| |
LỄ CHÚA LÊN TRỜI
Anh Em Là Chứng Nhân Về Những Điều Này
Hôm
nay, Giáo Hội mừng Lễ Chúa Giêsu về trời, kết thúc cuộc đời 33
năm trần thế và cũng kết thúc những lần hiện ra với các môn đệ
sau 40 ngày sống lại từ cõi chết của Đức Kitô.
Chúa đã về trời nhưng công cuộc cứu chuộc của Người vẫn còn tiếp
diễn. Trong cuộc đời tại thế, chính Người đã tuyển chọn và đào
tạo những người nòng cốt, đặc biệt là 12 tông đồ để tiếp tục sứ
mạng cứu chuộc của Người. Những người được biệt tuyển này đã theo
Chúa trong suốt ba năm, cùng ăn cùng ở, cùng chia sẻ những lo
âu, những thao thức, những ô nhục cũng như vinh quang của Thầy
mình. Các ngài đã nghe tận tai, nhìn tận mắt, đụng chạm bằng giác
quan những sự việc đã xảy đến cho Thầy mình: sự sống, sự chết,
sự phục sinh và lên trời. Những điều này các ngài đã chứng kiến
và làm chứng. Các ngài đã dám lấy cả mạng sống của mình để bảo
đảm về những điều này là thật.
Đời sống các ngài là tấm gương phản chiếu hình ảnh trung thực
của Đức Kitô. Trong lần gặp gỡ cuối cùng tại Bêtania trước khi
Thầy trò từ giã nhau, Đức Giêsu đã ủy thác cho các ngài một sứ
mệnh: Công bố cho các dân, các nước sứ điệp thống hối và ơn tha
tội, đó là ơn cải tử hoàn sinh nhờ cuộc tử nạn và Phục sinh của
Người.
Các môn đệ được sai đi làm chứng nhân cho Đức Kitô, và tất cả
chúng ta cũng đồng chia sẻ trách nhiệm. Người đã không sai các
ông đi với hai bàn tay trắng mà không trang bị những gì cần thiết
để chu toàn sứ mệnh. Người hứa Đấng an ủi (Parachetos) sẽ đến.
Điều quan trọng là họ phải thực hành những điều Người đã truyền
dạy: Ở Lại trong thành chờ đến ngày được mặc lấy sức mạnh từ trời.
Chờ đợi đối với nhiều người là thời gian căng thẳng, lo âu và
buồn tẻ, tinh thần và sức khoẻ tiêu hao. Trái lại, với những người
môn đệ Chúa, đây là thời kỳ bồi dưỡng, thời kỳ tăng trưởng, thời
gian chuẩn bị để nhận lãnh sứ mệnh mới.
Đang khi các ông đăm đăm nhìn Thầy mình từ từ cất lên, tiến vào
không trung vô tận, họ đang ngất ngây thì thiên thần Chúa đánh
tức họ, đem họ trở về thực tại: "Hỡi người Galilê, sao còn
đứng nhìn lên trời làm chi nữa?" Cùng với Mẹ Maria, họ đã
về lại Giêrusalem và chờ đợi trong sự hiệp nhất và cầu nguyện,
chờ đợi ngày Chúa Thánh Thần đến để ban sức mạnh, hướng dẫn, giúp
họ chu toàn sứ mệnh.
Trong khi chờ đợi ngày Người lại đến trong vinh quang để phán
xét kẻ sống và kẻ chết, Giáo Hội không ngừng rao giảng Tin Mừng
cứu độ. Dõi theo bước chân các môn đệ, chúng ta hiệp thông với
các ngài làm chứng nhân cho Đức Kitô. Chúng ta không may mắn như
các tông đồ xưa, cùng ăn cùng ở với Chúa, nhưng tin vào lời các
ngài đã truyền lại như thánh Gioan đã quả quyết: "Điều mà
chúng tôi đã nghe, đã chứng kiến, chúng tôi loan báo cho anh em
để chính anh em cũng hiệp thông với chúng tôi" (1 Ga 1:3).
"Phúc cho ai không thấy mà tin" (Ga 20:29).
Chúng ta không cần phải đi đâu xa để làm chứng nhân cho Đức Kitô.
Chúng ta làm chứng nhân cho Người bằng chính đời sống của mình
như lời Đức Phaolô VI: "Thời đại này người ta cần chứng nhân
hơn là thầy dạy". Thật vậy, người ta chỉ đón nhận Tin Mừng
qua đời sống của người rao giảng hơn là qua lời họ rao giảng.
Chúng ta gắng vẽ lên chân dung Đức Kitô qua con người của ta bằng
việc hy sinh, bác ái của mình.
Mừng lễ Chúa về trời, cùng với Mẹ Maria, các thiên thần và các
thánh, chúng ta hân hoan vui mừng vì quê thật của chúng ta là
Thiên Đàng, nơi Đức Giêsu Kitô đang ngự bên hữu Đức Chúa Cha,
làm Trung Gian cầu bầu cho chúng ta.
Pt.
Huỳnh Văn Ngọc
LỄ THĂNG THIÊN
Sau khi sống lại 40 ngày, và sau những lần gặp gỡ với các môn đệ, Đức Giê-su đã thực hiện lời Người đã nói trước, người đã từ biệt các ông và lên Trời.
Nhưng tại sao Đức Giê-su dạy các môn đệ làm phép Rửa đã, sau đó mới giảng dạy cho họ? Tại sao không nói Chúa về Thiên đàng mà lại lên Trời, dễ làm người ta hiểu lầm ở một điểm nào trên không gian? Tại sao cho đến lúc này vẫn có những môn đệ còn hoài nghi? Theo Ma-thêu thì Đức Giê-su lên Trời tại Ga-li-lê-a, vậy tại sao thánh Luca (Lc 24,50-53) lại nói Chúa lên Trời ở Bê-ta-ni-a?
1. Ga-li-lê-a
Mat-thêu không có ý nhấn mạnh tới địa danh nơi Chúa lên Trời, nhưng tác giả muốn nhấn những sự kiện có liên quan tới công trình cứu thế của Đức Giê-su tại Ga-li-lê-a:
Ga-li-lê-a là một địa danh rộng lớn thuộc phía bắc It-ra-en, nơi có đủ các thứ dân sinh sống. Đây là khu vực mà người It-ra-en ở Giê-ru-sa-lem coi khinh, cho là vùng đất của dân ngoại. Nơi đây được coi như trung tâm của các giao tiếp, sắc tộc, ngôn ngữ, thương mại, hoà trộn tín ngưỡng và vô tín ngưỡng.
Ga-li-lê-a được coi là điểm hẹn lí tưởng giữa Thiên Chúa và con người: Trên núi Si-nai, nơi Môi-sen đã ở trên đó 40 ngày đêm và được Thiên Chúa mạc khải cho 10 điều răn. Ngôn sứ I-sa-i-a và sau này là thánh Mat-thêu nhắc tới địa danh Ga-li-lê-a như một điểm sáng: “Hỡi Ga-li-lê-a miền đất của dân ngoại, những dân đang ngồi trong bóng tối tử thần được nhìn thấy ánh sáng” (Is.9,1).
Ga-li-lê-a gắn liền với sứ vụ của Đức Giêsu: Na-da-ret nằm trong vùng đất Ga-li-lê-a, nơi gia đình Đức Giê-su sinh sống, lớn lên và làm việc. Trên núi Ô-liu, nằm phía đông Giê-ru-sa-lem, là nơi Đức Giê-su thường xuyên đến để cầu nguyện. Tại đây còn có vườn Giêt-si-ma-ni, có làng Bê-ta-ni-a, nơi Người đã cho La-da-rô chết bốn ngày sống lại, có ngọn núi Bet-pha-giê nơi khởi điểm cuộc rước Đức Giê-su long trọng vào thành Giê-ru-sa-lem và tiên báo thành này bị tàn phá không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào.
Galilêa còn là dấu chỉ hẹn cuối cùng của Đức Giê-su với các môn đệ: Cũng có mây mù che phủ, như đã từng che phủ Môi-sen trên núi Si-nai, cũng như Đức Giê-su với ba môn đệ yêu dấu ở Ta-bo-rê; cũng con số 40 kì diệu: 40 ngày trên núi Si-nai của Môi-sen hay 40 ngày chay tịnh của Chúa; 40 ngày sau khi Đức Giê-su sống lại, Người đã gặp gỡ lần cuối với các môn đệ như đã chỉ định trước: “Các bà hãy mau về nói với các môn đệ rằng người đi Ga-li-lê-a trước các ông” (Mt.28,7).
Như vậy Ga-li-lê-a là nơi Chúa Giê-su đã sống gương mẫu, rao giảng chân lí, thành lập Giáo Hội và tuyển môn đệ. Đức Giê-su đã làm xong nhiệm vụ và đi trước để dọn chỗ cho những ai tiếp tục sứ mệnh Người giao phó.
2. Cõi Trời
Chúa Giê-su về Trời, là về nơi Người phát xuất: Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ của Người ở trần gian, Người cần được hưởng vinh quang với Ba Ngôi Thiên Chúa. Mười một Tông đồ đã đến điểm hẹn, có một số còn hoài nghi. Thực ra tất cả các môn đệ đều khởi đầu từ chỗ hoài nghi rồi đến tin tưởng, và dám đổ máu mình ra để chứng tỏ niềm tin đó. Các ngài vẫn còn những hạn chế của con người, như Phê-rô, Tô-ma, hay hai môn đệ Em-mau; các ngài còn phải được học hỏi các màu nhiệm mặc khải, các ngài phải được thử thách đủ, trước khi làm nhiệm vụ. Các Tông đồ còn được chứng kiến Thầy mình về Trời để các ông hi vọng. Chỉ có sự thật mới thuyết phục được các ngài theo Chúa; tất cả nói lên rằng, Đức tin là một hành động hoàn toàn tự do dành cho con người.
Chúa lên Trời là đi từ chỗ hữu hình vào nơi vô hình: Nói Chúa lên Trời, là nói theo kiểu thế gian. Người ta thường quan niệm trời là tất cả không gian ngoài trái đất, trời là nơi Đấng Tạo Hoá ngự trị và điều khiển muôn loài. Tuy nhiên, Trời đây không phải là một điểm nào, không phụ thuộc chiều cao của không gian vật lý, không phụ thuộc vào quy luật của vũ trụ, thời gian, có thể cân đong đo đếm. Chúa lên Trời không phải là lánh xa trái đất, đến ngự trị trong một vì tinh tú hào quang, Chúa lên Trời là thay đổi từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái siêu nhiên. Trời hay Thiên đàng là một, Người hiện diện khắp mọi nơi.
Đức Giê-su về Trời để nhận nhiệm vụ mới: Người duy trì sự hiện diện của Người nơi nhân loại: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế"(Mt 28,20). Đức Giê-su được trao toàn quyền trên trời, dưới đất, vũ trụ hữu hình và vô hình. Người đánh bại cái chết, Người làm Vua vũ trụ, Đấng sáng tạo và bảo tồn vũ trụ, không có gì nằm ngoài quyền của Người.
3. Thế gian
Đức Giê-su đã về Trời và trao lại nhiệm vụ cho Giáo Hội. Người đã lệnh cho mọi người trên trái đất phải thi hành chỉ thị của Người:
Vậy anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân và làm cho họ trở thành môn đệ Thầy. Môn đệ đây được hiểu là các Kitô hữu. Đức Giê-su gọi các môn đệ và muốn họ nhân rộng ra, tăng mạnh lên. Chúa tạo dựng con người và muốn cho họ hưởng hạnh phúc. Các Tông đồ được coi là người kế nghiệp Chúa Ki-tô, là những thợ gặt lành nghề. Họ phải biết đưa mọi người vào Nước Chúa. Chúa từ chối Sa-tan với tất cả vinh hoa của nó, Người muốn các Tông đồ tiếp tục chinh phục toàn thể vũ trụ để đưa mọi người vào Nước Trời hạnh phúc mà Người đi trước dọn chỗ, để mọi người có thể tận hưởng muôn đời.
Hãy làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Đức Giê-su muốn thâu nạp nhiều môn đệ qua phép Thanh Tẩy. Người đã thánh hoá nước, để nước có sức thánh hoá nhờ Thánh Linh. Người muốn họ nối kết với nhau trong một tập thể, mà Ba ngôi Thiên Chúa là mối dây, là tình yêu liên đới, là sức sống sung mãn dồi dào trong toàn thể, cũng như từng cá nhân. Không thể nhân danh cá nhân nào, không nhân danh thụ tạo nào, thần thánh nào, mà là nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa, để họ được gia nhập vào gia đình thánh thiện của Chúa.
Hãy dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Việc Đức Giê-su đặt nhiệm vụ này cuối cùng, không phải là Người dạy họ phải làm theo thứ tự như vậy, đó chỉ là câu nói nhằm mục đích kêu gọi môn đồ. Người muốn họ phải hiểu biết đầy đủ, để chia sẻ Lời dạy của Chúa, phải biết được giá trị của việc làm, để thực thi nhiệm vụ của một môn đệ.
Nhiệm vụ Chúa giao phó cho các Tông đồ cũng là nhiệm vụ của chúng ta. Chúa không muốn riêng ai quản lí màu nhiệm Mạc khải, Chúa ra lệnh mỗi người phải mạnh dạn ra đi rao giảng và làm chứng về Người, hầu được hưởng phúc Nước Trời với Thiên Chúa Ba Ngôi.
Jos Trần Xuân Chiêu
*******************
Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con tin bằng trái tim, tuyên xưng bằng miệng và bày tỏ bằng việc làm, rằng Chúa ngự trong chúng con ngõ hầu nhân loại thấy rõ những việc lành chúng con làm mà tôn vinh chúc tụng Cha chúng con trên trời. Vì Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con, Đấng muôn đời vinh hiển. Amen!
Origênê
May 7, 2013
Chúa Lên Trời C- 12-5-2013
Ta quan t âm...Ta đã dựng nên con
(Lc 24:46-53)
Một bà đứng trên lầu nhìn xuống thấy một bé gái đứng tất tưởi bơ vơ trên vệ đường. Bé có bộ
mặt lọ lem với thân hình thiếu sinh dưỡng bao bọc bằng một mảnh áo rách tả tơi. Bé xòe tay xin người đi qua kẻ đi lại may ra có ai thương cho vài xu để mua chút đỉnh lót dạ. Thấy vậy người đàn bà buồn phiền than với Chúa: “Tại sao Chúa lại để tình trạng như thế xảy ra trên thế giới mà Chúa đã tạo dựng? Sao Chúa không quan tâm và ra tay cứu giúp?” Chúa trả lời: “Ta đã quan tâm và ra tay cứu giúp; Ta đã dựng nên con.”
Câu chuyện mời gọi chúng ra tự hỏi chính mình vế sứ mạng Chúa đã ủy thác cho các tông đồ xưa cũng như cho từng người ngày nay khi mừng Lễ Chúa Thăng Thiên: “Tôi đã sống sự mạng tông đồ Chúa Giêsu trao phó trước khi Ngài về trời như thế nào?”Trong bốn mươi ngày sau khi Phục Sinh, Chúa Giêsu đã nhiều lần hiện ra với các tông đồ và môn đệ để chấn an họ là Ngài đã thực sự sống lại và để chuẩn bị tâm hồn họ đón nhận sứ mạng tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng mà Ngài đã khởi xướng.
Việc Chúa Giêsu từ giã các tông đồ để về trời vừa là một cuộc kết thúc và là sự khởi đầu cho các môn đệ. Biến cố Thắng Thiên kết thúc sự hiện diện thể lý của Chúa với các môn đệ yêu dấu và đồng thời đánh dấu sự khởi đầu cho việc Ngài hiện diện với họ qua cách thức mới. Chúa Giêsu hứa với các môn đệ là Ngài sẽ ở với các ông mọi ngày cho đến tận thế. Ngài cũng hứa ban quyền hành của Ngài cho họ – một quyền hành đã chiến thắng sự chết. Bây giờ, trong tư thế là Đấng phục sinh vinh hiển và là Đấng Cứu Độ, đã lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, Chúa Giêsu đã hứa là sẽ ban cho các ngài sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ ngự đến vào
Lễ Ngụ Tuần. Khi Chúa Giêsu rời bỏ các môn đệ cách thể lý, họ không bị bỏ mồ côi và bất lực. Chúa Giêsu đã hứa sẽ ở với họ và sẽ ban quyền lực của Chúa Thánh Thần.
Lời sau cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ hướng về sứ mạng cứu độ của Ngài và sứ mạng
của các môn đệ để trở nên chứng nhân cho cái chết cứu chuộc và sự sống lại vinh quang của Ngài và để công bố Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Sứ mạng của họ là loan báo Tin Mừng cứu độ, không những chỉ cho dân Israen, nhưng còn cho cả muôn dân. Tình yêu và ơn cứu chuộc của Thiên Chúa không chỉ dành cho một người, hay cho một quốcgia, nhưng là cho toàn thế giới – cho tất cả những ai sẽ đón nhận Tin Mừng. Tin Mừng là sức mạnh của Thiên Chúa, sức mạnh để tha tội, để chữa lành, để giải thoát khỏi sự dữ và bắt bớ, và để phục hồi sự sống.Đây là một sứ mệnh cao cả mà Chúa Kitô phục sinh không chỉ truyền cho các môn đệ nhưng là truyền cho toàn Giáo Hội. Mọi tín hữu đều dự phần vào sứ vụ này: trở nên sứ giả Tin Mừng của Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc thế gian. Có lẽ nhiều khi ta thắc mắc ta sẽ thực thi sứ mệnh cao cả này như thế nào vì chúng ta không phải là những nhà giảng thuyết lỗi lạc lừng dành hoặc những nhà từ thiện bác ái cao cả như Mẹ Têrêsa Calcutta.Chúng ta không cần phải là những nhà giảng thuyết lỗi lạc hoặc nhà bác ái từ thiện. Chúng ta chỉ cần sống đúng như lời Chúa Giêsu truyền dậy là đủ. Chúng ta không chỉ thi hành sự mạng bằng việc rao giảng Lời Chúa nhưng còn qua cuộc sống hằng ngày nữa. Chỉ cần sống đúng giới răn Mến Chúa – Yêu Người và giúp tha nhân sống giới răn đó là được. Chắc ai cũng nhớ cảnh phán xét chung được Thánh Matthêu tả lại trong đoạn 25: Khi đó Chúa không hỏi chúng ta đã mạnh bạo rao giảng Lời Chúa thế nào, nhưng Chúa chỉ đề cập đến việc chúng ta đã cho hoặc không cho những kẻ đói ăn, kẻ khát uống, tiếp người lữ khác, và cho kẻ trần truồng mặc…
Lời Chúa truyền dậy nghe thật dễ nhưng rất khó đẻ thi hành. Khó nhưng không nên lo sợ vì Chúa không để chúng ta thi hành việc đó một mình. Chúa Kitô phục sinh đã hứa sẽ hoạt động trong và qua ta nhờ quyền lực Chúa Thánh Thần. Ngày nay chúng ta chứng kiến một Lễ Ngũ Tuần mới khi Chúa đổ tràn Thần Khí trên dân thánh của Ngài để canh tân và củng cố Nhiệm Thể Chúa Kitô và trang bị cho mọi người để thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng cho thế giới cách hữu hiệu hơn.
Thế giới ngày nay còn có rất nhiều người đói ăn, khát uống, lữ khách, và trần truồng…những người này có thể là những người ở trong chính gia đình hay trong cộng đoàn. Họ đói tình thương, khát sự nâng đỡ, bị bỏ rơi không ai để ý tới, hay trần truồng vì thiếu sự để ý chăm sóc của chúng ta. Chúng ta đã làm gì? Đã tra tay vào việc theo khả năng của mình hoặc đứng nhìn hoành cảnh bất hạnh này và than trách Chúa như người đàn bà trong câu chuyện trên? Xin nhớ lời Chúa phán với người đàn bà: “Ta đã quan tâm và ra tay cứu giúp; Ta đã dựng nên con.” Chúa không chỉ ban cho ta Chúa Thánh Thần để giúp ta thực thi sứ mệnh. Ngài còn ban cho ta Mẹ Maria để cùng đồng hành với ta trong sứ vụ này. Xin Mẹ giúp chúng ta biết sống vui tươi và bác ái với mọi người chung quanh hầu họ có thể nhận ra niềm vui của Chúa Kitô phục sinh.
Lm Quốc Toản, CMC
Bài
Tin Mừng hôm nay thuật lại lời từ biệt của Đức Kitô trong bữa
tiệc cuối cùng. Suốt 3 năm trời Thầy trò sát cánh bên nhau trong
sứ mệnh được ủy thác, nhưng có một số điều vẫn được dành riêng
cho những giây phút cuối cùng để nói lên sự nghiêm trọng của nó.
Giờ đây, Chúa Giê-su không còn bôn ba, bận rộn trong việc giảng
dậy, chữa bệnh và làm phép lạ nữa, mà Thầy trò bên nhau cùng sống
những giờ còn lại. Khi người ta hấp hối, mỗi giây phút sống với
người thân là những thời giờ quí báu, và những điều quan trọng
nhất thường được dặn dò vào giờ phút cuối cùng này.
Xin Cho Tất Cả Nên Một
Jos.Vinc. Ngọc Biển
Chúa Nhật VII Phục Sinh, năm C
Chuyện xưa kể rằng: có một ông bố muốn giáo dục con cái về sự hiệp nhất, vì thế, ông đưa cho các con một bó đũa đã cột lại làm một và bảo các con bẻ thử, mấy người con cố gắng cũng không thể nào bẻ gẫy bó đũa… Sau đó, ông lại bảo: hãy tháo bó đũa ra và bẻ từng cái và thế là bó đũa bị bẻ gẫy dễ dàng. Lúc đó, người cha liền bảo: “Như thế là các con đều thấy rằng chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh. Vậy các con phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Có đoàn kết thì mới có sức mạnh; đoàn kết thì sống, chia rẽ là chết”.
Tin mừng hôm nay thuật lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cho các môn đệ. Ngài cầu nguyện cho các ông được hiệp nhất và yêu thương nhau. Bởi vì nếu họ biết hiệp nhất, yêu thương thì sẽ cùng nhau vượt qua khó khăn, thử thách cách dễ dàng. Cùng chung tay xây dựng Giáo hội và cùng nhau làm chứng cho Chúa.
1. Hiệp nhất để xây dựng Giáo hội
Đức Giêsu là người hiểu tâm lý của các môn đệ hơn ai hết. Ngài đã đích thân gọi và chọn các ông làm môn đệ cho mình, là những người Ngài sẽ trao phó cách hữu hình công việc xây dựng Giáo hội mà Ngài thiết lập dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúa biết rõ sự xuất thân của các ông. Ngài thấu hiểu hoàn cảnh, tâm lý của từng người. Vì thế, lời cầu nguyện cho các môn đệ được hợp nhất là điều rất quan trọng và thực tế. Sự hiệp nhất là yếu tố quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của công việc.
Quả thật, nếu không có sự hiệp nhất, thì việc xây dựng Giáo hội trở nên ảo tưởng và vô lý. Và, những lời rao giảng của các ông không ăn nhập gì với mục đích của lời rao giảng. Sự hiệp nhất đó được khởi đi từ khuôn mẫu Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha và Chúa Con nên một nhờ Thần Khí (x. Ga, 15,26). Cũng nhờ Thần Khí ấy ngự trên các môn đệ và làm cho họ hiệp nhất với nhau. Các môn đệ phải là những người đi tiên phong trong sự hiệp nhất này. Trong lịch sử Cứu độ, chúng ta đã thấy rất rõ hậu quả của sự chia rẽ: A đam và E và đã không nghe lời Thiên Chúa nên đã tự mâu thuẫn nội tại khi giơ tay hái và ăn trái cấm. Cain giết Abel vì không hiểu và không thương yêu nhau. Tháp Babel xây không thành vì bất đồng về ngôn ngữ... Chúa Giêsu cầu nguyện cho các ông được hiệp nhất vì: có hiệp nhất, thì mới có mối tương quan, sự cảm thông; mới xây dựng được đời sống cộng đoàn; có sự hiệp nhất thì mới cùng nhau làm chứng về Chúa cách hùng hồn. Nếu không có sự hiệp nhất, thì lẽ tất nhiên, cộng đoàn tan rã và sứ mạng Chúa trao phó không thể chu toàn.
2. Hiệp nhất để truyền giáo
Chúa Giêsu cầu nguyện cho các môn đệ và cho cả những ai tin vào lời các ông rao giảng cũng được hiệp nhất với nhau. Đây quả là yêu tố quan trọng trong khi loan báo Tin mừng. Bởi lẽ, nếu không có sự hiệp nhất, lời rao giảng của các môn đệ trở nên phản chứng hơn bao giờ hết; và những ai đi theo lời các ông loan báo thì thật tệ hại cho cả một đời của họ.
Chúa sắp sửa trao cho các ông sứ mạng truyền giáo đến tận chân trời góc biển. Sứ mạng ấy là quy tụ muôn dân trên khắp mặt đất về một mối. Chỉ có một Chủ chiên và một đoàn chiên duy nhất. Chính vì điều đó, nên Chúa Giêsu khao khát cho các môn đệ phải là những người sống kiểu mẫu về sự hiệp nhất; đồng thời, những ai thuộc về Giáo hội mà các ngài rao giảng cũng đều có một mẫu số chung như các ngài.
Sứ mạng loan báo Tin Mừng ấy luôn đòi hỏi tinh thần hy sinh và từ bỏ của người môn đệ rất cao. Khó khăn ấy là: ốm đau, bệnh tật, cô đơn, hiểu lầm, bắt bớ và chịu chết để làm chứng cho lời rao giảng của mình... Nhưng nếu có sự hiệp nhất, yêu thương thì dù trong hoàn cảnh nào, các ông cũng đều làm chứng cho mọi người về một thực tại siêu việt vượt lên trên những thực tại chóng qua và vô bổ ở đời. Nếu người môn đệ Chúa Kitô rao giảng về một Tin mừng giải thoát, yêu thương mà chính bản thân các ngài lại không có những yếu tố hiệp nhất để chứng minh về lời rao giảng đó thì quả là một điều vô lý. Vì thế, trước khi truyền giáo, người môn đệ phải biết “yêu”. Yêu thương là đoàn kết. Yêu thương là sống mầu nhiệm tự hủy để chỉ còn sống cho người khác. Yêu thương là muốn cho người khác cũng được yêu thương như mình. Yêu thương chính là điểm hội tụ của những tấm lòng khao khát tìm chân lý. Có yêu thương như Thầy, thì những lời chứng của người môn đệ mới đủ khả tín. Được như thế, người môn đệ của Chúa Giêsu có quyền hy vọng về một tương lai của Giáo hội mà trong đó người muôn nước sẽ về phủ phục trước Tôn Nhan và muôn dân sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.
3. Người Kitô hữu sống hiệp nhất theo tinh thần của Đức Giêsu
"Lạy Cha, xin cho mọi người nên một" (Ga 17,21) là lời cầu nguyện thể hiện mối ưu tư của Chúa Giêsu rất lớn. Lời cầu nguyện này phát xuất từ nỗi lòng của Ngài trong bữa tiệc ly trước khi chia tay các môn đệ.
Hôm nay, Lời Chúa mời gọi mỗi người chúng ta biết cùng nhau chung tay xây dựng tình hiệp nhất nơi môi trường, nơi hội đoàn của mình. Biết bỏ đi những kiêu ngạo, ích kỷ, tư lợi cá nhân để xây dựng công ích. Vợ chồng biết nhường nhịn nhau, con cái biết ngoan ngoãn vâng lời cha mẹ. Anh chị em biết đoàn kết với nhau, yêu thương và đùm bọc nhau. Biết ý thức được giới hạn của mình để cần đến người khác.
Tuy nhiên, không ai cho cái mình không có. Phải có mới cho. Vì thế, sự hiệp nhất phải bắt nguồn từ Chúa Giêsu. Hiệp nhất với Chúa Giêsu như ngành nho với thân nho; như cây cối cần ánh sáng của mặt trời; như cá trong nước... Có hiệp nhất với Chúa Giêsu và nên một với Ngài thì mới phát sinh sự hiệp nhất với nhau. Đây cũng chính là điều kiện để trổ sinh hoa trái. Hiệp nhất mang tính truyền giáo và truyền giáo nhằm mục đích hiệp nhất. Nếu ai hiệp nhất với Thiên Chúa thì phải sinh hoa kết trái dồi dào. Còn những ai không sinh hoa kết trái thì chính người ấy đã không sống trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa.
Ước mong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu khi xưa, nay được hiện tại hóa và sinh hoa kết trái dồi dào nơi những môn đệ của Ngài trong thế giới hôm nay.
Lạy Chúa, xin Chúa ban cho chúng con luôn được hiệp nhất với nhau, nhờ biết loại bỏ hận thù, kỳ thị, tranh chấp, kết án lẫn nhau… Xin cho chúng con luôn khiêm tốn trong lời nói và hành động, để không làm thương tổn đến sự hiệp nhất trong Giáo hội, trong xã hội và nơi gia đình. Amen.
by Jos.Vinc. Ngọc Biển
Hãy là chứng nhân của Thầy
Jos. Vinc. Ngọc Biển5/5/2013
(Lễ Chúa Thăng Thiên, năm C)
Toàn Giáo Hội hân hoan mừng lễ Chúa Thăng Thiên, tức là lên trời. Việc Chúa lên trời, Ngài đã chấm dứt cuộc đời trần thế theo ý muốn của Chúa Cha.
Vậy, đâu là ý nghĩa của việc Chúa lên trời? Ngài lên trời có chấm dứt sự hiện diện trong Giáo Hội hay không? Trước khi lên trời, Chúa đã để lại cho Giáo Hội sứ mạng gì? Và, mỗi người Kitô hữu chúng ta sống niềm hy vọng Thiên Quốc ra sao?
1. Ý nghĩa của việc Chúa lên trời
Sự kiện Chúa Giêsu về trời cho chúng ta thấy: Ngài đã hoàn toàn vâng phục Chúa Cha. Đã chu toàn sứ mạng cứu độ con người qua cái chết trên thập giá. Ngài đã sống lại để làm chứng những lời Ngài đã loan báo. Và, hôm nay, Ngài lên trời để đem lại cho chúng ta niềm hy vọng mai ngày cũng được về trời với Ngài như lời Ngài đã nói: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó” (Ga 12,26).
Việc Chúa Giêsu lên trời cũng là lúc kết thúc những cuộc gặp gỡ bằng xương bằng thịt và mở ra một cuộc gặp gỡ thiêng liêng, vượt lên trên không gian và thời gian. Sự kiện này không chấm dứt mọi hoạt động của Ngài trên trần gian. Nhưng qua đó, Chúa Giêsu hiện diện cách phổ quát: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Ngài hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, qua Giáo Hội, trong con người của các chứng nhân. Vì thế, Chúa Giêsu trở về với Chúa Cha, nhưng Ngài lại khai mở ra cho các Tông đồ và Giáo hội một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của việc loan báo và làm chứng về Đấng Phục Sinh.
2. Sứ mạng của các Tông đồ sau khi Chúa Giêsu lên trời
Chúa Giêsu về trời, Ngài trao ban sứ mạng truyền giáo cho Giáo hội, khởi đi từ các Tông đồ. Lệnh truyền của Chúa Giêsu:“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15), để “muôn dân trở thành môn đệ”(Mt 28,19) phải là lời mời gọi, một lệnh truyền cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trước khi Chúa Giêsu về trời, về với Đấng là Cha đã sai mình đến trần gian, Ngài đã truyền lệnh cho các tông đồ: “Như Cha đã sai Thầy vào thế gian, Thầy cũng sai anh em vào thế gian” (Ga 17,18; x. 20,21). Anh em hãy ra đi và loan báo về: “Đức Mêsia phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba sẽ từ cõi chết chỗi dậy. Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân bắt đầu từ Giêrusalem” (Lc 24,46-47).
Khi Chúa đã lên trời, thì cũng là lúc các Tông đồ phải xuống núi, phải ra đi để đến với muôn dân như lời Ngài đã truyền. Các ông ra đi để tuyên xưng niềm tin của mình vào Đấng đã chết và đã phục sinh. Vào Đấng là đường, là sự thật và là sự sống. Vào Đấng đã yêu thương con người, đã chết và đã sống lại vì hạnh phúc và phần rỗi của con người. Đấng ấy đã lên trời để đem lại niềm hy vọng cho những ai tin vào Ngài cũng được lên trời như các ông đã thấy Ngài lên trời.
Chính trong giây phút này, các ông nhận lãnh sứ mạng xây dựng Giáo Hội, một Giáo Hội có Thiên Chúa là Chủ và có nhau là anh em. Một Giáo Hội yêu thương, hiệp nhất. Một Giáo Hội công bằng văn minh.
Khi Ngài lên trời, Ngài đã giơ tay chúc lành cho các Tông đồ. Hành vi giơ tay được hiểu như là cử chỉ của sự trao ban bình an và đồng thời cũng là biểu hiện sự tin tưởng và trao phó sứ mạng loan báo Tin Mừng cho các Tông đồ.
Sứ mạng mà các ông lãnh nhận và tiếp nối nơi Thầy của mình không phải là một công việc dễ dàng. Chính Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói” (Lc 10,3). Vì thế, "anh em hãy ở khôn như rắn và đơn sơ như chim bồ câu" (Mc 10,16b).
Khó khăn! Đúng vậy. Chẳng bao lâu, các ông đã bị vua Chúa, quan quyền truy nã vì loan báo về danh Chúa Giêsu... Vì thế, các Tông đồ phải chạy trốn hết thành này sang thành nọ. Hơn bao giờ hết, các ông thấm thía chân lý của hạt lúa gieo vào lòng đất. Chân lý ấy đã được Thầy của mình sống cách triệt để và mời gọi mình bước theo: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, thì nó sinh nhiều bông hạt” (Ga 12,24). Hiểu được điều đó, các ông đã không sợ bất cứ ai hay một thế lực nào làm cản trở công cuộc loan báo Tin Mừng. Quả thế, Thánh Phaolô đã nói: “Về bất cứ điều gì, đừng sợ những kẻ chống đối anh em: đó là dấu chỉ cho thấy họ sẽ bị hư vong, còn đối với anh em, thì lại là dấu chỉ ơn cứu độ. Điều ấy là ân huệ Thiên Chúa ban. Quả thế, nhờ Đức Kitô, anh em đã được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì Người. Nhờ vậy, anh em được tham dự cùng một cuộc chiến mà anh em đã thấy tôi phải đương đầu trước kia, và nay anh em nghe biết là tôi vẫn còn tiếp tục” (Pl 1,28-30). Cuối cùng, các ông đã không thể ngồi yên khi biết bao con người chưa nhận biết Chúa, nên lại một lần nữa, Phaolô diễn tả tâm trạng đó như sau: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9,16).
3. Sứ mạng loan báo Tin Mừng của mỗi chúng ta
Tiếp nối các Tông đồ, có biết bao nhiêu người đã lên đường, đến những nơi heo hút treo leo. Đã biết bao vị thừa sai bỏ lại mạng sống nơi rừng thiêng nước độc. Miễn sao Tin mừng được loan báo. Quả thật: việc truyền giáo hay loan báo Tin mừng là bản chất của Giáo hội Chúa Kitô (x. Công đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 4;16). Sứ mạng ấy bắt nguồn từ việc Chúa Cha đã trao cho Con của Ngài là Chúa Giêsu, và chính Ngài cũng trao phó cho các Tông đồ và cho mỗi chúng ta: “Như Cha đã sai Thầy vào thế gian, Thầy cũng sai anh em vào thế gian” (Ga 17,18; x. 20,21).
Ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta thuộc về Chúa Kitô và nhận lãnh sứ mạng ngôn sứ từ nơi Ngài. Vì thế, mỗi người chúng ta hãy ra khỏi sự ổn định, an toàn của bản thân và hãy lên đường loan báo Tin Mừng, dẫu biết rằng, công cuộc ấy chẳng mấy tốt đẹp theo kiểu con người suy nghĩ. Vì thế, Chúa Giêsu đã tiên báo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét” (Lc 21,17). Và "hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em" (Ga 15,29). Nhưng hãy học nơi các Tông đồ: càng bị sỉ nhục, bắt bớ và tù đày, các ông lại càng “hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5,41). Bởi xác tín rằng "... trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" (Ga 16, 33; x. Rm 8,35-37).
Lời loan báo của chúng ta vào Đức Giêsu phục sinh quả là một hành trình, đòi hỏi chúng ta phải là những người đã cảm nghiệm được về Đấng mà chúng ta loan báo: "Chính anh em là chứng nhân về những điều này" (Lc 24,48). Không ai lại đi loan báo về một người mà chúng ta không biết và không tin; hay loan báo vào những thời điểm hay một nhóm người nhất định trong một không gian cụ thể, mà là: “Anh em hãy là nhân chứng cho Thầy đến tận cùng trái đất” (x. Cv 1,8). Trong hành trình loan báo đó, dù gặp phải muôn vàn khó khăn, nhưng chúng ta tin tưởng vào sự bảo trở của Đấng mà Chúa Giêsu đã ban xuống trên các Tông đồ khi xưa: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem và khắp cùng thế giới” (x. Cv 1,8).
Chúng ta mừng lễ Chúa lên trời, cũng là lúc một lần nữa chúng ta xác định về vai trò ngôn sứ và chứng nhân của mỗi chúng ta. Mong thay lời bài hát “Đẹp Thay” của Linh mục Nhạc sĩ Mi Trầm lại một lần nữa được vang lên trên môi miệng những ngôn sứ của Lời trong xã hội hôm nay: Ðẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi. Ðẹp thay những bước chân rảo khắp nẻo đường. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong vui sướng. Ai gieo trong nước mắt, sẽ về trong tiếng cười. Ôi đẹp thay những bước chân tiến vào giữa lòng thế giới, loan tình thương Chúa Trời, loan niềm vuii cứu đời, cho mọi người và mọi nơi.
Để kết thúc, xin cũng mượn lời của Đức cố Hồng y Phanxicô X. Nguyễn Văn Thuận trong tác phẩm Đường Hy Vọng của ngài, khi nói về những khó khăn mà người môn đệ của Chúa Giêsu sẽ phải chịu trên con đường loan báo Tin Mừng; đồng thời cũng xác tín mạnh mẽ những ân ban cho những ai trung thành đến cùng trong sứ mạng loan báo Tin Mừng. Ngài nói: “Con run sợ: vấp ngã, khó khăn, hiểu lầm, công kích, sỉ nhục, tử hình... Con quên Phúc Âm sao? Chúa Giêsu đã chịu tất cả. Cứ theo Ngài con sẽ Phục Sinh” (ĐHV số 44).
Lạy Chúa, hôm nay Chúa về trời, Chúa đã chúc lành cho các Tông đồ và cũng cho tất cả mỗi người chúng con là những người tin Chúa; đồng thời Chúa cũng trao phó cho các ngài và Giáo Hội phải loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Xin Chúa cho mỗi chúng con ý thức được điều đó và sẵn sàng ra đi làm chứng cho Chúa trong lòng xã hội hôm nay dầu có phải chịu đau khổ, thử thách. Amen.
Jos. Vinc. Ngọc Biển
Chúa lên trời
Lm.Thomas Túy, OP
16/05/2007
CHÚA LÊN TRỜI
Lc 24,46-52.
Một tín hữu đi ngang qua một quán rượu, anh nghe trong quán có tiếng cười nói ầm ĩ. Anh dừng lại lắng nghe, thì ra nhóm đàn ông vừa uống rượu vừa chế giễu tôn giáo và những kẻ có đạo. Anh nói với họ rằng: “Đúng đó, tôi chẳng hiểu các màu nhiệm trong đạo, nhất là kẻ chết có thể sống lại. Nhưng tôi biết rõ một điều ở trong thành phố này, Thiên Chúa đã cúi xuống một nắm đất sét hôi hám, bẩn thỉu vô cùng, Ngài thổi hơi vào nó. Nó liền biến đổi từ gã đâm thuê, chém mướn, sike, trộm cướp, cờ bạc, rượu chè, thành một thanh niên kiến tạo hòa bình, thương yêu giúp đỡ láng giềng. Người đó chính là tôi, đang đứng trước qúi vị đây”. Cả đám đông ồ lên một tiếng. Thì ra họ đã nghe đồn về “anh trưởng” của một mái ấm thành phố mà báo chí thường nhắc đến.
Nếu suy nghĩ một chút, quí vị ngộ ra lời người thanh niên còn đi xa hơn sự thật về anh rất nhiều. Thiên Chúa đã thổi Thần Khí vào nắm đất trong vườn Eđen và nhân lọai thành hình. Ngài lại rợp bóng trên nhân lọai và nhân lọai ấy trở thành Con của Ngài trong lòng trinh nữ Maria. Nhân lọai mới này chịu khổ nạn trên thập giá để đền bù tội lỗi, nhưng ngày thứ ba sống lại. Hôm nay được đón về trời ngồi tòa vinh hiển, có các thiên thần hầu cận.
Lên trời có ý nghĩa thế nào đối với đức Kitô, thì cũng vậy đối với mỗi tín hữu, thí dụ người thanh niên hư hỏng vừa nói ở trên. Vậy lên trời đối với Chúa Giêsu ra sao? Và chúng ta thế nào? Có được quyền lên trời không? Phải sống ra sao để theo Chúa? Trước hết, lên trời đối với Chúa Giêsu là sự nghiệp và đau khổ của một con người đã chấm dứt. Ngài lên cùng Thiên Chúa Cha với thân xác và linh hồn mà Ngài đảm nhận ở dương gian. Ngài và Thiên Chúa Cha kết hợp mật thiết trong tình yêu chân thật là Chúa Thánh Thần. Đấng sẽ đổ ơn lành xuống cho nhân lọai, khởi sự từ biến cố lễ 50. như vậy sự hiện diện của Thiên Chúa trên Giáo Hội không khi nào chấm dứt, đúng như lời Chúa Giêsu tuyên bố: “Thày sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20). Điều Thiên Chúa bắt đầu ở vườn Eden, nay hòan tất nơi đức Kitô, bất chấp tội lỗi. Chương trình của Thiên Chúa không bao giờ thất bại. Chúa Giêsu là con của lòai người, nay là con của Thiên Chúa xét theo nhân tính. Ngài là tạo vật mới vượt qua không gian, thời gian, đau khổ và cái chết. Như vậy nhân tính đã được dự phần vào thiên tính thực thụ và có chứng cớ rõ ràng. Đúng là hy vọng lớn lao cho lòai người? Chúng ta không được phép thất vọng vì bất cứ lý do nào. Đức Giêsu đã tòan thắng sự dữ và tội lỗi, chúng ta cũng có hy vọng tương tự.
Con đường lên thiên đàng đã được họach định cho nhân lọai. Nhân tính Đức Giêsu vui hưởng hạnh phúc, mà tai chưa hề được nghe, mắt chưa hề được xem, trí tuệ chưa hề tưởng tượng. Ngài uống tận nguồn nước vĩnh cửu của đời sống Ba Ngôi Ngài cử hành muôn thuở chiến thắng thế gian, satan, xác thịt cùng với Đức Mẹ, các thánh và các thiên thần trong vinh quanh. Nhưng xin nhớ trên dương gian Ngài không hề ích kỷ, trên thiên đàng càng xả kỷ hơn nữa. Trên dương gian Ngài chữa lành bệnh tật, cho kẻ què đi được, kẻ điếc được nghe, câm nói được, chết sống lại thì bây giờ chẳng lẽ Ngài không làm được nữa sao? Ngài đã thí mạng sống vì chúng ta, chẳng lẽ Ngài thôi thực hiện? Vì thế thơ Do Thái viết: “Ngài hằng đứng trước tòa Thiên Chúa để cầu bầu cho nhân lọai”. Nếu bà thánh Thérésa Hài Đồng Giêsu trước khi qua đời hứa mưa hoa hồng ân phúc xuống chị em trong dòng, chẳng lẽ Đức Giêsu không làm được cho chúng ta?
Cho nên chúng ta phải tin rằng Ngài đang hiện diện trong Hội thánh, tưới gội ơn cứu rỗi cho nhân lọai. Các bí tích là một bảo đảm. Ngài ở với lòai người trong bí tích Thánh Thể y như ở trên trời vinh hiển, yêu thương, quyền năng. Xin đừng đùa cợt với các bí tích đó là công việc Thiên Chúa tiếp tục nơi dương gian. Ngài hòan tòan là con người mới với thân thể thiêng liêng, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Ngài hiện diện cho những ai có đôi mắt đức tin, như các tông đồ xưa, nhất là nơi nhà tạm với ngọn đèn leo lét.
Chúng ta phải làm chi lúc này? Đừng đứng đó mà ngó lên trời, như hai thiên thần cảnh cáo các môn đệ? Sự thật một số tín hữu tiên khởi đã lầm tưởng Chúa sắp xuất hiện, nên cứ ngồi đó mà chờ đợi, đến nỗi Thánh Phaolô phải nói thẳng thừng: “Ai không chịu làm thì đừng ăn.” Tín hữu không phải là kẻ mộng du, nhưng là người thức tỉnh, chia sẻ cuộc sống của Ngài, chúng ta phải lao động và làm việc như Chúa. Các người làng Nazareth ngày xưa đã ngạc nhiên: “Anh ta không phải là bác thợ mộc, con bà Maria sao?” Câu nói này chẳng là trò đùa, mà là sự thật. Suy ra, Chúa lao động với đôi tay và khối óc suốt 30 năm. Còn ngài đi đây đó rao giảng sứ mệnh thì quá hiển nhiên. Bốn phúc âm đều thuật lại, không cần biện minh. Vậy mà, hỡi ôi, các tu sĩ linh mục ngày nay cư sử ra sao trong cuộc sống? Họ dùng thời gian, tài sức ra sao cũng hiển nhiên không kém! Chia sẻ cuộc sống với Chúa là điều kiện cần thiết để nên giống Ngài và đọat giải cứu rỗi. Các môn đệ tiên khởi đã nêu gương cho chúng ta hôm nay! Bao lâu nữa Ngài sẽ trở lại? Chẳng ai được biết. Nhưng mọi người đều biết rằng, trừ thân xác, còn linh hồn mỗi người trở về cùng Thiên Chúa thì không phải đợi. Cho nên lao động để nâng đỡ gia đình, con cái, xã hội là cần thiết và như vậy chúng ta tích cực chuẩn bị cho ngày Ngài trở lại.
Hiện thời trên dương gian Tin mừng của Chúa Kitô là Tin mừng thánh giá. Qua tin mừng ấy, nhất là qua những thương tích, Ngài tưới gội sức sống và ơn thánh xuống cho thế giới. Màu nhiệm cứu độ của Ngài còn tiếp tục qua con đường đó, chứ không phải an nhàn, thư thái. Ngài mời gọi chúng ta cộng tác: “Ai muốn theo Tôi, hãy để kẻ ấy vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Vậy mà một tu sĩ trẻ vừa nói với tôi: “Đi tu chỉ mong được có thế!” Ý ông là được ăn sung, mặc sướng, tận hưởng các tiện nghi thế gian. Chẳng hiểu thần khí nào thúc đẩy ông như vậy. Chắc chắn không phải Thần Khí Đức Kitô. Vì hôm nay Ngài về trời để lại cho chúng ta con đường thập giá để noi theo mà tiến bước về trời. Chẳng còn con đường nào khác. Amen. Alleluia.
Chứng nhân của Chúa
LM Nguyễn Văn Chánh 16/05/2007
Chúa Nhật Lễ Chúa Thăng Thiên.
CHỨNG NHÂN CỦA CHÚA.
Tất cả chúng ta nhờ phép rửa tội đều được tham dự vào sứ vụ loan báo Tin mừng của Đức Giêsu Kitô. Vì thế sau khi Chúa Giêsu lên trời trước sự chứng kiên của các Tông đồ, Chúa không muốn các ngài cứ say mê hướng về trời để chiêm ngưỡng cuộc siêu tôn vinh hiển của Chúa, nhưng Chúa mời gọi các Tông đồ phải trở về trần gian. Trở về trần gian để tiếp nối sứ vụ rao giảng Tin mừng cho muôn dân, để nên nhân chứng của Đức Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh (x Lc24,47-48).
Khi chiêm ngắm cuộc đời của Đức Giêsu, chúng ta có thể khám phá rất nhiều con đường giúp chúng ta sống chứng nhân giữa đời. Nhưng thiết nghĩ những con đường sau đây có lẽ cũng không thừa để giúp chúng ta thực thi sứ mạng loan báo Tin mừng trong môi trường chúng ta đang sống:
1/ Con đường ra đi:
Muốn truyền giáo, muốn trở nên chứng nhân cho Chúa thì phải ra đi.
Abraham là ông lão quê mùa ở thành Ur thuộc xứ Canđê. Ông sẵn sàng từ bỏ quê cha đất tổ để ra đi theo lời Chúa hứa. Ông đến nơi mà ông chưa biết. Nhưng theo lời Chúa hứa ông cứ ra đi. Khi kết thúc cuộc đời và hoàn thành sứ mạng, Abraham đã được Chúa thưởng một món quà thật xứng đáng, khi ông được tặng một danh xưng là Tổ Phụ của một dân tộc. Dân tộc ấy càng ngày càng được phát triển và được củng cố nhờ ơn thánh Chúa.
Chúa Giêsu trước khi thực hiện trương trình cứu độ của Chúa Cha, Ngài cũng phải ra đi. Vì từ cõi trời Ngài đã đi vào trần gian, Ngài đã hoạt đông trong trần gian. Con đường cứu độ của Thiên Chúa không mang tính thụ động hay huyền thoại phù phiếm, nhưng là con đường hy sinh từ bỏ cuộc sống quá khứ để hoà nhập vào trần gian và sống như con người. Đây chính là cuộc ra đi để hy sinh vì nhân loại. Thế nhưng cuộc ra đi của Đức Giêsu còn được nối tiếp bởi con đường quên mình.
2/ Con đường quên mình :
Đức Giêsu Kitô là chứng nhân của Chúa Cha, Ngài không nghĩ gì đến bản thân Ngài, cũng chẳng tha thiết gì đến địa vị của Ngài. Nhưng vì yêu ta Ngài đã cho đi tất cả, Ngài đã quên hết tất cả. Vì Thánh Phaolô đã nói:”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ mọi vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế “(Pl 2,6-7).
Khi thực hiên cách sống quên mình, Chúa Giêsu cũng muốn dạy chúng ta bài học về sự khiêm nhường: Khi ta càng đề cao cá nhân, khi ta càng tô son chét phấn lên chức vụ của mình, thì chúng ta khó có thể đến với tha nhân. Nếu đến với họ thì tư cách của chúng ta cũng giống như hàng công hầu khanh tướng, tự nó vẫn mang khoảng cách quá chênh lệch giữa ta và người khác. Nếu như vậy thì vai trò của chúng ta sẽ đi ngược lại với sứ vụ chứng nhân của Đức Giêsu. Vì Đức Giêsu Kitô là nhân chứng khước từ quyền bính, khước từ cách sống cao sang trưởng giả theo kiểu trần thế. Cả cuộc đời Ngài chỉ biết sống tự hạ như người tôi tớ của Thiên Chúa. Ngài tự hạ để dễ gần gũi với mọi người, để dễ cảm thông những nỗi đau của nhiều người. Cách sống tự hạ của Chúa Giêsu đã là cho Ngài trở nên nhân chứng đích thực của Chúa Cha, đã lôi cuốn và làm thay đổi bao tâm hồn tin Ngài, theo Ngài và yêu mến Ngài.
Vì thế không gì ngạc nhiên khi Đức Hồng Y Bertone, Quốc vụ khanh Toà thánh đã phát biểu hôm ngày 10 tháng 5 năm2007 vừa qua, khi ngài tháp tùng Đức Thánh Cha Bênêdictô trong chuyến viếng thăm mục vụ Brazil, ngài nói: Cach để giữ lại những người Công giáo, làm cho họ quên đi suy tính rời bỏ Giáo Hội Công Giáo, đó là mọi thành phần trong Giáo Hội phải gần gũi và niềm nở với mọi người. Đức Hồng Y đã nhắc lại mẫu gương của Đức Cố Thánh Cha Gioan Phaolô II khi Đức Thánh Cha ghi lại trong tiểu sử của ngài: “Tôi cố gắng, và mãi mãi cố gắng gần gũi và niềm nở với mọi người”.
Khi biết quên mình để sống chan hoà gần gũi với mọi người, thì đó cũng là cơ hội để chúng ta nối tiếp sống sứ mạng phục vụ như Chúa.
3/ Con đường phục vụ :
Đức Giêsu đã nói:” Con người đến không phải được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người “(Mt 20,28).
Đức Giêsu Kitô tuy là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã tự hạ mặc lấy thân phận con người. Và trong thân phận con người Ngài đã mang lấy thân kiếp nô lệ. Vai trò của người nô lệ là phục vu. Cứ nhìn vào hành động của Đức Giêsu đối với mọi người thì chúng ta lại càng cảm nhận lời nói của Ngài thật uy tín và có sức thuyết phục. Vì lời nói phục vụ của Chúa luôn đi theo với hành động phục vụ người khác. Chúa Giêsu phục vụ những người đau yếu, Chúa phục vụ những người bị xã hội và tôn giáo loại trừ, Chúa phục vụ không phân biệt Do Thái hay dân ngoại, người công chính hay tội lỗi. Vì tất cả mọi đều là đối tượng để Chúa yêu thương phục vụ. Đỉnh cao sứ mạng phục vụ của Đức Giêsu là Ngài hy sinh mạng sống của Ngài cho chúng ta. Chúa Giêsu hy sinh sự sống của Ngài để sự sống của nhân loại được tồn tại cả đời này và đời sau. Như vậy tất cả lời nói và hành động của Chúa Giêsu đều hướng đến hai chữ phục vụ.
Là nhân chứng củaChúa trong trần gian chúng ta phải đi theo con đường phục vụ như Chúa. Phải biết hy sinh thời gian, hy sinh sức khoẻ, hy sinh tiền của để làm mọi cách sinh lợi ích cho người khác. Điều quan trọng chúng ta có dám làm hay không? Việc làm của chúng có phải là việc làm suất phát từ tâm tình quảng đại như Chúa hay không?. Muốn phục vụ theo ý Chúa và như Chúa đòi hỏi chúng ta phải thanh thoát với những của cải vật chất. Bao lâu còn dính bén với tiền của thì việc phục vụ của chúng ta chỉ mang hình thức bên ngoài, phục vụ theo phong trào. Việc phục vụ ấy như là cái cớ để đem lại sự lợi nhuận cho những việc khác của chúng ta.
Mẫu gương của thánh Phanxicô Assisi sẽ không bao giờ lỗi thời cho vai trò sống chứng nhân phục vụ của chúng ta.
Hôm nay mừng lễ Chúa Giêsu về trời, thì đó cũng thời gian rao giảng Tin mừng của Chúa Giêsu hiện hưũ tại trần gian đã kết thúc. Sứ mạng rao giảng Tin mừng của Chúa sẽ được chuyển giao cho các Tông đồ, những Đấng kế vị các ngài và tất cả mọi thành phần trong Hội thánh. Vì thế là môn đệ của Chúa trong khi rao giảng Tin mừng, chúng ta cố gắng phải giữ uy tín cho Thầy mình, cố gắng giữ uy tín cho Giáo Hội mà Chúa đã thiết lập. Chúng ta hãy theo vết chân Chúa Giêsu tử nạn và phục sinh để trở nên nhân chứng đích thực của Chúa giữa trần thế, bằng sự ra đi quên mình để sống yêu thương phục vụ như Chúa. Thế nhưng trước mắt vẫn là thách đố cho chúng ta, vì thế phải cần đến sự can đảm để hy sinh, để khước từ những cám dỗ đánh mất đi phẩm chất đích thực của người tông đồ như: Tiện nghi, vật chất, danh vọng, quyền lực. Đây là cơn cám dỗ của thời đại mà hằng ngày nó vẫn tìm mọi cách để xâm nhập vào cuộc sống của những người làm chứng cho Đức Giêsu Kitô trong trần gian.
Chứng nhân nước Trời
Linh Mục Bùi Quang Tuấn CSsr
01/02/2005
Cv 1:1-11; Ep 1:17-23; Lc 24:46-53
CHỨNG NHÂN NƯỚC TRỜI
Có rất nhiều người lầm tưởng thiên đàng là một khoảng không gian nào đó trên cao kia. Sự lầm tưởng này đã làm phát sinh nhiều hậu quả không hay: người có đạo thì bị lung lay bối rối khi có một vài khoa học gia nói rằng: Chẳng thấy Chúa đâu trên kia cả; người không có đạo thì nghĩ: Có lẽ nước trời là một thế giới nằm đâu đó trong không gian, với những sinh hoạt na ná giống như trần gian này. Thế nên đã có câu chuyện khôi hài do một cha thừa sai kể lại: Sau một tuần giảng đại phúc thật sốt sắng tại một vùng đất nọ, các cha khuyên nhủ được một ông cụ ngoại đạo gia nhập đoàn chiên Chúa. Thấy cụ bà chưa có dấu hiệu nào khả quan, nên các cha tích cực khuyên bảo: "Ông đã theo đạo rồi, bà cũng nên theo đi thôi, để sau khi chết còn lên thiên đàng gặp lại nhau nữa chứ." Nghe thế cụ bà hốt hoảng trả lời, "Không được đâu, suốt đời ổng đã hành hạ tui đủ thứ. Mai mốt trên thiên đàng còn phải gặp lại mặt ổng nữa thì tui chết mất."
Thiên đàng sẽ chỉ là một con số "không", chẳng có chút gì hấp dẫn nếu như nơi đó không có hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc chính là hoa trái của yêu thương, mà yêu thương thì phát xuất từ con tim, nghĩa là từ bên trong. Bên trong chứ không phải bên ngoài hay bên trên kia.
Nước trời không ở bên ngoài hay bên trên, cũng không phải là một nơi nào đó trong không gian. Nước trời phải được hiểu như là một thực tại phía trong: trong lòng tôi, trong nơi tôi đang cư ngụ hay làm việc, và trong tầm với của gia đình.
Cho nên nói Chúa Giêsu lên trời cũng chính là nói Chúa Giêsu đi vào trong đời ta, nhà ta, lòng ta, gia đình ta. Có như thế thì lời "Ta sẽ ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế" mới đong đầy ý nghĩa của nó. Chứ nếu như Ngài lên trời cao xanh hay Ngài ở nơi thế giới ngoài kia thì làm sao hiểu là Ngài đang ở cùng chúng ta được. Và vì Chúa Giêsu đã đi sâu vào đời ta, nhà ta, nên Ngài đã truyền cho chúng ta phải làm chứng cho sự hiện diện của Ngài: "Các ngươi phải là nhân chứng của Ta."
Chứng tá cho Đức Giêsu là làm sao vẽ được dung mạo của Ngài ngay trên cuộc sống của mình, làm sao cho người khác cảm nhận được sự hiện diện của Ngài ngay trong môi trường mình đang sinh hoạt, diễn tả được hình ảnh của Nước Trời đang ở giữa và ở trong chúng ta.
Có nhà hoạ sĩ kia cứ mãi mơ ước trong đời mình sẽ vẽ được một bức tranh đẹp nhất thế giới. Nhưng anh ta không biết phải vẽ thứ gì để bức tranh sẽ có được hình ảnh, màu sắc, và nội dung sâu đậm đáng trở thành bức tranh tuyệt vời nhất trần gian.
Chàng đã tìm hỏi với một linh mục về điều gì đẹp và ý nghĩa nhất. Vị linh mục trả lời ngay: "Niềm tin. Niềm tin là số một, niềm tin sẽ nâng cao giá trị con người. Niềm tin sẽ chữa lành và biến đổi mọi sự nên tuyệt vời."
Chàng hoạ sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự với một cô gái đang bước lên xe hoa về nhà chồng. Cô gái trả lời: "Trên thế gian này không có gì đẹp bằng tình yêu. Tình yêu là hơi thở, là sức sống, là hạnh phúc, là tất cả. Tình yêu biến cay đắng thành ngọt ngào, đưa tiếng cười vào nơi than khóc, đổi nghèo hèn tầm thường thành phú quí cao sang. Tình yêu thật tuyệt vời."
Cuối cùng người hoạ sĩ gặp một anh thương binh vừa trở về từ tiền phương. Anh lính đã trả lời: "Hoà bình là điều đẹp nhất trần gian. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có đổ nát, bất hạnh, khổ đau. Ở đâu có hoà bình, ở đó có cái đẹp."
Ba câu nói của ba con người-- vị linh mục, cô gái sắp lấy chồng và anh thương binh trẻ-- đã làm cho người hoạ sĩ phân vân: không biết phải làm thế nào để trên bức tranh của mình có thể diễn tả cùng một lúc niềm tin, tình yêu, và hoà bình.
Đang suy nghĩ anh về đến nhà lúc nào không hay. Mấy đứa con anh ùa ra đón bố. Anh nhận thấy niềm tin trong ánh mắt của các con. Anh cũng cảm được tình yêu trong chiếc hôn chân thành của người vợ. Niềm tin của con cái và tình yêu của người vợ làm cho tâm hồn anh ta ấm áp và an bình lạ thường. Thế rồi một ý tưởng chợt loé lên trong đầu. Anh vội ngồi xuống khởi công vẽ tranh, và sau khi hoàn thành tác phẩm đẹp nhất thế gian, anh đã đặt tên cho nó: "Mái Ấm Gia Đình."
Mái ấm gia đình chính là hình ảnh xinh đẹp và sống động nhất mà người ta có thể vẽ được về Nước Trời hay Thiên đàng ngay trên thế gian này. Mái ấm gia đình cũng sẽ là lời chứng tá hùng hồn nhất cho sự hiện diện của Đức Giêsu giữa dương gian.
Bạn chưa cần phải đi đâu xa để làm chứng tá về niềm tin; bạn cũng chưa thể đi đến mút cùng trái đất để giảng về tình yêu và an bình của trời cao. Nhưng bạn có thể làm chứng tá cho Đức Giêsu ngay trong gia đình của mình.
Trước mỗi hành động, lời nói, giao tế, cư xử, hãy tự hỏi: tôi có làm mất niềm tin nơi người bạn đời hay nơi con cái của tôi không? Tôi đang xây dựng tình thương và an bình hay đang sống phản chứng trước mặt con cái và bạn đời? Tôi có đang cố gắng vẽ lên chân dung của Thiên Chúa qua việc hy sinh để kiến tạo một mái ấm gia đình không?
Những dòng chữ sau đây rất đáng cho bạn và tôi tâm niệm để ý thức hơn khi vẽ lên cho đời những "mái ấm":
"Mái ấm là môi trường và là thánh đường đầu tiên cho tuổi thơ học thế nào là điều ngay, thế nào là điều thiện, thế nào là lòng tử tế.
Đó là nơi tuổi thơ tìm về để được an ủi vỗ về mỗi khi đau khổ, bệnh tật.
Đó là nơi chia sẻ niềm vui và xoa dịu buồn phiền.
Đó là nơi cha mẹ được kính trọng và yêu thương...
Đó là nơi mà những món ăn đơn sơ cũng trở thành cao lương mỹ vị, bởi vì là giá của mồ hôi nước mắt.
Đó là nơi mà tiền bạc không quí bằng tình yêu.
Và đó là nơi mà ngay cả nước sôi cũng reo lên niềm hạnh phúc.
Mái ấm gia đình. Đó là nơi được Thiên Chúa chúc phúc."
Ước gì Lễ Chúa Giêsu Lên Trời nhắc chúng ta về một Nước Trời tại thế--mái ấm gia đình--để sau Lễ Lên Trời này, bạn và tôi cũng sẽ theo bước chân của các môn đệ, lên đường làm chứng tá cho Đức Kitô, chứng tá ngay trong gia đình, chứng tá bằng việc xây dựng một mái ấm. Dù rằng cuộc đời của chứng nhân nào cũng không tránh khỏi đổ mồ hôi hay đổ máu, không tránh khỏi những hiểm nguy như chiên đi giữa sói rừng, không tránh khỏi khốn khổ như một người tôi tớ, nhưng đó là giá cần trả để có được một bức tranh tuyệt đẹp của niềm tin, yêu thương, và an bình hạnh phúc.
|
|