Bài vở tết Kỷ Hợi 2019

by Trầm Thiên Thu

January 17, 2019

 

SANG XUÂN TỚI TẾT

Xuân sang sao Tết không về?
Để cho Tết đợi, ngày chờ đêm mong
Xuân sang sao Tết bâng khuâng?
Mặc cho Mai nở rộ vàng sắc Xuân
Xuân sang sao Tết phân vân?
Én bay, Bướm lượn mà vườn trống trơn
Xuân sang sao Tết còn buồn?
Suốt mười hai tháng đầy năm khổ hoài
Bóng ai lầm lũi miệt mài
Dáng liêu xiêu những bước dài long đong
Cuộc trần còn lắm đau thương
Nên Xuân vẫn cứ ngóng trông Tết về
Cuộc đời như một chuyến xe
Người đi không giữ, người về chẳng mong
Cầu xin Thiên Chúa xót thương
Cho Xuân đón Tết về cùng mừng vui

TRẦM THIÊN THU
Trưa 16-1-2019

ĐỐT ĐÈN ĐI ĐÂU ?

Xách đèn tìm bình an
Nhưng chẳng thấy chi cả
Không hề có công lý
Làm sao sống bình an?

Xách đèn tìm mùa Xuân
Vì có người cướp Tết
Đời sống như đời chết
Đầy lo sợ, hàm oan

Đốt Tết cháy cả Xuân
Là không còn chi hết
Chẳng một miếng bánh tét
Bánh chưng để chưng thôi

Xách đèn kiếm cuộc đời
Chỉ thấy bòng nghiêng ngả
Suốt đời luôn vất vả
Nên lòng chẳng bình an

Cả đời con xách đèn
Tìm kiếm đời không thấy
Nhưng Chúa vẫn đợi đấy
Chờ con sáng đức tin

TRẦM THIÊN THU
Chiều 16-1-2019

QUAN LỢN TUỔI HEO

Năm nay Heo mập lên ngôi
Gọi là quan Lợn loi choi nắm quyền
Chưa vui mà đã thấy buồn
Ưa nhàn, mê ngủ, tham ăn, đòi hoài…
Dân không ăn ớt mà cay
Bởi vì quan Lợn mê say phong bì
Chức cao, bằng giả, ngu si
Quyền nhiều, hành khéo, tinh vi làm càn
Tết mà dân chẳng thấy Xuân
Quan Lợn chẳng cần biết nỗi khổ dân
Ăn nhiều quan Lợn càng đần
Ích gì loại đó, hại dân thì tài!

VIỄN ĐÔNG
Kỷ Hợi – 2019

 

XUI MÀ HÊN
[Niệm khúc Ga 2:1-12]
Chúa nhật II thường niên, năm C

Tiệc mừng đám cưới đang vui
Bỗng dưng hết rượu, thật xui quá chừng!
Xui mà hên, vẫn vui mừng
Bởi vì Đức Mẹ thấy thương giúp liền
Sáu chum đá nước đầy tràn
Chúa làm thành loại rượu ngon vô cùng
Mẹ là phụ nữ khiêm nhường
Đề cao giá trị khác thường nữ nhi
Xin cho phụ nữ mọi nhà
Biết thăng tiến phẩm giá như Mẹ Hiền
Ðể thêm duyên dáng mến tin
Duy trì hạnh phúc ấm êm gia đình
Tiệc vui là tiệc ân tình
Hạnh phúc nhà mình và cả tha nhân
Sẻ chia, hiệp nhất luôn cần
Xui mà có Chúa cũng hên thôi mà

TRẦM THIÊN THU
Chiều 17-1-2019

 

NIỆM XUÂN


Xuân về thì Tết đến nơi

Đất trời rộn rã, con người hân hoan

Đó là quy luật thiên nhiên

Chúa Trời tiền định và quan phòng rồi

Xuân về, Tết đến – cứ cười

Mong đừng ai khóc, được vui trọn niềm

Nhưng suy tư vẫn rất cần

Biết mình mới biết tha nhân thế nào

Thêm vui  thì cũng thêm yêu

Tết không cần lớn hay cao rộng gì

Khoảng Xuân nhỏ bé, chẳng to

Nhưng tình yêu lớn, chẳng đo ngắn – dài

Chúa Xuân là Đức Chúa Trời

Thánh Kinh suy niệm từng lời Mùa Xuân

Cứ cười, cứ uống, cứ ăn

Nếu không Tết chẳng là Xuân bao giờ

Thế nhưng đừng có hững hờ

Giả vờ chúc Tết còn gì là Xuân?


TRẦM THIÊN THU

Tết Kỷ Hợi – 2019

 

NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN

“Lục Súc Tranh Công” là loại truyện ngụ ngôn xa xưa, được lưu hành từ trước năm 1923. Chắc là những người trẻ ngày nay không biết truyện “Lục Súc Tranh Công”, thậm chí có thể cũng chẳng nghe nói tới – kể cả những người khoảng 50 tuổi.

“Lục Súc Tranh Công” nghĩa là sáu con vật nuôi trong nhà tranh nhau công trạng của mình. Sáu con đó là: Trâu, Chó, Ngựa, Dê, Gà, và Lợn (Heo).

Trong “Lục Súc Tranh Công”, Trâu nói mình làm ăn vất vả, có công sinh ra thóc, gạo, ngô, đỗ (đậu); Chó nói mình có công coi nhà giữ trộm; Ngựa nói mình có công đem chủ đi quán về quê, đánh đông dẹp bắc; Dê nói mình có công trong việc tế lễ; Gà nói mình có công gáy sáng, xem giờ; Lợn nói mình có công trong việc quan, hôn, tang, tế. Sáu con cùng tranh giành công cán, người chủ phải can thiệp vào, dàn hòa mới yên.

Tác giả khuyết danh, nhưng tuyệt phẩm “Lục Súc Tranh Công” đã trở thành truyện ngụ ngôn của Việt Nam – loại di sản chung của dân tộc. Truyện này là loại văn vần, viết theo thể “nói lối” hoặc “cổ phong”.

Nhân dịp Tết Kỷ Hợi, năm con Heo – một trong sáu con vật gần gũi với các gia đình Việt Nam, chúng ta cùng ngược dòng thời gian, trở về quá khứ để ôn cố tri tân, cùng thăm lại “miền ký ức” với tác phẩm “Lục Súc Tranh Công” cổ xưa...

TỰA

Trời hóa sinh muôn vật,
Đất dung dưỡng mọi loài,
Giống nào là giống chẳng có tài;
Người đâu dễ không nhờ vật.
Long chức quản bổ thiên, dục nhật.
Lân quyền tư giúp thánh, phò thần.
Quy thông hay thành bại, kiết hung.
Phụng lảu biết thạnh suy, bĩ thái.
Trong trời đất ba ngàn thế giái
Đều xưng rằng tứ vật chí linh.
Nhẫn đến loài lục súc hi sinh,
Trời cho xuống hộ người dương thế.

TRÂU

TRÂU mỏi nhọc, trâu liền năn nỉ:
Một mình trâu ghe nỗi gian nan,
Lóng canh gà vừa mới gáy tan,
Chủ đã gọi thằng chăn vội vã.
Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dã,
Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng.
Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông;
Vừa đến buổi cày bừa bua việc.
Trước cổ đã mang hai cái niệt
Sau đuôi thêm kéo một cái cày;
Miệng đã dàm, mũi lại dòng dây,
Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đỉa cắn.
Trâu mệt đà thở dài, thở vắn,
Người còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi.
Liệu vừa đứng bóng mới thôi,
Đói hòa mệt, bước khôn dời bước.
Ai thong thả, trâu nào ben đặng?
Trâu nhọc nhằn, ai dễ thế cho?
Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no,
Lại vườn đậu, vườn mè khiến chở.

Làm không kịp thở,
Ăn không kịp nhai.
Tắm mưa, trải gió chi nài,
Đạp tuyết, giày sương bao sá!

Có trâu, sẵn tằm tơ, lúa má,
Không trâu, không hoa quả, đậu mè,
Lúa gặt cất lên đà có trâu xe,
Lúa chất trữ, lại để dành trâu đạp.
Từ tháng giêng cho đến tháng chạp,
Kể xuân, hè, nhẫn đến thu, đông,
Việc cày bừa, nông vụ vừa xong,
Lại xe gỗ, dầm công liên khói,
Bất luận xe rào, xe củi.
Nhẫn đến loài phân bổi, tranh che,
Hễ bao nhiêu nhất thiết của chi,
Thì đã phú mặc trâu chuyên chở.
Bao quản núi non hiểm trở?
Chi nài khe suối dầm dề?
Cong lưng chịu việc nặng nề,
Cay đắng những lời dức lác!

Ăn thì những rơm khô, cỏ rác,
Ở quản chi ràn lấm, tráp nè.
Trâu dựng nên nông nọ, nỗi kia;
Trâu làm đặng căn trên, bồ dưới.
Nghĩ suy lại công trâu cho phải,
Lẽ cho trâu thao lụa mặc dày.
Không chi thì quần vải, dải gai,
Không chi thì khố lưỡi cày cũng khá.
Ăn cho phải những cơm với cá,
Không nữa thì rau cháo cũng nên,
Đến mai sau già cả sức hèn,
Cũng bảo dưỡng bổ công lao lý.
Khi mạng một chẳng đơm, chẳng tế;
Lẽ “sinh cử, tử táng”, mới ưng.
Thủa sống đà không dạ yêu đương,
Khi thác lại đoạn tình siêu độ.
Bảo nhau sắm con dao, cái rổ,
Khiến nhau vơ mớ củi, nắm nè.
Rằng: Trâu này cốt Phật xưa kia,
Phát đình liệu cho hồn thăng thiên giái.
Còn hình tích giống chi để lại,
Người người đều bàn bạc với nhau:
Kẻ thì rằng: Tôi lãnh cái đầu,
Người lại nói: Phần tôi cái nọng.
Kẻ giành lòng bóng ép gối mà kê,
Còn sừng đem về ép thoi làm lược.
Kẻ thì chuốc hoa tai, làm bầu liều.
Làm tù và mà thổi cũng kêu,
Tiện con cờ mà đánh cũng tốt.
Kẻ thì làm cái mõ, cáo hộp,
Người lại tỉa cán quạt, cán dao.
Còn giò chia nhau,
Làm nham, làm thấu.

Trâu gẫm lại là loài cầm thú,
Phận sau chịu vậy, dám nài!
Trâu thác đã công nghiệp phủi rồi,
Trâu sống lại kiện nài với chủ:
Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ
Ơn Tề vương vô tội kiến tha
Tưởng chưng khi sức mọn tuổi già,
Cám Điền tử dạy con chớ bán.
Lời cổ nhân còn dặn,
Sao ông chủ vội quên?

Chẳng nhớ câu “dĩ đức hành nhân”.
Lại lấy chữ “báo ân dĩ oán!”
Nói chi nữa cho dài chuyện vãn?
Thưa chủ xin nói thép một lời:
Nhưng loài muông, vô tướng, vô tài,
Nuôi giống ấy làm chi cho nhọc?
Ăn cho lớn, dưỡng vai, dưỡng vóc,
Giỡn với nhau vạch cửa, vạch sân,
Một ngày ba bữa chực ăn,
Thấy đến việc lén mình lét lét.
Chưa rét đã phô rằng rét,
Xo ro đuôi quít vào trôn,
Vấy bếp người, tro trấu chẳng còn,
Ba ông táo lộn đầu, lộn óc,
Chưa sốt đà nằm dài thở dốc.
Le lưỡi ra phỏng ước dư gang.
Lại thấy người lơ đĩnh lơ hoang
Tài ăn vụng thôi thì hơn chúng.
Nhưng muông biết cày nương, bừa ruộng,
Thì muông kể biết mấy công ơn ?
Muông, người cho ăn cháo, ăn cơm,
Trâu, người bắt nhai rơm, nhai cỏ.
Khi muông thác tống chung, an thổ,
Có gạo tiền cấp táng toàn thân,
Trách một lòng chủ ở bất công,
Hậu ư bạc, bạc đem làm hậu”.

KHUYỂN (Chó, Muông)

MUÔNG nghe nói, giận đau phế phổ,
Liền chạy ra sủa mắng vang tai:
Trời đã sinh các hữu kỳ tài,
Lớn việc nặng, bé thì việc nhẹ.
Bởi vì đó lớn vai, lớn vế,
Thì chuyên lo nông bổn cày bừa,
Vốn như đây ốm yếu chân tay,
Cũng hết sức gia trung xem xét.
Trách sao khéo thổi lông tìm vết?
Giận thày lay vạch lá tìm sâu.
Ai ai đều phận thủ như nhau;
Khắn khắn cũng một lòng phò chủ.
Kẻ đầu kia, người việc nọ,
Đứa coi ngoài có đứa giữ trong.
Đêm năm canh con mắt như chong:
Đứa đạo tặc nép oai khủng động.
Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,
Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.
Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,
Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.
Bao quản chui gai, lước góc,
Chi này múa mỏ, lòn hang.
Anh trâu sao chẳng biết thương,
Nỡ lại tra lời sanh nạnh.
Ăn thì cơm thừa, canh cặn,
Ăn thì môn sượng, khoai sùng
Tới bữa ăn chẳng luận ít nhiều,
Có cũng rằng, không cũng chớ.
Trâu rằng: trâu ăn rơm với cỏ,
Mà còn có một thằng chăn,
Tốn áo quần cùng tốn cơm ăn,
Nỗi lại tới gạo tiền đằng khác;
Tính chắt lót một năm hai đạc,
Về thằng chăn đã hết một trâu.
Cũng mạnh cày, mạnh kéo nên giàu,
Hãy cho nhẹm mình trâu là quí.
Vốn như đây gia tài ủy ký,
Mà chủ không tốn kém đồng nào.
Nếu không muông coi trước giữ sau,
Thì của ấy về tay kẻ trộm.
Trâu biết nói, trâu không biết xét,
Suy mình muông công nghiệp đã dày,
Khi sống thì giữ gìn của đời,
Khi thác xuống giữ cầu âm giái,
Người có phước, muông đưa ra khỏi,
Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu!
Chủ có lòng suy trước,xét sau,
Khi lâm tử gạo tiền tống táng.
Chủ đã có công dày ngãi rộng,
Muông dễ không tiếp rước đãi đưa,
Thấy anh trâu chưa biết căn do,
Nói vài chuyện, kẻo chê muông dại.

MÃ (Ngựa)

TRÂU với MUÔNG hai đàng đối nại,
Chủ nghe qua khó nỗi xủ phân:
Thôi đừng nhĩ ngã thiệt hơn.
Phú lưỡng bạn dĩ hoà vi quí.
Hai vật đã tương đồng hoan hỉ,
Lại cùng nhau từ tạ một lời:
Như luận trong công nghiệp hai tôi:
Ăn có bữa, lo không có bữa.
Dám thưa người, báu gì giống ngựa,
Mà trau tria lều trại nhọc nhằn ?
Ăn cho ăn những cháo đậu xanh,
Ở thì ở những tàu lợp ngói.
Bữa bữa dạo chơi, tắm gội,
Ngày ngày chắn vó, hớt mao.
Sắm sửa cho, chẳng biết chừng nào,
Suy tính lại, dư trăm, dư chục.
Sắm lá vả, sắm yên, sắm lạc,
Sắm chân đưng hàm thiếc, dây cương.
Dời tiền, dời hậu bao vàng,
Thắng đái, dây cương thếp bạc.
Gẫm giống ấy:
Nết na giớn giác,
Tính khí chàng ràng.

Tuy đang khi mọi vẻ nghiêm trang,
Trong gia sự nhiều điều ngơ ngáo.
Nghề cày bừa, nghe coi lếu láo,
Việc bắn săn coi cũng ươn tài,
Chủ nuôi không biết chủ là ai,
Nhà ở, chẳng biết nhà mà lại.
Dại không ra dại,
Khôn chẳng nên khôn;
Ngất ngơ như ốc mượn hồn,
Nuôi giống ấy làm chi cho rối.

Trâu với Ngựa cùng Muông ba gã,
Mới ra ngoài từ tạ phân nhau.
Ngựa giận dê, đứng lại giây lâu,
Bèn phát trạng cáo nài với chủ:
Dê với Ngựa cũng là giống thú,
Chăn đồng chăn, nuôi cũng đồng nuôi,
Dê, người cho ăn nhảy chơi bời,
Ngựa, người bắt kỵ biều, luân tế.
Gẫm giống chi hữu đầu vô vĩ,
Hình con con, bụng lớn;
Cáng náng như đứa có hạ nang,
Sớn sác tợ con chàng kẻ cướp.
Nghề tế kiệu coi đà xấu vóc,
Việc cày bừa nhắm bóng cũng ươn;
Hễ thấy người thấp thoáng đôi bên,
Liền há miệng kêu la: bé hé.

DƯƠNG (Dê)

DÊ nghe ngựa nói dê quá tệ,
Liền chạy ra vác mặt, vênh râu;
Dê nói rằng: Ta đọ với nhau,
Thử anh lớn hay là tôi lớn.
Anh đã từng vào dinh, ra trấn,
Sá chi tôi tiểu thú quê mùa?
Mạnh thì lo việc nước, việc vua.
Song chớ khá cậy tài, cậy tướng,
Ai có tài, chủ ban chủ thưởng,
Ai không công, tay làm hàm nhai,
Chẳng dám ăn lúa má, môn khoai;
Không hề phạm đậu mè, hoa quả.
Khuyên khuyên chớ nói ngang nói ngửa,
Bớt bớt, đừng ỷ thế, cậy tài,
Ai chẳng biết đuôi ngựa thì dài,
Dài thì để xua mòng, đuổi muỗi;
Vốn như đây đuôi tuy vắn vỏi,
Đây cũng không mượn ngựa nối thêm,
Ngàn dặm trường, mặt ngựa khoe êm,
Ba gò sỏi, dê đà xong việc.
Việc dê thì dê biết,
Việc ngựa thì ngựa hay,
Bừa cày, có thú bừa cày,
Kiệu tế, có muông kiệu tế,
Dê vốn thật thuộc về việc lễ,
Để hòng khi về hạng tư văn;
Để dành khi tế thánh, tế thần,
Lại có thủa kỳ yên, kỳ phước.
Hễ có việc, lấy dê làm trước,
Dê dâng vào người mới lạy sau.
Ngựa tuy rằng hình tượng lớn cao,
Tam sanh lễ, ai dùng đến ngựa?
Dầu đến việc làm đình, làm chợ,
Cũng lấy dê trảm thảo, bồi cơ;
Nhẫn đến ngày mạng tướng xuất sư,
Cũng lấy dê khấn cầu tổ đạo.
Lễ cốc sóc thánh nhân còn bảo:
Tử Cống sao dê sống bỏ đi ?
Ngựa nói ngang mà chẳng biết suy,
Dê nào có thiếu chi công trạng?
Nói cho xứng đáng,
Há dễ cơ cầu!

Dê tuy rằng vô vĩ, vô đầu,
Quan phong Trường tu chủ bộ.
Hèn như dê mà dám đọ,
Tiện như dê, quí bất khả ngôn.
Ngựa rằng: Ngựa ở chốn quyền môn,
Phong cho ngựa chức chi nói thử?
Thưa chủ nghiệm việc dê với ngựa,
Cân mà coi, ai trọng, ai khinh?

Ngựa nghe qua tỏ đặng sự tình,
Dê rằng: Bé, ai hay chức lớn?
Dê nói lại tài dê cũng rắn,
Ngựa thưa qua, sức ngựa thêm rồng:
Chủ phê cho lưỡng bạn tương đồng,
Chắp sự giả các tư kỳ sự.

Lời tự thuận hai đàng xong xả,
Dê phát ngôn, bèn trở nại gà:
Nuôi chúng tôi lợi nước lợi nhà,
Nuôi giống gà thật vô ơn ngãi.
Thấy chủ vãi đám ngò, vạc cải
Túc nhau bươi chếch gốc, trốc cây.
Thấy người trồng đám đậu, vồng khoai,
Rủ nhau vầy nát bông, nát lá.
Rất đến đỗi thấy nhà lợp rạ,
Kéo nhau lên vậy vã tâng bầng.
Cho ăn rồi quẹt mỏ sấp lưng
Trời chưa tối, đà lo việc ngủ.
Ba cái rác nằm không yên chỗ,
Mấy bụi rau nào để bén dây,
Cả ngày thôi những khuấy, những rầy,
Nuôi giống ấy làm chi vô lối?

 (Gà)

Gà nghe nói, nóng gan, nóng phổi,
Liền nhảy ra, chớp cánh, giương đầu.
Này này, gà ngũ đức thẳm sâu:
Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ. 
Trên đầu đội văn quan một mũ;
Dưới chân đeo hai cựa thần thương.
Đã ghe phen đến chốn chiến trường.
Lập công trận vang tai, lói óc,
Thủa (thuở) Tây Lũng tam canh trống thúc;
Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,
Một tiếng rằng: thiên nhật tác thì;
Hai tiếng rằng: quốc tộ tác xương,
Ba tiếng rằng: nhân gian tác lạc,
Đã cứu nạn Mạnh thường đặng thoát;
Lại khuyên người Tấn sĩ năm canh.
Hễ ai toan cải dữ về lành,
Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.
Coi giò gà xét biết thịnh suy.
Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,
Cất tiếng gáy, toại lòng người đãi đán,
Cứ mấy điều mà đoán,
Đã tỏ việc phải chăng?
Giận anh dê cứ nói việc ăn,
Khéo kiếm chác những điều xoi tệ.
Dê biết lễ gà cũng biết lễ,
Dê phong Chủ bộ, gà chức Tư thần.

Nói vài điều đã biết xứng cân,
Huống gà có ngoại khoa biết mấy?
Chưa biết ai hay rầy, hay khuấy,
Chưa biết ai ngủ sớm ngủ mê.
Gà không người chăn giữ đi về,
Nên gà mới lỗi lầm bươi móc.
Dê lầm thế không ai xem sóc,
Việc phá dê bằng chín bằng mười.
Bữa ăn gà tốn kém mấy hơi?
Nói những chuyện so chày buộc chặt.
Kể ít chuyện cho dê biết mặt,
Kẻ rằng gà vô thú trong đời.
Chẳng nhớ xưa đêm sáng, tốt trời,
Xui kẻ nhớ vợ hiền thêm chạnh.
Thức vua Thính làm lành giấc tỉnh.
Gà thua dê một hàm râu nịnh,
Nghĩ lại coi không ích lợi chi.
Gà dễ đâu có dám phân bì,
Nói điều phải mà nghe cho đặng?

Dê nghe nói công lênh nhẹ nặng,
Mới biết suy hơn thiệt mọi điều:
Thôi, thôi, nói ít biết nhiều,
Dê xin chịu lập tờ tự thuận.
Gà còn hãy chưa nguôi cơn giận,
Bèn phát ngôn thưa chủ một lời:
Như chúng gà vốn đạo làm tôi,
Giữ một tiết thức khuya dậy sớm.
Thủa ấu thơ người còn tríu trớn;
Đến lớn khôn đều có riêng quan.
Ai siêng bươi, siêng móc thì no,
Bằng biếng lặt, biếng tìm thì đói.
Gà gẫm lại thân gà thêm tủi,
Làm tôi người không đặng nhờ chi.
Heo ăn rồi ngủ ngáy sì sì,
Giả ngây dại, biết gì việc chủ.
Ngắm diện mạo, dị hình, dị thú,
Xem dung nhan khác thế lạ đời.
Như nuôi chơi, chẳng phải giống chơi,
Chạy rau cám, như tiền nội án.
No đú mỡ, nhảy quanh, nhảy quất,
Đói xép hông, cắn máng, cắn chuồng.
Mỗi một ngày ba bữa ròng ròng,
Đã chẳng thấy bữa nào sai chạy,
Bán bối gì mà người yêu vậy?
Mù quáng chi mà phải báo cô?

THỈ (Lợn, Heo)

Chú gà chớ lung lăng múa mỏ,
Giữ, có ngày cắn cổ chẳng tha!
Ghét thương thì mặc lượng chủ nhà,
Chớ thóc mách kiếm lời phỉ báng.
Như các chú lao đao đã đáng,
Heo thong dong ăn nhảy mặc heo.
Nội hàng trong lục súc với nhau,
Ai sánh đặng mình heo béo tốt?
Vua ngự lễ Nam giao đại đột,
Phải có heo mới gọi tam sanh,
Đừng đừng quen lời nói lanh chanh,
Bớt bớt thói chê ai ăn ngủ,
Kìa những việc hôn nhân giá thú.
Không heo ra, tính đặng việc chi?
Dầu cho mời năm bảy chuyến đi,
Cũng không thấy một người thấp thoáng.
Việc hòa giải, heo đầu công trạng,
Thấy mặt heo nguôi dạ oán thù.
Nhẫn đến khi ngu phụ, ngu phu,
Giận nhau đánh giập đầu, chảy máu.
Làng xã tới lao đao, láu đáu,
Nào thấy ai gỡ rối cho xong,
Khiêng heo ra để lại giữa dòng,
Mọi việc rối liền xong trơn trải.
Phải chăng, chăng phải,
Nghĩ lại mà coi,
Việc quan, hôn, tang, tế, vô hồi,
Thảy thảy cũng lấy heo làm trước.
Bởi gà nhỏ nói lời lấn lướt,
Nên phải phân ít chuyện mà nghe.
Dễ heo nào có dạ dám khoe?
Khắn khắn cũng lo làm việc phải.
Heo cũng biết đền ơn báo ngãi,
Heo cũng hay tiêu họa, trừ tai,
Toái thân phấn cốt chi nài?
Nát thịt tan xương bao quản?
Lòng thờ chủ ngay đà tỏ rạng.
Thân mình này ví bẵng như không.
Tại chú gà lời nói khùng khùng,
Mới sinh sự so đo trường đoản.

KẾT

Vậy chủ bèn phân đoán,
Phê một câu khúc tận kỳ tình:
Gà biết chữ xả sinh thủ ngãi;
Heo đặng câu tịnh sinh, tịnh dục.

Nhân rảnh thảo ra một lúc,
Chép ra cho rõ sự đời,
Sự này cũng sự nói chơi,
Ai muốn thì đọc mà cười cho vui!

LỜI BÀN

Truyện ngụ ngôn này gần gũi với con người cả về những con người vật và bài học sống mà truyện muốn nhắc nhở.

Ai cũng có một gia đình, chung nhà ở và chung bàn ăn mà sao lại tranh giành quyền lợi? Không nhường nhịn là ÍCH KỶ và THAM LAM, đối nghịch với hai nhân đức cần thiết là KHIÊM NHƯỜNG và BÁC ÁI – nghĩa là đối nghịch với Thiên Chúa. Từ gia đình cho tới xã hội và Giáo Hội, ai cũng tự nhận mình hơn người và giành phần lợi cho mình, chắc chắn KHÔNG BAO GIỜ có hòa bình đích thực vì không có công lý. Chỉ vì mưu mô, tham tàn mà xã hội ngày nay đang tự hủy hoại – cụ thể là tại đất nước thân yêu Việt Nam của chúng ta.

Thiết tưởng cũng nên lưu ý: Ngụ ngôn không là dụ ngôn, nhưng dụ ngôn cũng có thể là ngụ ngôn. Hai danh từ này có nghĩa tương đương nhưng cũng có nghĩa khác nhau.

Ngụ ngôn (Anh: parable, fable; Pháp: parabole, fable) là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang tính hoang đường, truyền thuyết, hư cấu, “bịa” ra như chuyện phiếm, nhưng vẫn có bài học luân lý, mang tính giáo dục, răn đời; các nhân vật thường là vật hoặc con vật được nhân cách hóa, các nhân vật cũng có thể là người hoặc thần linh.

Dụ ngôn (parable, parabole) cũng là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi, nhưng khác là mang tính bí ẩn, mang tính tục ngữ, đặc biệt là mang chiều kích tâm linh. Chúa Giêsu dùng thể loại này, tức là Ngài dùng thể loại “dụ ngôn” chứ không dùng “ngụ ngôn”. Chúa Giêsu dùng dụ ngôn, không dùng ngụ ngôn, để minh họa chân lý với các hình ảnh dưới thế nhưng mang ý nghĩa trên trời.

Thánh Phaolô nói: “Đã hẳn, có những kẻ rao giảng về Đức Kitô vì lòng GANH TỊ và TRANH CHẤP, song những người khác lại làm công việc đó vì ý ngay lành. Những người này làm vì bác ái, bởi họ biết rằng tôi được chỉ định để lo bênh vực Tin Mừng. Còn những người kia thì loan báo Đức Kitô vì TÍNH ƯA TRANH GIÀNH, họ không có lòng ngay, tưởng làm như thế là gây thêm khổ cho tôi, trong lúc tôi bị xiềng xích” (Pl 1:15-17).

Lạy Thiên Chúa, xin biến đổi mỗi chúng con thành khí cụ yêu thương của Ngài, và liên kết tất cả chúng con NÊN MỘT trong Đức Giêsu Kitô. Xin cho mọi người được tận hưởng trọn vẹn cái tết này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU
Đầu ngõ Xuân Kỷ Hợi – 2019

 

CÂU ĐỐI TẾT


Ngày xưa, người ta có thói quen văn hóa tốt lành là ngày Tết không thể không có câu đối – nghĩa là còn thiếu Xuân, chưa đủ Tết. Đó là một thú tiêu khiển lành mạnh, cao cả, ý nghĩa, nhân bản, dù chỉ là thú vui chơi ngày Tết với những “câu đối đỏ”. Một trong những câu đối phổ biến, dân dã và thực tế là câu đối xưa này:


THỊT MỠ, DƯA HÀNH, CÂU ĐỐI ĐỎ

CÂY NÊU, TRÀNG PHÁO, BÁNH CHƯNG XANH


Thú tiêu khiển chơi câu đối đơn giản mà vẫn nhiêu khê, bình thường mà vẫn trang nhã, chữ nghĩa thâm thúy tiềm ẩn triết lý sống. Ai có khả năng viết thư pháp thì tự viết trên giấy đỏ, nếu không thì nhờ hoặc thuê người viết giúp. Người viết câu đối gọi là ông đồ. Thi sĩ Vũ Đình Liên (1913-1996) có bài thơ “Ông Đồ” nổi tiếng, các nhạc sĩ cũng đã phổ nhạc bài thơ này: Mỗi năm hoa đào nở, Lại thấy ông đồ già


Ngày xưa là thế, kỳ diệu lắm, trình độ lắm; ngày nay không còn nét văn hóa độc đáo, ai “ham hố” chữ nghĩa còn bị người ta cho là “dở hơi”, chê bôi đủ thứ, bị ghét nên chẳng ai muốn tiếp cận, không gặp thì thôi, gặp là họ thấy “ngứa mắt”.


Dù sao cũng năm hết tết đến, cứ buông bỏ cho nhẹ mình. Và nhân dịp Xuân về, chúng ta có dịp cùng nhau nhâm nhi ly trà, ăn miếng mứt, cùng chuyện vãn, nhưng đừng quên cùng nhau ôn cố tri tân, suy tư về thân phận và cuộc đời phàm nhân với một số câu đối đỏ màu Tết và xanh màu Xuân...


1. MÔN ĐA KHÁCH ĐÁO THIÊN TÀI ĐÁO – GIA HỮU NHÂN LAI VẠN VẬT LAI

   [Cửa nhiều khách đến nhiều tiền đến – Nhà có người vào lắm vật vào]


2. SƠN THỦY THANH CAO XUÂN BẤT TẬN – THẦN TIÊN LẠC THÚ CẢNH TRƯỜNG SINH

    [Phong cảnh thanh cao xuân mãi mãi – Thần tiên vui thú cảnh đời đời]

3. THIÊN TĂNG TUẾ NGUYỆT, NIÊN TĂNG THỌ – XUÂN MÃN CÀN KHÔN, PHÚC MÃN ĐƯỜNG

 

 [Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ – Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà]


4. TỔ TÔN CÔNG ĐỨC THIÊN NIÊN THỊNH – TỬ HIẾU TÔN HIỀN VẠN ĐẠI XƯƠNG

    [Công đức tổ tôn nghìn năm thịnh – Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay]


5. XUÂN NHƯ CẨM TÚ, NHÂN NHƯ NGỌC – KHÁCH MÃN GIA ĐÌNH, TỬU MÃN TÔN

    [Xuân như cẩm tú, người như ngọc – Khách chật trong nhà, rượu hết chung]


6. PHÚC SINH LỄ NGHĨA GIA ĐƯỜNG THỊNH – LỘC TIẾN VINH HOA PHÚ QÚY XUÂN

    [Phúc đem lễ nghĩa trong nhà thịnh – Lộc nảy vinh hoa phú qúy xuân]


7. NIÊN NIÊN NHƯ Ý XUÂN – TUẾ TUẾ BÌNH AN NHẬT

    [Năm năm xuân như ý – Tuổi tuổi ngày bình an]


8. NIỆM TIÊN TỔ, DUẬT TU QUYẾT ĐỨC – KHẢI HẬU NHÂN,TRƯỜNG PHÁT KỲ TƯỜNG

    [Nhớ tổ tiên, đẹp điều nhân đức – Tin cháu con bền sự lạ hay]


9. THIÊN ĐỊA VÔ TƯ, TÍCH THIỆN TỰ NHIÊN THIỆN – THÁNH HIỀN HỮU GIÁO, TU THÂN KHẢ DĨ VINH

    [Trời đất vô tư, làm điều thiện tự nhiên được thiện – Thánh hiền có dạy, lo tu thân có thể được vinh]


10. TÂN NIÊN HẠNH PHÚC BÌNH AN TIẾN – XUÂN NHẬT VINH HOA PHÚ QÚY LAI

      [Năm mới, hạnh phúc bình an đến – Ngày xuân, vinh hoa phú qúy về]


11. ÐỊA SINH TÀI, THẾ NGHIỆP QUANG HUY – THIÊN TỨ PHÚC, GIA THANH HIỆN THÁI

     [Ðất sinh tài nghiệp đời sán lạn – Trời ban phúc, nhà tiếng tốt tươi]


12. PHÚC MÃN ĐƯỜNG, NIÊN TĂNG PHÚ QÚY – ÐỨC LƯU QUANG, NHẬT TIẾN VINH HOA

      [Phúc đầy nhà, năm thêm giàu có – Ðức ngập tràn, ngày một vinh hoa]


13. TRÚC BẢO BÌNH AN, TÀI LỢI TIẾN – MAI KHAI PHÚ QÚY, LỘC QUYỀN LAI

      [Trúc giữ bình yên, thêm tài lợi – Mai khai phú qúy, lại lộc quyền]


14. TIÊN TỔ PHƯƠNG DANH LƯU QUỐC SỬ – TỬ TÔN TÍCH HỌC HIỂN GIA PHONG

      [Tiền nhân danh thơm ghi sử nước – Cháu con tích học nổi cơ nhà]


15. ĐA LỘC, ĐA TÀI, ĐA PHÚ QUÝ – ĐẮC THỜI, ĐẮC LỢI, ĐẮC NHÂN TÂM

      [Nhiều lộc, nhiều tài, nhiều của cải – Gặp thời, được lợi, được lòng người]


GÀN BÁT SÁCH

Kỷ Hợi Tân Niên – 2019

 

TẾT LÌ XÌ XUÂN

TẾT NGAY KHI LÚC XUÂN VỀ
CẦU MONG AI CŨNG HOAN CA TƯƠI CƯỜI
HỒNG BAO MÀU ĐỎ THẮM TƯƠI
NÊN NGƯỜI ĐƯỢC NHẬN RẠNG NGỜI MỪNG VUI
KẺ NGHÈO KHỔ PHẢI NGẬM NGÙI
HÊN ĐÂU CHẲNG THẤY MÀ XUI LÌ XÌ
Tết về gần, Xuân đang đứng đầu ngõ. Dù vậy, vẫn có người vui, kẻ buồn, đó là chuyện dĩ nhiên của đời thường. Một trong các vấn đề khiến người ta phải “đắn đo” trong ngày Tết là chuyện lì xì.
Theo thói quen, tiền lì xì thường được bỏ vào “bao giấy đỏ” – gọi là “hồng bao”. Việt ngữ kỳ lạ: Hồng Bao có “dính líu” Hầu Bao, nhất là trong dịp Tết Nguyên Đán. Xanh xanh đỏ đỏ cho em nhỏ nó vui, nhờ vui mà chúng ăn ngon và chóng lớn ấy mà. Thế nhưng cũng lắm thứ rắc rối với chiếc hồng bao đó. Hệ lụy của chiếc hồng bao có tính chất đa chiều và đa dạng, đồng thời cũng nhiêu khê lắm!
Những người từ tuổi trung niên trở lên, chắc hẳn không mấy ai lại không biết (và còn nhớ) một câu đối Tết rất phổ biến của chí sĩ Nguyễn Công Trứ:
Chiều ba mươi, nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa;
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phú vào nhà.
Câu đối rất bình dân nhưng cũng rất thâm thúy. Cái “giằng co” xảy ra giữa khoảng giao thừa ấy khiến người ta như hóa ngông cuồng hoặc điên dại. Việt ngữ cũng thật độc đáo: Chỉ vì “bần hàn” (nghèo khổ) mà bị gọi là “thằng”, và nhờ bởi “phú quý” (giàu có) nên được gọi là “ông”. Cũng vậy, vì nghèo nên bị gọi là “kẻ nghèo”, mà “nghèo” thì đi với “hèn”; còn nhờ giàu mà được gọi là “người giàu”, mà “giàu” thì đi với “sang”. Chữ “kẻ” và chữ “người” để chỉ một con người, nhưng “số phận” lại khác xa nhau. Than ôi!
Cũng là con người – với đầy đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, thế mà ai nghèo thì bị gọi là KẺ, còn ai giàu được gọi là NGƯỜI. Về “thể” trong khi dùng động từ thể thụ động cũng vậy, chữ “bị” dùng cho kẻ nghèo, còn chữ “được” dùng cho người giàu. Ngoại ngữ không diễn tả được như Việt ngữ. Kể ra Việt ngữ thâm thúy thật, thế nhưng cũng thật “đau khổ” cho kẻ nghèo hèn.
Chỉ là đại từ chỉ ngôi thứ hai số ít, nhưng lại mang ý nghĩa cách biệt một trời một vực! Còn cái “phú quý” thì thường được hiểu theo nghĩa “vật chất” và “tiền bạc”, chứ ít người nghĩ tới cái “phú quý” theo nghĩa tinh thần!
Ngày Tết, ngày Xuân, hai tiếng “lì xì” rất thường được nhắc tới, và người ta nghĩ ngay tới bao giấy nhỏ màu đỏ, bên trong có một hoặc vài tờ tiền mới. Những năm gần đây, người ta “kiểu cách” hơn còn chuộng tờ 2 USD để lì xì cho “ra vẻ”. Đúng là chỉ trọng “bề ngoài”, mà trọng bề ngoài thì chứng tỏ “yếu kém” nội tâm. Sao không lì xì hai ba chục ngàn cho tiện, lì xì 2 USD chỉ thêm khó khăn cho người được lì xì, vì họ lại phải đi đổi ra tiền Việt. Thật là “rách việc” và phiền toái quá!
Theo nhà nghiên cứu Cao Sơn, “lì xì” có tiếng chữ là “lợi thị”, đọc theo âm Quảng Đông, Triều Châu thành “lê-i-xị”, ám chỉ số tiền được cho (tặng, biếu) trong các dịp đầu năm, khai trương và cả trong lễ thành hôn nữa – chứ không chỉ bó hẹp trong dịp Tết Nguyên Đán. Ở Việt Nam, “lì xì” được hiểu một cách đơn giản là “tiền mừng tuổi”. Tiền này KHÔNG NHẰM ĐỂ CẤT CHO NẶNG HẦU BAO, mà ngụ ý CẦU CHÚC NGƯỜI NHẬN QUANH NĂM SUNG MÃN, MAY MẮN, PHÁT ĐẠT. Như vậy, ý nghĩa chính của “tiền lì xì” không nằm ở “tiền” mà ở “tình”, tức là ở lòng mong ước cầu chúc con cháu hay ăn chóng lớn, vui chơi, học hành tấn tới, còn phong bì “nặng” hay “nhẹ” (nhiều hay ít tiền) KHÔNG PHẢI LÀ ĐIỀU ĐÁNG LƯU TÂM. Đó là một nét văn hóa. Nhưng ngày nay, “văn hóa lì xì” đang bị lạm dụng thái quá, bị “biến tướng” thiên hình vạn trạng và rất tinh vi. Do đó, người lì xì cảm thấy phải… “nghĩ ngợi” và “đau cái điền” (điên cái đầu) lắm thôi!
Về chuyện lì xì, có truyền thuyết này: “Ngày xưa, có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm giao thừa khiến trẻ con giật mình khóc thét lên. Hôm sau đứa trẻ nhức đầu, sốt cao, làm cho bố mẹ không dám ngủ, phải thức canh phòng yêu quái. Có một cặp vợ chồng nọ mới sinh được một đứa con trai kháu khỉnh. Tết năm đó, có 8 vị tiên dạo qua, biết trước cậu bé sẽ gặp nạn liền hóa thành 8 đồng tiền ngày đêm túc trực bên cậu bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại và đặt lên gối con rồi ngủ. Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện định làm hại đứa trẻ thì từ chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực, khiến nó khiếp vía bỏ chạy”.
Nếu định nghĩa cho vui, theo kiểu “trào phúng thực tế” hoặc “tự điển tra ngược”, thì “lì xì” là vì người kia “lì” quá nên đành phải “xì” tiền ra thôi! Lì xì cũng có thể là “lì xì ngược” và “lì xì xuôi”.
Chuyện đời vốn dĩ nhiêu khê, phú quý sinh lễ nghĩa. Lễ nghĩa một chút cũng tốt, nhưng hễ điều gì “thái quá” thì cũng hóa “bất cập”, gây phiền toái cho nhau. Người ta thường nói: “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Có tiền thì người ta nói ngang, nói dọc gì cũng không bị bắt bẻ. Người không có tiền không dám ăn, không dám nói – dù có thể “trình độ” người nghèo hơn hẳn người giàu, nhưng nói gì cũng không ai tin, nói đúng cũng bị cho là sai. Vì “đồng bạc đâm toạc tờ giấy”. Quả thật, “miệng nhà quan có gang, có thép”. Còn miệng nhà nghèo thì thế nào? Chắc là “miệng nhà nghèo bép xép, lôi thôi”!
Chuyện đời là thế đã đành. Chuyện “nhà đạo” cũng không khá hơn. Nói là một chuyện, làm lại là chuyện khác!
Tại Giáo hạt P. thuộc GP Xuân Lộc có linh mục nọ “chịu khó” đi chúc tuổi mỗi dịp Tết Nguyên Đán, nhưng đi là cốt để nhận những phong bì – tất nhiên càng “nặng” càng… tốt! Suốt khoảng 10 năm, linh mục này đều đi “chúc tết” như vậy. Linh mục là chủ chăn, bổn phận là quan tâm chăm sóc đoàn chiên, đi chúc tết các gia đình là nhiệm vụ, tạo sự gần gũi và hiểu nhau hơn, vậy mà sao lại “đòi” phải có phong bì? Có những người đã từng phải đóng cửa, tránh né để không phải tiếp người đến chúc tết nhà mình. Chuyện “lạ” thật, và cũng… buồn thật!
Cũng tại Giáo hạt P. thuộc GP Xuân Lộc, một linh mục khác nói rằng mọi năm đi chúc tết các gia đình thì không nhận lì xì, nhưng Tết Nhâm Thìn (2012) thì linh mục này “xin được nhận”. Nghe chừng rất “tế nhị” và “lịch sự”. Linh mục này nói thêm: “Chúng tôi không nhận cho bản thân, chỉ nhận cho giáo xứ, lý do là giáo xứ còn thiếu tài chính khi phải tổ chức thứ này hoặc thứ nọ”. Nói như vậy có điều gì đó vẫn “tiêu cực”. Giáo xứ này thuộc vùng quê, còn nhiều người nghèo, chắc chắn những người nghèo phải “nghĩ ngợi” lắm lắm. Phải chi linh mục này nói thêm rằng “quý vị đừng ngại, ít nhiều gì cũng được, KHÔNG CÓ CŨNG CHẲNG SAO, cái chính là chúng ta chúc tết nhau”, như vậy thì những người “thiếu điều kiện” sẽ đỡ tủi thân hơn. Và chắc rằng như vậy sẽ đẹp lòng Chúa, là điều Chúa muốn, vì “Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì CHẠNH LÒNG THƯƠNG, và chữa lành các bệnh nhân của họ” (Mt 14:14), và lần khác, Ngài đã gọi các môn đệ lại mà nói: “Thầy CHẠNH LÒNG THƯƠNG đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ KHÔNG có gì ăn” (Mt 15:32). Rõ ràng Chúa luôn cảm thấy chạnh lòng thương những người nghèo – cụ thể là miếng ăn. Thiết tưởng PHÚC ÂM TƯỜNG TRÌNH QUÁ RÕ RÀNG, không cần nói gì thêm!
Đi chúc tết trong 2 ngày (mùng 2 và 3, hoặc mùng 3 và 4), mà số gia đình khoảng 200 hộ thì thời gian “ngồi đối thoại với nhau” quá ít, thể hiện “nghi thức” cũng hết thời gian rồi, tình cảm chỉ chiếu lệ mà quan trọng không gì hơn là “phong bì”! Còn đâu thời gian để biết “chiên” nào cần mà chăm sóc, “chiên” nào yếu mà đỡ nâng, “chiên” nào lạc mà tìm về?
Tại TGP Saigon, một linh mục mới về nhận xứ gần năm nay, linh mục này không đi chúc tết đúng ngày Xuân mà đi trước Tết cả tháng trời, linh mục này đến thăm hỏi và tạo sự thân thiện giữa chủ chăn và đoàn chiên, mỗi tuần đi một khu, nhờ vậy mà thời gian “ngồi đối thoại với nhau” nhiều hơn.
Tại Giáo hạt S. thuộc TGP Saigon, nghe giáo dân “bàn tán” rằng linh mục quản xứ có hai loại túi: một túi nhận tiền lì xì và một túi nhận tiền xin lễ. Sao “kỳ lạ” vậy nhỉ? Coi bộ “bất ổn” lắm lắm!
Cũng tại TGP Saigon, một linh mục chưa qua ngũ tuần xây dựng một nhà thờ thuộc loại “nổi bật” với một ý xanh rờn: “Chưa thấy Rôma thì cứ tới đây”. Xây nhà thờ xong thì nợ vài tỷ đồng. Rồi thuê “ca sĩ” về làm show với giá vé 200.000 đồng để “cứu vãn”. Hàng tuần, có những ngày giáo dân phải “nghĩ ngợi” nhiều vì bị “xin tiền” tới 3 lần: Mỗi giáo dân tới dự lễ đều nhận 1 thư ngỏ, giữa lễ thì có xóc giỏ, sau lễ lại có những người cầm giỏ đứng ở các cửa và cổng để chờ “lòng hảo tâm”. Hết ý! Giáo dân “than phiền” nhiều nhưng… vô ích. Có lẽ các gia đình cảm thấy phiền khi “bị” linh mục chính xứ đi chúc tết, vì vấn đề chính vẫn là “chuyện lì xì”. Tội nghiệp giáo dân cứ bị “nhức đầu” kinh niên!
Trong bài giảng thánh lễ sáng 11-1-2014 tại nguyện đường Nhà Trọ Thánh Marta ở nội thành Vatican, khi diễn giải bài đọc thư thứ I của Thánh Gioan Tông Đồ, ĐGH Phanxicô nói về quan hệ của linh mục với Chúa Giêsu: “Linh mục chân chính là người được Thiên Chúa xức dầu để phục vụ Dân Chúa, linh mục có quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu, khi thiếu quan hệ này thì linh mục trở thành người không còn được xức dầu nữa, thành người thờ ngẫu tượng, thờ thần là cái tôi của mình”. Ngài gọi đó là những linh mục KINH TÀI và PHÔ TRƯƠNG. “Kinh tài” liên quan kinh tế và tài chính, tức là liên quan “tiền bạc”. Người phô trương là người ưa bề ngoài, tức là liên quan “dòng họ” Pharisêu – những người “vốn ham hố tiền bạc” (Lc 16:14). Thánh Phaolô đã xác định: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc” (1 Tm 6:10).
ĐGH Phanxicô đặt vấn đề về các linh mục: “Có đi tìm Chúa Giêsu hay không? Đâu là chỗ của Chúa Giêsu Kitô trong đời linh mục? Phải chăng đó là một quan hệ giữa trò và Thầy, giữa em với anh, giữa một người nghèo hèn với Thiên Chúa, hay chỉ là một quan hệ hời hợt, không đến từ con tim?”. ĐGH Phanxicô nhấn mạnh: “Các linh mục không còn được xức dầu nữa, linh mục giải dầu (unto), thì họ gây hại dường nào cho Giáo Hội! Những linh mục như thế đặt sức mạnh của họ nơi những điều hời hợt, trong sự háo danh… Bao nhiêu lần ta đau lòng khi nghe nói: Kìa, đó là một linh mục huênh hoang, một linh mục không có quan hệ với Chúa Giêsu, một linh mục đã đánh mất sự xức dầu!”.
ĐGH Phanxicô nói với các linh mục đồng tế với ngài vào sáng hôm đó: “Chúng ta sẽ nói gì với dân chúng? Dân chúng ‘đánh hơi’ giỏi lắm!”. Rồi ngài bày tỏ lòng mong muốn tha thiết: “Ước gì quan hệ của chúng ta với Chúa Giêsu Kitô, quan hệ của những người được xức dầu với dân Chúa, ngày càng tăng trưởng nơi các linh mục chúng ta”. Chắc hẳn đó cũng là ước mong của mọi người vậy. Nhưng điều ước có thực sự thành sự thật hay chỉ ước để mà ước?
ĐGH Phanxicô đúng là “nhà cách mạng” đã dám cải tổ, không ngại nói thẳng nói thật để “mở mắt” người khác. Quả thật, chính Chúa Giêsu cũng đã từng căn dặn: “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi” (Mt 7:15).
Tháng 10-2013, giám mục Franz-Peter Tebartz-van Elst của Limburg (Đức) đã bị kỷ luật vì thói sống xa hoa và hoang phí. Đó là trường hợp “điển hình”, một chuyện xưa nhưng không bao giờ cũ. Biết được những điều “trái tai, gai mắt” như vậy, số người biết “giật mình” mà ăn năn sám hối, chấn chỉnh cách sống cho hợp ý Chúa, tỷ lệ được bao nhiêu?
Thuận ngôn nào cũng nghịch nhĩ. Sự thật luôn gây mất lòng. Nhưng Chúa Giêsu lại bảo: “SỰ THẬT SẼ GIẢI PHÓNG ANH EM” (Ga 8:32). Chúng ta không dám nói sự thật hay là nhu nhược, hèn nhát, bao che? Kinh Thánh thường xuyên cổ vũ: “ĐỪNG SỢ!” (St 15:1; St 21:17-18; St 26:23-24; St 35:16-17; St 43:23; St 46:1-4; St 50:18-21; Xh 14:13; Đnl 31:6; Is 41:10; Is 41:13; Is 43:1; Is 43:13; Gr 46:27-28; Gr 51:46; Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Lc 1:13; Lc 1:30; Lc 2:10; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20; Ga 14:27; Kh 1:17-18).
Ngày xưa người ta nói: “Đi chùa tốn gạo, đi đạo tốn công”. Điều đó cho thấy một “thực tế”, vì các thiện nam và tín nữ đi chùa thường có những “thói quen” như làm công quả, bố thí, phát tâm cúng dường Tam Bảo, cúng dường Trai Tăng,… Nghĩa là “tốn công và tốn của”. Nhưng “đi đạo”, ý nói theo đạo Công giáo, chỉ tốn công sức (dự lễ, xưng tội, đọc kinh, cầu nguyện, làm việc tông đồ,…). Tuy nhiên, ngày nay không còn “thuần túy” như vậy vì nhiều lý do quá ư là “thực tế”! Ngày xưa, khi Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình (TGP Saigon) còn sống, ngài đã có Thư Chung về việc “không ủng hộ xây dựng nhà thờ” (có đăng trên tuần báo Công giáo và Dân tộc hồi đó).
Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12:15). Thế nhưng… chiếc hồng bao vẫn khiến “say đắm” lòng người vì nó có “ma lực” khó cưỡng lại, phải tỉnh táo hết sức mới khả dĩ thoát khỏi sự mê hoặc của nó và thoát khỏi sự kềm kẹp của nó. Thật không hề dễ chút nào đâu!
Người viết không có ý “bới bèo ra bọ” hoặc “vạch lá tìm sâu”, cũng không có ý tiêu cực mà có ý tích cực xây dựng – con người, xã hội, giáo hội, và đất nước. Theo lẽ thường thì niềm vui người ta không nhớ lâu, thậm chí là dễ quên, nhưng nỗi buồn thì luôn làm người ta nhớ rất lâu. Thật vậy, khi cơ thể bạn bình thường, không hề thấy có gì “khó chịu”, nhưng khi bạn bị một vết thương, dù nhỏ như đạp gai, thậm chí chỉ nhỏ như cái dằm, vậy mà bạn rất dễ nhận thấy “cái đau”, đôi khi “đau nhói”.
Để tạm kết, xin mượn lời của Thánh Phaolô: “Anh em đừng dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều bất chính, phục vụ cho tội lỗi nữa. Trái lại, anh em là những người sống đã TỪ CÕI CHẾT TRỞ VỀ, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa” (Rm 6:13). Quả thật, chúng ta đều là những người “từ cõi chết trở về”, chẳng ai hơn ai, thế nên ĐỪNG “LÀM KHỔ” NHAU NỮA!
Biết nhưng sợ mà không nói thì là hèn nhát, nói ra thì bị ghét bỏ, bị trù dập, bị xa lánh,... Nhưng không nói thì “đầy bụng” lắm, thế nên phải nói, dù biết rằng người ta sẽ “truy nã” tới bến. Chấp nhận, vì không thể “bóp méo” sự thật được!
Vấn đề nan giải khả dĩ giải quyết hay không? Tết lì xì Xuân hay Xuân lì xì Tết? Lỗi tại Xuân, lỗi tại Tết, hay là “lỗi tại tôi mọi đàng” mà chúng ta thú nhận hằng ngày? Thú nhận chân thành hay chỉ là môi miệng theo công thức? Làm sao trả lời đây?
Lạy Thiên Chúa, năm cũ đang kết thúc, năm mới đang khởi đầu. Nguyện xin Chúa kết thúc những điều xấu nơi chúng con, và xin khởi đầu những điều tốt nơi chúng con, đồng thời hiệp nhất chúng con nên một (x. Ga 17:21-23; Rm 6:5; 1 Cr 6:7; 1 Cr 12:13). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Chúa Xuân của chúng con, và là Đấng Cứu Độ của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

ĐỒNG CẢM

Khả năng thấu hiểu cần thiết để khả dĩ đồng cảm với người khác, nghĩa là có thể cảm xúc và xử sự như người khác trong hoàn cảnh nào đó. Đồng cảm là tự đặt mình vào vị trí của người khác để có thể hành xử như họ, Người Anh có thành ngữ “put yourself in somebody’s shoes/place”. Đồng cảm không đồng nghĩa với thông cảm (cảm thông), ý nghĩa gần giống nhau nhưng vẫn khác nhau. Đồng cảm liên quan khả năng THẤU HIỂU và CẢM NHẬN được cảm xúc của người khác, còn thông cảm chỉ đơn giản là cảm thông với người khác mà KHÔNG nhất thiết phải biết cảm giác của họ thế nào. Đồng cảm thâm thúy hơn thông cảm.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng có những sự việc chúng ta tận mắt nhìn thấy nhưng lại không như chúng ta suy luận. Đồng cảm rất cần thiết trong cuộc sống vì có liên quan lòng trắc ẩn và lòng thương xót. Đó là dạng biết quan tâm, yêu thương và chia sẻ với người khác.

Ngày xưa, Chúa Giêsu đã đồng cảm với những con người đau khổ (thể lý và tinh thần) chứ không chỉ thông cảm với họ, thế nên Ngài mới “chạnh lòng thương” họ – những con người khốn khổ mà Ngài gặp ở bất cứ nơi nào (x. Mt 9:36; Mt 14:14; Mt 15:32; Mt 18:27; Mt 20:34; Mc 1:41; Mc 9:22; Lc 7:13), đến nỗi hạ mình xuống trần mặc xác phàm để chia vui sẻ buồn với con người, nhưng Ngài cũng truyền dạy chúng ta phải yêu thương như người Samari mà biết xót thương tha nhân (x. Lc 10:29-37), dù họ là ai.

Đồng cảm là thiện cử, liên đới với các nhân đức và các đức tính khác, đặc biệt là đức ái. Như vậy, người đồng cảm với tha nhân là người của Thiên Chúa, vì con người đó noi gương Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương (x. Is 49:10; Is 54:10), là Đấng từ bi và nhân hậu (x. 2 Sb 30:9; Tv 103:1 & 8; Tv 111:4; Tv 145:8; Gc 5:11).

Thánh Phanxicô Xaviê lý luận: “Cần đốt lên lửa yêu thương, bởi vì có yêu thương thì tự nhiên sẽ đối đãi tốt với mọi người, luôn nói những lời yêu thương, và tâm hồn sẽ tự nhiên thu hoạch được rất nhiều kết quả”. Thánh Gioan phân tích: “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình thì vẫn còn ở trong bóng tối” (1 Ga 2:9).

ĐỒNG CẢM LÀ YÊU THƯƠNG

Không thông cảm không thể đồng cảm, không đồng cảm không thể quý mến, không quý mến không thể yêu thương. Chân thành bộc bạch, ngôn sứ Isaia cho biết: “Vì lòng mến Sion, tôi sẽ không nín lặng, vì lòng mến Giêrusalem, tôi nghỉ yên sao đành, tới ngày đức công chính xuất hiện tựa hừng đông, ơn cứu độ của thành rực lên như ngọn đuốc” (Is 62:1). Rồi ông cho biết rằng “muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính, mọi đế vương sẽ được ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng. Người ta sẽ gọi bằng tên mới là tên miệng Đức Chúa đặt cho” (Is 62:2). Sự chuyển hóa kỳ diệu lắm, bởi vì Thiên Chúa đã thay tên đổi họ để người ta trở thành con người hoàn toàn mới.

Ôi, thật là hạnh phúc vì được chính Thiên Chúa đồng cảm số phận bọt bèo mà thương xót, đồng thời còn được là “ngọc miện huy hoàng trong lòng bàn tay Đức Chúa, là mũ triều thiên vương giả Thiên Chúa cầm ở tay” (Is 62:3). Vì thế, chẳng ai còn dám tru tréo là “đồ bị ruồng bỏ!”, ngay cả xứ sở cũng không còn bị tiếng là “phận bạc duyên đơn”. Nhưng lại được ưu ái gọi: “Ái khanh lòng Ta hỡi! Xứ sở ngươi nức tiếng là duyên thắm chỉ hồng” (Is 62:4). Tại sao? Vì người đó được Đức Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở người đó. Kinh thánh ví “như tài trai sánh duyên cùng thục nữ” khi Đấng tác tạo sẽ cưới người đó về, và “như cô dâu là niềm vui cho chú rể”, người đó cũng là niềm vui cho Thiên Chúa (Is 62:5).

Thế thì chắc chắn chẳng còn niềm vui nào lớn lao hơn và lên tới tột đỉnh như vậy. Như vậy làm sao im lặng được? Do đó, chúng ta phải “hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu! Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ, kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người” (Tv 96:1-3). Đó là kinh nghiệm minh nhiên được Thánh Vịnh gia chia sẻ.

Con người có chúc tụng và tôn vinh như vậy cũng chưa đủ, bởi vì lời nói phải đi đôi với việc làm. Thánh Vịnh gia kêu gọi: “Hãy dâng Chúa, hỡi các dân các nước, dâng Chúa quyền lực và vinh quang, hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người. Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa, và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện, toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan” (Tv 96:7-9). Sau đó còn phải loan truyền cho người khác cùng hưởng niềm vui có Chúa: “Hãy nói với chư dân: Chúa là Vua hiển trị, Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng” (Tv 96:10). Chia sẻ là một dạng đồng cảm, vì thấy người khác thiếu thốn nên muốn chia sẻ với tình yêu thương.

Là Kitô hữu, ai cũng biết rằng làm bất cứ việc gì đều phải nhờ ơn Chúa – dù là điều nhỏ bé, bởi vì chính Đức Kitô đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Nhưng có nhiều loại ơn, không phải muốn là được, mà mỗi người được nhận theo khả năng của mình: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1 Cr 12:4-7). Vấn đề là “vì công ích” (ích lợi chung của cộng đồng). Vì thế, khi chúng ta được ơn này mà người kia không có thì đừng tưởng mình “ngon” – giỏi hơn, siêu hơn, khéo hơn,.. Chúa tác tạo nên chúng ta nên Ngài biết ai có khả năng gì. Nhưng nhận được ơn gì đó là để phục vụ chứ không phải để hãnh diện mà kiêu căng, trách nhiệm tỷ lệ thuận với số ơn nhận được: “Hễ ai đã ĐƯỢC CHO nhiều thì sẽ BỊ ĐÒI nhiều, và ai ĐƯỢC GIAO PHÓ nhiều thì sẽ BỊ ĐÒI HỎI nhiều hơn” (Lc 12:48). Đừng đùa đấy! Và ngược lại, nếu mình không được ơn mà người khác được thì đừng ghen tỵ mà sinh lòng đố kỵ. Phải tỉnh táo để có thể khiêm nhường mà đồng cảm.

Rất rạch ròi với cách phân tích của Thánh Phaolô: “Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh.

Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ” (1 Cr 12:8-10). Tất cả đồng quy về một mối: “Nhưng chính THẦN KHÍ DUY NHẤT ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người” (1 Cr 12:11).

Như vậy thì chẳng ai có lý do gì để mà vênh vang tự đắc hoặc biện hộ cho mình. Người nào cũng có bổn phận riêng theo ơn mình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa. Mười nén, năm nén hay một nén không là “cớ” để kèn cựa nhau, mà là để nâng đỡ nhau, thông cảm và xót thương nhau theo gương Đại Sư Giêsu. Thánh Phaolô cảnh báo: “Đừng ai viện cớ ‘khiêm nhường’ và ‘sùng kính các thiên thần’ mà làm cho anh em mất phần thưởng chiến thắng; họ chìm đắm trong những thị kiến của mình, vênh váo vì những suy tưởng theo lối người phàm” (Cl 2:18). Thật đáng quan ngại lắm!

ĐỒNG CẢM LÀ QUÊN MÌNH

Đồng cảm là yêu thương, yêu thương là quên mình – dấn thân, không quên mình chắc chắn không thể đồng cảm để có thể quên mình hoặc dấn thân mà phục vụ. Phục vụ ai? Phục vụ Thiên Chúa, phục vụ Giáo hội, và phục vụ tha nhân. Khi dạy về bài học phục vụ, chính Chúa Giêsu xác định: “Con Người đến KHÔNG phải để ĐƯỢC người ta phục vụ, nhưng là để PHỤC VỤ và HIẾN DÂNG MẠNG SỐNG làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28). Phục vụ là chấp nhận “chịu thiệt”, vậy mới khó, chứ ai cũng muốn “chỉ tay năm ngón” thì mọi thứ đảo lộn hết trơn. Người có tài điều khiển khéo léo (cũng ổn), người kém tài điều khiển vụng về (gây rối), nhưng ai cũng muốn chứng tỏ “bản lĩnh” (thật ra là “cái tôi”) nên khoái “ra lệnh”, thích “sai bảo”. Ai cũng muốn mình nổi bật (chứ chẳng “nổi trội” chi), không muốn “quên mình” chi cả. Phiền toái chẳng ngại phiền hà!

Trình thuật Ga 2:1-12 nói về một tiệc cưới tại Cana, miền Galilê. Hôm đó, Đức Giêsu và Thân Mẫu được mời dự tiệc cưới, các môn đệ cũng được mời. Tiệc đang “nóng”, khách đang “hưng phấn” thì rượu bia hết trơn. Thế thì “căng” rồi đây! Đi mua thì không kịp, vì thời đó phải đi bộ xa lắm, phương tiện liên lạc hiếm hoi. Nếu như ngày nay, người ta chỉ cần phóng xe đi trong vòng vài phút hoặc nhấn nút rồi a-lô là xong ngay, khỏi cần tính toán chi cho nhức đầu. Nhưng cái khó ló cái khôn, xui cái này may cái khác.

Nghe nói đám tiệc thiếu rượu đãi khách, Đức Mẹ đồng cảm với gia chủ và cảm thấy thương họ, thế nên Mẹ liền rỉ tai Con Trai: “Họ hết rượu rồi, con ơi!”. Con Trai thản nhiên đáp: “Mẹ ơi, chuyện đó can gì đến mẹ con mình? Giờ của con chưa đến”. Nghe là nghe vậy thôi, chứ Mẹ biết Con Trai thế nào, và Mẹ vẫn đi nói với gia nhân: “Con Trai tôi bảo gì thì các anh cứ việc làm theo nhé!”. Con nói gì thì nói, Mẹ cứ bảo người ta theo ý Mẹ. Điều đó chứng tỏ Mẹ Con rất đồng cảm và hiểu rõ lòng nhau, luôn “ăn ý” với nhau, đồng thời cũng chứng tỏ đức tin của Mẹ rất mạnh mẽ và vững vàng. Chắc chắn Mẹ biết Con Trai sẽ giúp họ nên mới đi “nói nhỏ” với người nấu đám hôm đó. Trên cả tuyệt vời!

Thánh Gioan cho biết rằng ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do Thái, mỗi chum chứa được khoảng 80 hoặc 120 lít nước. Nói “không liên can” nhưng Đức Giêsu vẫn ra phía sau và bảo họ: “Các anh đổ đầy nước vào chum đi!” (Ga 2:7). Được Đức Mẹ “thông báo” trước, họ liền lấy nước lã đổ đầy tới miệng các chum. Rồi Ngài lại nói với họ: “Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc”. Họ cấp tốc múc nước trong chum đem cho người quản tiệc mà cũng không hề thắc mắc chi cả. Họ có vẻ thản nhiên, nhưng điều bất ngờ xảy ra...

Thật vậy, khi người quản tiệc nếm thử thì thấy là rượu. Lạ dữ nghen! Rượu ở đâu ra mà ngon chi lạ! Tất cả các chum đổ đầy nước mà giờ hoá thành rượu. Lạ lùng và kỳ diệu ghê đi! Không ai biết rượu từ đâu ra, chỉ có gia nhân đã múc nước thì biết. Mà không phải rượu thường, đó lại là thứ rượu hảo hạng, vừa ngon và vừa mạnh. Ôi chao, cứ đổ đồng mỗi chum là 100 lít, vị chi là 600 lít. Dân bán rượu chắc gì trữ nhiều rượu như thế? Lượng rượu này vừa bán vừa cho chứ uống gì hết! Ông quản tiệc “đau cái điền” vì chả hiểu ất giáp chi ráo trọi. Rồi ông gọi tân lang lại và nói: “Này, ai cũng thết rượu ngon trước, khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ” (Ga 2:10). Ông ta không thể hiểu nổi, còn chú rể cũng lắc đầu, bó tay, thế nhưng chắc hẳn anh là chàng rể may mắn và hạnh phúc nhất thế gian này.

Và Thánh sử Gioan cho biết rằng đây là DẤU LẠ ĐẦU TIÊN mà Đức Giêsu đã làm để bày tỏ vinh quang Thiên Chúa. Các môn đệ quá đỗi ngạc nhiên, nhưng nhờ vậy mà các đệ tử đã tin vào Đại Sư của mình. Thật là hạnh phúc thay!

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin giúp chúng con nhạy cảm qua việc đồng cảm để yêu mến Ngài bằng cách thật lòng yêu thương mọi người, nhất là những con người khốn khổ nhất, nhờ vậy mà chúng con xứng đáng được Ngài xót thương. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-Làm-Người và Đấng Cứu Độ của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU