suy niệm chúa nhật 1 phục sinh , năm C-2016

by Trầm Thiên Thu

March 24, 2016

 

SỢ và MỪNG

(Lễ Vọng Phục Sinh – năm C)


Lối Gian Nan Dẫn Tới Miền Hạnh Phúc
Đường Thập Giá Đưa Về Cõi Trường Sinh


Bóng tối biến tan vì ánh sáng tràn ngập. Tội lỗi đỏ như son và thẫm tựa vải điều chợt hoá trắng như bông (Is 1:18). Bất công phải khuất phục vì công minh chính trực. Sự ác phải thoái lui khi sự thật trị vì. Tử thần chiến bại trong tủi nhục khi Đức Kitô sống lại trong vinh quang y như lời Ngài đã nói trước. Phục Sinh là Miền Ánh Sáng, là Cõi Sống chan chứa Hồng Ân, là tặng phẩm của Lòng Chúa Thương Xót.
Trình thuật St 1:1–2:2 tường thuật chi tiết về quá trình Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ thuở hồng hoang. Giáo hội muốn nhắc chúng ta nhớ lại công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa, vì sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô là công cuộc sáng tạo mới, những thụ tạo bị chết bởi tội đã trở thành những thụ tạo sống động nhờ Đức Kitô vâng phục và hoàn tất ơn cứu độ: Alleluia!


HÀNH TRÌNH VỀ ĐẤT HỨA
Đó là một hành trình đằng đẵng suốt 40 năm, chặng cuối cùng là vượt qua Biển Đỏ. Khi dân chúng hành trình về Đất Hứa và gặp bước hoạn lộ, Đức Chúa đã phán với ông Môsê: “Có gì mà phải kêu cứu Ta? Hãy bảo con cái Ít-ra-en cứ nhổ trại. Phần ngươi, cầm gậy lên, giơ tay trên mặt biển, rẽ nước ra cho có lối đi khô ráo ngay giữa lòng biển, để con cái Ít-ra-en đi vào. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá. Chúng sẽ tiến vào theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ được vẻ vang hiển hách khi đánh bại Pharaô cùng toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy. Người Ai-cập sẽ biết rằng chính Ta là Đức Chúa, khi Ta được vẻ vang hiển hách vì đã đánh bại Pharaô cùng chiến xa và kỵ binh của vua ấy” (Xh 14:15-18). Quả thật, nước đã rẽ ra cho dân đi qua, khi người Ai-cập đuổi theo thì nước ập lại, họ hoảng hồn mà không kịp chạy thoát.
Tất cả chúng ta cũng đang trên đường lữ hành trần gian, tức là chúng ta cũng đang làm một cuộc xuất hành, một hành trính tiến về Đất Hứa, không là Đất Hứa bình thường ở thế gian này mà là về Thiên Quốc – Đất Hứa Vĩnh Sinh. Theo lẽ thường, hành trình nào cũng lắm gian nan, đầy vất vả, cam go vô cùng – dù đó là hành trình dài hay ngắn. Nhưng thật hạnh phúc vì Thiên Chúa luôn độ trì, Ngài không bỏ mặc chúng ta một giây phút nào.
Đêm nay, đêm ánh sáng, đêm hồng phúc, chúng ta cùng xem lại các chi tiết mà Sách Xuất Hành tường thuật:
Thiên sứ của Thiên Chúa đi trước hàng ngũ Ít-ra-en, lại rời chỗ mà xuống đi đàng sau họ. Cột mây bỏ phía trước mà đứng về phía sau, chen vào giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Ít-ra-en. Bên kia thì mây toả mịt mù, bên này thì mây lại sáng soi đêm tối, khiến cho hai bên suốt đêm không xáp lại gần nhau được. Ông Môsê giơ tay trên mặt biển, Đức Chúa cho một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, dồn biển lại, khiến biển hoá thành đất khô cạn. Nước rẽ ra, và con cái Ít-ra-en đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước sừng sững như tường thành hai bên tả hữu. Quân Ai-cập đuổi theo; toàn thể chiến mã, chiến xa và kỵ binh của Pharaô tiến vào giữa lòng biển, đằng sau dân Ít-ra-en.
Vào lúc gần sáng, từ cột lửa và mây, Đức Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, Ngài gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Ngài làm cho chiến xa kẹt bánh, khiến chúng phải vất vả mới di chuyển nổi. Quân Ai-cập bảo nhau: “Ta phải trốn bọn Ít-ra-en, vì Đức Chúa chiến đấu chống lại người Ai-cập để giúp họ”. Đức Chúa phán với ông Môsê: “Hãy giơ tay trên mặt biển, nước sẽ ập xuống trên quân Ai-cập cùng với chiến xa và kỵ binh của chúng”. Ông Mô-sê giơ tay trên mặt biển, và biển ập lại như cũ. Quân Ai-cập đang chạy trốn thì gặp nước biển, Đức Chúa xô ngã quân Ai-cập giữa lòng biển. Nước ập xuống, vùi lấp chiến xa và kỵ binh, vùi lấp toàn thể quân lực của Pha-ra-ô đã theo dân Ít-ra-en đi vào lòng biển. Không một tên nào sống sót. Còn con cái Ít-ra-en đã đi giữa lòng biển khô cạn, an toàn nhờ Đức Chúa đã ra tay hùng mạnh đánh quân Ai-cập.
Sau đó, toàn dân biết kính sợ Đức Chúa, tin vào Đức Chúa, tin vào ông Mô-sê – tôi trung của Chúa. Bấy giờ ông Môsê cùng với con cái Ít-ra-en đồng thanh hát mừng Đức Chúa: “Tôi xin hát mừng Chúa, Đấng cao cả uy hùng: Kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi. Người là Chúa tôi thờ, xin dâng lời vinh chúc, Người là Chúa tổ tiên, xin mừng câu tán tụng” (Xh 15:1-2).
Bất cứ một tù nhân nào cũng vô cùng hạnh phúc khi được phóng thích, ngỡ như vừa từ Hỏa ngục được vào Thiên đàng vậy. Ai đã từng vào tù rồi mới khả dĩ cảm nhận được niềm vui sướng khi đuộc ra khỏi nhà tù. Bệnh nhân rất hạnh phúc khi được phục hồi. Người đang khát rất hạnh phúc khi được giải khát. Người mong chờ rất hạnh phúc khi được mãn nguyện. Và còn nhiều dạng hạnh phúc khác khi chúng ta được như ý. Nhưng chắc chắn không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc được “cải tử hoàn sinh”.
Các Kitô hữu và những người Công giáo luôn có một niềm hạnh phúc khác nữa là CHÚA GIÊSU THỰC SỰ PHỤC SINH, đúng như lời Ngài đã nói trước: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9:31). Và mọi điều đã xảy ra đúng từng chi tiết.
Nỗi lo, nỗi buồn, nỗi sợ, nỗi khổ,... chồng chất chật cả Tuần Thánh, nhất là “miền” Tam Nhật Vượt Qua, nhưng đêm nay niềm vui nối tiếp nỗi mừng. Cho nên trong bài Công bố Tin mừng Phục sinh (Exultet), Giáo hội nhiều lần mời gọi mọi người “mừng vui lên!”, vì Đức Kitô “đã thay thế chúng ta trả nợ của Adam với Chúa Cha muôn thuở, và đã lấy máu hồng quý giá rửa sạch án tổ tông xưa”, “vì đây là lễ vượt qua, lễ mà Chiên thật bị sát tế, trong máu Chiên môi miệng tín hữu được thánh hiến đêm nay”.
Đêm nay còn là đêm hạnh phúc tột đỉnh vì “là đêm mà cha ông chúng ta, là con cháu Israel, thoát ly Ai Cập xưa, Chúa đã cho tiến qua Biển Đỏ vẫn khô chân; là đêm nhờ ánh sáng cột lửa thiêng xóa tan mọi bóng tối nhân gian; là đêm mà hết những ai có lòng tin Chúa Kitô khắp trên trần gian, được cứu thoát hết các vết nhơ và tối tăm tội khiên, được ơn thiêng đưa về hợp đoàn cùng các thánh nhân; “là đêm mà xiềng xích bị bẻ tung, Đức Kitô khải hoàn chiến thắng vinh quang”.
Đặc biệt đêm nay còn là đêm hạnh phúc vì “nếu không được ơn cứu chuộc khỏi tội khiên, chúng ta sinh ra nào có ích chi!”. Thật kỳ diệu đối với phàm nhân: “Ôi nhiệm mầu thay! Lòng Yêu Thương của Chúa không ai hiểu thấu!”. Niềm vui đêm nay được nhân lên vì “tội Adam đã được tẩy xóa chính nhờ sự chết Chúa Kitô!”.Niềm vui tột đỉnh nên Giáo hội gọi Tội Nguyên Tổ là “tội hồng phúc”,chính tội-hồng-phúc đó “đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang”, và Giáo hội gọi đêm nay là “đêm hồng phúc”, vì đêm nay là “đêm nối kết trời đất”.
Rất rạch ròi, Tv 33:4-6 đã minh định: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất. Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú”. Có đau khổ mới biết hạnh phúc ngọt ngào thế nào, và muốn vinh quang thì phải biết chịu đựng đau khổ. Đức Kitô đã đau khổ tột cùng nên mới được vinh quang, vì thế: “Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể, hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp” (Tv 33:12). Đồng thời chúng ta phải luôn cầu nguyện với Chúa: “Xin đổ tình thương xuống trên chúng con như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22). Lời cầu đó cũng là lời hứa của chúng ta thân thưa với Ngài.


HÀNH TRÌNH VỀ CÕI SỐNG
Chính câu hỏi của Thánh Phaolô cũng chính là câu trả lời: “Anh em không biết rằng khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Ngài sao?” (Rm 6:3). Thánh Phaolô giải thích: “Được dìm vào trong cái chết của Ngài là chúng ta đã cùng được mai táng với Ngài. Bởi thế, cũng như Ngài đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:4). “Được dìm vào cái chết của Đức Kitô” lại chính là niềm hạnh phúc của chúng ta. Nghe chừng quá “ngược đời”, người không có niềm tin sẽ không thể hiểu nổi. Nhưng đó lại là sự thật 100%.
Cụm từ “được dìm vào cái chết của Đức Kitô” không chỉ diễn tả niềm hạnh phúc mà còn diễn tả sự may mắn của chúng ta, vì “chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Ngài đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Ngài, nhờ được sống lại như Ngài đã sống lại” (Rm 6:4), không chỉ vậy, “con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa” (Rm 6:6). Đó là cả một chuỗi kỳ diệu của cuộc đời người Công giáo.
Thật vậy, không kỳ diệu sao được bởi vì “ai đã chết thì thoát khỏi quyền lực của tội lỗi” (Rm 6:7). Chắc chắn như vậy, bởi vì “nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8). Thánh Phaolô xác quyết đó là niềm tin của chúng ta. Từ 3 giờ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, Tử thần tưởng đã chiến thắng, nhưng hắn đành “bó tay” từ Đêm Vọng Phục Sinh: “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Ngài chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Ngài”. Ngài đã chết là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ” (Rm 6:9-10). Đức Giêsu sống lại thật, Ngài sống cho Thiên Chúa, và chắc chắn chúng ta cũng cùng sống lại với Ngài. Còn hạnh phúc nào hơn? Đó là điều “trên cả tuyệt vời”. Nhưng không thể cứ “khơi khơi”, không thể cứ “thấy sang bắt quàng làm họ”, hoặc “cục muối cắn đôi, còn cục đường ăn cả”, mà phải có điều kiện “ắt có và đủ”, nghĩa là ai đã thực sự sống Mùa Chay thì mới có thể cảm nhận niềm vui phục sinh, và ai đã “dám chết cho tội” thì mới xứng đáng cùng phục sinh với Đức Kitô: “Hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6:11).
Ngắn gọn nhưng rõ ràng và chính xác, Thánh sử Luca tường thuật: Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giêsu đâu cả. Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ. Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại” (Lc 24:5-7).
Các phụ nữ này đến mộ nhưng vẫn rất sợ người Do-thái làm khó dễ, khi đến nơi lại chẳng thấy thi hài Thầy Giêsu đâu, họ càng hoang mang hơn. Phụ nữ mà! Thiên thần phải nhắc họ nhớ lại những điều Đức Giêsu đã nói. Và rồi họ mới an tâm. Khi từ mộ trở về, các bà léo nhéo kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy, giành nhau mà nói, nói như sợ người khác nói mất. Phụ nữ mà! Mấy bà nói đây là bà Maria Mađalena, bà Gioanna, và bà Maria, mẹ ông Giacôbê. Cũng có thêm một số các bà khác cùng đi với mấy bà này và cũng nói với các Tông Đồ y như vậy.
Tuy nhiên, các ông cho đó là chuyện vớ vẩn, thế nên các ông cứ bán tín bán nghi. Ra vẻ nam nhi ấy mà! Tuy vậy, có lẽ bán tín bán nghi nên ông Phêrô liền đứng lên chạy ù ra mộ. Nhưng khi cúi nhìn vào hầm mộ thì… ui da, ông thấy chỉ còn có những khăn liệm thôi. Ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra, nhưng chắc là mẩm bụng: “Mấy bà này nói đúng thật!”.
Thật là tội nghiệp cho các chị em phụ nữ quá! Ngay buổi chiều Thứ Sáu, họ không sợ, cứ cứ lẽo đẽo bước đi để tiễn biệt Chúa Giêsu lên Đồi Can-vê như “đưa đám tang sống”, và họ khóc lóc thảm thiết, khóc hết nước mắt. Chúa Giêsu nói rõ cho họ biết: “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Thế mà bây giờ, biết Chúa Giêsu đã sống lại thì họ lại sợ hãi và chạy có cờ. Phụ nữ là vậy, thông cảm. Thế nhưng nam giới cũng chẳng hơn gì họ đâu đấy!


Điều quan trọng nhất và cần quan tâm nhất lúc này là xác tín: ĐỨC KITÔ ĐÃ PHỤC SINH, và HÃY VUI MỪNG LÊN – ALLELUIA!
Chúa Giêsu đã sống lại là ấn tín để chúng ta tiếp tục kiên trì trên hành trình đức tin hàng ngày, tiến về Miền Đất Hứa Đời Đời. Chắc chắn hành trình đó luôn có nhiều gian khổ. Để tự nhủ và động viên lẫn nhau, chúng ta cùng ghi nhớ lời Chúa Giêsu đã nói với Thánh nữ Faustina: “Con đừng ngạc nhiên vì đôi khi bị tố cáo bất công. Chính Ta đã từng uống chén đau khổ bất công này trước vì yêu con” (Nhật Ký, số 289).


Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, tất cả là hồng ân vô biên của Ngài. Chúng con thật hạnh phúc được đắm mình trong Sông Ân Biển Tứ của Lòng Thương Xót bao la của Ngài. Chúng con xin tạ ơn Chúa Cha đã ban Thánh Tử Giêsu cho chúng con, chúng con xin tạ ơn Đức Kitô đã thương cứu độ chúng con, và chúng con xin tạ ơn Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn chúng con trong mọi hoàn cảnh. Cúi xin Ba Ngôi gìn giữ, nâng đỡ và thánh hóa chúng con, đừng để chúng con phải thiếu vắng Ngài một giây phút nào. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng Cứu Thế của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

XÁC TÍN

(Chúa Nhật Phục Sinh)


Tử Thần thua cuộc đành khuất phục
Con Chúa phục sinh giữa vinh quang


Tin là diễm phúc, xác tín là đại phúc. Chúng ta là hậu sinh nhưng lại thực sự diễm phúc vì đã được biết rõ là Đức Kitô Giêsu đã sống lại vinh quang, chứ không bán tín bán nghi như những người thời Chúa Giêsu. Thật vậy, nếu Đức Kitô không sống lại, niềm tin của chúng ta chỉ là hoang đường!
Vâng, Con Thiên Chúa đã chiến thắng Tử Thần và phục sinh khải hoàn. Vì vậy, chúng ta không thể trì hoãn cái sự sung sướng này được, mà phải cùng nhau hân hoan hợp xướng: “ALLELUIA!”. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải cố gắng thực hiện trọng trách: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí Chúa đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:22-24).
Ánh sáng Phục sinh đang chiếu tỏa chói ngời trên mỗi chúng ta, trên cả thế gian này. Chúng ta vô cùng vui mừng vì Đức Kitô đã sống lại thật và lòng chúng ta đầy tin tưởng nhờ Lời Chúa đã động viên: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:17-18).
Đức Kitô đã sống lại thật. Đó là một sự thật minh nhiên, thật hơn cả sự thật, không thể chối cãi, lịch sử và khoa khảo cổ đã cho thấy nhiều chứng cớ về những gì liên quan Chúa Giêsu, chứng tỏ rằng thực sự có một Ông Giêsu bị đóng đinh, được mai táng và đã sống lại – dù sự thật này bị một số người bóp méo, vì họ cố chấp hoặc vô thần.
Đã và đang có các nhân chứng ở khắp nơi, điển hình nhất là ông Phêrô. Kinh Thánh cho biết: “Một hôm, tại nhà ông Co-nê-li-ô, ông Phêrô lên tiếng: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10:34-35). Chúng ta cũng nên nhớ rằng Kinh Thánh là bộ sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, và được bán chạy nhất thế giới, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản (*). Điều đó chứng tỏ rằng Kinh Thánh nói những điều có thật, chứ không hư cấu hoặc bịa đặt như một số người cố chấp.
Sau khi sám hối vì chối Thầy ngay lúc dầu sôi lửa bỏng nhất, ông Phêrô đã xác tín và can đảm nó sự thật: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào” (Cv 10:34). Đó là điều chắc chắn, và không loại trừ ai, vì mọi người đều bình đẳng trước mặt Chúa. Không ai có thể cậy quyền ỷ thế hoặc ảo tưởng mạo nhận là mình “ngon” hơn người khác!


Khi nói về Sư Phụ Giêsu, ông Phêrô đã giải thích rạch ròi từng chi tiết: “Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Ngài. Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Ngài” (Cv 10:37-38). Sau khi lỡ chối bỏ Sư Phụ mình vì khiếp nhược và nhận biết sự thông cảm của Sư Phụ Giêsu khi Ngài quay lại nhìn mình (x. Lc 22:61), ông Phêrô “thót tim” khi thấy ánh mắt ấy “rất lạ”, vừa nhân từ vừa trách móc, nhẹ nhàng mà có sức xoáy vào sâu vào lòng người, nên ông đã “khóc hết nước mắt” (x. Lc 22:62), không chỉ hối hận mà còn tự xấu hổ, vì vừa mới chịu chức thánh xong (x. Ga 21:15-17) mà đã phản bội ngay, chính Thầy cho biết trước mà vẫn không tránh được. Thật khốn nạn!
Vô tri bất mộ. Biết rồi thì không thể lặng im. Và khi biết rõ Thầy Giêsu đã thực sự sống lại, ông Phêrô mạnh dạn nói một lèo, nói như chưa bao giờ được nói: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Ngài đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Ngài lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy, và cho Ngài xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Ngài truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Ngài là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Ngài và nói rằng phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội” (Cv 10:39-43).
Trước đây, một Phêrô-năng-động-và-thẳng-tính (trước mặt đám côn đồ mà ông dám rút gươm chém đứt tai một người đầy tớ thầy thượng tế – Ga 18:10) đã biến thành một Phêrô-khiếp-nhược. Nhưng sau khi Chúa Giêsu phục sinh, một Phêrô-nhát-đảm đã biến thành một Phêrô-can-đảm, lại dám nói thẳng nói thật như xưa. Đó là tác động của Chúa Thánh Thần!
Chúng ta cũng vậy, cũng đã bao phen “chối” Chúa và “bán” Chúa không văn tự. Nếu không tin thì cứ “sờ gáy” và thật lòng xét mình kỹ lưỡng mà xem: Mỗi lần phạm tội là mỗi lần chối Chúa, mỗi lần lườm nguýt tha nhân là liếc xéo Chúa, vân vân và vân vân... Vô kể! Nhưng dù chúng ta có dã tâm với Ngài thì Ngài vẫn cho đó là “chuyện nhỏ”, và Ngài sẵn sàng “cho qua” hết. Vì thế, chúng ta hãy can đảm và tin tưởng mời gọi người khác cùng xưng tụng Ngài: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1). Cả Thánh vịnh 136 cũng lặp đi lặp lại 26 lần điệp khúc: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Chúng ta tin tưởng và đoan hứa: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm” (Tv 118:21). Tại sao? Vì:
Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
Lại trở nên đá tảng góc tường
Đó chính là công trình của Chúa
Một công trình kỳ diệu vô thường
(Tv 118:22-23)


Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao? Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men” (1 Cr 5:6-7). Thật không dễ khi phải bỏ một thói quen cũ mà xấu, để sống theo một thói quen mới mà tốt. Muốn được vậy, người ta phải cố gắng rất nhiều và cố gắng không ngừng.
Thiên Chúa Ngôi Hai, Đức Kitô Giêsu, đã phục sinh, vì thế mà chúng ta cũng được sống lại và phải sống lại với Ngài. Thánh Phaolô minh định thêm: “Quả vậy, Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ” (1 Cr 5:8). Phải có đức tin mới khả dĩ thực hiện như vậy.
Người-môn-đệ-Chúa-yêu (tức là nhân chứng Gioan tông đồ) đã tường thuật: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến.
Bà Maria Mađalêna hốt hoảng thông báo: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20:2). Vì quá sợ bọn thủ ác mà ai cũng quên khuấy những gì Thầy mình nói trước. Nghe vậy, ông Phêrô và Gioan liền tức tốc đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào, vì lịch sự và vì “kính lão đắc thọ”.
Kẻ trước, người sau, rồi ông Phêrô cũng đến nơi. Kính lão đắc thọ. Ông Phêrô đến sau nhưng vào trước, vào thẳng trong mộ. Ông thấy những băng vải để và khăn che đầu Đức Giêsu có ở đó. Khăn che đầu không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ Gioan mới bước vào sau. Ông “đã thấy và đã tin” (Ga 20:8). THẤY và TIN là hai động từ quan trọng. Thấy rồi, liệu có đủ lòng tin? Nếu THẤY và TIN rồi thì phải có bổn phận LAM CHỨNG. Một quy trình hợp lý!


Theo Kinh Thánh cho biết, Đức Giêsu PHẢI trỗi dậy từ cõi chết. Nhưng trước đó, cả Phêrô và Gioan cũng chưa hiểu (x. Ga 20:9), dù cả hai ông đều là những đệ tử ruột của Chúa Giêsu. Thế nên người thời nay, kể cả chúng ta, không thấy thì rất khó tin. Chúng ta không thấy Chúa Giêsu, nhưng chúng ta có thể thấy những nhân chứng can đảm suốt đời sống và chết vì niềm tin vào Đức Kitô. Vả lại, chính Chúa Giêsu đã xác định: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Phần còn lại là có xác tín hay không, và đó là phần của mỗi chúng ta.
Xin được nhắc lại lời của Thánh nữ Bernadette (1844-1879, người được Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức): “Người tin thì không cần giải thích, người không tin thì có giải thích cũng vô ích!”.


Lạy Thiên Chúa chí thánh và toàn năng hằng hữu, xin Ngài ban thêm đức tin cho chúng con và xin giúp chúng con sống trọn niềm vui phục sinh ngay trên cuộc lữ hành trần gian này, đồng thời giúp chúng con can đảm làm chứng nhân của Ngài suốt cuộc đời này, mọi nơi và mọi lúc, qua từng nhịp thở. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Trong hơn nửa thế kỷ qua, Kinh Thánh là cuốn sách đứng đầu trong 10 cuốn sách được đọc nhiều nhất trên thế giới: [1] Kinh Thánh (3,9 tỷ bản), [2] Các Trích Dẫn từ Mao Trạch Đông (820 triệu bản), [3] Harry Potter (400 triệu bản), [4] Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn (103 triệu bản), [5] Nhà Giả Kim: 65 triệu bản, [6] Mật Mã Da Vinci (57 triệu bản), [7] Bộ truyện Chạng Vạng (43 triệu bản), [8] Cuốn Theo Chiều Gió (33 triệu bản), [9] Suy Nghĩ và Làm Giàu (30 triệu bản), [10] Nhật Ký của Anne Frank (27 triệu bản). Kinh Thánh là cuốn sách cổ xưa nhất nhưng lại có tỷ lệ “vượt trội” hơn các sách khác.