt Agag, và vương quốc ngươi sẽ uy hùng".

 

Balaam lại tuyên sấm và nói: "Lời sấm của Balaam, con của Beor, lời sấm của người đang mở mắt, lời sấm của người nghe lời Thiên Chúa, của người biết ý nghĩ Ðấng Tối Cao, của người xem thấy hình ảnh Ðấng Toàn Năng, của người ngã mà mắt vẫn mở. Tôi thấy Người, chưa phải bây giờ. Tôi thấy Người không phải gần. Một ngôi sao từ Giacóp mọc lên. Một phủ việt từ Israel xuất hiện".

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 24, 4bc-5ab. 6-7bc. 8-9

 

Ðáp: Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa (c. 4b).

 

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con. - Ðáp.

2) Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa. - Ðáp.

3) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài. - Ðáp.

 

Alleluia:

Alleluia, alleluia! - Chúa đến, hãy ra đón Người; chính Người là Hoàng tử Bình an. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 21, 23-27

 

"Phép rửa của Gioan bởi đâu mà có?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

 

Khi ấy Chúa Giêsu vào Ðền thờ. Lúc Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ lão trong dân đến hỏi Người rằng: "Ông lấy quyền nào mà làm những điều này? Ai đã ban quyền ấy cho ông?" Chúa Giêsu trả lời: "Tôi cũng hỏi các ông một điều. Nếu các ông trả lời cho tôi, thì tôi sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều đó. - Phép Rửa của Gioan bởi đâu mà có? Bởi trời hay bởi người ta?" Họ bàn tính với nhau rằng: "Nếu ta nói bởi trời, thì ông sẽ nói với ta: Vậy tại sao các ngươi không tin ông ấy? Và nếu ta nói bởi người ta, thì chúng ta lại sợ dân chúng. Vì mọi người coi Gioan như một vị tiên tri". Bấy giờ họ trả lời Chúa Giêsu rằng: "Chúng tôi không được biết". Chúa Giêsu nói với họ: "Tôi cũng không nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều đó".

 

Ðó là lời Chúa.

 


 

Suy niệm

 

nhập thể chứng từ

 

   

Hôm nay, Thứ Hai Mùa Vọng Tuần Thứ Ba, Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu thuật lại lời đối đáp giữa "các trưởng tế và kỳ lão trong dân" hỏi Chúa Giêsu trong "đền thờ" về thẩm quyền của Chúa Kitô, Đấng vừa ra tay đánh đuổi thành phần dân chúng buôn bán trong đền thờ, và cả câu Người trả lời họ.

 

"Khi ấy Chúa Giêsu vào Ðền thờ. Lúc Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ lão trong dân đến hỏi Người rằng: 'Ông lấy quyền nào mà làm những điều này? Ai đã ban quyền ấy cho ông?' Chúa Giêsu trả lời: 'Tôi cũng hỏi các ông một điều. Nếu các ông trả lời cho tôi, thì tôi sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều đó. - Phép Rửa của Gioan bởi đâu mà có? Bởi trời hay bởi người ta?' Họ bàn tính với nhau rằng: 'Nếu ta nói bởi trời, thì ông sẽ nói với ta: Vậy tại sao các ngươi không tin ông ấy? Và nếu ta nói bởi người ta, thì chúng ta lại sợ dân chúng. Vì mọi người coi Gioan như một vị tiên tri'. Bấy giờ họ trả lời Chúa Giêsu rằng: 'Chúng tôi không được biết'. Chúa Giêsu nói với họ: 'Tôi cũng không nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều đó'".

 

Ở đây, chúng ta không bàn đến những chi tiết nào khác ngoài chi tiết liên quan đến Mùa Vọng cũng là chi tiết liên quan tới chính bản thân của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cũng như đến phép rửa của ngài được Chúa Giêsu nhắc đến trong câu vừa trả lời vừa chất vấn của Người.

 

Tại sao Chúa Giêsu lại nhắc đến Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả của Người ở đây, trong trường hợp này, liên quan đến thẩm quyền thanh tẩy đền thờ của Người, và vào thời điểm sắp sửa xẩy ra biến cố Vượt Qua của Người? Vẫn biết, để chứng tỏ mình là ai và từ đâu đến, Chúa Giêsu chỉ cần chứng từ bởi trời là Cha của Người qua những việc Người làm cũng đủ và mới chính xác, chứ không cần đến chứng từ của loài người là Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này, như Người đã khẳng định cùng dân Do Thái như thế:

 

"Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật. Có Đấng khác làm chứng về tôi, và tôi biết: lời Người làm chứng về tôi là lời chứng thật. Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật. Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ. Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian. Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi".

 

 
Đúng vậy, chỉ vì lợi ích của chính thành phần lãnh đạo trong dân chất vấn Người mà Chúa Giêsu đã lấy chính chứng từ loài người để nhắc nhở họ, vì chính họ biết rằng Tiền Hô Gioan Tẩy Giả không phải là "Đức Kitô" mà là Đấng sau ngài, như chính vị tiền hô này đã chẳng những minh định mà còn chỉ cho dân chúng (bao gồm cả họ trong đó) thấy: "Kìa, Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Gioan 1:29). 
 
 
Chúa Giêsu còn nhắc nhở họ về việc họ đã từng tìm đến tận nơi ở và gặp tận mặt Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này: "Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật", như chính Thánh ký Gioan ghi lại về sự kiện không thể chối cãi này như sau: 
 
 
"Và đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông: 'Ông là ai?' Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: 'Tôi không phải là Đấng Ki-tô'. Họ lại hỏi ông: 'Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Ê-li-a không?' Ông nói: 'Không phải'. - 'Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?' Ông đáp: 'Không'. Họ liền nói với ông: 'Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông?' Ông nói: Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói. Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu. Họ hỏi ông: 'Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông Ê-li-a hay vị ngôn sứ?' Ông Gio-an trả lời: 'Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người'. Các việc đó đã xảy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa".
 
 
Qua câu vấn đáp giữa họ và vị mà họ tưởng là Đức Kitô, họ đã nghe chính miệng của vị này tuyên bố về tính chất trần gian nơi phép rửa của mình - "phép rửa trong nước", so với Đấng thẩm quyền hơn ngài nhưng đến sau ngài là Đấng "đang ở giữa các ông mà các ông không biết". 
 
 
Lời của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã hoàn toàn ứng nghiệm nơi thành phần lãnh đạo dân Do Thái này, ngay lúc bấy giờ, lúc Chúa Kitô vừa trả lời vừa chất vấn họ và gợi ý cho họ về bản thân Người, về Đấng được Tiền Hô Gioan Tẩy Giả nói đến, có thẩm quyền hơn cả ngài mà họ không biết, cho dù ngay lúc ấy Người đã tỏ uy quyền của Người ra trước mắt họ bằng việc đánh đuổi dân chúng bán buôn trong đền thờ linh thiêng, một hành động có tính cách thanh tẩy, như Người vừa làm phép rửa để tẩy sạch tất cả những gì là trần tục nhơ nhớp nơi dân của Người nói chung cũng như nơi đền thờ bị họ làm ô uế nói riêng, một hành động như thể báo trước về chính phép rửa Người sắp phải lãnh nhận nơi cuộc Vượt Qua của Người. 
 
 
Tuy nhiên, dầu sao thì họ vẫn có thiện chí tìm kiếm chân lý, cho dù chưa nhận ra chân lý, bởi thành kiến trần gian và khả năng thiển cận của họ. Bởi thế, Chúa Giêsu mới tiếp tục dùng hết cách để tỏ mình ra cho họ, và bởi thế họ mới cần được Người cứu độ. 
 
 
Câu hỏi của thành phần lãnh đạo trong dân về thẩm quyền của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay, ở một khía cạnh nào đó và một nghĩa nào đó, cũng cho thấy họ đang tìm kiếm chân lý và mong đợi Đấng Thiên Sai Cứu Thế, Đấng đã được mạc khải Cựu Ước tiên báo qua nhiều hình thức, bao gồm cả "lời sấm của Balaam" là một tiên tri dân ngoại, được sai đến để nguyền rủa dân Do Thái nhưng lại nói tiên tri ám chỉ về Đức Kitô: 
 
 
"Lời sấm của Balaam, con ông Beor, lời sấm của người đang mở mắt, lời sấm của người nghe lời Thiên Chúa, của người biết ý nghĩ Ðấng Tối Cao, của người xem thấy hình ảnh Ðấng Toàn Năng, của người ngã mà mắt vẫn mở. Tôi thấy Người, chưa phải bây giờ. Tôi thấy Người không phải gần. Một ngôi sao từ Giacóp mọc lên. Một phủ việt từ Israel xuất hiện".
 
Bài Đáp Ca hôm nay thật sự là phản ảnh những gì Chúa Giêsu làm với thành phần lãnh đạo dân Do Thái trong bài Phúc Âm hôm nay, một Đấng Cứu Độ nhân từ và nhẫn nại trong việc thông cảm và dẫn dắt con người mù tối và lầm lạc về với chân lý và theo chân lý của Người:

 

1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con.

 

2) Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa. 

 

3) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài. 

Ngày 14: Thánh Gioan Thánh Giá, linh mục Tiến Sĩ Hội Thánh

 

Thánh nhân sinh năm 1542 tại Fontibéros nước Tây Ban Nha. Sau quãng đời niên thiếu phải làm lụng vất vả, ngài đã vào dòng Carmêlô tận hiến cho Chúa năm 1563. Hôm trước ngày thụ phong linh mục (1567), ngài đã gặp thánh Têrêxa cả, một cuộc gặp gỡ quyết định hướng đi cho cuộc sống của ngài. Lúc bấy giờ thánh Têrêxa đang cố gắng đưa dòng Carmêlô trở về tuân giữ những quy chế đầu tiên, đã viết như sau: "Mặc dù thân xác nhỏ bé nhưng tôi tin rằng tâm hồn ngài thật quảng đại dưới mắt Thiên Chúa". Ngài đã cộng tác trong công việc đó cho đến khi thánh nữ qua đời (1582). Ngài mang tên hiệu là Gioan Thánh Giá cùng với hai người bạn đã tìm đến và sống trong một túp lều tồi tàn tại Duruelo. Nhưng cả nhà dòng đều chống lại cuộc cải cách của các ngài. Năm 1577, ngài bị giam tại một căn phòng ở Tolède, và ngài đã trốn thoát khỏi đó chín tháng sau. Trong thời gian này, ngài đã sáng tác những lời thơ thần bí nổi tiếng nhất. Ít lâu sau, cuộc cải cách của ngài được chấp thuận và ngài được trao phó nhiều chức vụ quan trọng trong nhà dòng. Cuộc đời của ngài như một ngọn lửa tình yêu soi chiếu trong đêm tối để hướng dẫn cho dòng Carmêlô. Ngài đã bay lên tới đỉnh trọn lành và sẵn sàng nâng đỡ những ai bước theo đức tin với một nếp sống đơn sơ. "Nếu nơi nào không có tình yêu, chúng ta hãy thắp lên một ngọn lửa tình yêu vào đó và chúng ta sẽ nhận được ánh sáng của tình yêu. Và khi cuộc đời chấm dứt, chúng ta sẽ được xét xử căn cứ vào tình yêu". Năm 1591, một cơn bệnh trầm trọng đã đưa ngài về với Chúa, hưởng thọ 59 tuổi. 

Ðức Piô XI đã ban cho ngài tước hiệu "Tiến Sĩ Hội Thánh" năm 1926.

 


 

 

Thứ Ba

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Xp 3, 1-2. 9-13

 

"Chúa hứa ban ơn cứu độ cho những người nghèo khó".

 

Trích sách tiên tri Xôphônia.

 

Chúa phán: Khốn cho thành phản nghịch và ô uế, cho thành làm sự hung bạo. Nó không nghe lời, không chịu sửa dạy, không tin tưởng vào Thiên Chúa, không đến gần Chúa mình.

 

Bấy giờ Ta sẽ cho dân Ta môi miệng thanh sạch để mọi người kêu cầu danh Chúa và nhất tâm phụng sự Người. Từ phía bên kia các sông xứ Ethiôpi, con cái những kẻ tha hương kêu cầu Ta, đem lễ vật đến dâng cho Ta.

 

Ngày đó, ngươi sẽ không còn phải xấu hổ vì các lỗi lầm của ngươi đã phạm đến Ta. Vì Ta sẽ cất xa khỏi ngươi những kẻ chiến thắng kiêu căng và từ đây, ngươi sẽ mãi mãi được vinh quang trên núi thánh Ta. Ta sẽ để lại giữa ngươi một dân tộc nghèo khó và thiếu thốn và họ sẽ tin tưởng vào danh Chúa. Những người Israel còn sót lại sẽ không làm điều gian ác, không nói dối, người ta không thấy chúng nói lời phỉnh gạt. Chúng sẽ như đàn chiên ăn cỏ và nghỉ ngơi, và sẽ không ai làm phiền chúng.

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 6-7. 17-18. 19 và 23

 

Ðáp: Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe (c. 7a).

 

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc; miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Ngài. Trong Chúa, linh hồn tôi hãnh diện. Bạn nghèo hãy nghe và hãy vui mừng. - Ðáp.

2) Hãy nhìn về Chúa, để các bạn sẽ vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Ngài đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. - Ðáp.

3) Thiên Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Ngài cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. - Ðáp.

4) Thiên Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương tan nát. Thiên Chúa cứu chữa linh hồn tôi tớ của Ngài, và phàm ai tìm đến nương tựa nơi Ngài, người đó sẽ không phải đền bồi tội lỗi. - Ðáp.

 

Alleluia:

 

Alleluia, alleluia! - Này đây Chúa đến để cứu dân Người; hạnh phúc thay những ai sẵn sàng đón rước Chúa. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 21, 28-32

 

"Gioan đến và những kẻ tội lỗi tin ngài".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

 

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn cho cha!" Nó thưa lại rằng: "Con không đi". Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: "Thưa cha, vâng, con đi". Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?" Họ đáp: "Người con thứ nhất". Chúa Giêsu bảo họ: "Quả thật, Ta bảo các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài".

Ðó là lời Chúa.

 


 

Suy niệm

 

  nhập thể nhận thức    

 

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Mùa Vọng trong Tuần Thứ Ba hôm nay, tiếp theo ngay sau Bài Phúc Âm hôm qua, vẫn liên quan đến Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả và vẫn với thành phần lãnh đạo dân do Thái.

 

Nếu trong Bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Giêsu mới đặt vấn đề với thành phần lãnh đạo trong dân này, như để gợi ý cho họ suy nghĩ, một thành phần trả lời lập lửng nửa vời như chối từ sự thật được Người gợi lên trong câu trả lời mang tính cách chất vấn của Người, và chính câu trả lời "chúng tôi không biết" của họ đã cho thấy niềm tin của họ tới đâu và ra sao.

 

Bởi thế không lạ gị Chúa Giêsu đã phải sử dụng đến một dụ ngôn nữa ám chỉ về chính họ, hy vọng họ sẽ không còn chạy quanh chối cãi về tình trạng quanh quéo giả hình của họ nữa, đó là dụ ngôn 2 người con trước ý muốn của người cha mong đứa nào của ông cũng đi làm vườn nho cho ông. 

 

"Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: 'Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn cho cha!' Nó thưa lại rằng: 'Con không đi'. Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: 'Thưa cha, vâng, con đi'. Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?'" 

 

Nếu trong bài Phúc Âm hôm qua câu vừa trả lời vừa chất vấn của Chúa Giêsu với thành phần lãnh đạo trong dân chúng này liên quan đến phép rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã gián tiếp trả lời cho họ về thẩm quyền của Người được họ hạch hỏi Người họ không muốn trả lời, thì trong bài Phúc Âm hôm nay họ đã mắc bẫy Người khi lắng nghe dụ ngôn về 2 người con được cha sai đi làm vườn nho cho cha mình: "Họ đáp: 'Người con thứ nhất'". 

 

   Thấy họ đã rơi vào bẫy sự thật để nhờ đó sự thật mới có thể giải phóng họ (xem Gioan 8:32), "Chúa Giêsu bảo họ: 'Quả thật, Tôi bảo các ông hay, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài'".

 

   Ở đây, Chúa Giêsu như nhắc nhở thành phần lãnh đạo dân Do Thái này về hiện tượng Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã được chính Thánh ký Mathêu của bài Phúc Âm hôm nay thuật lại ở phần đầu Phúc Âm của ngài, liên quan đến chung dân chúng, trong đó bao gồm cả "những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài" cũng như chính thành phần lãnh đạo này như sau:

 

   "Hồi ấy, ông Gio-an Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng: 'Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần'. Ông chính là người đã được ngôn sứ I-sai-a nói tới: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. Bấy giờ, người ta từ Giê-ru-sa-lem và khắp miền Giu-đê, cùng khắp vùng ven sông Gio-đan, kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan. Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: "Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối...".

 
Căn cứ vào câu trả lời của thành phần lãnh đạo dân Do Thái cũng như vào câu xác nhận của Chúa Giêsu về câu trả lời đúng thật của họ, thì người con thứ nhất trong dụ ngôn hai người con được cha sai đi làm vườn nho cho ông là "những người thu thuế và gái điếm" (còn có thể bao gồm cả dân ngoại vốn bị chung dân Do Thái cho là tội lỗi - đồ bỏ), và người con thứ ám chỉ thành phần lãnh đạo dân Do Thái (bao gồm cả đa số thành phần biệt phái và luật sĩ giả hình đã bị Chúa Giêsu thậm tệ quở trách cho mà mở mắt ra - xem Mathêu nguyên đoạn 23). 
 
Tuy Thánh ký Mathêu trong bài Phúc Âm hôm nay không cho biết phản ứng của thành phần lãnh đạo dân Do Thái khi bị Chúa Giêsu ghép cho họ là hạng người con thứ có vẻ làm theo ý cha của mình nơi việc giữ kỹ lề luật nhưng thật ra chỉ là giả hình, không theo tinh thần của lề luật, không đúng như ý cha mong muốn, nhưng khi họ nghe xong dụ ngôn thứ hai về thành phần tá điền gian ác bất trung ngay sau đó (xem Mathêu 21:33-44), họ mới thật sự có thái độ về cả 2 dụ ngôn như thế này: "Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ" (câu 45-46). Có nghĩa là họ vẫn mù quáng và cứng lòng!
 
Trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thiên Chúa cũng đã dùng miệng Tiên Tri Xôphônia để nói trước về dụ ngôn 2 người con được Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay. 
 
Trước hết, về người con thứ mù quáng bất tuân: "Khốn cho thành phản nghịch và ô uế, cho thành làm sự hung bạo. Nó không nghe lời, không chịu sửa dạy, không tin tưởng vào Thiên Chúa, không đến gần Chúa mình". Sau đó về người con trưởng: "Bấy giờ Ta sẽ cho dân Ta môi miệng thanh sạch để mọi người kêu cầu danh Chúa và nhất tâm phụng sự Người. Từ phía bên kia các sông xứ Ethiôpi, con cái những kẻ tha hương kêu cầu Ta, đem lễ vật đến dâng cho Ta".
 
Bài Đọc 1 hôm nay còn cho thấy một Vị Thiên Chúa cứu độ qua Chúa Kitô là "Con Người đến để tìm kiếm và cứu với những gì hư hoại" (Luca 19:10) là những ai thuộc thành phần người con trưởng hoang đàng nhưng biết thống hối trở về với Ngài, "một dân tộc nghèo khó và thiếu thốn và họ sẽ tin tưởng vào danh Chúa. Những người Israel còn sót lại" như sau:
 

"Ngày đó, ngươi sẽ không còn phải xấu hổ vì các lỗi lầm của ngươi đã phạm đến Ta. Vì Ta sẽ cất xa khỏi ngươi những kẻ chiến thắng kiêu căng và từ đây, ngươi sẽ mãi mãi được vinh quang trên núi thánh Ta. Ta sẽ để lại giữa ngươi một dân tộc nghèo khó và thiếu thốn và họ sẽ tin tưởng vào danh Chúa. Những người Israel còn sót lại sẽ không làm điều gian ác, không nói dối, người ta không thấy chúng nói lời phỉnh gạt. Chúng sẽ như đàn chiên ăn cỏ và nghỉ ngơi, và sẽ không ai làm phiền chúng".

 

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa tâm tình hân hoan vui sướng của những con người cảm nghiệm thần linh về một Vị Thiên Chúa cứu độ của mình như sau:

 

1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc; miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Ngài. Trong Chúa, linh hồn tôi hãnh diện. Bạn nghèo hãy nghe và hãy vui mừng.

 

2) Hãy nhìn về Chúa, để các bạn sẽ vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Ngài đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. 

 

3) Thiên Chúa ra mặt chống người làm ác, để tẩy trừ di tích chúng nơi trần ai. Người hiền đức kêu cầu và Chúa nghe lời họ, Ngài cứu họ khỏi mọi nỗi âu lo. 

 

4) Thiên Chúa gần gũi những kẻ đoạn trường, và cứu chữa những tâm hồn đau thương tan nát. Thiên Chúa cứu chữa linh hồn tôi tớ của Ngài, và phàm ai tìm đến nương tựa nơi Ngài, người đó sẽ không phải đền bồi tội lỗi. 

 

 

 

 

Thứ Tư

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Is 45, 6b-8. 18. 21b-26

 

"Trời cao, hãy đổ sương mai!"

 

Trích sách Tiên tri Isaia.

 

Chính Ta là Chúa, và không có Chúa nào khác. Ta đã dựng nên ánh sáng và tối tăm. Ta đã dựng nên hạnh phúc và tai hoạ. Chính Ta là Thiên Chúa đã làm những sự ấy. Trời cao, hãy đổ sương mai! Ngàn mây, hãy mưa Ðấng Công Chính! Ðất hãy mở ra và trổ sinh Ðấng Cứu Ðộ, và đồng thời sự công chính hãy xuất hiện. Chính Ta là Chúa đã dựng nên loài người. Vì Thiên Chúa, Ðấng đã dựng nên các tầng trời, chính Người đã dựng nên địa cầu, đã tạo ra và làm cho (nó) bền vững. Người không dựng nên địa cầu hoang vu, nhưng đã dựng nên cho người ta ở, chính Người phán: Ta là Chúa và không có Chúa nào khác. Nào Ta chẳng phải là Chúa, và ngoài Ta, còn có Chúa nào khác đâu? Không có Thiên Chúa công bình và cứu độ nào khác ngoài Ta.

 

Hỡi các người ở tận cùng trái đất, hãy trở lại cùng Ta và các ngươi sẽ được cứu thoát. Vì Ta là Thiên Chúa và không có Chúa nào khác. Ta lấy tên Ta mà thề; lời công chính phát xuất từ miệng Ta sẽ không trở lại: mọi gối sẽ quỳ xuống trước mặt Ta, và mọi lưỡi sẽ lấy tên Ta mà thề rằng: Nhờ Chúa mà tôi sẽ được công chính và sức mạnh. Người ta sẽ đến cùng Chúa, và mọi kẻ chống đối Người sẽ phải hổ thẹn. Toàn thể dòng dõi Israel sẽ được công chính hoá và được hiển vinh.

 

Ðó là lời Chúa.

 

 

Ðáp Ca: Tv 84, 9ab-10. 11-12. 13-14

 

Ðáp: Hỡi các tầng trời, hãy đổ sương mai! Hỡi ngàn mây, hãy mưa Ðấng Công Chính! (Is 45,8).

Xướng: 1) Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an. Vâng, ơn cứu độ Chúa gần đến cho những ai tôn sợ Chúa, để vinh quang Chúa ngự trị trong đất nước chúng ta. - Ðáp.

2) Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau, đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh từ trời nhìn xuống. - Ðáp.

3) Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất nước chúng ta sẽ sinh bông trái. Ðức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt bước của Người. - Ðáp.

 

Alleluia:

Alleluia, alleluia! - Chúa đến, hãy ra đón Người, chính Người là Hoàng tử Bình an. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 7, 19-23 (Hl 18b-23)

 

"Hãy thuật lại với Gioan những điều các ông đã nghe và đã thấy".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

 

Khi ấy, Gioan gọi hai người trong số môn đệ của mình, sai họ đến thưa Chúa Giêsu rằng: "Ngài là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải chờ đợi Ðấng nào khác?" Khi những người này đến cùng Chúa Giêsu, họ thưa Ngài rằng: "Gioan Tẩy Giả sai chúng tôi đến hỏi Ngài: Ngài có phải là Ðấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác?" Ngay lúc đó, Chúa chữa những người khỏi bệnh hoạn tật nguyền và quỷ ám, và cho nhiều người mù được thấy. Ngài đáp lại rằng: "Các ông hãy về thuật lại cho Gioan những điều các ông đã nghe và đã thấy: người mù xem được, người què đi được, người phong hủi được sạch, kẻ điếc nghe được, người chết sống lại, kẻ nghèo khó được rao giảng tin mừng; và phúc cho ai không vấp phạm vì Ta".

 

Ðó là lời Chúa.

 


 

Suy niệm

 

  nhập thể phải đến   

 

 Hôm nay, Thứ Tư Tuần III Mùa Vọng, Bài Phúc Âm theo Thánh ký Luca hôm nay là bài Phúc Âm chuyển tiếp rất hay, rất khít khao với Tuần Bát Nhật trước Lễ Giáng Sinh (17-24/12). Ở chỗ, chuyển từ Tiền Hô Gioan Tẩy Giả là vị được sai đến trước sang Đức Giêsu Kitô là Đấng đến sau ngài. 

 

Thật vậy, từ 3 ngày trong tuần cuối cùng của Tuần II Mùa Vọng cho tới hôm qua, Thứ Ba Tuần III Mùa Vọng, chúng ta thấy Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả xuất hiện qua những lời Chúa Giêsu nói trong các bài Phúc Âm khác nhau. Thế nhưng, hôm nay, trước khi bước vào Tuần Bát Nhật trước Giáng Sinh, với những bài Phúc Âm liên quan trực tiếp hướng đến hay dẫn đến biến cố Giáng Sinh, một Đức Giêsu Kitô xuất hiện nơi vấn nạn được các môn đệ của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đặt ra cho Người: "Ngài là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải chờ đợi Ðấng nào khác?"

 

   Tại sao có câu hỏi này, theo bài Phúc Âm hôm nay thì đó là do Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, bấy giờ đang bị quận vương Hêrôđê giam trong ngục, đã "gọi hai người trong số môn đệ của mình, sai họ đến thưa Chúa Giêsu" như thếVấn đề quan trọng được đặt ra ở đây là phải chăng vấn nạn này của chính Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, hay từ các môn đệ của vị tiền hô?

 

   Chẳng lẽ Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cảm thấy chán nản ở trong tù, vì không thấy Đấng đến sau ngài và quyền năng hơn ngài đến cứu ngài mà ngài có nẩy lên ý nghĩ ngờ vực về Đấng đã được ngài chẳng những tự mình nhận biết (xem Gioan 1:33-34) mà còn giới thiệu cho chung dân chúng (xem Gioan 1:29) cũng như cho riêng môn đệ của ngài (xem Gioan 1:35-36)? 

 

   Cũng không phải là không có thể xẩy ra với Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này như thế, như đã từng xẩy ra cho vị đại tiên tri Elia mà ngài là hậu thân như một Elia cần phải đến trước, như trong Bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần trước cho biết, một Elia ngày xưa vừa mới làm cho toàn dân Do Thái mở mắt ra mà bỏ thần Baal quay về với Thiên Chúa, lại cảm thấy lo sợ bị bà hoàng hậu vốn tôn sùng vị thần này hăm dọa lấy mạng, đến độ chạy trốn và tỏ ra chán nản (xem Sách Các Vua, quyển 1, đoạn 18 và 19).

 

   Nếu câu hỏi này không phải của chính Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả thì có thể từ các môn đệ của ngài thắc mắc về các công việc Chúa Giêsu làm, những việc làm theo như họ nhận xét có thể không được chính xác với những lời giới thiệu to tát của thày các vị trước kia về một Đấng đến sau, và vì thế nên các vị được Tiền Hô Gioan Tẩy Giả khuyên họ nên đi tìm chính Đức Kitô mà hỏi, như thành phần lãnh đạo Do Thái xưa đến hỏi ngài có phải là Đức Kitô chăng?

 

Không cần biết câu hỏi "Ngài là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải chờ đợi Ðấng nào khác?" từ chính Tiền Hô Gioan Tẩy Giả hay từ các môn đệ của ngài, chúng ta chỉ biết rằng, dường như là của chính Thánh Gioan Tẩy Giả, vì trong câu trả lời, Chúa Giêsu có nói rằng: "Các ông hãy về thuật lại cho Gioan những điều các ông đã nghe và đã thấy", và đồng thời cũng có thể là từ các môn đệ của ngài, bởi thế trong câu trả lời của mình, Chúa Giêsu đã tỏ cho họ thấy quyền năng của Người vượt hẳn thày của các vị: "người mù xem được, người què đi được, người phong hủi được sạch, kẻ điếc nghe được, người chết sống lại, kẻ nghèo khó được rao giảng tin mừng". 

 

 Vấn đề chính yếu trong bài Phúc Âm hôm nay không phải là câu hỏi "Ngài là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải chờ đợi Ðấng nào khác?" được đặt ra từ đâu mà có, từ chính Tiền Hô Gioan Tẩy Giả hay từ các môn đệ của ngài, nhưng là chính nội dung của câu Chúa Giêsu trả lời, một nội dung được Người vạch ra cho thấy sứ vụ cứu độ của Người là Đấng Thiên Sai Cứu Thế, một sứ vụ được thể hiện vào lúc ban đầu như dấu báo Ơn Cứu Độ sắp tới, qua việc Người chẳng những chữa lành phần xác cho dân chúng là thành phần đang trông chờ Người đến ("người mù xem được, người què đi được, người phong hủi được sạch, kẻ điếc nghe được, người chết sống lại"), mà còn cứu rỗi cả phần hồn ("kẻ nghèo khó được rao giảng tin mừng").

 

Phải, Thiên Chúa sai Con của Ngài xuống trần gian là để cứu độ trần gian, bởi Ngài là vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, Đấng đã tự hứa cứu độ loài người ngay từ ban đầu (xem Khởi Ngyên 3:15) thì Ngài không thể nào không hoàn thành, bằng bất cứ phương cách nào khôn ngoan thượng trí nhất (kể cả chuyện gây ra tai họa), lời hứa của Ngài, Đấng đã dựng nên con người là để cho họ được sống và sống viên mãn chứ không phải chết, như những gì Thiên Chúa đã nói qua miệng Tiên Tri Isaia trong Bài Đọc 1 hôm nay:

 

"Chính Ta là Chúa, và không có Chúa nào khác. Ta đã dựng nên ánh sáng và tối tăm. Ta đã dựng nên hạnh phúc và tai hoạ. Chính Ta là Thiên Chúa đã làm những sự ấy. Trời cao, hãy đổ sương mai! Ngàn mây, hãy mưa Ðấng Công Chính! Ðất hãy mở ra và trổ sinh Ðấng Cứu Ðộ, và đồng thời sự công chính hãy xuất hiện. Chính Ta là Chúa đã dựng nên loài người. Vì Thiên Chúa, Ðấng đã dựng nên các tầng trời, chính Người đã dựng nên địa cầu, đã tạo ra và làm cho (nó) bền vững. Người không dựng nên địa cầu hoang vu, nhưng đã dựng nên cho người ta ở, chính Người phán: Ta là Chúa và không có Chúa nào khác. Nào Ta chẳng phải là Chúa, và ngoài Ta, còn có Chúa nào khác đâu? Không có Thiên Chúa công bình và cứu độ nào khác ngoài Ta".

 

Bởi thế, muốn được cứu độ, con người cần phải tin tưởng vào Ngài và trông chờ chỉ một mình Ngài mà thôi, như Ngài kêu gọi con người ở đoạn cuối của Bài Đọc 1 hôm nay: 

 

"Hỡi các người ở tận cùng trái đất, hãy trở lại cùng Ta và các ngươi sẽ được cứu thoát. Vì Ta là Thiên Chúa và không có Chúa nào khác. Ta lấy tên Ta mà thề; lời công chính phát xuất từ miệng Ta sẽ không trở lại: mọi gối sẽ quỳ xuống trước mặt Ta, và mọi lưỡi sẽ lấy tên Ta mà thề rằng: Nhờ Chúa mà tôi sẽ được công chính và sức mạnh. Người ta sẽ đến cùng Chúa, và mọi kẻ chống đối Người sẽ phải hổ thẹn. Toàn thể dòng dõi Israel sẽ được công chính hoá và được hiển vinh".

 

Bài Đáp Ca hôm nay bày tỏ tấm lòng của con người hướng về Chúa và mong chờ Ơn Cứu Độ của Ngài, một Ơn Cứu Độ xẩy ra như một cuộc hội ngộ thần linh giữa trời và đất, giữa "lòng nhân hậu và trung thành", giữa "đức trung thành và đức công minh". 

 

1) Tôi sẽ nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ phán bảo về sự bình an. Vâng, ơn cứu độ Chúa gần đến cho những ai tôn sợ Chúa, để vinh quang Chúa ngự trị trong đất nước chúng ta.

 

2) Lòng nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau, đức công minh và sự bình an hôn nhau âu yếm. Từ mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh từ trời nhìn xuống. 

 

3) Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất nước chúng ta sẽ sinh bông trái. Ðức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt bước của Người. 


 

 

Thứ Năm 

Ngày 17/12

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: St 49, 2. 8-10

 

"Phủ việt sẽ không cất khỏi Giuđa".

 

Bài trích sách Sáng Thế.

 

Ngày ấy, Giacóp triệu tập con cái lại và nói rằng: "Hỡi con cái Giacóp, hãy hợp lại và nghe cha đây. Hỡi nhà Israel, hãy nghe lời cha của các con. Giuđa, anh em con sẽ ca tụng con. Bàn tay con sẽ đè trên ót quân thù; con cái của cha con sẽ phục lạy con. Giuđa là sư tử con, hỡi con của cha, con đã chồm lên bắt mồi, con đã nằm xuống nghỉ ngơi, như giống sư tử đực, tựa nòi sư tử cái, ai dám khiêu khích nó? Phủ việt sẽ không cất khỏi Giuđa, gậy chỉ huy không rời khỏi chân nó, cho đến lúc Ðấng thiên sai ngự đến, là Ðấng chư dân đợi trông".

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 71, 2. 3-4ab. 7-8. 17

 

Ðáp: Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người tới muôn đời (x. c. 7).

 

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người xét đoán dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực. - Ðáp.

2) Núi non đem an hoà cho dân, và nổng đồi mang lại đức công chính. Người bênh chữa kẻ hèn trong dân, và cứu thoát con cái nhóm nghèo. - Ðáp.

3) Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người, cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng. Và người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái đến tận cùng trái đất. - Ðáp.

4) Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người. - Ðáp.

 

Alleluia:

Alleluia, alleluia! - Lạy Ðức Thượng Trí của Ðấng Tối Cao, Ngài an bài mọi sự cách mạnh mẽ và dịu dàng, xin hãy đến dạy dỗ chúng con con đường khôn ngoan. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 1, 1-17

 

"Gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con vua Ðavít".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

 

Sách gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con vua Ðavít, con của Abraham. Abraham sinh Isaac; Isaac sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuđa và các anh em người. Giuđa sinh Phares và Zara bởi bà Thamar; Phares sinh Esrom; Esrom sinh Aram; Aram sinh Aminadab; Aminadab sinh Naasson; Naasson sinh Salmon; Salmon sinh Booz do bà Rahab; Booz sinh Giobed do bà Rút. Giobed sinh Giêsê; Giêsê sinh vua Ðavít.

 

Ðavít sinh Salomon do bà vợ của Uria; Salomon sinh Robo-am; Roboam sinh Abia; Abia sinh Asa; Asa sinh Giosaphát; Giosaphát sinh Gioram; Gioram sinh Ozia; Ozia sinh Gioatham; Gioatham sinh Achaz; Achaz sinh Ezekia; Ezekia sinh Manas-se; Manasse sinh Amos; Amos sinh Giosia; Giosia sinh Giêconia và các em trong thời lưu đày ở Babylon.

 

Sau thời lưu đày ở Babylon, Giêconia sinh Salathiel; Sala-thiel sinh Zorababel; Zorababel sinh Abiud; Abiud sinh Eliakim; Eliakim sinh Azor; Azor sinh Sađoc; Sađoc sinh Akim; Akim sinh Eliud; Eliud sinh Eleazar; Eleazar sinh Mathan; Mathan sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuse, là bạn của Maria, mẹ của Chúa Giêsu gọi là Ðức Kitô.

 

Vậy, từ Abraham đến Ðavít có tất cả mười bốn đời, từ Ðavít đến cuộc lưu đày ở Babylon có mười bốn đời, và từ cuộc lưu đày ở Babylon cho đến Chúa Kitô có mười bốn đời.

 

Ðó là lời Chúa.


 

Suy niệm

 

  nhập thể gia ph   

 

 

Hôm nay, ngày 17 trong tháng 12 trong Tuần III Mùa Vọng, ngày đầu tiên của Tuần Bát Nhật trước đại lễ Giáng Sinh, một thời điểm sẽ kéo dài cho tới Đêm Vọng Phục Sinh 24/12.

 

Phụng niên của Giáo Hội chỉ có 2 đại lễ có Tuần Bát Nhật, đó là Đại Lễ Giáng Sinh và Đại Lễ Phục Sinh, được gọi là Tuần Bát Nhật Giáng Sinh và Tuần Bát Nhật Phục Sinh, kể từ chính ngày của 2 đại lễ này. Tuy nhiên, cũng chỉ có 2 đại lễ này mới có thêm một tuần bát nhật đặc biệt trước chính đại lễ nữa. 

 

Đúng thế, nếu Đại Lễ Phục Sinh có Tuần Thánh, từ Chúa Nhật Lễ Lá mở màn cho Tuần Thương Khó và Tam Nhật Vượt Qua bao gồm cả chính Chúa Nhật Phục Sinh là 8 ngày, thì Đại Lễ Giáng Sinh cũng có tuần bát nhật trước, kể từ ngày 17/12 đến hết 24/12 hay đến Đêm Vọng Giáng Sinh.

 

Tuần Bát Nhật trước Đại Lễ Giáng Sinh là thời điểm sát với mầu nhiệm và biến cố Giáng Sinh, nên bao gồm những Bài Phúc Âm liên quan trực tiếp đến mầu nhiệm và biến cố Giáng Sinh, vừa hướng đến vừa dẫn đến Giáng Sinh, như chúng ta sẽ thấy. Chẳng hạn Bài Phúc Âm hôm nay về gia phả của Đấng Thiên Sai Cứu Thế Giêsu Kitô. 

 

Bài Phúc Âm hôm nay, nghe đọc có vẻ buồn chán, vì trong đó chất chứa toàn là tên với tên, và rất ư là đơn điệu, cứ lập đi lập lại cùng một công thức ngoại trừ thay tên của các nhân vật theo thứ tự được liệt kê trong gia phả. Thế nhưng, về nội dung lại rất ư là quan trọng và bất khả thiếu? Tại sao - vì chính gia phả này là chứng cớ hiển nhiên và hùng hồn nhất cho thấy có một nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét thật, có cha mẹ và tổ tiên trần gian đàng hoàng, chứ không phải là một nhân vật hoang đường, do loài người tạo tĩnh như trong tiểu thuyết hoặc thuộc dã sử. 

 

Có hai gia phả được hai thánh ký thuật lại, nhưng hoàn toàn ngược chiều nhau. Gia phả thứ nhất được Thánh ký Mathêu ghi lại, và vì Phúc Âm của ngài được viết cho dân Do Thái nên gia phả ngài ghi lại để mở đầu của cuốn Phúc Âm của ngài (1:1-17), tính từ tổ phụ Abraham trở xuống dưỡng phụ Giuse của Chúa Kitô, còn gia phả được Thánh ký Luca thuật lại (3:23-38), và vì Phúc Âm của ngài viết cho dân ngoại, nên tính ngược lại từ chính chúa Giêsu về tới Adong là tổ tông của chung loài người.

 

Sở dĩ Giáo Hội không chọn gia phả trong Phúc Âm Thánh Luca, cho dù là chu kỳ phụng vụ Năm C, là vì gia phả của vị thánh ký này được liệt kê ngay sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, chứ không phải ngay từ đầu trước khi Chúa Kitô sinh vào trần gian như Thánh ký Mathêu. Vả lại, Chúa Giêsu tuy mặc lấy chung bản tính loài người nhưng lại sinh ra bởi giòng dõi Do Thái, nên cần phải căn cứ vào gia phả liên quan đến huyết thống của Người nơi dân Do Thái, từ tổ phụ Abraham và vương phụ Đavít của Người. 

 

Gia phả theo Thánh ký Mathêu trong Bài Phúc Âm hôm nay được chia làm 3 giai đoạn đều nhau, cứ 14 đời một giai đoạn, như chính bài Phúc Âm cho thấy: "Vậy, từ Abraham đến Ðavít có tất cả mười bốn đời, từ Ðavít đến cuộc lưu đày ở Babylon có mười bốn đời, và từ cuộc lưu đày ở Babylon cho đến Chúa Kitô có mười bốn đời". 

 

   Ngoài chi tiết về đặc điểm có 3 giai đoạn đều nhau này, gia phả theo Thánh ký Mathêu trong bài Phúc Âm hôm nay còn có một đặc điểm khác nữa đó là bao gồm cả nữ giới thay vì chỉ có nam nhân như trong gia phả theo Thánh ký Luca. Mà thành phần nữ giới 5 vị này không phải toàn tòng Do Thái và hoàn toàn thánh đức. Chẳng hạn như 4 trong 5 phụ nữ au đây:

 

   1- "Bà Thamar", vợ của Giuđa sinh ra Phares, đồng thời bà này cũng chính là con dâu góa chồng của tổ phụ Giuđa, đã đánh lừa để ăn nằm với chính bố chồng của mình vì ông không giữ lời hứa gả đứa con trai thứ ba cho cô (xem Khởi Nguyên 38:1-30); 

   2- "Bà Rahab", vợ của Salmon sinh ra Boaz, ông cố tổ của Vua Đavít, vốn là một con điếm thuộc dân ngoại, người đã từng cứu các thám tử của dân Do Thái dò tham Đất Hứa và đang bị truy lùng (xem Gioduệ 2:1-24); 

   3- "Bà Ruth", vợ của ông Boaz sinh ra Giobed là ông nội của Vua Đavít, là một người đàn bà xuất thân từ dân ngoại (xem Ruth 1:1-22); 

   4- "Vợ của Uria", vợ của Vua Đavít sinh ra Vua Solomon, người đàn bà đã ăn nằm với Vua Đavít khi chồng còn sống khi được vua triệu vào cung (xem 2Samuel 11:1-27).

 

   Như thế, trong 5 người phụ nữ được liệt kê tên trong gia phả của Đấng Thiên Sai Cứu Thế này, 2 thuộc dân ngoại và 2 không trong sạch (ngoại tình), đúng hơn là 3 vì có một phụ nữ vừa dân ngoại vừa làm điếm nữa, chỉ có một mình Mẹ Maria là Mẹ của Chúa Giêsu trọn đời trinh nguyên. Chúng ta có thể đặt vấn đề là tại sao Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa lại được sinh ra bởi một giòng dõi bao gồm những người nữ chẳng những thuộc dân ngoại mà còn không trong sạch nữa? 

 

   Xin thưa, vì là giòng dõi loài người mắc nguyên tội không thể nào tránh khỏi những gì là xấu xa gây ra bởi mầm mống nguyên tội, và vì thế bản tính bị hư hoại bởi nguyên tội mới cần phải được cứu chuộc bằng việc chính Con Thiên Chúa làm người mặc lấy. Tuy nhiên, chính nhân tính của Người được sử dụng như phương tiện bất khả thiếu để cứu chuộc nhân loại lại hoàn toàn không bị ảnh hưởng huyết thống hư hoại tội lỗi này. Vì Người được thụ thai và hạ sinh bởi một trinh nữ và bởi quyền phép Thánh Linh chứ không phải bởi huyết nhục loài người.

 

   Bài Đọc 1 hôm nay ghi lại lời tổ phụ Giacóp trước kia qua đời đã nói tiên tri về Giuđa là đứa con trai thứ tư trong 12 người con trai của ông, vì Đấng Thiên Sai Cứu Thế được xuất phát từ chi họ Giuđa này:

 

"Ngày ấy, Giacóp triệu tập con cái lại và nói rằng: 'Hỡi con cái Giacóp, hãy hợp lại và nghe cha đây. Hỡi nhà Israel, hãy nghe lời cha của các con. Giuđa, anh em con sẽ ca tụng con. Bàn tay con sẽ đè trên ót quân thù; con cái của cha con sẽ phục lạy con. Giuđa là sư tử con, hỡi con của cha, con đã chồm lên bắt mồi, con đã nằm xuống nghỉ ngơi, như giống sư tử đực, tựa nòi sư tử cái, ai dám khiêu khích nó? Phủ việt sẽ không cất khỏi Giuđa, gậy chỉ huy không rời khỏi chân nó, cho đến lúc Ðấng thiên sai ngự đến, là Ðấng chư dân đợi trông'".

 

Bài Đáp Ca hôm nay cũng hướng về Đấng Cứu Thế Thiên Sai được gọi là "hoàng tử", một vị hoàng tử hòa bình với một triều đại vô cùng bất tận:

 

1) Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người xét đoán dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực. 

 

2) Núi non đem an hoà cho dân, và nổng đồi mang lại đức công chính. Người bênh chữa kẻ hèn trong dân, và cứu thoát con cái nhóm nghèo. 

 

3) Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người, cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng. Và người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái đến tận cùng trái đất. 

 

4) Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người.


 

 

Thứ Sáu 

Ngày 18/12

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Gr 23, 5-8

 

"Ta sẽ gây cho Ðavít một mầm giống công chính".

 

Bài trích sách Tiên tri Giêrêmia.

 

Này đây, đã tới những ngày Ta gây cho Ðavít một mầm giống công chính, mầm giống này sẽ làm vua thống trị, sẽ là người khôn ngoan, thực hiện công lý và đức công bình trên đất nước. Những ngày ấy, Giuđa sẽ được cứu thoát, Israel sẽ được an cư, và chúng sẽ gọi tên Người là "Chúa công bình của chúng ta".

 

Chúa phán: "Vì thế, đã đến ngày chúng không còn nói được rằng: "Chúa hằng sống, Người đã đưa con cái Israel ra khỏi đất Ai-cập", nhưng chúng nói: "Chúa hằng sống, Người đã đưa dòng dõi nhà Israel ra khỏi đất Bắc"; (và) từ các nước chúng bị Ta phân tán, Ta dẫn đưa chúng về quê hương.

 

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 71, 2. 12-13. 18-19

 

Ðáp: Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người tới muôn đời (x. c. 7).

 

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người xét đoán dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực. - Ðáp.

 

2) Người sẽ giải thoát kẻ nghèo khó khỏi tay kẻ quyền thế, và sẽ cứu người bất hạnh không ai giúp đỡ. Người sẽ thương xót kẻ yếu đuối và người thiếu thốn, và cứu thoát mạng sống kẻ cùng khổ. - Ðáp.

 

3) Chúc tụng Chúa là Thiên Chúa Israel, một mình Người làm những việc lạ lùng. Chúc tụng muôn đời vinh danh Chúa, khắp hoàn cầu đầy dẫy vinh quang Người. - Ðáp.

 

Alleluia:

 

Alleluia, alleluia! - Lạy Ðấng Thủ lãnh nhà Israel, Ngài đã ban lề luật cho Môsê trên núi Sinai, xin hãy đến mà ra tay cứu chuộc chúng con. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 1, 18-24

 

"Chúa Giêsu sẽ sinh bởi Ðức Trinh Nữ Maria, vị hôn thê của Thánh Giuse, thuộc dòng dõi Ðavít".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

 

Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse bạn của Bà là người công chính, không muốn tố cáo Bà, định tâm lìa bỏ Bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: "Hỡi Giuse, con vua Ðavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần: Bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội".

 

Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng tiên tri phán xưa rằng: "Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta".

 

Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền: Ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu.

 

Ðó là lời Chúa.

 


 

Suy niệm

 

 nhập thể trinh nguyên  

 

Bài Phúc Âm cho ngày 18/12 trong Tuần Bát Nhật tiền Giáng Sinh hôm nay tiếp ngay sau bài Phúc Âm cho ngày 17/12 hôm qua. Vì bài Phúc Âm hôm qua ghi lại gia phả của Đấng Thiên Sai Cứu Thế, từ tổ phụ Abraham tới dưỡng phụ Giuse của Người, và hôm nay về chính vị dưỡng phụ Giuse này.

 

"Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse bạn của Bà là người công chính, không muốn tố cáo Bà, định tâm lìa bỏ Bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: 'Hỡi Giuse, con vua Ðavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần: Bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội'".

 

Theo gia phả của Đấng Thiên Sai, như chúng ta đã thấy, trong 5 người phụ nữ được liệt kê, có đến 3 người không trong sạch liên quan đến chuyện xác thịt: 1 con điếm dân ngoại và 2 người vợ ngoại tình, còn 1 người nữa là dân ngoại cũng kể như không trong sạch trước mắt dân Do Thái. Trường hợp của người đàn bà thứ năm là Maria, theo con mắt tự nhiên nói chung, nhất là trước con mắt của người chồng đã đính hôn của nàng là Giuse vốn là một "con người công chính" thì kể như nàng thậm chí còn tệ hơn nữa, vì nàng là người vợ chưa cưới nhưng đã "chửa hoang"!

 

Chính trong trường hợp này, trường hợp thật sự là bất khả chấp trước con mắt thế gian nói chung và những ai "công chính" nói riêng, như người chồng chưa cưới Giuse của nàng Maria, một con người luôn hết mình coi trọng và hết sức tuân giữ lề luật của Chúa với lương tâm chân chính, thì nàng Maria, đáng lẽ theo luật, cần phải bị tố cáo và bị ném đá chết, như trường hợp của người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình ở Phúc Âm Thánh Gioan (xem 8:1-11).

 

Thế nhưng, Thiên Chúa là Đấng vô cùng khôn ngoan thượng trí đã cố ý muốn, (chứ không phải làm ngơ để xẩy ra như vậy), câu chuyện tình duyên của hai con người phải nói là thánh thiện nhất loài người được Ngài liên kết trong tình nghĩa vợ chồng đây xẩy ra một cách vô cùng oái oăm oan nghiệt như vậy. Để làm gì? Phải chăng chỉ để khách quan cho thấy rằng: Đấy nhé, Đấng Thiên Sai là Con của Ngài được Ngài sai xuống trần gian hoàn toàn được "thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần", chứ "không phải bởi huyết nhục, bởi ý muốn nhục dục, hay bởi ý muốn của nam nhân" (Gioan 1:13).

 

Ở đây, ngay trong trường hợp này, chúng ta đã thấy được bóng thánh giá của Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, ở chỗ, vừa mới được thụ thai được ít lâu, khoảng hơn 3 tháng, tức sau biến cố thai mẫu của Người đi thăm viếng người chị họ Isave về (xem Luca 1:56), đã bị coi như là một đứa "con hoang" trước mắt trần gian, cùng với người mẹ đồng công của Người, cũng bị coi như là một người vợ chưa cưới "chửa hoang" theo cảm nghĩ của người đời.

 

Thế nhưng, chính vì là việc của Thiên Chúa, mà cho dù nàng Maria có linh cảm được cái nguy hiểm gây ra bởi những bất hạnh theo luật có thể xẩy ra cho nàng, vì trong thời gian đính hôn, có những lúc nàng không thể nào tránh né được chuyện gặp mặt vị hôn phu chưa cưới của nàng, nàng vẫn nhất định không hề đính chính hay tự vệ tí nào, trái lại vẫn tiếp tục hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, như nàng đã tin tưởng đến độ vô cùng liều lĩnh khi đáp lời truyền tin của thiên sứ Gabiên trong việc chấp nhận thụ thai "Con Đấng Tối Cao... Con Thiên Chúa" (Luca 1:32,35).

 

Quả thật, vì là việc của Thiên Chúa, nên chính Ngài đã ra tay can thiệp cho Con của Ngài cũng là cho người nữ đã được Ngài tuyển chọn từ đời đời làm người mẹ trinh nguyên thụ thai, cưu mang và hạ sinh Con của Ngài trên trần gian, như được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại. 

 

Việc Thiên Chúa can thiệp đây đồng thời cũng là việc Thiên Chúa muốn cứu cả vị hôn phu chưa cưới của người mẹ đồng công và là vị dưỡng phụ tương lai của người con cứu chuộc này, một con người công chính đã có một quyết định, theo chủ quan, thật là bác ái yêu thương, mặc dù, theo khách quan, vẫn có thể nguy hại cho người vợ chưa cưới của ngài, ở chỗ, khi nàng sinh con mà lại không thấy chồng nàng đâu, nàng cũng bị ném đá chết thôi.

 

Và như thế, tất cả những gì được tiên báo về hai mẹ con được Thiên Chúa ngay từ ban đầu đã tiền định cùng nhau mang lại Ơn Cứu Độ cho trần gian (xem Khởi Nguyên 3:15) hoàn toàn được ứng nghiệm, chẳng những nhờ lòng tin của người mẹ mà còn nhờ đức công chính theo tinh thần bác ái yêu thương hơn là duy luật của vị dưỡng phụ nữa, một cặp vợ chồng thật lý tưởng của Con Thiên Chúa làm người, như được Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại:

 

"Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng tiên tri phán xưa rằng: 'Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta'. Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền: Ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu".

 

Biến cố và sự kiện Đấng Thiên Sai Cứu Thế xuất hiện trên trần gian này không thể nào không xẩy ra, đúng như lời Thiên Chúa đã hứa với hai nguyên tổ ngay sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:15). Bởi thế, không có gì có thể gây trở ngại hay làm hỏng chuyện này, như trường hợp được Phúc Âm hôm nay ghi lại ở phần đầu. 

 

Con Thiên Chúa chẳng những được tiên báo sinh ra bởi một trinh nữ mà còn, theo gia phả của mình, từ giòng dõi Vua Đavít nữa, bên dưỡng phụ Giuse của Người cũng thuộc về chính giòng dõi vương đế này, một giòng dõi ám chỉ đến vương quốc bất diệt của Người (xem Luca 1:32-33), đã được Thiên Chúa qua Tiên Tri Giêrêmia nhắc lại trong Bài Đọc 1 hôm nay để trấn an dân Ngài và tác động lòng trông đợi của họ:

 

"Này đây, đã tới những ngày Ta gây cho Ðavít một mầm giống công chính, mầm giống này sẽ làm vua thống trị, sẽ là người khôn ngoan, thực hiện công lý và đức công bình trên đất nước. Những ngày ấy, Giuđa sẽ được cứu thoát, Israel sẽ được an cư, và chúng sẽ gọi tên Người là 'Chúa công bình của chúng ta'".

 

Bài Đáp Ca hôm nay mang một tâm tình trông ngóng hướng về Vị "Thiên Chúa Israel" và về Đấng Thiên Sai được Ngài sai đến như một "đức vua", như một "hoàng tử" để cứu độ những ai đáng thương của Ngài:

 

1) Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người xét đoán dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực. 

 

2) Người sẽ giải thoát kẻ nghèo khó khỏi tay kẻ quyền thế, và sẽ cứu người bất hạnh không ai giúp đỡ. Người sẽ thương xót kẻ yếu đuối và người thiếu thốn, và cứu thoát mạng sống kẻ cùng khổ. 

 

3) Chúc tụng Chúa là Thiên Chúa Israel, một mình Người làm những việc lạ lùng. Chúc tụng muôn đời vinh danh Chúa, khắp hoàn cầu đầy dẫy vinh quang Người. 

 

 

 

Thứ Bảy 

Ngày 19/12

 

Lời Chúa

 

Bài Ðọc I: Judic 13, 2-7, 24-25a

 

"Thiên Thần báo trước việc Samson sinh ra".

 

Bài trích sách các Thẩm Phán.

 

Ngày ấy có một người đàn ông, bởi đất Sara và thuộc chi họ Ðan, tên là Manuel, có người vợ son sẻ.

Thiên Thần Chúa hiện ra nói với bà ấy rằng: "Ngươi son sẻ không con; nhưng sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai.

Vậy ngươi hãy cẩn thận, đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn món gì không thanh sạch.

Vì ngươi sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai.

Lưỡi dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó; nó là người được hiến dâng cho Thiên Chúa từ thuở nhỏ và từ lòng mẹ; chính nó sẽ bắt đầu giải phóng Israel khỏi tay người Phi-li-tinh."

Bà nầy đi nói với chồng rằng: "Có một người của Thiên Chúa đến cùng tôi, với diện mạo Thiên Thần, rất đáng sợ.

Tôi hỏi người ấy là ai, bởi đâu đến, gọi tên gì.

Người ấy không muốn nói cho tôi biết.

Nhưng lại trả lời rằng: "Rồi đây, ngươi sẽ được thụ thai và hạ sinh một con trai: hãy cẩn thận, đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn món gì không thanh sạch.

Vì con trẻ sẽ là người được hiến dâng cho Thiên Chúa từ thuở nhỏ và từ trong lòng mẹ, cho đến ngày nó chết".

Bà đã hạ sinh một con trai, và gọi tên là Samson.

Hài nhi lớn lên, và Chúa đã chúc phúc cho nó.

Và thần tri Chúa bắt đầu ở với nó.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv. 70, 3-4a, 5.6ab, 16-17

 

Ðáp: Xin cho miệng tôi chứa chan lời khen ngợi, để tôi ca tụng vinh quang của Chúa.

 

Xướng 1) Lạy Chúa, xin hãy nên núi đá trú ẩn và thành trì kiên cố cho tôi, để cứu tôi: Vì Chúa là núi đá và thành trì của tôi. Lạy Chúa, xin giựt tôi khỏi bàn tay gian ác. - Ðáp.

 

2) Vì Chúa là Ðấng tôi mong đợi, lạy Thiên Chúa của tôi! Lạy Chúa là Ðấng tôi cậy trông, từ thời còn niên thiếu. Từ lòng mẹ, tôi nương tựa nơi Chúa, từ dạ mẹ, Chúa là Ðấng bảo vệ tôi. - Ðáp.

 

3) Tôi sẽ thuật lại quyền năng Thiên Chúa, lạy Chúa, tôi ghi nhớ sự công chính của một mình Chúa, lạy Chúa, Chúa đã dạy tôi từ thời còn niên thiếu, các kỳ công Chúa, tôi cao rao đến bây giờ. - Ðáp.

 

Alleluia:

 

Alleluia, alleluia - Hỡi gốc Giê-sê, Chúa đang đứng như báo hiệu của chư dân, xin hãy đến cứu thoát chúng tôi, và đừng trì hoãn nữa.- Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 1, 5-25

 

"Thiên Thần Gabriel báo trước việc Gioan Tẩy Giả sinh ra".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

 

Vào thời Hêrôđê làm vua xứ Giuđêa, có một tư tế tên là Giacaria, thuộc phiên ban Abia, và vợ ông bởi dòng dõi Aaron, tên là Elisabéth.

 

Cả hai là người công chính trước mặt Thiên Chúa, ăn ở theo mọi giới răn và lề luật của Chúa, không ai trách được điều gì.

 

Nhưng họ lại không con, vì Elisabéth son sẻ, và cả hai đã đến tuổi già.

 

Xảy ra khi Giacaria chu toàn chức vụ tư tế trước mặt Thiên Chúa, theo lượt của phiên mình như tục lệ hàng tư tế, ông bắt thăm và trúng việc vào cung thánh Chúa mà dâng hương.

 

Ðang lúc toàn thể đám đông dân chúng cầu nguyện bên ngoài, trong giờ dâng hương.

 

Bấy giờ Thiên Thần Chúa hiện ra cùng ông, đứng bên phải hương án.

 

Giacaria thấy vậy hoảng hốt, sự kinh hoàng đột nhập vào ông.

 

Nhưng Thiên Thần nói với ông rằng: "Giacaria, đừng sợ, vì lời ngươi cầu nguyện đã được nhậm rồi.

 

Elisabéth  vợ ngươi sẽ hạ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ gọi tên trẻ là Gioan.

 

Ngươi sẽ được vui mừng hân hoan, và nhiều người cũng sẽ vui mừng, vì việc trẻ sinh ra.

 

Vì trẻ nầy sẽ nên cao trọng trước mắt Chúa, sẽ không uống rượu và thức có men, sẽ được tràn đầy Thánh Thần ngay từ lòng mẹ, sẽ đem nhiều con cái Israel trở về cùng Chúa là Thiên Chúa.

 

Trẻ nầy sẽ đi trước Người, trong thần trí và quyền lực của Elia, để đổi lòng dạ cha ông về với con cháu, kẻ ngổ nghịch về lại với lương tri của những người công chính, dọn cho Chúa một đoàn dân chuẩn bị.

 

Giacaria thưa với Thiên Thần rằng: "Làm sao tôi biết được, vì tôi đây đã già, và vợ tôi cũng đã cao niên?"

 

Thiên Thần liền đáp: "Ta là Gabriel, ta đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, ta được sai đến nói với ngươi, và báo cho ngươi tin lành nầy.

 

Thì đây, ngươi sẽ nín câm và không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra; bởi vì ngươi đã không tin lời ta, là những lời sẽ nên trọng khi đến thời của chúng".

 

Dân chúng đang trông đợi Giacaria, lấy làm lạ vì ông ở lâu trong cung thánh.

 

Nhưng lúc ra, ông không nói được, và họ biết ông đã thấy điềm lạ trong cung thánh.

 

Còn ông thì chỉ làm hiệu cho họ, và vẫn bị câm.

 

Khi những ngày thánh vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà.

 

Sau những ngày ấy, Elisabéth vợ ông thụ thai, và bà ẩn mình trong năm tháng, bà nói rằng: "Chúa đã làm cho tôi thế nầy, trong những ngày Người đoái thương, cất nổi khổ nhục tôi khỏi người đời.

 

Ðó là lời Chúa.

 


 

Suy niệm

 

  nhập thể cách lạ   

 

Ngày 19/12 trong Tuần Bát Nhật trước Giáng Sinh hôm nay, bài Phúc Âm theo Thánh ký Luca ghi lại biến cố truyền tin về sự kiện thụ thai cách lạ của một con người đươc tiền định đóng vai trò làm tiền hô cho Đấng Thiên Sai Cứu Thế, một con người thuộc giòng dõi Levi có cha mẹ sống công chính trước mặt Chúa cho dù các vị son sẻ không con:

 

"Vào thời Hêrôđê làm vua xứ Giuđêa, có một tư tế tên là Giacaria, thuộc phiên ban Abia, và vợ ông bởi dòng dõi Aaron, tên là Elisabéth. Cả hai là người công chính trước mặt Thiên Chúa, ăn ở theo mọi giới răn và lề luật của Chúa, không ai trách được điều gì. Nhưng họ lại không con, vì Elisabéth son sẻ, và cả hai đã đến tuổi già".

 

Tình trạng son sẻ của cặp vợ chồng công chính này cũng không ngoài ý định của Thiên Chúa trong việc xuất hiện một con người cao trọng nhất được người nữ sinh ra, như được chính Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm Thứ Năm Tuần II Mùa Vọng tuần trước. Vì nhân vật lịch sử này sẽ đóng vai trò trung gian giữa Cựu Ước và Tân Ước như một vị "tiên tri của Đấng Tối Cao" được sai đến để dọn đường cho Chúa Kitô xuất hiện (xem Luca 1:76), Đấng cao trọng hơn ngài nhưng lại xin ngài làm phép rửa cho, chẳng khác nào như làm cha thiêng liêng của Người. 

 

Vì vai trò cao trọng này khiến nhân vật tiền hô trở thành đệ nhất thiên hạ ấy cần phải được xuất thân một cách lạ lùng, bắt đầu bằng biến cố truyền tin tương tự như trường hợp truyền tin của Đấng đến sau ngài, với cùng một vị tổng thần Gabiên, như được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại: 

 

"Xảy ra khi Giacaria chu toàn chức vụ tư tế trước mặt Thiên Chúa, theo lượt của phiên mình như tục lệ hàng tư tế, ông bắt thăm và trúng việc vào cung thánh Chúa mà dâng hương. Ðang lúc toàn thể đám đông dân chúng cầu nguyện bên ngoài, trong giờ dâng hương. Bấy giờ Thiên Thần Chúa hiện ra cùng ông, đứng bên phải hương án. Giacaria thấy vậy hoảng hốt, sự kinh hoàng đột nhập vào ông. Nhưng Thiên Thần nói với ông rằng: 'Giacaria, đừng sợ, vì lời ngươi cầu nguyện đã được nhậm rồi. Elisabéth vợ ngươi sẽ hạ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ gọi tên trẻ là Gioan. Ngươi sẽ được vui mừng hân hoan, và nhiều người cũng sẽ vui mừng, vì việc trẻ sinh ra". 

 

Thật vậy, vì được tiền định đóng vai tiền hô cho chính Đấng Thiên Sai Cứu Thế, một vai trò có thể nói còn cao trọng hơn cả vai trò làm dưỡng phụ của Người, vị dưỡng phụ dù sao cũng không được truyền tin trước khi được thụ thai một cách long trọng như vị tiền hô này, với những lời lẽ tiên báo thật trịnh trọng về một thiên chức hầu như không ai bằng: 

 

"Vì trẻ nầy sẽ nên cao trọng trước mắt Chúa, sẽ không uống rượu và thức có men, sẽ được tràn đầy Thánh Thần ngay từ lòng mẹ, sẽ đem nhiều con cái Israel trở về cùng Chúa là Thiên Chúa. Trẻ nầy sẽ đi trước Người, trong thần trí và quyền lực của Elia, để đổi lòng dạ cha ông về với con cháu, kẻ ngổ nghịch về lại với lương tri của những người công chính, dọn cho Chúa một đoàn dân chuẩn bị'".

 

Không biết có phải vì lời lẽ có vé "quá đáng" và thái độ có vẻ quá "trịnh trọng" của vị thiên sứ bấy giờ đã khiến cho người cha tư tế Giacaria này cảm thấy hồ nghi không thể nào tin được rằng mình lại diễm phúc đến như thế hay chăng, nên mới xẩy ra chuyện chính ông trở thành chứng cớ về những gì chân thật liên quan đến con ông đúng như lời sứ thần truyền:

 

"Giacaria thưa với Thiên Thần rằng: 'Làm sao tôi biết được, vì tôi đây đã già, và vợ tôi cũng đã cao niên?' Thiên Thần liền đáp: 'Ta là Gabriel, ta đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, ta được sai đến nói với ngươi, và báo cho ngươi tin lành nầy. Thì đây, ngươi sẽ nín câm và không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra; bởi vì ngươi đã không tin lời ta, là những lời sẽ nên trọng khi đến thời của chúng'".

 

So với trường hợp của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin Ngôi Lời Nhập Thể thì thực sự là vị tư tế Giacaria này đã vì không tin mà bị phạt câm. Ở chỗ, thứ nhất, ông và vợ ông xin cho được một người con, trong khi đó Mẹ Maria lại muốn giữ mình đồng trinh, không hề ham ước muốn làm Mẹ Đấng Thiên Sai như các phụ nữ Do Thái thời Cựu Ước khác. Ấy thế mà khi được thiên sứ hiện ra trong đền thờ linh thiêng để cho ông biết rằng lời nguyện cầu của ông đã được nhận lời thì ông lại ngờ vực, ở chỗ đòi dấu hiệu rõ ràng, trong khi đó, cũng vị thiên sứ này hiện ra với Mẹ Maria, ở một căn phòng thô sơ nghèo khó, để truyền tin việc nhập thể của Con Đấng Tối Cao, và trinh nữ Nazarét này chỉ hỏi xem việc thụ thai làm sao có thể xẩy ra với một trinh nữ không biết đến nam nhân như mình thôi. 

 

Đúng thế, sau biến cố truyền tin xẩy ra trong đền thờ khi thân phụ của mình đang làm phận vụ tư tế bấy giờ và sau khi ông câm nín trở về nhà, vị tiền hô của Đấng Thiên Sai Cứu Thế đã được thụ thai: "Khi những ngày thánh vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà. Sau những ngày ấy, Elisabéth vợ ông thụ thai, và bà ẩn mình trong năm tháng, bà nói rằng: 'Chúa đã làm cho tôi thế nầy, trong những ngày Người đoái thương, cất nổi khổ nhục tôi khỏi người đời'".

 

Bài Đọc 1 hôm nay cũng thuật lại một nhân vật đặc biệt khác là Samson, vị anh hùng cứu tinh của dân Do Thái vào thời Các Quan Án, cũng được thiên thần hiện ra báo tin thụ thai bởi một người mẹ son sẻ:

 

"Ngày ấy có một người đàn ông, bởi đất Sara và thuộc chi họ Ðan, tên là Manuel, có người vợ son sẻ. Thiên Thần Chúa hiện ra nói với bà ấy rằng: 'Ngươi son sẻ không con; nhưng sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai. Vậy ngươi hãy cẩn thận, đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn món gì không thanh sạch. Vì ngươi sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai. Lưỡi dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó; nó là người được hiến dâng cho Thiên Chúa từ thuở nhỏ và từ lòng mẹ; chính nó sẽ bắt đầu giải phóng Israel khỏi tay người Phi-li-tinh'... Bà đã hạ sinh một con trai, và gọi tên là Samson. Hài nhi lớn lên, và Chúa đã chúc phúc cho nó. Và thần tri Chúa bắt đầu ở với nó".

 

Hai sự kiện thụ thai bởi hai người đàn bà son sẻ trong cả bài Phúc Âm lẫn Bài Đọc 1 hôm nay có thể nói là thụ thai "cách lạ", vì theo tự nhiên đã son sẻ thì không thể sinh con mà nay lại thụ thai và sinh nở sau khi được báo tin cho biết trước. Tuy nhiên, hai chuyện thụ thai "cách lạ" này vẫn không thể nào giống như sự kiện của chính Đấng Thiên Sai Cứu Thế là Đấng được thụ thai sau khi mẹ Người được truyền tin. 

 

Bởi vì, Đấng Thiên Sai Cứu Thế được thụ thai bởi chính Thánh Linh và trong lòng của một trinh nữ chứ không phải của một người đàn bà đã có chồng và đã từng ăn nằm với chồng song bị son sẻ không thể sinh con như hai trường hợp trên đây (xem Luca 1:34-35), trong khi đó hai thai nhi kia có thể được thụ thai bởi việc giao hợp vợ chồng sau khi họ được truyền tin, và lần giao hợp vợ chồng của họ sau khi họ được truyền tin đó đã được Chúa mở lòng dạ của người mẹ ra để bà có thể thụ thai như thường. 

 

Bài Đáp Ca hôm nay như đã chất chứa tâm tình của thai nhi Gioan Tẩy Giả, một thai nhi đã có thể nhẩy mừng trong lòng mẹ khi được Đấng Thiên Sai Cứu Thế đến thăm viếng qua sự xuất hiện và lời chào tràn đầy thần lực của mẹ Người (xem Luca 1:40-44):  

 

1) Lạy Chúa, xin hãy nên núi đá trú ẩn và thành trì kiên cố cho tôi, để cứu tôi: Vì Chúa là núi đá và thành trì của tôi. Lạy Chúa, xin giựt tôi khỏi bàn tay gian ác. 

 

2) Vì Chúa là Ðấng tôi mong đợi, lạy Thiên Chúa của tôi! Lạy Chúa là Ðấng tôi cậy trông, từ thời còn niên thiếu. Từ lòng mẹ, tôi nương tựa nơi Chúa, từ dạ mẹ, Chúa là Ðấng bảo vệ tôi. 

 

3) Tôi sẽ thuật lại quyền năng Thiên Chúa, lạy Chúa, tôi ghi nhớ sự công chính của một mình Chúa, lạy Chúa, Chúa đã dạy tôi từ thời còn niên thiếu, các kỳ công Chúa, tôi cao rao đến bây giờ.