dongcong.net
 
 


Đi Theo Tiếng Gọi
Chúa Nhật 13 thường niên, năm C

Có một con hạc trắng sống lạc loài giữa bầy quạ đen từ thuở chào đời. Chú không biết mình là ''người lạ'' giữa bầy quạ. Chú vui niềm vui của quạ, sống như quạ, ăn những món ăn của quạ.... Một ngày kia trên đường tìm mồi, chú chợt thấy trên trời cao một đàn hạc trắng đang bay lượn, dáng vẻ thật thanh tao, thân hình đẹp đẽ... Chú mơ ước và ngắm nhìn mãi... Đàn quạ đã bay xa... Bỗng một con hạc đáp xuống dẫn chú bay lên... Chú theo đàn hạc đến một bờ hồ êm vắng, soi mình trên mặt nước trong im. Chú hết sức ngạc nhiên và sung sướng thấy mình không phải là quạ mà là hạc trắng... Rồi từ đó chú theo đàn hạc bay đây đó, từ bỏ nếp sống của quạ để học làm hạc trắng theo nòi giống của mình, đi ngao du sơn thuỷ, ăn những thức ăn tươi... Mỗi lần nghĩ đến những ngày bươi tìm thức ăn trên những xác chết tanh hôi chú lợm giọng...

Chúng ta không biết mình thuộc dòng dõi Thiên Chúa cho đến khi Chúa xuống trần gian, mạc khải cho ta, rồi gợi lên trong lòng ta những mơ ước hạnh phúc thật và trường tồn, để rồi Chúa cất tiếng gọi: ''Hãy theo Ta''.

Hãy theo Chúa để Chúa dẫn ta vào đường nẻo trường sinh. Ngài chính là đường nẻo và cõi trường sinh ấy, để ai theo và đón nhận Ngài thì cõi trường sinh đã hiện diện trong người ấy. Cõi sống và sự sống của Chúa thuộc về Thần Khí và Tình yêu. Những kiểu sống ngoại đạo, theo xác thịt và gian tà không phù hợp với Chúa. Chúng ta phải từ bỏ con người cũ, lối sống cũ để học làm con của Thiên Chúa. Chúng ta lắng nghe, học hỏi và sống như Đức Giêsu, con Thiên Chúa làm người. Từ nay Đức Giêsu là tuyệt đối của đời ta. Chúng ta học theo Ngài qua Kinh thánh, qua lời giáo huấn của Giáo hội và ngang qua sự soi sáng hướng dẫn của Thánh Thần trong tâm hồn. Khi Chúa gọi, Chúa nhắm đến lương tâm sâu thẳm nhất của con người, làm đảo lộn nội tâm và biến ta thành con ngừơi khác.

- Chúa gọi ta ngay trong cuộc sống thường ngày, giữa những người thân thuộc, giữa những công việc ta đang làm, nhưng có một sự thay đổi bên trong. Những hoạt động và suy nghĩ của ta không còn mang tính chất thuần tuý nhân loại, nhưng mang tính Giêsu, tình yêu Giêsu, và với tư cách là con Thiên Chúa. Chúa gọi con người hoán cải từ vô thần đến nhận Thiên Chúa là Cha, từ sự sống xấu đến tốt, từ tốt đến tốt hơn, tiến dần đến đỉnh cao thánh thiện, ''Hãy nên trọn lành như Cha trên Trời''.

- Có khi Chúa gọi con người theo Ngài trong một con đường mới, để chia sẻ sứ mạng đặc biệt của Ngài. Như Elisha phải từ giã cha mẹ, theo Elijah làm môn đệ, học làm tiên tri; giữa chúng ta có những người được gọi làm linh mục, tu sĩ,... theo Chúa đi phục vụ dân Ngài. Cuộc sống của họ từ nay hoàn toàn cho Chúa và cho sứ mạng Ngài trao.

- Có những người được gọi chia sẻ thập giá với Chúa, chấp nhận những khổ đau về tinh thần hoặc thể xác, để cầu nguyện cho chương trình cứu rỗi của Chúa, cho các linh hồn hoán cải, cho sự thánh hoá con người... Sứ mạng của những người đau khổ thật âm thầm, nhưng thật cao quí và cần thiết.

Lời gọi của Chúa là lời gọi yêu thương, Chúa nhằm mang ta về cội nguồn của ta, về cõi hạnh phúc thật và vĩnh cữu... Và hạnh phúc nào cũng đòi phải vượt qua , phải chiến đấu liên tục với những trở ngại, những cám dỗ, những chống đối... Nếu không ta sẽ không đến được nơi mà Chúa sẽ chỉ cho ta, ''Nơi mà mắt chưa từng thấy, tai chưa hề nghe, lòng chưa hề cảm...'' Ơn gọi do Chúa khởi xướng, Chúa sẽ ban ơn. Nhưng Chúa tuỳ thuộc vào tự do của con người. Chúa chờ đợi mỗi người đáp lời...

Xin Chúa bao trùm đời con bằng tình yêu và ánh sáng của Ngài, mặc cho con áo choàng công chính của Ngài, đừng để con mê tìm hoan lạc trên đời mà quên mất lối về...

Sr. Tố Nhung

 

SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT XIII TN-C
GIẢI THOÁT ( L c 9, 51-62)

Vâng ! Kính thưa quý vị, giải thoát là một động từ cần thiết để bước theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu luôn khuyên bảo các môn đệ về sự từ bỏ, vì chỉ có sự từ bỏ con người mới nên cao trọng. Muốn bước theo Chúa Giêsu mà không từ bỏ chính mình, thì không thể đi theo Chúa được. Vâng ! Thưa quý vị, sự từ bỏ một cách dứt khoát là sự đáp trả triệt để đối với Lời mời gọi của Tin Mừng. Thiên Chúa cứu thoát những ai biết từ bỏ. Từ bỏ chính mình là quên mình đi, ngày nay nếu làm như vậy thì bị coi là lội ngược dòng. Nhưng điều kiện để được bước theo Chúa Giêsu thì không bao giờ lỗi thời. Dù nhân thế cố công gạt bỏ Thiên Chúa qua một bên, nhưng rồi họ cũng thất bại. Đoạn Tin Mừng Lc 9, 51-62 hôm nay, có hai phần , phần đầu thuật lại việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem, nhưng trên đường đi một làng của người Samaria không đón tiếp Chúa. Điều nầy mang tính hiềm khích trong lịch sử giữa hai bên của người Israel và người Samaria. Vì vậy , họ xem Chúa Giêsu là thù địch của họ. Nhưng Chúa Giêsu không nổi cơn thịnh nộ đẩ đáp trả, nhưng các môn đệ của Người thì nổi giận. Đòi khiến “lửa từ trời xuống thiêu đốt”. Nhưng chúng ta thấy Chúa Giêsu quở mắng các ông. Điều nầy cho thấy, Tân Ước không phải là thời kỳ luận phạt mà là thời gian cứu độ, vì vậy không giống như Cựu Ước khi bị luận phạt thì Thiên Chúa khiến lửa từ trời xuống thiêu đốt. Như trường hợp thành Sodoma, và người bất tuân đã biến thành tượng muối. 

Như vậy thời Tân Ước là thời kỳ cứu độ của Thiên Chúa, và hiện thân của sự cứu độ chính là Đức Kitô, vì vậy lửa từ trời không thiêu đốt như nghĩa đen, mà là thánh hóa và thiêu đốt theo nghĩa bóng, đó là tình yêu cứu độ. Chúa Giêsu chính là hy lễ duy nhất và vĩnh cửu, chính là hy lễ toàn thiêu. Theo đó bài đọc 2,( Gl 5, 1), thánh Phaolo đã xác quyết rằng: “ Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kiô đã giải thoát chúng ta...), và dường như chúng ta thấy bài đọc 2 không logic với Đoạn Tin Mừng hôm nay theo câu chữ, nhưng ý nghĩa thì hoàn toàn phù hợp, vì thánh Phao- lô cho chúng ta biết về Thần Khí và xác thịt, điều gì để cho Thần Khí hướng dẫn thì hoàn toàn có tự do. Vâng, tự do chính là một sự giải thoát, nhưng giải thoát chính là để đem lại bác ái cho tha nhân. Nên chi phần đầu của đoạn Tin Mừng hôm nay cho thấy nổi bật lên tính bác ái: “ Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” mà thánh Phaolô đã nhắc lại ( Gl 5,14). 

Phần 2 của đoạn Tin Mừng: Là sự từ bỏ (phần chính của đoạn chia sẽ hôm nay). 

Khởi đi từ bài đọc 1, thuật lại việc tiên tri Elise bỏ mọi sự công việc đồng áng của mình mà đi theo tiên tri Elia, nhưng khác vời Chúa Giêsu, tiên tri Elia cho phép Elise từ biệt song thân trước khi đi theo Elia. Như vậy sự khác nhau giữa sự lưu luyến và từ giã người thân trước khi đáp lại tiếng Chúa gọi giữa Cựu và Tân Ước là gì ? Thưa đó là sự trực tiếp và gián tiếp. Khi xưa tiên tri Elia chỉ là ngôn sứ, người gián tiếp khi tiếp nhận Elise, còn Tân Ước chính là Chuá Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Như vậy sự kêu gọi hôm nay là sự kêu gọi trực tiếp, nên chi khi đáp lại tiếng Chúa thì phải có thái độ dứt khoát không do dự, không lo âu, không quyến luyến người thân và của cải. Phần 2 của đoạn Tin Mừng hôm nay từ câu 57- 62 là một chủ đề từ bỏ, từ bỏ là một sự giải thoát, những người muốn xin đi theo Chúa Giêsu nghĩ rằng : sẽ có một địa vị, danh vọng,tài sản để vinh thân, nhưng Chúa Giêsu bảo: “ Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng CON NGƯỜI không có chổ tựa đầu.” Vâng , Chúa Giêsu là Người nghèo nhất trong số những người nghèo, vì không có người nghèo nào mà nghèo đến nỗi thua cả con chim, con chồn, con cáo. 

Nhưng cái nghèo của người môn đệ theo Chúa làcái nghèo tự nguyện từ bỏ để hiến dâng cho việc loan báo Tin Mừng đến độ không dính bén đến tình thân. Như vậy, Chúa Giêsu đòi hỏi phải dứt khoát khi chọn đi theo Người. Nghĩa là một sự chọn lựa dấn thân vô vị lợi, khi Chúa mời gọi : “ để kẻ chết chôn kẻ chết” , là có ý cho biết việc nào quan trọng hơn và việc nào ít quan trọng hơn. Một khi chính Chúa đã từ bỏ ngôi Trời để ở với con người, thì không còn điều gì quan trọng hơn. Khi nói điều nầy ,Chúa Giêsu muốn cho chúng ta đặt hết niềm tin vào Người. Theo đó, Người muốn cho biết không việc nào quan trọng hơn việc loan báo Tin Mừng đối với người Tông đồ. Nhưng thực tế, thì không phải quá khắt khe như vậy. Câu nói nầy không thể hiểu theo nghĩa đen, vì nếu hiểu theo nghĩa đen, thì không thể đủ nghĩa được, như vậy,  những người đi tu thì quá bất hiếu sao ? Chúa Giêsu muốn đặt sự dứt khoát, sự triệt để đối với công việc nhà Chúa và là một nội qui Tông Đồ trong sáng và trọn vẹn đúng nghĩa. Theo đó, : “ Ai đã tra tay cầm cày, mà còn ngó lại đằng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.”. 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn dạy chúng con phải biết từ bỏ mọi sự mà theo Chúa, vì như vậy chúng con mới nên Tông đồ  đích thực của Nước Trời. Xin cho chúng con biết giá trị của Lời Chúa dạy mà làm theo ./. Amen 

P. Trần Đình Phan Tiến ( bước theo )
30/06/2013

 

TỪ BỎ ĐỂ ĐI THEO CHÚA (Lc 9,51-62)
CN 13 TN-C
 

Đời người là một chuỗi liên kết giữa những chọn lựa và quyết định.Chọn lựa luôn đi kèm theo một trách nhiệm, sự liên đới với những người khác.Chọn lựa đúng, đời sẽ hạnh phúc, nếu không sẽ là bất hạnh. Những người Do Thái không chọn Chúa, vì họ không tin Ngài.  Các môn đệ cũng vậy, một số bỏ đi khi Chúa nói về Bí Tích Thánh Thể. Chỉ một số ở lại, vì họ tin Chúa Giêsu có Lời ban sự sống. Thế nhưng, để làm môn đệ của Chúa, thì phải dứt khoát, hy sinh và đành chấp nhận thiệt thòi, vì theo Chúa sẽ không có nơi gối đầu, không ngoái nhìn đằng sau. 

Thử thách trong chọn lựa 

Có một chủ nông trại nọ thuê một người thanh niên đến nhặt khoai tây cho nông trại. Công việc hết sức đơn giản, hằng ngày anh này chỉ có một việc là ngồi phân lọai các củ khoai tây và cho vào sọt. Lớn theo lớn, trung bình theo trung bình và nhỏ theo nhỏ. Sau một thời gian, anh thanh niên đến gặp ông chủ và xin nghỉ việc. Được hỏi lý do, anh ta giải thích:công việc ông giao phó không phải là công việc nặng nhọc, nhưng điều làm cho tôi nhức óc đó là phải chọn lựa. 

Dân Do Thái chọn Chúa 

Cách đây gần ba ngàn năm, Giôsuê cũng bảo tòan dân Israel phải dứt khóat chọn lựa: Hôm nay các ngươi phải chọn, hoặc thờ các thần, họăc thờ Thiên Chúa (Gs24,15).Thú vật dường như không có chọn lựa và quyết định, chúng chỉ sống theo bản năng. Con người có lý trí và tự do, nhất là con người biết chọn lựa hướng đi cho cuộc đời của mình. Ê-li-sê-ô cũng được thầy là Ê-li-a kêu mời đi theo Chúa, ông đã bỏ lại cha, mười hai cặp bò và lên đường theo Chúa. Ba người trong Tin mừng đến xin theo Chúa, nhưng ai cũng bịn rịn muốn từ giã gia đình, muốn chôn cất người thân, và muốn có một nơi an toàn cho bản thân. Đức Giê-su Ngài đề nghị hoàn toàn ngược lại với những mong muốn của họ. nước mắt của chọn lựa. Quả vậy, sai lầm lớn lao của con người là thay vì chọn Thiên Chúa để tôn thờ, họ lại đi chọn các thụ tạo để suy tôn. Danh vọng, tiền tài, lạc thú, chúng chỉ là những phương tiện, giúp cho con người hòan thành sứ mạng của mình trên trần gian này.Chúng không phải là cứu cánh, càng không phải là đích điểm của cuộc đời. 

Con người chọn lựa 

Chọn lựa bao giờ cũng phải mất mát và hy sinh. Khi tôi quyết định chọn cuộc đời sống độc thân để tôn thờ Thiên Chúa, và phụng sự anh em, thì đồng thời tôi phải hy sinh cả một đời sống gia đình bình thường như bao người khác. Hoặc khi anh chọn một người phụ nữ làm vợ mình thì anh phải dứt khóat với những người đàn bà khác, nếu không gia đình sẽ tan vỡ và hôn nhân trở thành đại họa.Thiên Chúa ban cho con người có tự do, chính vì điều đó mà con người có quyền chọn thiên đàng hay hỏa ngục. Một khi khước từ Thiên Chúa, con người sẽ không còn xem người khác là anh em mình. 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết chọn Chúa làm gia nghiệp của đời mình. Chọn Chúa chứ không phải là công việc hằng ngày. Bởi nếu chọn công việc của Chúa thì lúc thất bại con sẽ dễ dàng bỏ Chúa. Còn khi con chọn Chúa, thì không gì có thể làm con xao động. Mục vụ thì đầy ắp những công việc, bề bộn những chương trình, kế họach thì đan kín thời gian. Sẽ là vô ích, nếu như con không nhận ra thánh ý Ngài là tất cả, có Ngài đời sẽ tràn trề niềm hoan lạc tuổi xuân. 

Lm Giacôbê Tạ Chúc
July 1, 2013

 

ỦY THÁC SỨ MẠNG
(BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH)
 

Lễ kính Thánh Phê-rô và Phao-lô là dịp cử hành mầu nhiệm Hội Thánh Chúa đặt nền móng trên “Tảng đá Phê-rô” và “Cột trụ Phao-lô”, để Giáo Hội bền vững và phát triển đến thiên thu vạn đại. Nhìn vào 2 vị Giám mục của Giáo Hội tiên khởi, thấy rất rõ “sứ mạng Chúa Ki-tô ủy thác cho các Tông đồ” (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, điều 1536). Với Phê-rô thì Đức Giê-su trực tiếp truyền tới 3 lần sau khi Người hiện ra tại biển hồ Ti-bê-ri-a: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21, 1-23). Còn với Phao-lô thì trong biến cố Đa-mat (làm cho Sao-lô bị mù thể lý để chữa bệnh “mù nội tâm” – Cv 9, 1-19), Đức Ki-tô truyền cho Kha-na-ri-a đến “đặt tay trên mình để làm cho mình lại thấy được”, Kha-na-ri-a ngại ngùng vì Sao-lô là người lùng bắt và giết hại những người theo Giê-su, Người trấn an:  “Cứ đi, vì người ấy (Sao-lô) là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en.” (Cv 9, 15). Kế thừa trọng trách ấy, Giáo Hội thiết lập Bí tích Truyền Chức Thánh để tiếp tục ủy thác sứ vụ cao trọng đó cho những thế hệ nối tiếp đến thiên thu vạn đại. 

Trước nay, phần đông Giáo dân Việt Nam thường chỉ hiểu Bí tích Truyền Chức Thánh là việc phong chức Linh mục cho các chủng sinh đã trải qua quá trình học tập rèn luỵên tại Đại Chủng viện. Còn chức Giám mục là do được tiến cấp, thăng cấp (kiểu như thăng cấp trong quân đội) chớ không phải là Bí tích Truyền Chức. Thực ra không phải vậy, vì Bí tích Truyền Chức Thánh có tới 3 cấp độ: Giám mục, Linh mục và Phó tế. Thử tìm hiểu xem Bí tích Truyền Chức là gì và tại sao lại gọi là Bí tích Truyền Chức Thánh? 

I/- ĐỊNH NGHĨA BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH:

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (điều 1536-1537) cho biết: “Truyền Chức là bí tích qua đó sứ mạng Chúa Ki-tô ủy thác cho các Tông đồ (“Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." – Mt 28, 19-20), được tiếp tục thực hiện trong Hội Thánh cho đến tận thế; vì thế được gọi là bí tích của thừa tác viên Tông đồ.  Bí tích này gồm 3 cấp bậc: chức Giám mục, chức Linh mục và chức Phó tế… Việc gia nhập vào một tập thể của Hội Thánh xưa được cử hành bằng một nghi thức gọi là Ordinatio. Đây là một hồng ân Thánh Thần cho phép thi hành một “quyền thánh chức” do chính Chúa Ki-tô ban qua Hội Thánh. Việc Giám mục đặt tay và lời nguyện thánh hiến làm nên dấu chỉ hữu hình của sự thánh hiến. Theo nghĩa này, tiếng Việt gọi là Bí tich Truyền Chức Thánh.” 

II/- CẤP BẬC TRONG BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH:

Trong Tông huấn “Ki-tô Hữu Giáo Dân” (số 14) có trích dẫn lời của Thánh Âu-tinh: “Cũng như chúng ta tất cả được gọi là Kitô-hữu (Christiani) vì đã được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng liêng, do đó tất cả được gọi là linh mục, bởi vì chúng ta là thành phần thân thể của Linh Mục duy nhất.” Linh Mục duy nhất đó là Đức Giê-su Ki-tô – vị Linh Mục Thượng Phẩm (Tư Tế Thượng Phẩm), Đấng là Đầu, là người chăn dắt các chiên linh mục (bao gồm tất cả Ki-tô hữu). Như vậy, nhờ Bí tích Thánh Tẩy, mọi tín hữu đều được tham dự vào chức Tư tế của Đức Ki-tô. Sự tham dự này được gọi là “chức tư tế cộng đồng”. Trên nền tảng chức tư tế cộng đồng và để phục vụ cộng đoàn tư tế này, còn có sự tham dự khác vào sứ mạng của Đức Ki-tô, đó là chức tư tế thừa tác được trao ban qua Bí tích Truyền Chức, với trách nhiệm phục vụ trong cộng đoàn nhân danh Đức Ki-tô và thi hành chức vụ thủ lãnh của Người. (Giáo lý HTCG, Đ. 1591). Ba cấp bậc trong Bí tích Truyền Chức bao gồm: Giám mục, Linh mục và Phó tế. 

1- GIÁM MỤC: Giám mục lãnh nhận cách tròn đầy Bí tích Truyền Chức. Qua đó, các ngài gia nhập Giám mục đoàn và trở thành thủ lãnh hữu hình của Hội Thánh địa phương được giao phó cho các ngài. Với tư cách là người kế nhiệm các Tông đồ và là thành viên của Giám mục đoàn, các Giám mục chia sẻ trách nhiệm Tông đồ và sứ mạng của toàn thể Hội Thánh dưới quyền Đức Giáo Hoàng, đấng kế nhiệm Thánh Phê-rô. (Giáo lý HTCG, Đ. 1594). Qua cử chỉ đặt tay và qua các lời thánh hiến, ơn Chúa Thánh Thần được thông ban và ấn tín thánh được in trên các Giám mục, nên các ngài thi hành nhiệm vụ của chính Đức Ki-tô là Thầy, Mục Tử và Thượng Tế và hành động trong cương vị của Người. (Giáo lý HTCG, Đ. 1558). 

2- LINH MỤC: Linh mục liên kết với Giám mục trong phẩm chức Tư tế và tùy thuộc các ngài trong công tác mục vụ. Các Linh mục được mời gọi để trở thành cộng sự viên khôn ngoan của các Giám mục, họp thành Linh mục đoàn quanh Giám mục, cùng chia sẻ trách nhiệm với ngài về Giáo Hội địa phương. Các Linh mục được Giám mục trao trách nhiệm chăm sóc một cộng đoàn Giáo xứ, hay chỉ định một công việc phục vụ Hội Thánh. (Giáo lý HTCG, Đ. 1595). 

3- PHÓ TẾ: Phó tế là những thừa tác viên được phong chức để phục vụ Hội Thánh. Các phó tế không có chức tư tế thừa tác, nhưng qua việc phong chức, các ngài lãnh nhận nhiệm vụ quan trọng trong thừa tác vụ rao giảng Lời Chúa, là việc phụng tự, chăm sóc cộng đoàn và thực thi bác ái. Đó là những nhiệm vụ các ngài phải chu toàn dưới quyền mục vụ của Giám mục. (Giáo lý HTCG, Đ. 1596). 

III/- MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CẤP BẬC:

Theo Hiến chế “Tín Lý Về Giáo Hội – Lumen Gentium” (số 62-66) thì mối tương quan mật thiết giữa 3 cấp bậc đã thể hiện cụ thể sự hiệp nhất trong Đức Giê-su: Ðược Chúa Cha sai đến thế gian (Ga 10, 36), Chúa Ki-tô nhờ các Tông Ðồ, đã làm cho các Giám mục, những vị kế nghiệp các Tông đồ, có thể tham dự vào việc cung hiến và vào sứ mạng của Người. Các Giám mục lại giao nhiệm vụ thừa tác của mình một cách hợp pháp cho nhiều phần tử trong Giáo Hội theo từng cấp bậc. Như thế, thừa tác vụ do Thiên Chúa thiết lập trong Giáo Hội được thi hành bởi những người có chức vụ khác nhau mà từ xưa được gọi là Giám mục, Linh mục và Phó tế. Linh mục, dù không có quyền tư tế tối cao và tùy thuộc Giám mục khi thi hành quyền bính, cũng hiệp nhất với Giám mục trong tước vị Linh mục. Nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, Linh mục được cung hiến theo hình ảnh Chúa Ki-tô, Thầy Cả Thượng Phẩm vĩnh viễn (Dt 5, 1-10; 7, 24; 9, 11-28), để rao giảng Phúc Âm, chăn dắt tín hữu và cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân Ước. Theo cấp bậc thừa tác của mình tham dự vào nhiệm vụ Chúa Ki-tô, Ðấng trung gian duy nhất (1Tm 2, 5), các Linh mục loan báo Lời Thiên Chúa cho mọi người. 

Ở bậc thấp hơn của hàng Giáo phẩm, có các Phó tế, những người đã được đặt tay "không phải để lãnh nhận chức vụ Linh mục, nhưng là để phục vụ". Thực vậy, được ân sủng bí tích bồi bổ, các Phó tế, hiệp thông với Giám Mục và Linh Mục Ðoàn, phục vụ Dân Thiên Chúa bằng việc phụng vụ, giảng dạy, và bác ái. Khi được những vị có thẩm quyền chỉ định, các Phó tế được cử hành trọng thể phép Thánh Tẩy, giữ và trao Mình Thánh Chúa, nhân danh Giáo Hội chứng kiến và chúc lành hôn phối, mang của ăn đàng cho kẻ hấp hối, đọc Thánh Kinh cho tín hữu, giáo huấn và khuyên nhủ dân chúng, chủ tọa việc phụng tự và kinh nguyện của tín hữu, cử hành các á bí tích, chủ tọa lễ nghi tang chế và an táng. Ðược phong chức để lo việc bác ái và việc quản trị, Phó tế phải nhớ lời nhắn nhủ của Thánh Polycarpo: "Hãy tỏ lòng nhân hậu, nhiệt thành, và hãy bước theo chân lý của Chúa, Ðấng đã làm tôi tớ mọi người". (Hc “Tín Lý về Giáo Hội”, số 74-75). 

IV/- HIỆU QUẢ CỦA BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH:

Nhờ ân sủng đặc biệt của Chúa Thánh Thần, Bí tích Truyền Chức làm cho thụ nhân (người được lãnh nhận) nên giống Đức Ki-tô để trở thành khí cụ phục vụ Hội Thánh Người. Nhờ chức thánh, các ngài có thể thi hành chức vụ của Đức Ki-tô là Đầu Hội Thánh trong ba nhiệm vụ: Tư tế, ngôn sứ, vương giả. (Giáo lý HTCG, Đ. 1581). Như trường hợp Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, việc tham dự vào chức vụ của Đức Ki-tô nhờ Bí tích Truyền Chức dù được lãnh nhận một lần ở mỗi cấp, Bí tích Truyền Chức cũng in một “ấn tín thiêng liêng vĩnh viễn”, nên không thể lãnh nhận nhiều lần hay lãnh nhận tạm thời. (Giáo lý HTCG, Đ. 1582). Đó chính là ơn riêng của Chúa Thánh Thần ban trong bí tích này, làm cho thụ nhân nên giống và nên thừa tác viên của Đức Ki-tô là Thượng Tế, Thầy Dậy và Mục Tử (Giáo lý HTCG, Đ. 1585). Tự bản chất, chức tư tế thừa tác khác hẳn với chức tư tế cộng đồng, vì ban cho thụ nhân quyền thánh chức để phục vụ các tín hữu. Các thừa tác viên có chức thánh phục vụ dân Chúa qua việc giảng dạy. cử hành phụng vụ và hướng dẫn mục vụ. (Giáo lý HTCG, Đ. 1592). 

a- Nhiệm vụ giảng dạy (Ngôn sứ): Đức Giê-su Ki-tô, Đấng là Thầy dậy muôn đời, đã truyền cho các môn đệ: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền dạy cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19-20). Việc rao giảng Phúc Âm là một nhiệm vụ trổi vượt trong các nhiệm vụ chính yếu của các thừa tác viên, là những người rao truyền đức tin, đem nhiều môn đệ mới về với Chúa Ki-tô, giảng dạy cho những kẻ được trao phó cho các ngài, một đức tin phải được xác tín và phải được áp dụng vào các phong tục, và làm sáng tỏ đức tin đó bởi ánh sáng của Chúa Thánh Thần.

 b- Nhiệm vụ cử hành phụng vụ (Tư tế): “Tư tế” có nghĩa là: Dâng hiến tất cả đời tư, kể cả mạng sống mình (Tư: riêng tư; Tế: dâng hiến). Chính vị Tư Tế Thượng Phẩm Giê-su Ki-tô “Dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.” (Dt 5, 8-10). Men-ki-xê-đê là tiền thân của chức Linh mục đời đời của Đức Giê-su, Người đã truyền chức Linh mục của Người cho các môn đệ qua Bí tích Truyền Chức Thánh (“Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” – Lc 22, 19); đồng thời Người còn cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha: “Con xin thánh hiến chính mình Con cho họ, để nhờ sự thật họ cũng được thánh hiến” (Ga 17, 19). Đức Giê-su vâng lời Chúa Cha, tự dâng hiến chính mình làm của lễ toàn thiêu trong hy tế Thập Giá, để cứu những kẻ Thiên Chúa đã trao cho Người. Sự dâng hiến này chính là công việc “tư tế” vậy (“Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được." – Ga 10, 18)

 c - Nhiệm vụ hướng dẫn mục vụ (Vương đế – lãnh đạo): Chính Đức Vua Vũ Trụ Giê-su Ki-tô, Đấng là Thầy Tư Tế Thượng Phẩm, đã xác định trách nhiệm của Người: “Tôi chính là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi… Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10, 11-16). Là đại diện và sứ giả của Chúa Ki-tô, các thừa tác viên (Giám mục, Linh mục với sự cộng tác của Phó tế) điều khiển Giáo Hội địa phương mà Chúa đã ủy thác cho, nhờ lời khuyên bảo, khuyến khích, gương lành, và còn bằng uy thế cùng quyền bính thánh thiện nữa. Thực vậy, các ngài chỉ dùng quyền bính để xây dựng đoàn chiên trong chân lý và thánh thiện, và luôn tâm niệm rằng: “kẻ cao trọng hãy nên như kẻ rốt hết, người làm chủ hãy nên như tôi tớ” (Lc 22, 26-27). Quyền bính các ngài đích thân thi hành nhân danh Chúa Ki-tô, là quyền bính riêng biệt, thông thường và trực tiếp; nhưng việc thi hành cuối cùng còn lệ thuộc vào quyền tối cao của Giáo Hội, và có thể bị giới hạn phần nào vì lợi ích của Giáo Hội hay của các tín hữu. Riêng với các Giám mục thì với quyền bính ấy, các ngài có quyền thiêng liêng và trước mặt Chúa, các ngài có nhiệm vụ đặt ra các luật lệ cho những người thuộc quyền, xét xử và qui định tất cả những gì liên hệ tới việc thờ phượng và việc tông đồ. 

V- VIỆC CỬ HÀNH BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH:

1- Nghi thức chính yếu: Bí tích Truyền Chức Thánh được trao ban qua việc Giám mục đặt tay trên ứng viên. Sau đó là lời nguyện phong chức trọng thể cầu xin Thiên Chúa ban cho tiến chức những ân sủng cần thiết cho thừa tác vụ. Việc Giám mục đặt tay trên thụ nhân trong Bí tích Truyền chức in một ấn tín vĩnh viễn (Giáo lý HTCG, Đ. 1597). “Bàn tay” hay “Ấn tín” chính là biểu tượng của Chúa Thánh Thần (Giáo lý HTCG, Đ. 698-699); vì thế, cùng với lời nguyện hiến tế khi cử hành Bí tích Truyền chức Thánh, Giám mục đặt tay trên ứng viên là để nhắc lại Lời truyền dạy của Đức Giê-su Ki-tô: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20, 23).

 2- Ai được ban Bí Tích Truyền Chức Thánh? Chỉ các Giám mục mới được quyền ban Bí tích Truyền Chức Thánh ở 3 cấp độ: Giám mục, Linh mục và Phó tế. (Giáo lý HTCG, điều 1600). Riêng cấp Giám mục thì do Đức Giáo Hoàng (ngài cũng là Giám mục – Giám mục Rô-ma – đứng đầu hàng Giám mục) trao ban. Giám mục chỉ được truyền chức cho Giám mục khi có ủy nhiệm thư của Đức Giáo Hoàng. Trong lễ phong chức, Giám mục chủ phong phải có ít là hai Giám mục trợ phong; hơn nữa, cùng với các vị ấy, tất cả các Giám mục hiện diện cũng nên cùng tấn phong người được tuyển chọn. (Giáo luật Công Giáo, điều 1013-1014).

 3- Ai được lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh? * Hội Thánh chỉ truyền chức thánh cho những người nam đã được rửa tội sau khi kiểm tra chắc chắn họ có khả năng thi hành chức vụ được giao. Chỉ Giáo quyền có trách nhiệm và có quyền chọn một người lãnh nhận chức thánh. (Giáo lý HTCG, điều 1598).

 * Dựa theo sự phán đoán khôn ngoan của Giám mục riêng hoặc của Bề trên cao cấp có thẩm quyền và sau mọi cân nhắc kỹ lưỡng; chỉ nên cho tiến chức những người có đức tin tinh tuyền, chí hướng ngay thẳng, kiến thức đầy đủ, danh thơm tiếng tốt, tác phong đoan chính, nhân đức đã được thử  luyện và những đức tính khác về thể lý và tâm lý tương ứng với chức thánh sẽ lãnh nhận. (Giáo luật CG, điều 1029).

 * Ứng viên lên chức Linh mục chỉ có thể chịu chức Phó tế sau khi đã học hết năm năm triết lý và thần học. Sau khi mãn chương trình học, trước khi chịu chức Linh mục, Phó tế phải thi hành chức thánh bằng cách tham gia làm việc mục vụ trong một thời gian tương xứng tùy theo Giám mục hay Bề Trên cao cấp có thẩm quyền xác định. Ứng viên lên chức Phó tế vĩnh viễn chỉ lãnh nhận thánh chức này sau khi đã mãn thời gian huấn luyện. (Giáo luật CG, điều 1032).

 * Giáo Hội chỉ Truyền chức Linh mục cho các ứng viên tự nguỵên sống độc thân và công khai biểu lộ ý muốn này vì yêu mến Nước Trời và phục vụ tha nhân.  (Giáo luật CG, điều 1599)

 KẾT LUẬN:

Tóm lại, Giám mục và Linh mục đều có chức thánh, nhưng chức thánh của Giám mục tròn đầy hơn (trọn vẹn Nhiệm tích Truyền Chức Thánh), vì Giám mục mới là vị thừa kế các Tông Đồ. Còn Linh mục là cộng sự viên khôn ngoan của các Giám mục, cùng chia sẻ trách nhiệm với Giám mục về Giáo Hội địa phương. Đến các Phó tế thì không có chức tư tế thừa tác; nhưng qua việc phong chức, các ngài lãnh nhận nhiệm vụ quan trọng trong thừa tác vụ rao giảng Lời Chúa, lo việc phụng tự, chăm sóc cộng đoàn và thực thi bác ái. Phó tế được coi như một trợ lý, một cộng tác viên đắc lực của Giám mục và Linh mục. Đó chính là tính cách nhất quán biểu lộ sự hiệp thông trong sứ vụ truyền giáo mà Đức Vua Tình Yêu Giê-su Ki-tô đã ban truyền cho Giáo Hội (“Như thế sự hiệp thông hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo” (TH/KTHGD, số 18).

 LIÊN HỆ THỰC TIỄN (THỰC HÀNH):

Trong lần hiện ra tại biển hồ Ti-bê-ri-a, sau khi ăn uống xong, Đức Giê-su hỏi Thánh Phê-rô 3 lần với cùng một câu hỏi: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không?” Và khi nghe Thánh Phê-rô trả lời, thì Đức Ki-tô cũng căn dặn tới 3 lần: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21, 15-19). Điều này cho thấy thừa tác viên Giám mục Phê-rô được trao trách vụ linh thánh quan trọng và nặng nề biết là nhường nào! Từ đó suy ra Bí tích Truyền Chức Thánh không phải chỉ đơn thuần là một sự bầu chọn, chỉ định, ủy nhiệm hay cắt đặt do cộng đoàn, bởi vì hành vi phụng vụ này ban cho người ta một hồng ân của Chúa Thánh Thần, cho phép thi hành một “quyền thánh chức” do chính Chúa Ki-tô ban qua Hội Thánh (GL/HTCG Đ. 1537-1538). Hiểu được như vậy, người Giáo dân trong tư cách là tư tế cộng đồng phải biết kính trọng, yêu mến và vâng lời các tư tế thừa tác là “những người lãnh đạo anh em, vì họ chăm sóc linh hồn anh em” (Dt 13, 17). Hãy cộng tác với các ngài trong công việc truyền giáo, giúp đỡ tinh thần và vật chất theo khả năng, cổ võ khuyến khích ơn gọi Tu trì (ơn Thiên Triệu). Và nhất là luôn luôn cầu nguyện cho các ngài được bền đỗ trong ơn gọi, sống trọn hảo vai trò và trách vụ mà Linh Mục Thượng Phẩm Giê-su Ki-tô đã trao cho các ngài.

 Ôi! Lạy Chúa! Đức Vua Tình Yêu Giê-su Ki-tô, Đấng là Linh Mục Thượng Phẩm, là Đầu của Hội Thánh, vì đã yêu thương nhân loại nên đã trao cho con người được thừa kế chức Linh mục đời đời và duy nhất của Người. Cúi xin Chúa thương ban Thần Khí tăng thêm sự khôn ngoan hiểu biết và thánh thiện cho những ứng viên thừa tác vụ trong Bí tích Truyền Chức Thánh, để các ngài luôn xứng đáng với Thiên Chức cao cả này, hầu dẫn dắt đoàn chiên của Chúa ngày một tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng, như lòng Chúa hằng mong đợi. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.

 JM. Lam Thy ĐVD.
July 1, 2013

Nóng giận: Trái bom nổ chậm trong gia đình
Lm. Đaminh Hương Quất - vietcatholic.net 6/29/2013

Suy niệm CN.13 TN – C:

NÓNG GIẬN: TRÁI BOM NỔ CHẬM TRONG GIA ĐÌNH

(Lc 9, 51-62)

Từ cuộc sống: Đôi vợ chồng được xã quyền công nhân ‘gia đình văn hoá’ cãi nhau ầm ĩ, xem ra mức độ ngày càng tăng. Họ không chỉ lôi xa chuyện quá khứ, mà ngay cả ông ba cha mẹ đã mồ yên mả đẹp cũng bị quật dậy nghe chửi…

Chuyện gì kinh khủng thế?

Thử tìm hiểu, nguyên nhân dẫn đên vợ chồng gây gỗ thật lãng nhắt, nếu không muốn nói, vô lý. Tất cả bắt đầu từ… con chuột.

Thỉ ra vọ chồng đang ăm cơm vui vẻ, bất chọt con chuột nhát chạy ra vợ sợ qua hét lên… Ông chồng càu nhàu: Dạo này nhà ta sạch sẽ quá lên chuột thích vào trú ngụ… Thế là lời qua tiếng lại, ban đầu chỉ là những câu khích bác nhau, rồi chửi nhau… Câu chuyện trở nên trầm trọng khi chồng bạc tai vợ…

Có lẻ cảnh vợ la chồng mắng con, hay chồng chửi vợ quát con, hoặc vợ chồng cãi nhau nhiều khi khởi xuất từ chuyện con chuột, nhỏ hơn con chuột. Chuyện như thế, xem ra hơi trẻ con và vô lý song vẫn cứ thường gặp trong cuộc sống, có khi trong ngay cả gia đình mình.

Vậy nguyên nhân tại sao từ chuyện con kiến biến thành chuyện con voi, chuyện bé xé to?

Trở về bài Tin Mừng.

Tin mừng Chúa Nhật 13TN- C cho biết, Chúa Giêsu bắt đầu hành trình lên Giêrusalem để hoàn tất ơn Cứu độ theo ý Cha. Trên hành trình ấy, dân làng Samaria từ khước tiếp đón Chúa Giêsu, các môn đệ cảm thấy bị xúc phạm. Hai môn đệ anh em ruột Giacôbê và Gioan đã tỏ ra thái độ giận dữ đầy bồng bột: đòi xin lửa từ trời xuốn thiêu rụi cho chết rũ lũ người vô ơn bội nghĩa, vuốt mặt không nể mũi, thư tai điếc mát đui đui.Danh tiếng Thầy Giêsu nổi tiếng khắp nơi ai cũng biết, ai cũng ngưỡng mộ, tthees mà…

Nói cách khác: trước sự trái ý, hai môn đệ thuộc hàng trụ cột nhóm 12 này đã bộc lộ theo phản ứng tự nhiên, với những thói xấu tầm thường mà ai trong chúng ta cũng dễ rơi vào.

Cụ thể:

1. Tính nóng nảy, cả giận : hễ gặp chuyện không vừa ý là lập tức muốn trừng phạt, nổi tam bành;

2. Óc bè phái: phân biệt bạn thù và hở một chút là muốn tiêu diệt kẻ thù;

3. Lạm dụng quyền hành: ỷ mình là môn đệ Chúa Giêsu nên muốn dùng lửa trời để thỏa mãn tính nóng giận cá nhân.

Chung quy lại, mẫu chốt của mọi vấn đề bởi ta kiêu ngạo, coi mình hơn người khác, coi mình đúng, người sai.

Và chúng ta cũng dễ rơi vào tâm trạng tầm thường, nông nổi như thế khi la mắng, chửi bới người khác, mà ‘người khác’ ở đây chính là thịt thân của mình: cha mẹ- vợ chồng- con cái- anh chị em.

Khi biết chuyện, Chúa Giêsu đã trách thẳng: “Các con không biêt thần trí nào xúi dục mình. Con Người đến không phải để giết nhưng để cứu chữa”.

Thánh Gioan Vianey Cha sở họ Ar nói cho ta biết rõ thần trí nào xúi dục ta nổi loạn, giận dữ. Ngài nói: Giận dữ đến từ ma quỷ. Khi ta giận dữ, điều đó cho biết ta đang ở trong tay ma quỷ, bị chúng điều khiển. Người giận dữ giống như một con dối, họ không biết mình nói gì làm gì, bởi ma quỷ đã khống chế hoàn toàn.

Tại sao ta lại cho phép mình ở trong tình trạng như thế? Bởi vì chúng ta không yêu mến Chúa. Lòng trí chúng ta thuộc về thằng quỷ kiêu ngạo, lúc nào cũng giận dữ vì nghĩ mình bị coi thường; thuộc về thằng quỷ tham lam, lúc nào cũng gắt ngỏng vì bị mất mát điều gì; thuộc về thẳng quỷ trụy lạc lúc nào cũng căm phẫn vì bị người khác cản trở con đường bất chính của minh” .

Và không nói đâu xa, ông bà ta vẫn cảnh cáo giận mất khôn. Vì mất khôn, nên từ chuyện chăng đáng gì thành chuyện có vấn đề, thành thù hận, ly tán … cứ thế nó kéo theo nhiều thư tội ác khác. Với những người với thế có quyền chỉ vì nòng giận, thù riêng hay ‘lợi ích nhóm’ gây lên thảm cảnh cho bao người vô tội…

Khi đã sa vào tội ác khởi di từ nóng giận thì vấn đề trở thành nghiêm trọng, vì ảnh hưởng đến ơn cứu độ đời đời.

Chính vì thế, Thánh Phaolô khuyến cáo: “Anh Em đừng phạm tội: chớ để mặt tròi lạnh mà cơn giận vã còn, đừng để ma quỷ thừa cơ lọi dụng’ (Ep 4, 26-27)

Vì thấy rõ sự nguy hiểm của kiêu ngạo- giận dữ nên Chúa Giêsu minh nhiên đòi hỏi các môn đệ học nơi Người hai điều: Hiền lành và khiêm nhường: Hãy học nơi ta vì ta hiền làng và khiêm nhường (x.Mt 11, 29)

Năm Sống Đức tin, Gia đình giáo phận Xuân Lộc mời gọi mỗi chúng ta sống cụ trong Hiệp thông và Bác ái, bởi đó ta cố tránh và loại bỏ những gì có thể gây tổn hại đến tình hiệp thông và yêu thương, trong đó điều dặt nên hàng đầu là sự nóng giận, la mắng.

Chẳng ai muốn gia đình mình bất hoà, bầu khí căng thẳng bởi sự nóng giận và những triếng la mắng. Không muốn mà vẫn cứ thường xảy ra…

Tôi coi việc nóng giận, la mắng chồng vợ con trong gia đình nguy hiểm như những trái bom nổ chậm. Nếu chúng ta không biết tháo ngòi nổ, cứ để tích tụ, chắc chắn một lúc nào đó chúng ta phải trả giá rất đắt khi bom nổ làm cả gia đình đổ vỡ, tan hoang.

Minh hoạ: Một Cha sở già kia có nhiều kinh nghiệm thường khuyên các đôi tân hôn như sau : “Khi các con thấy trong nhà sắp xảy ra cãi vã, các con hãy nói với nhau : “Để sáng mai rồi hãy gây gỗ”. Sáng hôm sau các con sẽ thấy rằng việc hôm qua thật là nhỏ nhoi không đáng gây gỗ chút nào. Khi các con sắp có chuyện cãi vã, chúng con hãy ngậm hoài một ngụm nước lạnh cho đến khi ngụm nước nóng lên. Rồi cứ tiếp tục ngậm ngụm nước khác. Làm như thế các con sẽ bớt được những xô xát đổ vỡ trong gia đình.

Lạy Chúa Giêsu Chúa đến đến không phải để giết nhưng để cứu sống, xin cho chúng con biết Hiền làng và Khiêm nhường theo chân Chúa để góp phần vun chăm sự sống, làm cho đời sống đáng sống, làm cho gia đình thức sự là mái ấm yêu thương.

Lm. Đaminh Hương Quất

 

 

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)