Suy niệm lễ thánh gia thất, năm C-2018

by Trầm Thiên Thu

 

BÍ QUYẾT TỔ ẤM CỦA THÁNH GIA

Cuộc sống của Thánh Gia tại Nadaret là cuộc sống ẩn dật cầu nguyện và lao động. Công việc hằng ngày là thi hành Ý Chúa, bởi vì việc cầu nguyện, giản dị và siêu nhiên, lấp đầy thời gian. Sự giản dị nổi trội trong các nhiệm vụ gia đình. Ý hướng luôn nghiêm túc, bởi vì tư tưởng của Thiên Chúa thu hút các ngài. Trái tim của các ngài luôn ở giữa gia đình, vì thế các ngài không thể hướng theo thế gian.

Các ngài sống ẩn dật và nghèo khó, thỏa mãn với các nhu cầu của cuộc sống. Sự thánh thiện được tiềm ẩn dưới vẻ giản dị lặng lẽ hằng ngày, người ta không nhận thấy Con Thiên Chúa và Song Thân Ngài ở giữa họ.

Thật tuyệt vời vì Đức Maria và Đức Thánh Giuse noi gương sáng của Chúa Giêsu, lương thực hằng ngày là tuân phục Ý Chúa. Thực hành nhân đức làm cho đời sống ẩn dật của gia đình Nadaret ngọt ngào, bình an và cao cả. Là Ngôi Hai Thiên Chúa, Chúa Giêsu vẫn vâng lời cha mẹ suốt 30 năm, mục đích cha mẹ chỉ là thụ tạo.

Mẫu gương vâng phục yêu thương của Chúa Giêsu là nguồn cảm hứng cho con cái. Chúng có thể được Thiên Chúa chúc lành nếu chúng thảo hiếu và tôn kính cha mẹ, vì Ngài đã hứa qua Điều Răn Thứ Tư.

Chúng ta không thể đo lường sự phát triển của Đức Maria và Đức Thánh Giuse về nhân đức. Ân sủng được tuôn đổ từ Đức Kitô vào linh hồn các ngài. Khi đôi tay các ngài bận, Chúa Giêsu hấp thu ý tưởng và tình cảm của các ngài, làm cho tâm hồn các ngài tràn đầy tình yêu tinh tuyền dành cho Ngài. Tình yêu Thiên Chúa kết hợp các ngài trong một gia đình hạnh phúc và thánh đức.

MẪU GƯƠNG ĐỨC MẸ

Đức Mẹ là mẫu gương cho mọi người vợ và người mẹ. Đức Mẹ không chỉ dành trọn cho chồng là Đức Thánh Giuse, mà còn luôn là nguồn cảm hứng cho chồng, nhất là về tình yêu dành cho Con Trai. Điều đó làm cho Đức Mẹ vui mừng tột đỉnh để trở nên mẫu gương hoàn hảo nhất, thoải mái nói chuyện với Con và thường xuyên ở bên Con, đồng thời là người theo dõi hạnh kiểm của Con rất sát sao. Đức Mẹ không ngừng nghĩ về các nhân đức của Con, suy nghĩ về lời Con nói và ghi nhớ trong lòng, điều đó đã được Kinh Thánh cho biết. Đức Mẹ đạt được thần khí của Chúa Giêsu, chuyên tâm học hỏi và nhận thức về Chúa Giêsu, nên Đức Mẹ trở thành thụ tạo thánh thiện nhất trong số các phàm nhân.

Hãy cố gắng noi gương Đức Mẹ đối với Thiên Chúa, và cũng như Đức Mẹ, bạn sẽ làm vui lòng Ngài, là nguồn cảm hứng và sức trợ giúp cho gia đình. Hãy nỗ lực khao khát noi gương Đấng Cứu Thế, vì noi gương Đức Kitô là nhiệm vụ cần thiết nhất. Đức Mẹ sẽ dạy bạn noi gương Chúa Giêsu, bởi vì Đức Mẹ là Chiếc Gương Công Lý phản ánh thần khí của Chúa Giêsu một cách mạnh mẽ và thành tín nhất. Như vậy, bạn sẽ đạt được loại kiến thức có thể giúp bạn đưa gia đình tới sự sống vĩnh hằng.

Đức Mẹ xinh đẹp và hoàn hảo, là mẫu gương siêu phàm đối với mọi người vợ Công giáo, còn Đức Thánh Giuse – người công chính, tinh tế, tử tế, khiết tịnh – là mẫu gương cho mọi người chồng Công giáo.

Khi Thiên Chúa chúc lành gia đình bạn với cuộc sống đời thường, hoa trái tình yêu thương, gia đình bạn sẽ nên giống Thánh Gia. Trong gia đình của Chúa Giêsu, Đức Maria và Đức Thánh Giuse, các mối quan hệ thân thiết hiện hữu giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái. Nhờ thực hành nhân đức khiết tịnh, tuân phục, và giúp đỡ lẫn nhau, cả ba Đấng cùng thánh hóa cuộc sống gia đình.

MẪU GƯƠNG THÁNH GIA

Thánh Gia sống dưới mái nhà nghèo đơn sơ giữa những người lao động khác, tại một ngôi làng nhỏ trên một ngọn đồi. Mặc dù không có những phương tiện hiện đại và tiện nghi, các ngài sống ở đó và làm cho gia đình là tổ ấm hạnh phúc nhất. Bạn không thể tưởng tượng nổi cuộc sống của Thánh Gia khó khăn thế nào. Nhưng đó là một gia đình mà người chồng luôn muốn trở về và ở nhà, Đức Mẹ không muốn rời xa gia đình, coi gia đình là sự nghiệp và thành công với nhiệm vụ làm mẹ và làm vợ.

Khi tạo dựng gia đình, hãy học các đức tính của Thánh Gia miền Nadaret. Nhờ đó, bạn sẽ làm cho gia đình thành “bản sao” của Thánh Gia để sống hạnh phúc nhất thế gian này.

Tư tưởng của Thánh Gia đề nghị yêu quý tính giản dị. Hạnh phúc hôn nhân và gia đình liên kết chặt chẽ với những điều tốt lành trong cuộc sống đời thường của mình. Hãy tìm kiếm hạnh phúc trong “khoảng đời” của bạn – xã hội, bạn bè, gia đình, giáo xứ, hội đoàn,... và bạn sẽ giảm bớt những mối quan ngại. Là người chồng, hãy chung thủy với vợ và quan tâm gia đình, cố gắng lo cho gia đình bình thường của mình được thanh thản. Là người vợ, hãy cố gắng sống và chi tiêu theo “cái túi” của gia đình. Là người con, hãy cố gắng ngoan ngoãn, thảo hiếu, chăm chỉ, vâng lời cha mẹ như Chúa Giêsu.

Hãy trung thành với nhau trong những lúc khó khăn, và luôn tìm kiếm phúc lành của Thiên Chúa bằng cách tham dự Thánh Lễ, rước lễ, và cầu nguyện liên lỉ. Hãy thường xuyên cầu xin Thánh Gia thánh hóa gia đình bạn, để bạn có thể đạt tới mục đích tối hậu của hôn nhân: đời đời ở bên Thiên Chúa.

Về các vấn đề và nhu cầu của gia đình, hãy phó thác cho Thánh Gia. Các ngài sẽ bảo vệ, chở che và gìn giữ gia đình bạn trong sự kính sợ thánh đức, bình an và hài hòa trong đức ái Kitô giáo. Nhờ sống theo khuôn mẫu của Thánh Gia, bạn sẽ đạt được hạnh phúc đời đời. Và hơn hết, nhờ Thánh Gia cầu thay nguyện giúp, cha mẹ và con cái sẽ biết tôn thờ Thiên Chúa bằng đời sống nhân đức để xứng đáng nhận phần thưởng Nước Trời mai sau.

Mọi điều cân nhắc khác nên hướng tới việc giúp đỡ nhau đạt được mục đích cuối cùng. Chỉ khi nào tôn giáo thấm nhập vào đời sống hằng ngày của bạn thì hôn nhân của bạn mới hoàn tất mục đích của hôn nhân. Cha mẹ và con cái sẽ tìm được hạnh phúc đích thực tương xứng với việc nỗ lực làm cho Thiên Chúa trở thành trung tâm của đời sống hôn nhân và gia đình. Trong đó, Thánh Gia là nguồn cảm hứng của cả gia đình.

Là cha mẹ Công giáo, hãy cố gắng noi gương Thánh Gia và sống âm thầm trong sự cầu nguyện, lao động, và trung tín, đó là bậc thanh tới sự thánh thiện và nên thánh.

Là một gia đình, hãy cố gắng sống âm thầm với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Khi tham dự Thánh Lễ, hãy dâng mình qua bàn tay của Đức Mẹ làm lễ hy sinh với Chúa Giêsu. Khi rước lễ, bạn được hòa quyện vào Chúa Giêsu nhờ ân sủng để bạn có thể sống bằng sự sống của Ngài. Khi viếng Thánh Thể, bạn sẽ tận hưởng tình thân hữu với Ngài giữa biết bao bộn bề lo toan của cuộc sống. Nếu bạn tin, bạn sẽ nhận ra sự hiện hữu của Ngài và nhận ra vinh quang của Ngài.

Nếu bạn yêu mến Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể tới mức làm cho Thánh Thể là trung tâm của cuộc sống, Ngài sẽ tuôn đổ hồng ân vào tâm hồn bạn, hít lấy sự bình an của Thiên Chúa vào tâm hồn và làm cho gánh nặng cuộc đời trở nên nhẹ nhàng. Nếu bạn nói chuyện với Ngài, Thiên Chúa của bạn, bằng sự thân thiện kính mến, Ngài sẽ soi sáng cho bạn về sự quan phòng của Ngài và làm cho bạn mạnh mẽ để vác thập giá mà Ngài gởi tới cho bạn. Lòng sùng kính Thánh Thể là cách chắc chắn và dễ dàng nhất làm cho gia đình nên giống Thánh Gia.

Đức Thánh Giuse, người thợ mộc công chính, vẫn là người bảo vệ của các gia đình. Đức Mẹ là Thánh Mẫu của Chúa Giêsu và của các gia đình Công giáo. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn tuân phục cha mẹ – các thụ tạo của Ngài, và Ngài là mẫu mực cho những người con. Xin cho các gia đình tìm được niềm vui trong Thiên Chúa ngay ở đời này, và xin cho mọi người kết hiệp với nhau để làm vui lòng Thiên Chúa!

LM. LAWRENCE G. LOVASIK
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Bên thềm Giáng Sinh – 2018

 

GIA ĐÌNH

MẸ CHA VỮNG VÀNG NIỀM TIN CẬY MẾN
CON CÁI TRUNG THỰC SỐNG TỐT HIỀN NGOAN

Gia đình là tế bào của xã hội, nhỏ mà cần thiết. Có thể là gia đình “nhỏ” với vợ chồng và con cái (một hoặc nhiều), cũng có thể là gia đình “lớn” với tam đại hoặc tứ đại đồng đường, nhưng tất cả vẫn cơ bản là vợ chồng và con cái. Gia đình rất quan trọng vì là “cái nôi” của tương lai – đối với xã hội và Giáo Hội. Đối với xã hội, gia đình là nơi sản sinh nhân tài cho đất nước; đối với Giáo Hội, gia đình là nơi chuẩn bị cho Thiên Chúa một dân tộc hoàn hảo.

Nhà không cần rộng lớn hoặc sang trọng, mà cần có đầy ắp yêu thương và tiếng cười. Như vậy mới có thể gọi là tổ ấm, nếu không thì chỉ là tổ lạnh. Hãy nghe Kinh Thánh nhận định: “Con đàn cháu đống của phường vô đạo nào có làm nên tích sự gì: Chúng như phát xuất từ những chồi hoang, rễ ăn không sâu, gốc bám không chặt!” (Kn 4:3). Nhà dột từ nóc, quả là không sai chút nào!

Gia đình cũng không nhất thiết là mang dòng máu của ai, mà quan trọng là yêu thương và chia sẻ. Những người không cùng huyết thống nhưng biết quan tâm lẫn nhau, đó chính là gia đình. Cùng huyết thống, cùng dòng máu, cùng là thân tộc, cùng một dân tộc,… nhưng ghen ghét nhau và tìm cách hại nhau, thế thì KHÔNG THỂ LÀ GIA ĐÌNH, và còn TỆ HƠN KẺ THÙ.

Chắc chắn rằng trong cuộc sống, người ta có thể chọn lựa nhiều thứ cho mình, nhưng không ai có thể chọn cha mẹ hoặc nơi sinh. Dù cha mẹ có thế nào thì cũng vẫn là cha mẹ của mình. Cha mẹ là khởi đầu một gia đình. Mà gia đình chính là tế bào cơ bản của xã hội, được mệnh danh là Tổ Ấm, là Chiếc Nôi Hạnh Phúc. Tổ ấm nghĩa là không được lạnh, không được nóng, mà nhất thiết phải ấm. Việt ngữ thật tuyệt vời!

Mẹ Teresa Calcutta đã nghiêm túc đặt vấn đề: “Bạn có thể làm gì để xây dựng hòa bình thế giới? Hãy về nhà và yêu thương gia đình của mình”. Bất cứ một tổ chức nào cũng cần có quy luật để điều chỉnh, luật vị nhân sinh, chứ nhân sinh bất vị luật. Tổ ấm cũng có nguyên tắc cơ bản làm nền tảng – gọi là Gia Phong. Tất cả khởi đầu từ đó: Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

CÔNG LAO

Khi ngắm nhìn hang đá giáng sinh, chúng ta thấy một gia đình nghèo nàn nhưng hạnh phúc. Nhìn vào hang đá, chúng ta cũng nhớ công ơn cha mẹ như biển trời lai láng, khôn ví và khôn tả. Thật vậy, ca dao Việt Nam đã mô tả ơn nghĩa mà cha mẹ dành cho con cái, đơn giản mà sâu sắc:

Ơn cha nặng lắm, cha ơi!
Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang
Đặc biệt nói riêng về người mẹ, vì người mẹ luôn âm thầm chịu đựng những sự khó nhọc:
Thương thay chín chữ cù lao
Tam niên nhũ bộ, biết bao nhiêu tình!

Cù lao là gì? Đó là chín đức tính – Sinh, Cúc, Phủ, Dục, Súc, Trưởng, Cố, Phục, Phúc (sinh nở, nâng đỡ, vỗ về, dạy dỗ, cho bú, nuôi lớn, trông nom, chăm sóc, che chở). Tuy đề cập người mẹ nhưng cũng ngụ ý nói về người cha. Không thể chỉ kính trọng Tình Mẹ mà “coi nhẹ” Tình Cha, vì người Mẹ khởi đầu cho cuộc sống, tình yêu và hạnh phúc; người Cha khởi đầu cho ý chí, niềm tin và sức mạnh. Ai cũng từng là con trẻ, và mang năng công ơn cù lao của cả cha và mẹ. Hai vai hai gánh nặng bằng nhau, chẳng bên nào hơn hoặc kém.

Theo dòng thời gian, ngày qua tháng lại, sau cuộc hành hương Silô, bà Anna thụ thai, sinh con trai và đặt tên con trẻ là Samuen, vì bà xác nhận: “Tôi đã xin Đức Chúa được nó” (1 Sm 1:20). Bà đã cầu xin và khóc nức nở vì bị người ta mỉa mai là “cây độc không trái”. Bà tự nhận là người tâm thần đau khổ, nỗi khao khát có con và lời cầu xin thành tâm của bà đã được Thiên Chúa chấp nhận. Ngày nay chúng ta gọi đứa con như thế là “con cầu con khấn”. Thật ra ai cũng nhờ ơn Chúa mà có thể hiện hữu trên cõi đời này, nhưng có một số “hiếm hoi” thôi, trường hợp bà Anna là một điển hình. Khi đó, người chồng là Encana lên với cả gia đình để dâng hy lễ thường niên cho Đức Chúa và để giữ trọn lời khấn hứa của mình. Bà Anna không lên, vì bà nói với chồng: “Đợi cho đến khi đứa trẻ cai sữa đã. Khi đó em sẽ đưa nó đi, nó sẽ ra mắt Đức Chúa và sẽ ở lại đó mãi mãi” (1 Sm 1:22).

Nó là đứa con cầu tự nên phải được dâng hiến cho Thiên Chúa, điều mà chính vợ chồng Encana và Anna đã thề hứa với Thiên Chúa, và họ muốn giữ trọn lời hứa đó. Sự uy tín của họ đã làm cho Thiên Chúa xót thương hơn.

Thời gian cai sữa cho con đã qua, bà đưa nó lên Nhà Đức Chúa với mình, mang theo một con bò mộng ba tuổi, hai thùng bột và một bầu da đầy rượu. Đó là giữ luật Cựu Ước, một dạng “ăn theo thuở, ở theo thời”. Hai ông bà này cũng không ngoại lệ. Bà đưa con vào Nhà Đức Chúa tại Silô, rồi họ sát tế con bò và đưa đứa trẻ đến với ông Êli. Bà nói: “Thưa ngài, xin thứ lỗi, tôi xin lấy mạng sống ngài mà thề: tôi là người đàn bà đã đứng bên ngài, tại đây, để cầu nguyện với Đức Chúa. Tôi đã cầu nguyện để được đứa trẻ này, và Đức Chúa đã ban cho tôi điều tôi đã xin Người. Đến lượt tôi, tôi xin nhượng nó lại cho Đức Chúa. Mọi ngày đời nó, nó sẽ được nhượng cho Đức Chúa” (1 Sm 1:26-28). Lời lẽ của người đàn bà nhà quê chân chất thật thà nhưng đầy vẻ quyết liệt. Và họ đã thờ lạy Đức Chúa ở đó.

Trình thuật Kinh Thánh hôm nay gợi nhớ việc Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh. Ngày nay, sau khi sinh con – nhất là mỗi khi đưa con đi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, các bậc cha mẹ nên chân thành dâng con trẻ cho Thiên Chúa, và cũng là cách tạ ơn Chúa.

Càng sống lâu người ta càng dễ nhận thấy rằng tất cả đều là hồng ân, từ điều nhỏ tới điều lớn, đơn giản là mỗi chúng ta đều có không khí hít thở hằng ngày, hít thở từng giây, và lại có một gia đình – dù là gia cảnh nghèo nàn. Vì thế, “hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người, vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân” (Tv 105:1). Thánh Vịnh gia tha thiết mời gọi: “Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa, và suy gẫm mọi kỳ công của Người. Hãy tự hào vì danh thánh Chúa, tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ. Hãy tìm Chúa và sức mạnh của Người, chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan. Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện, những dấu lạ và những quyết định Người phán ra, hỡi anh em, dòng dõi Ápraham tôi tớ Chúa, con cháu Giacóp được Người tuyển chọn!” (Tv 105:2-6). Chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa không chỉ là trách nhiệm mà còn là diễm phúc đối với chúng ta.

Thật vậy, không tạ ơn sao được, bởi vì “chính Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, những điều Người quyết định là luật chung cho cả địa cầu. Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi, nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ!” (Tv 105:7-8). Đó cũng chính là điều đã giao ước cùng Tổ phụ Ápraham, đã đoan thề cùng Isaac. Rất nghiêm túc.

Thiên Chúa là tình yêu, giàu lòng thương xót. Thánh Gioan dẫn chứng: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người” (1 Ga 3:1). Thật tuyệt vời! Và thánh nhân nói thêm: “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3:2).

Ngày đó là ngày cánh chung, ngày tận thế, ngày Chúa Giêsu giáng lâm (tái lâm, quang lâm). Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu theo hiện tại, khi chúng ta đang sống trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, được mãn nhãn khi chiêm ngưỡng Con-Thiên-Chúa-mặc-xác-phàm, hạnh phúc và bình an đang tràn ngập địa cầu. Thêm điều đặc biệt nữa là đến lúc đón Tân Niên với nhiều thứ khởi đầu mới.

Cảm xúc dạt dào dâng trào, Thánh Gioan nói một hơi dài: “Anh em thân mến, nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta, chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa. Và bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta được Người ban cho, bởi vì chúng ta tuân giữ các điều răn của Người và làm những gì đẹp ý Người. Đây là điều răn của Người: chúng ta phải tin vào danh Đức Giêsu Kitô, Con của Người, và phải yêu thương nhau, theo điều răn Người đã ban cho chúng ta. Ai tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban cho chúng ta” (1 Ga 3:21-24). Ai trong chúng ta cũng đã quá quen với “luật yêu thương” của Chúa, thế nhưng nghe nhiều mà có thể chưa giữ được bao nhiêu. Thật vậy, ngay cả những người thân trong gia đình mà chúng ta cũng chưa yêu thương đúng nghĩa. Con người quá yếu đuối, đúng là buồn thật đấy!

TÌNH NGHĨA

Qua trình thuật Lc 2:22-40, Thánh sử Luca kể: Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà quyết quay trở lại Giêrusalem để tìm cho được Con Trẻ.

Ôi chao! Người đông, đất rộng, đường xa, thế mà cha mẹ lại lạc mất Con Trẻ, thật là khổ! Lòng như lửa đốt, cha mẹ lại lội bộ ngược dòng người để tìm Con. Mà đâu phải gặp ngay, mãi sau ba ngày mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Mệt nhoài, nhưng cha mẹ vẫn có thể thở phào, vì “cậu ấm” đang đối chất với những người lớn hơn mình và giỏi hơn mình. Có lẽ lúc đó Cô Maria vui vẻ nói với Chú Giuse: “Anh ơi! Con mình giỏi thật!”. Nhưng Chú Giuse vốn kiệm ngôn, không nói nhiều, chắc chỉ nhìn Bà Xã và mỉm cười mà thôi!

Vô cùng kỳ lạ, mọi người nghe Cậu Giêsu nói đều ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp sắc xảo của cậu. Tuổi trẻ, tài cao. Khi nhận ra Con Trẻ, hai ông bà sửng sốt, và Đức Mẹ liền nói: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!”. Nhưng đó lời trách yêu, chứng tỏ rằng Đức Mẹ rất đau khổ khi phải xa Con, dù chỉ là một thoáng, huống chi đã ba ngày qua. Con Trẻ Giêsu đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”. Chắc hẳn hai người biết điều này, nhưng vì lạc mất Con, lo lắng quá mà quên thôi. Bản chất con người là thế, Chúa không trách mà chỉ nhắc nhở thôi.

Mặc dù là cha mẹ của Chúa Giêsu, nhưng ông bà vẫn không hiểu lời Ngài vừa nói. Cũng đúng thôi, bởi vì cha mẹ là phàm nhân, còn Con là Thiên-Chúa-làm-người mà. Nói là nói vậy, nhưng sau đó, Con Trẻ Giêsu vẫn “đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2:51a). Con Thiên Chúa vẫn luôn tôn trọng, vâng lời và hiếu thảo với cha mẹ. Đó là Ngài đã làm gương cho chúng ta, chứng tỏ gia đình rất quan trọng trong cuộc sống loài người, không trừ bất kỳ ai, đồng thời nhắc nhở những người con phải giữ trọn chữ hiếu – bằng mọi cách và mọi động thái.

Theo Kinh Thánh, có hai điều thực sự quan trọng này: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2:51b-52). Đức Mẹ luôn suy niệm, Chúa Giêsu càng khôn lớn càng kết hiệp thân mật với Thiên Chúa và được người đời yêu mến. Ngôn ngữ liên quan những thứ khác, trong số đó có lời hứa. Thảo nào Kinh Thánh đã cho biết: “Người ghét thói ba hoa sẽ tránh được sự dữ. Quân tử thì phải nhất ngôn, như thế, con sẽ không bị hại” (Hc 19:6-7).

Tương tự các vấn đề khác, gia đình cũng có những chuyện vui và chuyện buồn. Chuyện buồn như cái gai nên dễ nhận ra. Chẳng hạn vài trường hợp mới đây…

Tháng 4-2018, Nguyễn Thắng (30 tuổi – phường Thanh Hải, TP Phan Thiết) đi nhậu về rồi xảy ra mâu thuẫn với cha ruột và bị cha đánh. Thằng con bất hiếu đã cầm dao đâm cha nhiều nhát và ngăn cản người đưa nạn nhân đi cấp cứu. Đó là ông Nguyễn Chuyên (51 tuổi).

Rạng sáng ngày 22-7-2018, Lương Thị Kim Phượng (20 tuổi – thôn Tân Mỹ, xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) đi hát karaoke về và bị cha la rầy, cô đã ra tay sát hại cha là ông Lương Ngọc Thanh (46 tuổi) bằng cách lấy gậy và gạch đập vào đầu cha.

Sáng ngày 22-10-2018, nhà chức trách xã Cao Thắng (huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) đã bắt giữ đứa con trai bất hiếu dám sát hại mẹ rồi ném xuống giếng là Nguyễn Chí Thương (sinh năm 1982), và gã phải đền tội ác.

Đọc báo, nghe đài, và lướt web, hằng ngày vẫn thấy có những nghịch tử đối xử tồi tệ với cha mẹ. Thật ngán ngẩm! Phải chăng đó là hậu quả của việc giáo dục không đề cao nhân phẩm, coi thường gia đình và gia phong lễ giáo? Ngày xưa, chương trình giáo dục có cho học bộ sách Nhị Thập Tứ Hiếu, ngày nay không thấy có!

Có những nghịch tử thì cũng có những hiếu tử. Hình ảnh thật đẹp về tính nhân bản ở cô hoa hậu Mint Kanistha (Thái Lan, 17 tuổi, năm 2015). Sau khi đăng quang, cô đã về nhà và quỳ lạy tạ dưới chân người mẹ ngay bên những thùng rác. Người đàn bà kia chỉ là một người thu gom rác, nhưng bà vẫn là mẹ của cô, và cô vẫn phải kính trọng hết lòng. Bất cứ ai, dù có là gì (cả đời và đạo) thì trước tiên cũng vẫn phải là con người đối với xã hội và là người con trong một gia đình.

Là con người, ai cũng đã và đang làm con, thế nên ai cũng có bổn phận làm con. Đó cũng là một trong Mười Điều Răn của Thiên Chúa: Thảo kính cha mẹ. Đã là giới răn thì không thể không thi hành, có vậy mới làm đẹp lòng Chúa. Bổn phận làm con không chỉ phải thực hiện đối với cha mẹ, mà còn phải đối với ông bà, người trên, người lớn tuổi, ân nhân,...

Cách cư xử chứng tỏ có tiếp thu sự giáo dục đúng mức hay không. Tiên học lễ, hậu học văn. Có tài mà mất dạy thì chỉ là rác rưởi, phân tro. Nền giáo dục của một quốc gia thế nào sẽ cho biết tương lai đất nước đó ra sao. Những người có trách nhiệm giáo dục mà thiếu đạo đức và thiếu năng lực thì đừng trách tại sao giới trẻ hư đốn, thoái hóa. Chúng vô lễ vì chúng không được giáo dục về nhân bản, thậm chí người có trách nhiệm giáo dục còn chưa có đạo đức đủ mức thì còn dạy được ai? Bằng cấp không là gì cả, năng lực mới thực sự quan trọng.

Lạy Thiên Chúa nhân lành nhưng công minh chính trực, chúng con chân thành xin lỗi về những thiếu sót trong bổn phận làm con đối với Ngài, với ông bà, cha mẹ và người lớn. Xin giúp chúng con biết noi gương Con Chúa thực hiện đầy đủ bổn phận hằng ngày đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Nhi Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU
+ Ca khúc GIA ĐÌNH – https://youtu.be/vrJRpLHsoJM

 

ĐÊM BÌNH AN


Đêm nay Con Chúa giáng trần

Cho nhân thế hưởng hồng ân dạt dào

Vinh danh Chúa cõi trời cao

Bình an nhân loại dâng trào trong tim


Thương thay những cảnh lầm than

Vì nghèo mà khổ quanh năm tháng dài

Hẩm hiu số phận đắng cay

Lệ sầu khóe mắt chảy dài ngày đêm


Đêm nay Con Chúa hóa thân

Làm người trần thế thông phần khổ đau

Xin thương những kiếp lao đao

Ban phúc lành nhiều để họ bình an


TRẦM THIÊN THU

Mừng đón Vương Nhi Giêsu – 2018

 

VẦNG ĐÔNG

[Niệm khúc Lc 1:67-79]


Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu

là ngôn sứ của Thiên Chúa Tối Cao

Đi trước Chúa để mở lối thương yêu

Cho dân biết Chúa cứu độ tha tội


Ánh sáng tới sẽ phá tan bóng tối

Kìa Vầng Đông xuất hiện tỏa vinh quang

Giữa đêm khuya giáng sinh Chúa Hài Đồng

Bóng tội lỗi phải mau chóng lui bước


Đêm huy hoàng ứng nghiệm lời báo trước

Khúc hoan ca rộn rã miền Belem

Nơi hang đá nhỏ bé và mọn hèn

Con Thiên Chúa khởi đầu Ơn Cứu Độ


Lời Chúc Tụng xin kính dâng Thiên Chúa

Dẫu mọn hèn nhưng thành tín thật lòng

Cảm tạ Ngài đã ban tặng Vầng Đông

Vinh danh Chúa và thiện nhân hạnh phúc


TRẦM THIÊN THU

Miền Giáng Sinh – 2018

 

 

ÁNH SÁNG GIÁNG SINH

[Niệm khúc Ga 1:1-18]


Chúa yêu thương nhân loại

Muốn chia sẻ phận hèn

Của kiếp sống phàm nhân

Nên Ngài đã nhập thể


Ngôi Lời là Thiên Chúa

Ngay từ lúc khởi đầu

Muôn thuở trọn thương yêu

Và đời đời bất biến


Chính Ngôi Lời đã đến

Mặc xác phàm trẻ thơ

Nghèo khó và đơn sơ

Nơi Belem hang đá


Thế nhưng xót xa quá!

Nhân loại đã chối từ

Không đón nhận Giêsu

Là Thiên Chúa cứu độ


Chúa nằm nơi máng cỏ

Đám mục đồng đã tin

Các đạo sĩ kiếm tìm

Ôi, tín nhân diễm phúc!


Ai tin nhận Ngài thật

Được nên con cái Ngài

Sinh ra bởi Chúa Trời

Chẳng phải do khí huyết


Lạy Thiên Chúa duy nhất

Con xin tin Ngôi Lời

Là Thiên Chúa Ngôi Hai

Ánh Sáng và Nguồn Sống


TRẦM THIÊN THU

Kính Mừng Chúa Giáng Sinh – 2018

SỐ KHỔ


Sinh ra ai cũng khóc

Số khổ đã rõ ràng

Sinh ra cười mới sợ

Vì là kẻ bất thường


Số có to có nhỏ

Có ít và có nhiều

Số khổ cũng tương tự

Khổ trước và khổ sau


Thánh Gia khổ tới bến

Chạy tới rồi chạy lui

Chạy lên rồi chạy xuống

Khổ vẫn bám đeo hoài


Đang đêm thì đau đẻ

Giữa đồng trống mông mênh

Kiếm không ra chỗ trọ

Vô hang đá cũng đành


Đang còn lo sốt vó

Lại có lệnh trốn đi

Hê-rô-đê hung dữ

Giết sạch những trẻ thơ


Từ hai tuổi trở xuống

Vô tội phải chết oan

Ác nhân cướp sự sống

Gây khổ cho hiền nhân


Xưa ác nhân thâm độc

Gây đau khổ dây chuyền

Thánh Gia phải tất bật

Dân lành chịu hàm oan


Nay ác nhân vẫn thế

Gây đau khổ tràn lan

Làm gia tăng số khổ

Chẳng ai kém, ai hơn


Thai nhi giết hàng loạt

Mỗi ngày khoảng một trăm

Máu ác đỏ tươi thật

Hê-rô-đê vẫn còn


Bao gia đình tan nát

Tiếng khóc lẫn thét gào

Bàn tay của kẻ ác

Không ngừng gây khổ đau


Đời vui chưa trọn vẹn

Sao nỡ làm khổ nhau?

Xin cứu khổ cứu nạn

Lạy Giêsu Tình Yêu!


TRẦM THIÊN THU

Sáng 28-12-2018

 

HỢP ÂM CUỘC ĐỜI


Gia đình là chiếc nôi đời

Ươm bao ước vọng kiếp người trần gian

Gia đình – cha, mẹ và con

Cùng hòa giai điệu êm đềm yêu thương

Ba cung, ba nốt bình thường

Hợp âm ba nốt du dương cung tình

Cung cha trầm lắng, mông mênh

Hòa cùng cung mẹ bồng bềnh, êm êm

Cho cung con vút cao lên

Hòa vào thế giới triền miên tháng ngày

Kết giai điệu Chúa miệt mài

Ba cung nên một với Ngài sớm khuya

Hồng ân Thiên Chúa bao la

Ru đời bằng khúc tình ca gia đình


TRẦM THIÊN THU

Vọng Giáng Sinh – 2018

 

CHỨNG CỚ CHÚA GIÁNG SINH

Kinh Thánh cho biết sự kiện Chúa giáng sinh bao gồm nhiều mối liên quan lịch sử, nhiều vị trí và các tục lệ mà chúng ta biết về thời đó.

Hằng năm, vào dịp Giáng Sinh, các tín hữu phải bằng lòng với những người hoài nghi. Có lẽ vì Lễ Giáng Sinh đã bị tục hóa nhiều ở Tây phương (hoặc có thể vì người ta kết hợp Lễ Giáng Sinh với truyền thuyết Ông Già Tuyết), nhiều người coi Lễ Giáng Sinh giống như câu chuyện cổ tích vậy. Cuối cùng, nếu không có niềm tin thì khó có thể chấp nhận chuyện các mục đồng thấy các thiên thần, các đạo sĩ đến từ phương xa và thăm viếng Hài Nhi và việc sinh con mà người mẹ còn đồng trinh.

Nhiều người có thể viết Phúc Âm về cuộc giáng sinh của Chúa, nhưng họ không thể nhận biết rằng có hai bản văn sớm nhất kể lại việc giáng sinh của Đức Kitô được viết ra với nguồn gốc đáng tin cậy. Thánh Mátthêu trải qua những năm theo Đức Kitô và có lợi ích từ những câu chuyện được kể lần đầu tiên, và Thánh Luca là sử gia đã cẩn thận điều tra theo yêu cầu của các tông đồ bằng cách nói với những người đã chứng kiến các sự kiện đó.

Câu chuyện Chúa giáng sinh khả tín, chúng ta có thể kiểm tra các mối liên quan, cùng với chứng cớ khảo cổ ở các vùng liên quan sự kiện Chúa Giêsu giáng sinh.

1. NADARET HIỆN HỮU

Một dạng tranh luận chung về việc Chúa giáng sinh cho rằng không có Nadaret hồi thế kỷ I như Kinh Thánh mô tả. Đây là chủ đề trong cuốn “The Myth of Nazareth, The Invented Town of Jesus” của René Salm. Và ông thẳng thắn công nhận rằng có rất ít chứng cớ khảo cổ về Nadaret thế kỷ I khi cuốn sách này được viết.

Tuy nhiên, các cuộc khảo cổ mới đây đã xác nhận những gì Kinh Thánh cho biết, hiện nay chúng ta có rất nhiều chứng cớ cho thấy sự hiện diện của người Do Thái tại Nadaret hồi thế kỷ I. Các cuộc khai quật khảo cổ đã tìm được những kho và hầm chứa từ thời Chúa Giêsu, có cả nhà có sân với những cửa ra vào và cửa sổ vẫn nguyên vẹn. Nhà khảo cổ Windle nói rằng TS Ken Dark, trưởng đoàn khảo cổ, đã đưa ra các chứng cớ đáng tin cậy về Kitô giáo thời sơ khai, cho thấy rằng có thể là ngôi nhà của Chúa Giêsu.

2. CUỘC ĐIỀU TRA DÂN SỐ Ở BELEM

Trong Lc 2:1-4, Xê-da Au-gút-tô ra lệnh kiểm tra dân số toàn quốc lần đầu tiên, trong khi Qui-ri-ni-ô là tổng trấn Sy-ri-a. Có hai điểm được tranh luận: Không có cuộc kiểm tra dân số vào thời điểm Chúa Giêsu giáng sinh (ngay trước khi vua Hê-rô-đê băng hà), và Qui-ri-ni-ô không là tổng trấn vùng Sy-ri-a vào lúc đó.

Vấn đề này rất có thể là lỗi sao chép của Josephus, người ghi chép sử biên niên Rôma – Do Thái, sau đó lan truyền bằng bản viết tay, cho rằng Hê-rô-đê chết năm 4 trước công nguyên. Khảo cứu mới đây về các bản chép tay của Josephus tại British Library và Library of Congress, cả 29 bản đều ghi niên đại trước năm 1544 và vua Hêrôđê băng hà năm 1 trước công nguyên.

TS Andrew Steinmann, GS Thần học và Tiếng Do Thái tại ĐH Concordia University Chicago, đã tìm hiểu cái chết của Hê-rô-đê và thấy có nguyệt thực toàn phần vào ngày 10 tháng 1 năm 1 trước công nguyên và Chúa Giêsu giáng sinh vào khoảng năm 3 tới năm 2 trước công nguyên. Các tài liệu Rôma khác cho thấy rằng Qui-ri-ni-ô thực sự là tổng trấn Giu-đê trong thời gian kiểm tra dân số năm 3 trước công nguyên.

3. CHÚA GIÊSU SINH RA Ở CHUỒNG SÚC VẬT

Nhà Thờ Chúa Giáng Sinh là nơi hành hương trong Mùa Giáng Sinh. Được xây dựng trên một cái hang vào năm 326 sau công nguyên, nhiều người tin đó là nơi Chúa Giêsu đã giáng sinh trong một chuồng súc vật. Tuy nhiên, Phúc Âm không nói Chúa Giêsu giáng sinh nơi chuồng súc vật.

Thánh Luca chỉ nói rằng Chúa Giêsu được đặt trong máng cỏ vì không tìm được chỗ trong nhà trọ (Lc 2:7). Khi nghe nói “máng cỏ”, người ta nghĩ ngay tới chuồng súc vật, nhưng nhiều nhà vào thời đó có máng cỏ ở trong nhà. Người ta phát hiện máng cỏ bằng đá ở trong những nhà hồi thế kỷ I dành cho súc vật để hiến tế.

Hơn nữa, nhà khảo cổ Gary Byers nói rằng từ ngữ mà Thánh Luca sử dụng để chỉ “phòng trọ” là “kataluma” (phòng khách) của tiếng Hy Lạp. Từ ngữ này chỉ được dùng ở một chỗ khác trong Tân Ước, đó là lúc nói về Bữa Tiệc Ly. Nếu Thánh Luca muốn nói họ ở trong nhà trọ, hẳn là ngài đã dùng chữ “pandocheion”, như đã dùng trong câu chuyện về người Samari nhân lành, và người này đã đưa nạn nhân tới “quán trọ”.

Thời Chúa Giêsu, các gia đình thường có một phòng dành cho khách, và khi có cuộc kiểm tra dân số thời đó, có lẽ hợp lý là nhiều gia đình đã phải tới vùng đó, đó là lý do không còn phòng cho Thánh Gia. Có thể là Đức Maria và Đức Thánh Giuse trú ở khu nhà có chuồng súc vật, vì các phòng dành cho khách trọ đã có người rồi.

4. CUỘC THĂM VIẾNG CỦA CÁC MỤC ĐỒNG

Phía Bắc Belem có một nơi gọi là Migdal Eder, nghĩa là “tháp của đàn súc vật”. Vị trí chính xác đã mất dấu, đây là nơi chắc chắn các mục đồng chăn đàn súc vật để làm hiến lễ tại Đền Thờ. Mk 4:8 có đề cập vị trí này là “Tháp của Đàn Chiên”, chỉ vài dòng trước khi ông nói tiên tri về sự giáng sinh của Đấng Cứu Thế tại Belem.

Dĩ nhiên, không có gì cho biết đó là nơi trú ngụ của các mục đồng đã đến gặp Hài Nhi Giêsu. Có thể có các mục đồng chăn chiên vào đêm Chúa Giêsu giáng sinh. Có vẻ phù hợp với việc thiên thần gặp họ và báo tin cho họ về Con Thiên Chúa.

5. DÂNG CHÚA GIÊSU TRONG ĐỀN THỜ

Lc 2:22 cho biết: Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa”, và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non.
Câu chuyện về việc dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ cho chúng ta biết hai điều về Thánh Gia. Thứ nhất, Thánh Gia sùng đạo và nghiêm túc giữ luật. Thứ nhì, Thánh Gia nghèo lắm, vì Lv 12:6 cho biết: “Khi mãn thời gian thanh tẩy, dù sinh con trai hay con gái, nó phải đem đến cho tư tế, ở cửa Lều Hội Ngộ, một con chiên một tuổi làm lễ toàn thiêu, và một bồ câu non hay một chim gáy làm lễ tạ tội”. Nhà nghèo mới dùng chim, bởi vì chỉ được dùng chim nếu không có chiên.

6. CUỘC THĂM VIẾNG CỦA CÁC ĐẠO SĨ
Không ai biết các đạo sĩ hoặc những người khôn ngoan đó là ai. Thánh Mátthêu mô tả họ bằng danh từ “magoi”, số nhiều của “magos” hoặc “magus”. Tự Điển Hy Ngữ của Thayer định nghĩa: “Magus là tên mà dân Babylon, dân Medes, dân Ba Tư, và các dân khác… dùng để gọi những người khôn ngoan, thầy giáo, tư tế, thầy thuốc, chiêm tinh gia, nhà tiên tri, nhà giải mộng, thầy bói, pháp sư, phù thủy,...”. Các đạo sĩ tới viếng thăm Chúa Giêsu hẳn là đã nghiên cứu Kinh Thánh Do Thái, vì họ nhận biết các dấu hiệu về một số lời tiên tri. Chẳng hạn:
– “Một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en” (Ds 24:17).
– “Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa” (Mk 5:1).

Khác với cách mô tả phổ thông, các đạo sĩ không đến đó để thờ lạy Hài Nhi Giêsu vào ngay đêm Chúa giáng sinh. Thánh Mátthêu dùng chữ “paidion” của tiếng Hy Lạp, nghĩa là “đứa trẻ” hoặc “đứa bé chập chững”, để mô tả Chúa Giêsu, chứ không dùng chữ “trẻ thơ”. Vua Hê-rô-đê giết các trẻ em từ hai tuổi trở xuống, quyết định như vậy vì ông ta điều tra thông tin về Hài Nhi Giêsu khi các đạo sĩ xuất hiện và hỏi về Vị Vua mới sinh, thế nên rất có thể lúc các đạo sĩ xuất hiện thì Chúa Giêsu đang chập chững đi.

Chúng ta cũng không chắc rằng có ba người. Các đạo sĩ thường được nhắc tới là có ba người vì họ mang theo ba lễ vật: vàng, nhũ hương, và mộc dược.

Câu chuyện Chúa Giêsu giáng sinh có chứng cớ lịch sử xác thực. Khi không có mối liên quan nào chứng tỏ các sự kiện về Lễ Giáng Sinh đầu tiên, người ta thấy rằng chỉ có Kinh Thánh là nguồn đáng tin cậy. Phần còn lại tùy vào niềm tin của chúng ta, vì chính Đức Kitô đã nói: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3:17-18).

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Aleteia.org)
Mừng Chúa Giáng Sinh – 2018

CÁI NGHÈO

Giáng Sinh nhắc nhở yêu thương, bởi vì Chúa giáng sinh trong cảnh cơ hàn. Cái nghèo là cái “nổi bật” trong cảnh giáng sinh, nhưng người ta thường làm cho người ta cảm thấy vui nhộn vì sự hào nhoáng. Giáng Sinh gắn liền cái nghèo, cái nghèo gắn liền cái khổ. Nghèo thì khổ, và gọi tắt cho gọn là Nghèo Khổ.
Ai cũng biết đời là khổ – có khi là bể khổ, có khi là hố khổ, có lúc là núi khổ hoặc đồi khổ, có lúc lại là thung lũng khổ. Khổ dai như đỉa đói, dai nhách như cao su cắt không đứt. Khổ đêm, khổ ngày. Khổ gầy, khổ béo. Khổ xéo, khổ xiên. Khổ trên, khổ dưới. Khổ tới, khổ lui. Khổ mãi chẳng qua. Khổ xa, khổ gần. Khổ lầm lũi, khổ lủi thủi, khổ mà thấy tủi. Khổ đủ kiểu, đủ mức. Có nhiều thứ khổ, nhưng có lẽ cái khổ cụ thể nhất là cái nghèo – dù cái nghèo chỉ nhỏ xíu, bé tẹo teo. Khổ mãi. Khổ hoài. Khổ miết. Và… khổ tới chết!

Trong thi phẩm “Vịnh Cảnh Ngèo”, thi sĩ Nguyễn Công Trứ (1778–1858, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, nhà chính trị và quân sự thời nhà Nguyễn) đã từng than thở về phận nghèo bọt bèo, nhưng ông không bi quan mà vẫn hy vọng tương lai xán lạn:

Chẳng phải rằng ngây, chẳng phải đần
Bởi vì nhà khó hóa bần thần
Mấy đời thầy kiện mà thua mẹo
Nghĩ phận thằng cùng phải biết thân
Số khá, bĩ rồi thời lại thái
Cơ thường, đông hết hẳn sang xuân
Giời đâu riêng khó cho ta mãi
Vinh nhục dù ai cũng một lần

Với trí óc nông cạn và thiển cận, con người không thể hiểu hết “ý trời” nên cho là hên – xui hoặc “số kiếp”. Có thể cũng đúng khi nói “số kiếp” – một dạng theo kiểu tiền định, bởi vì tất cả đều là Ý Chúa – dù một sợi tóc cũng không ngoài ý Ngài, sợi nào rụng hay còn thì Ngài đã đếm hết rồi (x. Mt 10:30; Lc 12:17). Cái nghèo rất mông lung, đa dạng, không thể định mức chính xác. Vậy thế nào là nghèo? Rất khó phân định. Nhưng theo Kinh Thánh, người nghèo là người “chẳng có gì cả” (2 Sm 12:3). Đơn giản chỉ thế thôi. Ôi, thế thì te tua, tơi tả, tê tái thật!

Như đã nói, Giáng Sinh liên quan cái khổ. Giáng Sinh sao lại nói chuyện khổ thế? Buồn lắm! Bàn chuyện nghèo không phải để than vãn, ủy mị hoặc bi quan, yếm thế, mà để nhận diện cái nghèo, biết nó để yêu quý nó, chứ không xa lánh hoặc ghê tởm. Cái nghèo đáng yêu chứ không đáng ghét, bằng chứng là Chúa Giêsu đã chọn cách sinh nghèo và sống nghèo để dạy bài học về cái nghèo. Đã và đang có các đệ tử chọn cái nghèo của Ngài để sống: Thánh Phanxicô Assisi, Mẹ Teresa Calcutta,…

Ở đâu cũng thấy cái nghèo, ngay cả ở những nơi hoa lệ, đúng như Chúa Giêsu đã nói: “Người nghèo thì lúc nào anh em cũng có với anh em” (Mt 26:11; Mc 14:7; Ga 12:8). Nghĩa là Ngài bảo chúng ta phải biết thương người nghèo. Thật lạ lùng, cái nghèo có thể là liệu pháp hoặc biệt dược để tăng lực chúng ta: “Thiên Chúa dùng cái nghèo để giải thoát người nghèo, dùng khổ đau mà mở mắt họ” (G 36:15). Biết vui vẻ chấp nhận cái nghèo thì có phúc, ngược lại thì hóa khốn: “Hãy coi chừng, đừng để cho mình bị giàu sang mê hoặc, hay bị lung lạc vì quà cáp bạc tiền” (G 36:18).
Người Việt có câu: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Nhiều người giàu hóa nghèo vì ỷ lại, khinh đời và khinh người, và rồi cái gì đến cũng đến, như Kinh Thánh cho biết: “Cái nghèo sẽ đến như tên du thủ du thực, cảnh bần cùng sẽ đột nhập như người có vũ trang” (Cn 6:11 và Cn 24:34).

Chắc chắn không ai muốn nghèo, nhưng có người cố gắng mãi vẫn không “ngóc đầu” lên được, dù họ chăm chỉ, cần mẫn, chịu thương chịu khó chứ không hề lười biếng hoặc bất cần. Chúa rất thương những người đó, nhưng chưa tới lúc Ngài ra tay tế độ. Ngài không để ai chịu đựng quá sức, và Ngài sẽ ra tay đúng lúc: “Người giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo” (Tv 72:12-13a).
Thiên Chúa là Đấng “vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8:9). Mỗi dịp Giáng Sinh là thời điểm tốt để chúng ta nhận biết rõ ràng điều đó: Hang đá hoang lạnh, đám mục đồng nghèo, bầy súc vật, xung quanh vắng lặng giữa đêm khuya khoắt. Tưởng tượng cũng có thể nhận biết sự hiu quạnh như thế nào. Thật là khổ khi chẳng ai quen biết để nhờ vả trong cơn khốn khó và túng bấn!

Thánh Gia là một gia đình nghèo khổ quá chừng! Nghe hai từ “kiếp nghèo” là thấy “oải” lắm rồi. Chẳng ai muốn “dính líu” tới nó mà nó như ma trơi cứ đeo bám sát nút. Nhưng cuộc đời vẫn có vô vàn kiếp nghèo ở khắp nơi trên thế giới, ngay bên chúng ta cũng vẫn có nhiều. Kiếp nghèo như một “định mệnh” mà người ta khó có thể biến chuyển số phận. Thật vậy, ca dao Việt Nam có lời than thở này:

Cây khô tưới nước cũng khô
Người nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo

Ôi chao, sao mà bi đát quá! Cái nghèo KHÔNG LÀ TỘI nhưng có thể là “cái vạ”, bởi vì nó như quỷ tha ma ám, đeo bám người ta mà không chịu buông tha. Với kinh nghiệm trường đời, người ta thường có cách nói ví von: “Nghèo rớt mồng tơi, nghèo ho ra máu, nghèo lụi vô bờ, nghèo phơ tóc bạc, nghèo khạc ra khổ, nghèo bổ ngửa ra, quỷ tha ma bắt”. Đúng là khổ thật, khổ quốc tế, khổ kinh niên, khổ vô duyên, khổ truyền kiếp!

Nghèo khổ nhưng vẫn còn diễm phúc vì Thiên Chúa rất thương xót người nghèo. Chính Ngài đã “bắt” Thánh Tử Ngôi Hai nhập thể và nhập thế trong hoàn cảnh vô cùng nghèo hèn để đồng cam cộng khổ với nhân loại chúng ta – đặc biệt là đối với những con người nghèo hèn, bé mọn. Có thể nói rằng Lễ Giáng Sinh là… “lễ nghèo” – vì Con Chúa giáng sinh làm người trong cảnh cơ hàn, khó khăn, trong hoàn cảnh te tua, tơi tả, thê thảm!

Trở lại Belem ngày xưa, Kinh Thánh cho biết trong một đêm giá lạnh, Sứ thần báo tin cho các mục đồng biết “dấu hiệu đơn giản” về Chúa Hài Đồng – Vương Nhi Giêsu: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2:12). Thế thôi, chẳng có gì hơn. Nghèo thấy rõ. Nhìn là biết nghèo rớt mồng tơi rồi!

Rồi Thánh sử Luca cho biết: “Các mục đồng hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp Cô Maria, Chú Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2:16). Các mục đồng là dân nghèo thứ thiệt, nghèo “chính hiệu”, vì họ là mục đồng, những người chăn súc vật, nhưng họ chỉ là những người chăn thuê, chứ họ chẳng sở hữu con vật nào ráo trọi. Một thực-tế-buồn như vậy đấy!

Và rồi CHỈ CÓ NGƯỜI ĐÃ TỪNG NGHÈO MỚI BIẾT THƯƠNG XÓT NGƯỜI NGHÈO, ngoài ra chỉ là NÓI PHÉT (chữ “nói phét” của người miền Bắc có ý nghĩa “mạnh” hơn chữ “nói láo” của người miền Nam và Trung), vì có những người mang danh nghĩa là hoạt động tông đồ Lòng Chúa Thương Xót nhưng không hề thương xót đúng nghỉa của Chúa Giêsu. Quả thật, đúng như tục ngữ Việt Nam nói: “Có ăn nhạt mới biết thương mèo”. Câu nói rất đơn giản nhưng thâm thúy lắm, chí lý lắm!

Ai trong chúng ta cũng được Thiên Chúa thương xót, vì thế bất kỳ ai cũng có TRÁCH NHIỆM và BỔN PHẬN phải loan báo Tin Mừng và loan truyền Lòng Chúa Thương Xót, chứ chẳng riêng ai. Tuy nhiên, những người được giao đặc trách thì PHẢI có cách sống tốt nổi trội hơn người khác mới là hợp lý (theo kiểu loài người) và đúng luật (theo Ý Chúa). Thực sự CHÚA CHỈ THƯƠNG XÓT NHỮNG AI KÍNH SỢ NGÀI (Lc 1:50), ai kính sợ Ngài thì phải làm sao cho hợp lý. Cái “hợp lý” ở đây mới là mức độ “đau cái điền” (điên cái đầu, nhức đầu). Cây càng cao, gió càng lay. Tự nhiên là thế!
Liên quan vấn đề thương xót, dụ ngôn “Người Samari Nhân Hậu” (Lc 10:30-37) cho thấy rõ bằng câu chuyện kể về một người bị cướp dọc đường. Thầy tư tế và thầy Lêvi đi qua, sợ khó đến thân nên bỏ đi, mặc kẻ bị nạn bán sống bán chết. Một người Samari thấy vậy thì “chạnh lòng thương”, đưa nạn nhân vào bệnh viện (hoặc trạm xá, hoặc nơi y tế nào đó), ông ta “đặt cọc” một số tiền (vì túi ông hiện chỉ có như vậy), rồi căn dặn và hứa với người chăm sóc: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Lời hứa của ông được chấp nhận chắc hẳn người ta thấy ông là người uy tín lắm.

Nói xong, Chúa Giêsu hỏi ai trong ba người đó là người-lân-cận. Thầy thông luật “vô tư” trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Chúa Giêsu chỉ nhẹ nhàng nói: “Ông HÃY ĐI, và cũng HÃY LÀM như vậy”. Lời Chúa nói với người Samari hay nói với mỗi người chúng ta? Như thế mới là thương xót! Chúng ta có can đảm nhìn và tự hỏi: Tư tế và Lêvi là ai? Họ là thầy dạy cái gì? Còn Samari là ai? Họ KHÔNG DẠY cũng KHÔNG NÓI, nhưng họ LÀM. Có ai thấy “nhức đầu” chút nào? Nếu thực sự cảm thấy “nhức đầu”, đó là dấu hiệu tốt.

Rất đa dạng Giáng Sinh, mỗi người mỗi vẻ: Giáng Sinh rộn ràng. Giáng Sinh lạnh lẽo. Giáng Sinh đẹp đẽ. Giáng Sinh huy hoàng. Giáng Sinh đầm ấm. Giáng Sinh ngọt ngào. Giáng Sinh giản dị. Giáng Sinh phức tạp. Giáng Sinh hoành tráng. Giáng Sinh lặng lẽ. Giáng Sinh hào nhoáng. Giáng Sinh tưng bừng. Giáng Sinh thánh thiện,...

Ngắm nhìn Thánh Gia nơi hang đá Belem (trong TÂM TRÍ nhiều hơn trong THỰC TẾ – vì các Hang Đá ngày nay không nghèo chút nào), có nhiều bài học giá trị liên quan nhân phẩm, nhân vị và nhân quyền. Ước mơ của người nghèo đơn giản lắm, thế mà sao lại khó hiện thực quá chừng!

Đại văn hào Victor Maria Hugo (1802–1885, Pháp quốc) nhận định: “Có ba vấn đề lớn nhất của thế kỷ: sự tha hóa của đàn ông trong nghèo khổ, sự khuất phục của phụ nữ qua cơn đói, sự teo mòn của trẻ nhỏ vì bóng tối”. Đó là vấn đề “to lớn” khiến chúng ta phải suy tư nhiều! Cũng liên quan vấn đề nghèo, Kinh Thánh cho biết: “Trí khôn ngoan hơn cả sức mạnh, nhưng cái khôn của người nghèo lại bị khinh dể, lời người ấy nói, chẳng ai chịu lắng nghe” (Gv 9:16). Sự thật phũ phàng biết bao!

Khi đề cập cái nghèo, chúng ta cũng nên phân biệt sự giàu – nghèo về vật chất hay tinh thần (tâm linh). Thiết tưởng cũng đáng lưu ý điều này: Người ta nghèo không phải vì CÓ ÍT mà vì MUỐN NHIỀU (sở hữu tiền bạc, của cải,... nói chung là vật chất). Đó mới thực sự là mức nghèo đáng quan ngại, thậm chí là nguy hiểm, bởi vì “cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc” (1 Tm 6:10). Thế nhưng dạng nghèo tâm linh còn nguy hiểm hơn và đáng sợ hơn nhiều!

Rất khó phân định rạch ròi cái “khoảng” giàu – nghèo. Thật vậy, giàu có hay nghèo khổ còn phụ thuộc vào tỷ lệ giữa ƯỚC VỌNG và SỰ THỎA MÃN của mỗi người. Có người sống nghèo mà vẫn giàu (sang), có người sống giàu có mà vẫn nghèo (khổ). Riêng về lĩnh vực tâm linh, tất cả phàm nhân đều nghèo hèn trước mặt Thiên Chúa.

Sinh – tử không thể tách rời. Có câu chuyện “Cái Quan Tài” kể rằng: Ở một làng nọ có tục lệ mỗi người phải tự mua cho mình một cái quan tài để sử dụng khi nhắm mắt xuôi tay. Một hôm, có một ông lão nghèo nàn, ăn mặc rách rưới, đến trại hòm để mua quan tài. Ông lão nói với ông chủ:

– Tôi muốn mua một cái hòm.
Ông chủ trại hòm chau mày, nhăn nhó, và hỏi:
– Ở đây có 3 loại. Loại tốt nhất 100 quan tiền, loại thứ hai 50 quan tiền và loại rẻ nhất 10 quan tiền. Ông muốn mua loại nào?

Ông lão nghèo cẩn thận lấy ra từ trong áo một túi tiền. Ông đổ chúng lên sàn rồi đếm đi đếm lại. Sau đó, ông đưa mắt nhìn về phía ông chủ trại hòm:

– Cho tôi loại 10 quan tiền.

Ông chủ trại hòm nhìn ông lão với thái độ khinh dể, rồi hất hàm về phía người làm công:

– Ra phía sau trại, lấy rồi chở về nhà cho lão ấy!

Đúng lúc đó, một ông lão trông có vẻ giàu có cùng đi với hai tên hầu. Ông ta bước vào, lên giọng ngông nghênh:
– Chọn cho ta một cái hòm loại tốt nhất. Bao nhiêu tiền cũng được.

Ông chủ trại cúi chào rồi bảo:
– Thưa ngài, loại đắt nhất 100 quan ạ.

Ông lão giàu có quay sang nhìn ông lão nghèo với cặp mắt thương hại:
– Như ông chắc không có tiền mua loại đắt nhất rồi.

Ông lão nghèo vừa mỉm cười vừa điềm đạm nói:
– Thì ra NGƯỜI NGHÈO và NGƯỜI GIÀU khi chết cũng KHÁC NHAU, nhưng KHÁC NHAU chỉ 90 quan tiền.

Ông lão nghèo trả tiền rồi ra về cùng với cái hòm giá 10 quan tiền, trong khi lão nhà giàu và ông chủ trại vẫn đứng trơ ra vì cái triết lý sâu sắc của ông lão nghèo nàn kia.

Chuyện đời vẫn thường như thế. Giàu thì hay chảnh, nghèo mà còn chảnh thì đáng quan ngại hơn. Danh lợi và vật chất không thể mang xuống mồ, thế nên hãy cố gắng sống tốt và sống hữu ích. Giàu – nghèo hoặc sang – hèn gì thì khi nằm xuống cũng tay trắng, và chỉ cần ba thước đất.

Cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Đời người ngắn ngủi, và chẳng còn gì ngoài nắm tro, có còn chăng là lòng yêu thương nhân hậu vẫn lưu lại trong lòng người khác... Hơn – kém nhau là ở chỗ đó. Lựa chọn thái độ sống là chọn chỗ tốt cho mình trước mặt Thiên Chúa và trong lòng người đời khi mình vĩnh viễn ra đi...

Lạy Thiên Chúa, xin Ngài miễn cho con hai điều này thôi, và con sẽ không trốn để khỏi giáp mặt Ngài: Xin đừng để tay Ngài đè nặng lên con, và đừng làm con kinh hoàng sợ hãi (G 13:20-21). Con chỉ xin hai điều, Ngài đừng nỡ chối từ trước khi con nhắm mắt: Xin đẩy xa con lời dối trá và chuyện lọc lừa. Xin đừng để con túng nghèo, cũng đừng cho con giàu có; chỉ xin cho con cơm bánh cần dùng, kẻo được quá đầy dư, con sẽ khước từ Ngài mà nói: “Đức Chúa là ai vậy?”, hay nếu phải túng nghèo, con sinh ra trộm cắp, làm ô danh Thiên Chúa của con (Cn 30:7-9). Một lần Ngài phán dạy, con nghe được hai điều, rằng: Ngài nắm quyền uy và giàu lòng nhân hậu; rằng: Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người (Tv 62:12-13). Amen.

TRẦM THIÊN THU
Kính Mừng Chúa Giáng Sinh – 2018