Suy Niệm mùa chay, năm C

by Trầm Thiên Thu

April 3, 2019

 

TÌNH THƯƠNG và THA THỨ
(Chúa Nhật V Chay, năm C)

Tình thương và lòng tha thứ luôn có mối liên quan lẫn nhau. Tình Thương (và) Tha Thứ gồm 4 mẫu tự T, nhưng phải đạt tiêu chí của 4 mẫu tự T khác: Thương Tha Thật Tình. Nghĩa là không thể giả hình, mà giả hình thì không thương thật.

Có tình thương, người ta có thể làm được tất cả, tử thần cũng không thể làm cho họ hoang mang, sợ hãi.
Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4:8 và 16). Nhưng nhà hóa học Orlando Aloysius Battista (1917-1995, người Mỹ gốc Canada, một tín hữu Công giáo ngoan đạo), lại có nhận xét: “Điểm yếu nhất của hầu hết người ta là do dự nói lời yêu thương người khác khi họ còn sống”. Một nhận xét chính xác, nhưng thật đáng buồn cho nhân loại!

Rainer Maria Rilke (1875-1926, người Áo, một nhà thơ lớn của thế kỷ XX), nói: “Có điều kỳ diệu xảy đến với những người thực sự biết yêu thương: họ càng cho nhiều thì họ càng có nhiều”. Có nhiều thứ gì cũng là “giàu”, nhưng cái “có” theo tỷ lệ thuận với cái “cho” ở đây không nên chỉ hiểu về lĩnh vực vật chất. Những người thực dụng và ưa hình thức thì chắc chắn sẽ không thích “kiểu giàu” này. Đối với Thiên Chúa, cái giàu là cái nghèo, và ngược lại. Đó là triết-lý-sống của Nước Trời, được đề cập trong Hiến Chương Nước Trời (Bát Phúc, Tám Mối Phúc – Mt 5:3-12).

Ngôn sứ Isaia nói: “Đây là lời Đức Chúa, Đấng đã vạch một con đường giữa đại dương, một lối đi giữa sóng nước oai hùng, Đấng đã cho xuất trận nào chiến xa chiến mã, nào tướng mạnh binh hùng: tất cả đã nằm xuống, và không còn trỗi dậy, đã bị dập đi, tắt ngấm như tim đèn” (Is 43:16-17). Đó là hậu quả bi thảm của những người có ý định ngăn cản đường lồi của Thiên Chúa, muốn hại những người theo Ngài.

Thiên Chúa tiếp tục tuyên phán: “Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước. Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao? Phải, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn. Loài dã thú, chó rừng và đà điểu, đều sẽ tôn vinh Ta; vì Ta cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn, cho dân Ta tuyển chọn được giải khát. Ta đã gầy dựng cho Ta dân này, chúng sẽ lên tiếng ngợi khen Ta. Ít-ra-en bội nghĩa vong ân” (Is 43:18-21).
Thiên Chúa toàn năng, có thể làm mọi sự, từ không sẽ biến thành có, từ có sẽ hóa ra không. Ngài là Đấng xót thương, “mau quên” lỗi lầm của tội nhân, nhưng Ngài nhớ mãi những gì tội nhân thực hiện với ý tốt – dù là điều nhỏ nhoi mà thôi. Quả thật, Ngài quá đỗi đại lượng chỉ vì thương xót chúng ta. Vâng, chính sự khốn nạn của chúng ta đã khiến Thiên Chúa chạnh lòng trắc ẩn. Một sự thật mà đôi khi chúng ta không thể ngờ được, chắc chắn có mơ cũng không thấy ở cõi trần gian này, cũng chẳng có vị thần nào khác nhân từ như Thiên Chúa của chúng ta.

Tác giả Thánh Vịnh đã phải thốt lên: “Khi Chúa dẫn tù nhân Sion trở về, ta tưởng mình như giữa giấc mơ. Vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng” (Tv 126:1-2a). Mơ mà thật. Quá bất ngờ, quá ngạc nhiên, và rồi dân ngoại cũng không thể lặng im, mà họ phải bàn tán: “Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay!” (Tv 126:2b).

Tác giả Thánh Vịnh tiếp tục minh định: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! ta thấy mình chan chứa một niềm vui. Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về, như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam” (Tv 126:3-4). Thế cờ cuộc đời của chúng ta ở thế bí vì bị triệt buộc, nhưng Thiên Chúa đã lật lại thế cờ, chuyển bại thành thắng, đổi buồn thành vui, chuyển nước mắt nên tiếng cười: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126:5-6). Niềm hạnh phúc quá lớn, vượt ngoài ước mong, trên cả tuyệt vời. Xin tạ ơn Lòng Thương Xót của Thiên Chúa!

Có Chúa là có tất cả. Mất Chúa là mất tất cả. Một khi tin nhận và theo bước Chúa, người ta bất chấp mọi đau khổ, kể cả cái chết. Thánh Phaolô thổ lộ tâm sự: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người” (Pl 3:8-9a). Đối với những người không có đức tin hoặc chưa hiểu được ý nghĩa của sự đau khổ, họ coi những người “cam chịu đau khổ” là những người “không bình thường”, có thể là “điên khùng” hoặc “có vấn đề” về tâm thần. Tuy nhiên, ai khoe mình khôn ngoan thì lại hóa điên rồ mà thôi (x. Rm 1:22).

Người chấp nhận đau khổ và dám chịu đau khổ là người can đảm và khiêm nhường. Thánh Phaolô chia sẻ: “Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Môsê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Kitô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin. Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3:9b-11).
Xây dựng thì khó và lâu, nhưng phá bỏ thì rất mau. Con người vốn dễ ảo tưởng, dễ ngủ quên trong chiến thắng, thế nên phải luôn cảnh giác cao độ, vì tính kiêu ngạo lúc nào cũng chỉ rình “bật lên” mà thôi. Thói kiêu ngạo có thể len lỏi vào những công việc đạo đức, nó có thể làm mờ mắt của chúng ta, khiến chúng ta tưởng là mình tốt lành, nhưng có thể chỉ là giả hình. Kiêu ngạo là đốm lửa nhỏ nhưng lại rất mạnh, trong thoáng chốc nó có thể thiêu rụi hết những gì chúng ta đã khó nhọc tạo dựng.

Thánh Phaolô tâm sự như một lời khuyên nhủ: “Nói thế, không phải là tôi đã đoạt giải, hay đã nên hoàn thiện đâu; nhưng tôi đang cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt, bởi lẽ chính tôi đã được Đức Kitô Giêsu chiếm đoạt. Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 3:12-14). Cầu mong mỗi chúng ta luôn sẵn sàng để cho Thiên Chúa chiếm hữu mình để chúng ta có thể thuộc trọn về Ngài.

Trình thuật Ga 8:1-11 là một tình khúc tha thứ chan chứa lòng thương xót của Thiên Chúa: Nữ tội nhân ngoại tình.
Thánh sử Gioan cho biết rằng, Chúa Giêsu trở lại Đền Thờ lúc trời vừa tảng sáng. Toàn dân đến với Ngài để lắng ngh Ngài giảng dạy họ. Ngay lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Ngài một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Ngài: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”.

Họ nói thế nhằm thử Ngài, cố ý gài bẫy Ngài để có bằng cớ tố cáo Ngài. Nhưng Đức Giêsu không nói gì, rồi cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Ngài ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất.

Họ cứng họng! Chẳng ai bảo ai, lần lượt họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi.
Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ đứng ở giữa. Ngài ngẩng lên và hỏi: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?”. Chị khẽ đáp: “Thưa ông, không có ai cả”. Có lẽ lúc đó chị cũng run lắm. Chị run một phần vì sợ bị ném đá, một phần vì xấu hổ. Và có lẽ chị vẫn chưa heết run, dù chỉ còn chị đối diện với Chúa Giêsu. Chắc hẳn chị cũng đã nghe người ta bàn tán về Ông Giêsu nào đó, và hôm nay, chính con người đó dđang đứng nhìn chị. Ánh mắt nhân từ của Đức Giêsu “soi” vào chị và chị nhận ra mình là kẻ tội lỗi khốn nạn.

Nhưng Chúa Giêsu ôn tồn nói với chị: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”. Lúc này chị lại run, nhưng chị không run vì sợ, mà chị run vì sung sướng, vì hạnh phúc: Chị được trắng án, thoát án tử, nghĩa là chị được tái sinh. Chắc chắn không còn niềm vui nào to lớn hơn và mãnh liệt hơn!

Tình Thương là Lòng Thương Xót. Tình Thương đó đã tỏa ánh sáng Tha Thứ. Tình Thương đó bao la và tròn đầy mãi mãi – từ hồng hoang tới đời đời. Phụ nữ ngoại tình kia là mỗi chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã tha thứ và giải án tuyên công. Chúng ta được Thiên Chúa cho trắng án thì không thể không xóa án cho người khác. Nghĩa là chúng ta cũng phải mau mắn tha thứ cho bất cứ ai, không chỉ tha thứ bảy lần mà phải tha thứ bảy mươi lần bảy (Mt 18:22), tha thứ hằng ngày và tha thứ mãi mãi. Tha thứ là dấu chỉ yêu thương, dấu chỉ sống lòng thương xót.

Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Ngài luôn thương xót và tha thứ dù con tái phạm nhiều lần, xin giúp con biết thể hiện Tôn Nhan Thương Xót của Ngài và nhân từ với mọi người, hôm nay và mãi mãi. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

MÙA CỨU THƯƠNG

Mùa Chay là Mùa Cứu Thương. Nhưng… tôi rất ghét thầy thuốc! Tôi không bao giờ cần thầy thuốc! Tôi không hề muốn gặp thầy thuốc! Đó là những mệnh đề xác định “chắc nịch”. Tại sao vậy?

Xin đừng căng thẳng. Hãy cười và nới lỏng cơ bắp để thư giãn! Nói là “ghét” chứ thực ra không hề có ác tâm mà thù ghét thầy thuốc. Thầy thuốc hành nghề cứu người thì sao mà ghét được. Ý nói “ghét” ở đây chỉ là “không thích” mình phải đi tìm họ hoặc “được” họ đến nhà. Phải “gặp” họ thì chính mình chán lắm, vì sức khỏe của mình sa sút rồi, không chừng Tử Thần “rủ đi” đấy!

Thế nhưng rồi ai cũng đã từng phải cần đến thầy thuốc, mức độ khác nhau, chí ít cũng là… “uống thuốc cảm”. Thể lý đã vậy, huống chi tâm linh. Thật vậy, chắc chắn không ai lại không cần đến Thầy Thuốc Giêsu. Càng nhiều tuổi càng nhiều “bệnh” (tội), thế nên càng nhiều lần cần “gặp” Siêu Thầy Thuốc Giêsu, Đại Lương Y Kitô, để được Ngài chữa lành.

Chuyện cổ-tích-có-thật theo ngòi bút của Thánh sử Lu-ca kể rằng…

Một hôm, Đức Giêsu trông thấy một người thu thuế, tên là Lê-vi, đang ngồi ở trạm thu thuế. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” (Lc 5:27). Ông liền bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người. Lê-vi độc đáo thật, đang bận việc thế mà khỏi cần, dù là làm việc cho đế quốc Rôma, vì sẽ bị sa thải nếu bỏ việc nhà nước để lo việc riêng. Nhưng ông dứt khoát, theo Giêsu ngay lập tức. Chắc hẳn Lê-vi đã nghe danh tiếng của Chàng Giêsu, và hẳn là phải tâm phục khẩu phục Đại Sư Giêsu lắm thì Lê-vi mới dám bỏ tất cả để có thể mau mắn đi theo như vậy. Ước gì…!

Sau đó, ông Lê-vi làm tiệc lớn đãi Người tại nhà ông. Rất có thể là dạ tiệc, không phải tiệc bình thường mà là “tiệc lớn”, nghĩa là linh đình lắm, và hẳn là các thực khách tham dự phải là những ông to, lắm bà, những người quyền cao và chức trọng.

Thật vậy, Thánh sử Lu-ca cho biết rằng hôm đó có đông đảo người thu thuế và những người khác cùng ăn với họ. Hôm đó, những người Pha-ri-sêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ mới lẩm bẩm trách các môn đệ Đức Giêsu rằng: “Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi?” (Lc 5:30). Đúng là hạng người “ghen ăn, tức ở” nên “ngứa óc”, họ chuyên “đâm bị thóc, thọc bị gạo”. Chúng ta cũng chẳng hơn đâu, đừng ảo tưởng mà “chỉ trích” họ. Có thiên hình vạn trạng kiểu giả hình ngày nay!

Đức Giêsu biết tỏng họ đầy tà tâm và ác ý, miệng nam mô mà bụng một bồ dao găm loại “xịn”. Ngài vẫn thản nhiên xác định: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5:31-32).

Cũng ý đó, nhưng Thánh Mat-thêu nói chi tiết hơn về câu trả lời của Chúa Giêsu: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9:12-13). Chắc hẳn Chúa Giêsu không có ý coi thường nghi lễ và việc thờ phượng, mà Ngài muốn nhấn mạnh rằng yêu thương tha nhân mới là điều quan trọng hơn.

Chúng ta biết rằng Lê-vi chính là Thánh Mat-thêu, người Do Thái, làm việc cho quân đội La Mã với nhiệm vụ thu thuế từ những người Do Thái. Kiểu như Việt Nam nói là “cõng rắn cắn gà nhà”. Dù người Do Thái không cho phép lấy thuế quá nặng, nhưng mối quan tâm của người La Mã là cái hầu bao riêng. Họ không bận tâm việc nộp thuế của đám dân đen là những thứ gì, miễn sao cứ nhiều tiền, nhiều của là “Ô-Kê” thôi. Các nhân viên thuế vụ có nhiệm vụ là đè đầu dân mà lấy thuế, không chút thương xót. Do đó dân thu thuế bị người Do Thái ghét như những kẻ phản bội. Những người Pha-ri-sêu (Biệt phái) bị coi là phường tội lỗi, thế nên họ thấy “sốc” khi Chúa Giêsu gọi một người tội lỗi như thế làm môn đệ.

Xin “mở ngoặc” một chút: Tên gọi Mat-thêu theo tiếng Do Thái là מַתִּתְיָהוּ ‎ (Mattityahu), hoặc מתי (Mattay), nghĩa là “tặng phẩm của Chúa”; theo tiếng Hy Lạp là Ματθαῖος (Matthaios). Còn tên gọi Lêvi, theo tiếng Do Thái, nghĩa là “giữ lấy”. Cái tên cũng luôn có gì đó bí ẩn, dù cha mẹ đặt cho, nhưng có lẽ chính Thiên Chúa đã soi sáng để cha mẹ đặt tên cho con cái vậy. Có thể ví như lời quả quyết của ông Da-ca-ri-a: “Tên cháu là Gio-an” (Lc 1:63).

Quả thật, mỗi người đều có số mệnh mà Thiên Chúa đã “chọn” và “ấn định” theo Thánh Ý Ngài, chúng ta không thể hiểu thấu. Người ta vẫn nói “con người có số mệnh”, chúng ta cho đó là kiểu nói mang tình mê tín và dị đoan, nhưng nếu xét cho cùng thì chẳng dị đoan đâu, vì từ đời đời, Thiên Chúa đã “gọi” mỗi người vào làm Vườn Nho của Ngài ở những thời điểm khác nhau, với cương vị khác nhau, không thể làm khác theo ý riêng mình, nhưng tất cả là để hoàn tất Đại Công Trình Sáng Tạo và Cứu Độ theo Tôn Ý Ngài. Đó là số mệnh vậy!

Xin “trích ngang” thêm một chút: Thánh Mat-thêu biết tiếng Aram và tiếng Hy Lạp, là nhân viên thuế vụ của tổng trấn Hê-rô-dê An-ti-pa (Herod Antipas), làm việc tại phòng thuế vụ ở Ca-phác-na-um (Ga-li-lê), là một trong 4 tác giả Phúc Âm (quen gọi là Thánh sử), là con trai của ông An-phê (Alpheus, x. Mc 2:14; Lc 5:27).

Thánh sử Lu-ca và Mác-cô gọi Thánh Mat-thêu bằng “biệt danh” Lê-vi, nhưng cính Thánh Matthêu gọi mình bằng tên riêng. Ngược lại, Thánh Mat-thêu không nói tới bữa ăn tối của Chúa Giêsu tại nhà mình, còn Thánh Lu-ca và Thánh Mác-cô nói rõ là nhà của ông Lê-vi. Có điều hay là Thánh Mat-thêu không e ngại khi nhận mình là người tội lỗi, không giấu giếm sơ yếu lý lịch hoặc xuất xứ của mình.

Điều đó cho thấy rõ ràng Thánh Mat-thêu đã biết mình “bệnh nặng”, biết tình trạng “sức khỏe” suy yếu nhiều vì căn bệnh trầm kha nào đó, có thể là “tiếng chuông báo tử” của chứng ung thư, rất cần được chữa lành, càng sớm càng tốt. Vì thế, Thánh Mat-thêu không thể chần chừ, không còn nuối tiếc bất cứ thứ gì của cuộc đời này, sẵn sàng và mau mắn đứng dậy đi theo “tiếng gọi” ngay lập tức khi biết đó là “tiếng gọi” của Thầy Thuốc Giêsu.

Lời mời gọi “hãy theo tôi” của Chúa Giêsu là lời khuyên chân thành của vị lương y chân chính, thế nên “bệnh nhân” Mat-thêu không thể không nghe theo, dù thật lòng không muốn, và phải cấp tốc điều trị. Lời mời gọi đó cũng như tiếng còi xe cứu thương rất não nuột, rất cấp bách,...

Tình trạng tội lỗi của chúng ta là căn bệnh nan y còn nguy hiểm hơn chứng ung thư quái ác, càng cần phải điều trị sớm bằng những liệu pháp tối tân nhất. Liệu pháp hữu hiệu duy nhất là sám hối, lãnh nhận Bí tích Hòa giải, khiêm nhường mở cửa lòng để Suối nguồn của Lòng Chúa Thương Xót chảy vào từ Thánh Tâm Chúa Giêsu Kitô.

Như đã nói, Mùa Chay là Mùa Cứu Thương, đúng như Thánh Phaolô đã xác định: “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6:2). Và tới đây, nhất là về phương diện tâm linh, mệnh đề của chúng ta sẽ “chuyển hướng” 180 độ: “Tôi rất cần thầy thuốc, rất cần Đại Bác Sĩ Giêsu Kitô”. Máu và Nước của Đức Giêsu Kitô là Biệt Dược, là Thần Dược, chỉ có Siêu Dược đó mới triệt căn chứng ung-thư-tội-lỗi mà thôi!

Lạy Thiên Chúa, chúng con biết mình đang mắc chứng nan y mà chỉ có Ngài mới trị khỏi. Xin thương xót cứu chữa, vì chúng con biết tội rồi. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU