Suy Niệm của Huệ Minh

Chuá nhật 30 Thường Niên, năm C


 

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN 2019. 
Hc 35,12-14.16-18; 2Tm 4,6-8.16-18; Lc 18,9-14.
ĐỪNG TỰ CAO TỰ ĐẠI
          Hồi đó, dân Do thái bị người Rôma đô hộ. Chính phủ độ hộ không tự tổ chức thu thuế lấy, như chúng ta thấy ở Hoa kỳ chẳng hạn. Nhưng họ cho đấu thầu. Đã thầu thì ai thầu cao nhứt, sẽ được độc quyền thu thuế. Dĩ nhiên hạng người thu thuế nầy bị dân chúng gớm ghét và coi là hạng người tội lỗi. Tội lỗi phép công bằng. Tội bóc lột, làm giàu trên xương máu đồng bào. Tội làm tay sai cho chính quyền ngoại bang Rôma.
          Trong dụ ngôn hôm nay, ta thấy một người biệt phái lên đền thờ cầu nguyện cùng một trật với một người thu thuế. Hạng người sau nầy bị dân chúng coi như ngược lại với người biệt phái. Người biệt phái được coi là thánh thiện, thì người thu thuế bị coi là tội lỗi.
          Ta thấy Chúa Giêsu đang vẽ lên hai diện mạo đối chọi nhau hoàn toàn: ‘một người thuộc nhóm Biệt Phái / người kia làm nghề thu thuế’. Cả hai diện mạo này đều rất gần gũi và điển hình trong xã hội Do Thái thời bấy giờ: một thật tích cực đáng trọng và một thật tiêu cực đáng khinh.
          Và ta thấy chính kết luận của Chúa Giêsu thực sự gậy kinh ngạc vì nó ngược hẳn với lối suy nghĩ được mọi người chấp nhận, và như thế bài học Người dạy chắc hẳn phải quan trọng lắm đối với Tin Mừng mà Người đang ra công quảng bá. Quả đúng như thế, vì nó liên quan tới khái niệm ‘công chính’, một khái niệm nền tảng của tất cả mọi trật tự xã hội mọi thời.
          Trong câu chuyện được kể, ta thấy Chúa Giêsu đã không đặt hai hạng người này trên bình diện xã hội, mà là trước mặt Thiên Chúa trong diện Tin Mừng; ‘Có hai người lên đền thờ cầu nguyện…’. Cái sai của người Biệt Phái là ở chỗ: đứng trước Thiên Chúa mà ông vẫn cứ tiếp tục giữ thái độ xã hội. Còn người thu thuế thì khác; chính địa vị xã hội hèn kém (‘Người thu thuế thì đứng ở đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời’) đã là cơ sở để ông có được tư thế ‘công chính’ trước mặt Thiên Chúa.
          Chúa Giêsu phê phán những người biệt phái tự hào mình là người công chính và khinh chê người khác. Người đó đứng riêng biệt một mình để cầu nguyện trong đền thờ, cử chỉ này nói lên phần nào thái độ tự hào và khinh dể người khác. Đứng riêng ra để khẳng định mình là mình, mình có đủ bản lãnh. Cung cách này được xác nhận thêm qua lời cầu nguyện của ông: "Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì con không như bao kẻ khác...". Coi mình không giống như kẻ khác là một vinh dự, một ơn phúc, một mục tiêu để phấn đấu, để dành cho được. Vì thế, khi được như vậy người ta không thể không sung sướng và tạ ơn, qua đó chứng minh sự khác biệt của mình với đại chúng.
          Tư thế ‘công chính’ đối với Tin Mừng chính là một người có thể kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!” Hình như Chúa Giêsu muốn khảng định rằng: bất luận tình trạng công chính xã hội của một người có là thế nào đi nữa, thì người đó vẫn có thể trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa một khi biết nhìn nhận sự yếu hèn của mình và khẩn cầu (hay tin tưởng vào) lòng thương xót Chúa, còn ai cứ khư khư tự tôn tự mãn về sự công chính xã hội của mình, để không cầu khẩn – đón nhận lòng thương xót, thì sẽ trở thành bất chính trước mặt Thiên Chúa; “Tôi nói cho các ông biết, người này, khi trở xuống mà về nhà thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không.”
          Khi nói câu này Chúa Giêsu hầu như muốn khảng định: sự công chính theo luật pháp của con người không có mấy giá trị trước mặt Thiên Chúa. Nắm giữ một nền luân lý cao đẹp tới đâu đi nữa, sẽ không bao giờ có thể là mục tiêu tối hậu của niềm tin Kitô hữu. Công chính đích thực trước mặt Thiên Chúa nhân ái lại rất đơn giản: chỉ cần khiêm tốn đón nhận tình yêu cứu độ.
          Điều này là một đòi hỏi chung cho tất cả mọi người, bất kỳ ai, kể cả các bậc thánh hiền đạo đức nhất. Vì trước mặt Thiên Chúa ngay cả các thánh cũng có thể lỗi phạm tới bẩy lần một ngày! Bình đẳng tuyệt đối của con người trước Thiên Chúa chính là ở đây: sang / hèn, cao / thấp (về chức tước hay sự kính nể của người đời), tốt / xấu, lương thiện / bất lương (trước mặt xã hội) đều không mấy quan trọng. Phương thế tối cần để đạt được sự công chính của Nước Trời chỉ là: khiêm hạ (con là kẻ tội lỗi, xin dủ lòng thương xót con!).
          Và rõ ràng ai khiêm hạ cầu khẩn lòng thương xót, người đó sẽ được tình yêu Thiên Chúa nâng lên cao, được nên công chính; ngược lại kẻ tự tôn tự đại, cho dẫu có đạo đức thánh thiện (trước mặt con người) tới mấy, cũng sẽ không bao giờ được coi là công chính trước mặt Thiên Chúa. Quả thế: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.
          Thiên Chúa không căn cứ trên thành tích nào của ta, và ơn cứu độ chẳng những không làm xa cách loài người mà là đưa ta đến chỗ kết hiệp mật thiết với Chúa hơn. Những việc ta làm không phải là nguyên nhân khiến ta được cứu độ, được nên công chính, nhưng là chính Thiên Chúa ban cho ta.
By Huệ Minh 2019

 

Thứ Hai. THÁNH SI-MON VÀ THÁNH GIU-ĐA, TÔNG ĐỒ, lễ kính.
Thánh Gioan Đoàn Viết Đạt, Linh mục (U1798), Tử đạo.

Ep 2,19-22; Lc 6,12-19.
Ý THỨC ƠN GỌI CỦA CHÚNG TA
          Thánh Simon và Giuđa mừng chung một ngày bởi vì các ngài đã cùng nhau hoạt động tông đồ để hoán cải dân ngoại. Thánh Simon còn mệnh danh là nhiệt thành (Lc 6, 15) bởi vì cũng như Giuđa, ngài thuộc về nhóm những người phản đối sự chiếm đóng của đế quốc Rôma, nhưng đối với ngài, sứ điệp của Đức Kitô là sự khám phá tình yêu và lòng thương xót đại đồng của Thiên Chúa. Simon cũng mệnh danh là người Cana vì sinh ra ở Cana, ngài nhận biệt danh này để phân biệt với Simon Phêrô, thủ lãnh các thánh Tông đồ.
          Thánh Giuđa, con của Giacôbê, cũng gọi là Tađêô, là anh em của thánh Giacôbê hậu và của thánh Simêôn, giám mục Giêrusalem, và là anh em họ của Đấng Cứu Thế. Trước khi được nuôi dưỡng để trở thành sứ giả của Tin Mừng, ngài là một nông dân bình thường.
          Trước tiên, thánh Simon đã rao giảng ở Ai cập, ở Mauritania, ở Lybia; còn thánh Giuđa, sau khi đã truyền giáo ở Phi Châu, ngài trở về Đông phương và loan báo Tin Mừng ở miền Giuđa, Samari, Syria và Lưỡng hà địa. Simon và Giuđa gặp lại nhau ở vịnh Ba tư, và ở đó các ngài đã quyết tâm giữ vững niềm tin và cùng nhau chịu tử đạo. Những điều phi thường mà Thiên Chúa đã làm qua bàn tay của họ đã làm cho vị vua của xứ này kính nể, ông đã cho các ngài tự do rao giảng giáo thuyết quá thánh thiện và mới mẻ.
          Hai ngài đã đi loan báo Tin Mừng ở các thành phố khác. Giuđa Tađêô được nhìn nhận như vị thánh của niềm hy vọng, vì đây là con người tốt lành của Thiên Chúa. Đây là vị thánh bảo vệ những gì là thất vọng của người công giáo. Ngài là thánh quan thầy của người thất vọng tìm được niềm hy vọng. Còn theo truyền thống đông phương, thánh Simon bị tử đạo bằng cách cưa làm đôi.
          Hai thánh Simon và Giuđa tông đồ đã biết đáp lại tiếng Chúa kêu gọi và ra đi giảng Tin Mừng ở hai nơi khác nhau. Thánh Simon giảng tại Ai Cập, còn thánh Giuđa tại Mésopotamia. Sau khi đã thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp, thì hai ngài như được ơn Chúa thôi thúc để cùng nhau đi sang Ba Tư. Chính tại nơi đây, hai ngài đã đem Tin Mừng tới và cũng chính tại nơi đây mà các ngài được diễm phúc lãnh nhận cái chết để tôn vinh Ðức Kitô như các anh em tông đồ khác.
          Tất cả những sự lựa chọn của Thiên Chúa đều bất ngờ, vượt trên những tiêu chuẩn lựa chọn thông thường của con người. Từ mười hai người thất học, Chúa Giêsu đã xây dựng Giáo Hội của Ngài. Nền tảng của Giáo Hội không phải là sức riêng của con người mà là sức mạnh của Đấng đã hứa "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế." Suy niệm về việc Chúa Giêsu tuyển chọn 12 tông đồ của Ngài, chúng ta được mời gọi để nhận ra thân phận yếu đuối bất toàn của chúng ta, đồng thời nói lên niềm xác tín tuyệt đối và tình yêu của Ngài. 
          Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu gọi và chọn mười hai tông đồ. Đây là những con người được Chúa đặt làm nền tảng Giáo Hội. Để chọn mười hai người trong số các môn đệ theo mình, Chúa Giêsu đã tìm Thánh ý Chúa Cha. Để biết được ý Chúa Cha, Chúa Giêsu đã một mình lên núi cầu nguyện suốt đêm. Trong cầu nguyện, Ngài kết hiệp với Cha Ngài. Ngài chọn những người Chúa Cha muốn để tiếp nối sứ mạng của Ngài. Khi phải quyết định lựa chọn lớn lao như thế, Chúa Giêsu đã tìm vâng theo Thánh ý Chúa Cha. Chúa Giêsu luôn cầu nguyện và sống Thánh ý Chúa Cha trong mọi sự.
          Sống là chọn. Chọn để có hạnh phúc. Có nhiều người đã chọn và tìm thứ hạnh phúc giả tạo, chóng qua của thế gian. Thứ hạnh phúc này có thời có hạn, và khi nó qua đi thì để lại cho người ta sự trống rỗng. Vậy đâu là hạnh phúc đích thực ? Là Kitô hữu, chúng ta chỉ có thể đạt được đích điểm của cuộc đời, nhận được hạnh phúc thực khi thông hiệp vào sự sống của Thiên Chúa. Muốn thế, chúng ta phải tìm, chọn và sống Thánh ý Chúa.
          Ta thấy ơn gọi đến từ chính ý muốn và tiếng gọi của Chúa. Và ơn gọi của chúng ta cũng vậy, cho dù chúng ta đã đến với đời sống ơn gọi của chúng ta như thế nào, bởi những động lực hay lí do nào. Nhưng với thời gian, nhất là trong thời gian huấn luyện, chúng ta được mời gọi đặt đời sống ơn gọi của mình trên nền tảng tận cùng là “Ơn Được Gọi”. Nếu ơn gọi của chúng ta đặt trên một nền tảng khác, thì chắc chắn sẽ sụp đỗ, không sớm thì muộn; và sụp đổ ngay từ bên trong.
          Và ta thấy Chúa cũng gọi tên từng người chúng ta. Chúng ta hãy hình dung từng khuôn mặt ngang qua tên gọi : ngoại hình, nguồn gốc, tương quan, khuynh hướng, nghề nghiệp, thao thức… Như thế, các môn đệ được Chúa gọi, khi các ông vẫn còn đầy giới hạn, bất toàn như chúng ta. Bởi vì, tiếng gọi của Chúa là nhưng không, đặt hết lòng tin nơi người được gọi. Ghi nhớ lòng tin « muôn ngàn đời » của Chúa đặt để nơi chúng ta, khi chúng ta chưa là gì và khi đã « là gì », thì là gì một cách rất bất xứng và sẽ mãi mãi « là gì » rất bất xứng, sẽ khởi dậy nơi chúng ta lòng khát khao đáp trả cách quảng đại và nhưng không.
          Theo gương Chúa Giêsu, chúng ta tìm Thánh ý Chúa qua việc cầu nguyện. Thánh ý Chúa thì nhiệm mầu nên chỉ trong cầu nguyện riêng tư, trong sự kết hiệp thâm sâu với Thiên Chúa, ta mới hy vọng nhận ra được. Hội Thánh của Chúa Giêsu đã được thiết lập, tồn tại cho đến hôm nay và sẽ kéo dài mãi muôn đời. Đó là câu trả lời cho sự lựa chọn đúng của Chúa Giêsu khi Ngài chọn các tông đồ theo ý Chúa Cha. Chúng ta hãy cầu nguyện và sống Thánh ý Chúa Cha theo gương Chúa Giêsu.
           Ngày nay, Chúa cũng muốn mời gọi mỗi người chúng ta trở nên tông đồ cho Chúa và cho Giáo Hội. Người tông đồ là người biết đáp trả tiếng Chúa kêu gọi, để được sai đi Loan báo Tin Mừng, và làm chứng cho Tin Mừng tình yêu của Chúa. Làm người tông đồ cần quảng đại, hy sinh cộng tác với Giáo Hội để đem Tin Mừng đến cho những người chung quanh. Bằng lời nói cũng như bằng chính việc làm và cuộc sống của mình, mỗi người chúng ta giới thiệu Chúa, mang Tin Mừng của Chúa đến cho tha nhân. 

 

Thứ Ba Tuần XXX Thường Niên.
Rm 8,18-25; Lc 13,18-21.
GÓP PHẦN CHO NƯỚC TRỜI PHÁT TRIỂN

          Trong suốt hành trình rao giảng, Đức Giêsu đã dùng các dụ ngôn với các hình ảnh gần gũi trong đời thường để trình bày cho con người biết về mầu nhiệm Nước Trời. Các dụ ngôn giúp người nghe dễ hiểu và cụ thể hơn về mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Qua hai dụ ngôn “hạt cải” và “nắm men” trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu muốn diễn tả sức mạnh của Nước Thiên Chúa từ những thực tại bé nhỏ, nhưng lại tiềm ẩn sức sống mãnh liệt. Với ánh nhìn đức tin chúng ta cũng nhận ra sức mạnh này đang lớn lên trong tâm hồn chúng ta.
          Nước Trời không phải là một nơi chốn nhưng là một tình trạng. Nước Trời không mởrộng về số lượng nhưng luôn nhắm tới chất lượng cuộc sống. Chất lượng cuộc sống được lượng định bởi tinh thần "Hiến chương Nước Trời”. Và Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh hạt cải, men trong bột để cho chúng ta thấy hình ảnh rất mới về Nước Trời, nhằm khơi lên tinh thần cần thiết để sống thực trạng Nước Trời.
          Cũng vậy, “Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột, cho đến khi tất cả bột dậy men”. Men dùng để dậy bột làm bánh là một dẫn chứng rất thân thuộc và bình dị đối với mỗi gia đình người Do Thái. Chỉ cần một chút men được trộn vào bột và một khi bột đã ngấm men (dậy men), thì cả khối bột sẽ trương nở ra rất nhiều. Thực vậy, Tin Mừng nước Thiên Chúa một khi đã len lõi được vào tâm hồn con người và được rao giảng đến đâu là ở đó lòng người được biến đổi.
          Sứ điệp Tin Mừng nuớc Thiên Chúa thoạt đầu xem ra không có sức hấp dẫn gì đối với người nghe, cụ thể là đối với người Do Thái thời đó, họ đã từ chối lời của Đức Kitô và từ chối chính Ngài. Nhưng một khi nước Thiên Chúa được rao giảng cho con người thì sứ điệp Tin Mừng đó sẽ tự len lõi vào trong tâm hồn con người và tự lớn lên. Sự phát triển không ngừng của Hội Thánh Chúa cho chúng ta niềm xác tín ấy, và cũng chính điều đó mà chúng ta khẳng định “truyền giáo” là một trong những đặc tính của Giáo Hội. Dù bị bắt bớ, dù bị từ chối và khinh chê nhưng Giáo Hội vẫn tiếp tục rao giảng Lời Thiên Chúa cho con người, vì Giáo Hội tin vào sức sống mãnh liệt của Thánh Thần Chúa sẽ thực hiện điều kỳ diệu.
          Do đó, qua hai dụ ngôn “hạt cải” và “men trong bột” hôm nay cũng mời gọi mỗi chúng ta tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa, vì Chúa luôn quan phòng và đang hoạt động âm thầm trong Hội Thánh, cũng như trong mỗi người chúng ta. Nhờ đó, chúng ta an tâm, kiên trì và bền đỗ trong mỗi ngày trong sứ mạng truyền giáo của mình.
          Là những Kitô hữu qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được tham dự vào ba chức năng ngôn sứ, tư tế và vương đế. Chúng ta ý thức trách nhiệm loan báo Tin Mừng cho mọi người: “hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Để Nước Thiên Chúa được lớn mạnh và mọi người biết đến, chúng ta phải góp phần mở rộng Nước Thiên Chúa. Bằng việc biến đổi đời sống, trở nên con người mới với đức tin kiên trung, với tinh thần thanh thoát từ bỏ mọi sự để thuộc về Chúa. Chính điều này, với một nhúm men nhỏ vào trong các mối tương quan của chúng ta sẽ tạp nên những tác dụng tốt.
          Chúa Giêsu không muốn thay đổi diện mạo trần gian theo giáng vẻ bên ngoài, nhưng Ngài mong muốn mọi người đều thấm nhuần tinh thần Kitô giáo. Với chất lượng của cuộc sống, người Kitô hữu sẽ như nắm men trong bột, bằng vai trò và cuộc sống của mình, bằng tất cả tình yêu và sự nhiệt thành làm cho khối bột trần gianđược dậy men, mọi người bằng nhiều cách sống nhưng luôn mang trong suy nghĩ,trong hành động tâm tình của Nước Trời : "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”.
          Nhìn vào lịch sử của Giáo Hội, ta nhận thấy rất rõ sự lớn mạnh này. Khởi đi từ một nhóm môn đệ ít ỏi và lại gặp biết bao thử thách từ trong trứng nước như: cấm cách, bắt bớ và giết chết bằng những hình thức hết sức tàn bạo, dã man… Tuy nhiên, càng thử thách bao nhiêu, càng phát triển bấy nhiêu, đôi khi có lúc âm thầm, nhưng như than hồng rực nóng hơn nhiều lần ngọn lửa thế nào thì Đạo của Chúa cũng mạnh mẽ và mãnh liệt như vậy. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam của chúng ta cũng chứng minh rất rõ điều đó!
          Làm cho Nước Thiên Chúa lớn lên và thâm nhập vào thế giới hôm nay đó cũng là bổn phận của từng Kitô hữu chúng ta: “Tất cả mọi người đều có thể cảm nghiệm niềm vui được Thiên Chúa yêu thương, niềm vui của ơn cứu độ! Và đức tin là món quà mà người ta không thể giữ cho riêng mình, nhưng phải được chia sẻ”.
          Ta thấy có khi những việc làm của chúng ta tuy nhỏ nhưng có sức mạnh rất lớn khi chúng ta đặt niềm tin vào Chúa. Một khi đã tin rồi, chúng ta sẽ vượt qua tất cả, dù khó khăn, bất lợi,… Chúa Giêsu đã ví Nước Trời như hạt cải, dù nó nhỏ bé nhưng Chúa đã cho nó cành lá xum xuê, chim trời đến làm tổ được huống chi mỗi người chúng ta được Chúa yêu thương, thì Người sẽ làm những gì nữa?
          Để hạt giống đức tin được lớn lên và sinh trưởng, mỗi người Kitô hữu cần biết sống trong mối tương quan với Chúa, qua cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, và kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể…

 

Thứ Tư Tuần XXX Thường Niên.
Rm 8,26-30; Lc 13,22-30.

HÃM MÌNH QUA CỬA HẸP
          “Cửa hẹp”, theo tác giả thư Do Thái, đó là sự kiên nhẫn trong thử thách. “Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” Những gian khó mà chúng ta gặp phải trên đường đời, nếu được đón nhận bằng cái nhìn đức tin, sẽ được coi như sự sửa dạy của Chúa để chúng ta nên con người hoàn thiện. Mà nếu Chúa sửa dạy ai, là vì Ngài yêu thương người đó và muốn kéo người đó lên kẻo chìm sâu trong bùn lầy.
          “Hãy vào qua cửa hẹp!”. Đó là lời mời gọi của Chúa Giêsu. Ai trong chúng ta cũng hiểu Chúa Giêsu muốn ám chỉ một cuộc sống có kỷ luật và tuân theo giáo huấn của Người. Thông thường, người ta học điều xấu thì rất nhanh và rất dễ, nhưng học điều tốt thì rất chậm và rất khó. “Cửa hẹp” mà Chúa Giêsu muốn nói ở đây chính là sự kiên nhẫn và chuyên tâm thực hiện Lời Chúa.
          “Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khóa cửa lại…”, thời gian dâng hiến cho ơn cứu độ có kỳ hạn, cơ hội ngàn năm một thuở đã qua đi. Vài người sẽ gõ cửa… Thiên Chúa sẽ không mở: “Ta không biết các ngươi từ đâu tới”.
          Thánh Mát-thêu gợi lên cửa sẽ đóng lại theo cùng một cách tương tự trong dụ ngôn “năm cô khôn ngoan và năm cô khờ dại”: “Thưa Ngài, thưa Ngài! Mở cửa cho chúng tôi với!”. Nhưng Người đáp: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!” (Mt 24, 11-12). Năm cô trinh nữ khờ dạy này đã không biết sống trong tư thế sẵn sàng. Cũng vậy, dân Ít-ra-en cứng lòng tin, có thể biện bác: “Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt Ngài, và Ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi”. Nhưng đã quá trể rồi. Chúa Giê-su tiếp tục trích dẫn Tv 6: 9:“Cút đi cho khuất mắt Ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!”.
          Con người thường bị cám dỗ nghĩ rằng, sự thánh thiện, ơn cứu độ chỉ dành cho một số người. Suy nghĩ này hàm chứa hai thái độ sống: một là tự phụ, tôi là người xứng đáng; Hai là thái độ tự ty mặc cảm: tôi không có hy vọng được cứu độ. Cả hai thái độ đều không phù hợp ý Chúa, dẫn con người ngày một xa Thiên Chúa.
          Lời Chúa hôm nay mạc khải: Thiên Chúa muốn mọi người được ơn cứu độ. Các tiên tri từ xưa đã loan báo: Thiên Chúa “sẽ đến tập hợp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ”, “họ sẽ đến và được thấy vinh quang Người tỏ hiện” (Is 66, 18). Chính Đức Giêsu khẳng định: “Người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa” (Lc 13,29). Quả thế, Đức Giêsu đã dùng cái chết không chỉ để cứu chuộc một số người, nhưng là hết mọi người. “Ngài đã bị giết và đã lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước, mọi dân” (Kh 5,9). Thánh Phaolo còn xác quyết: “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20). Như thế, ý muốn của Thiên Chúa là mọi người được cứu độ.
          Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người và Ngài ban phương thế kèm theo, mà căn bản là tin vào Đức Giêsu (Ga 6,47;11,25). Vấn đề còn lại là ở sự cộng tác của con người. Cách cụ thể hôm nay Đức Giêsu mời gọi “hãy cố gắng vào qua cửa hẹp” (Lc 13, 24). Đây là lời mời gọi hãy biết từ bỏ ý riêng để tuân phục thánh ý Chúa: Ai không từ bỏ thì không thể làm môn đệ Đức Giêsu (Lc 14,33), tức là không có sự sống đời đời. Chính Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về sự từ bỏ này đặc biệt qua mầu nhiệm Vượt qua trong sự vâng phục thánh ý Cha. Vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người (Pl 2,6-10), và trở nên nguồn ơn cứu độ cho chúng ta.
          Hơn thế nữa, việc từ bỏ này phải thực hiện ngay. Bởi vì một khi chủ nhà đã khóa cửa lại, mà ai còn ở ngoài và xin vào, ông sẽ đáp lại: Ta không biết các người! Cút đi cho khuất mắt ta (Lc 13,25-27). Đức Giêsu mời gọi chúng ta ngay hôm nay, lúc này cần nỗ lực ‘qua cửa hẹp’. Do đó, chúng ta đừng trì hoãn việc sống thánh thiện, nhưng hãy sống giây phút hiện tại chan chứa tình yêu. Hãy biết tự nhủ: “Tôi sẽ nắm lấy những cơ hội xuất hiện hằng ngày; tôi sẽ hoàn tất những hoạt động bình thường cách phi thường”. Khi đó, chúng ta sẽ cảm nghiệm sâu xa Thiên Chúa yêu thương mọi người, và Ngài yêu thương tôi. Đó chính là chúng ta đang trên hành trình tới ơn cứu độ.
          Cái tôi của ta luôn có khuynh hướng phình to vì những thu tích cho chính mình: tri thức, tiền bạc, khả năng... Cả những kinh nghiệm, tuổi tác, đạo đức, chức vụ… cũng có thể làm cho “cái tôi” của ta trở nên xơ cứng và phình to.
          Để thực thi Lời Chúa, chúng ta phải trải qua những cố gắng hy sinh. Như những vận động viên muốn đạt giải quán quân phải khổ chế tập luyện, những ai muốn nên thánh phải chấp nhận tuân giữ những kỷ luật khắt khe. Một lối sống giả tạo bề ngoài sẽ bị kết án là “đồ bất chính”. Giáo huấn Tin Mừng cần được thấm nhuần và trở nên nguồn động lực cho cuộc sống chúng ta, chứ không chỉ hời hợt bề ngoài. Chúa lên án những ai chỉ giữ Đạo bằng môi miệng, còn thực tế thì đủ mọi mưu mô tính toán và gian lận.
          Phải trở nên nhỏ bé như trẻ thơ thì mới được vào Nước Trời (Mt 18, 3). Cần phải biến đổi và tự hạ để có thể vào được Nước Thiên Chúa (Mt 18, 3-4). Quả thật, đời sống người Kitô là một cuộc chiến đấu không ngưng nghỉ, một cuộc chiến đấu liên lỉ với chính mình. Khi ta cắt xén “cái tôi” của mình, khi ta tự hủy thân phận của mình, ta sẽ dễ dàng đi qua cửa hẹp, để bước vào cuộc sống hạnh phúc đời đời trong Nước Thiên Chúa.

 

Chúa nhật 30 thường niên, năm C-2016
ANH EM LÀ CHỨNG NHÂN

Lời Chúa: Lc 24, 44-53
Khi hai môn đệ từ Emmau trở về còn đang nói với nhóm Mười Một, thì chính Ðức Giêsu đứng giữa các ông. Người bảo: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Môsê, Các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm.” Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và bảo: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Ðấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân của những điều này. Và đây, chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống.” Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời. Bấy giờ các ông bái lạy người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Ðền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.

Suy niệm:
Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã làm một điều quan trọng,
đó là đào tạo những chứng nhân.
Hội Thánh tương lai phải được xây nền vững chắc
trên những con người có kinh nghiệm cá nhân
về cái chết và sự phục sinh của Ngài.
Chính vì thế Ngài đã hiện ra cho Simon,
cho hai môn đệ về Emmau, cho các tông đồ.
Ngài cho họ xem chân tay và Ngài đã ăn bánh
để họ đừng nghi Ngài là ma.
Hơn nữa Ngài còn soi sáng cho họ
để họ hiểu những lời Kinh Thánh nói về Ngài.
Các môn đệ đã là chứng nhân, đã tử đạo
để làm chứng cho điều mình xác tín.
Mỗi năm Hội Thánh dành một ngày Chúa Nhật
để nhắc chúng ta nhớ đến bổn phận của mình,
bổn phận truyền giáo cho thế giới.
“Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân”
Chúng ta phải tiếp tục sứ mạng của các tông đồ,
vinh dự đứng vào hàng ngũ các chứng nhân.
Ðể truyền giáo, chúng ta phải quen thân với Chúa Giêsu,
có kinh nghiệm gặp gỡ Ngài thật sâu lắng,
sống cái chết của Ngài mỗi ngày
và nếm được niềm vui phục sinh Ngài ban tặng.
Ðể truyền giáo cần có nhiều tình yêu:
tình yêu đối với Chúa Giêsu và đối với con người.
Chính vì mến yêu Ngài
mà ta muốn Ngài được mọi người nhận biết.
Chính vì mến yêu mọi người
mà ta muốn chia sẻ hạnh phúc mình đang hưởng.
Thế giới hôm nay đầy lạc thú và hưởng thụ,
nhưng vẫn là một thế giới buồn.
Buồn vì nạn phá thai, ly dị, tự tử;
buồn vì hận thù, thất vọng và lo âu.
Nhiều bạn trẻ tìm quên trong vui chơi, nghiện ngập,
vì không thấy cuộc sống có ý nghĩa.
Như thế truyền giáo là loan báo tin vui
cho một thế giới buồn.
Ðức Thánh Cha đã nhắn nhủ giới trẻ:
“Hội Thánh ủy thác cho giới trẻ nhiệm vụ hô to lên
cho thế giới biết niềm vui vì gặp được Ðức Kitô...
Hãy đi rao giảng Tin Mừng giải thoát.
Hãy là những điều ấy với tâm hồn hân hoan.”
Chúng ta không thể là những chứng nhân buồn.
Chính cuộc sống của ta phải đầy ắp niềm vui,
sự lạc quan và sự sống của Chúa Phục Sinh.
Chỉ như thế chúng ta mời hy vọng đáp ứng
những đòi hỏi gay gắt của thế giới
đang bước vào đệ tam thiên niên kỷ.

Cầu nguyện:
Lạy Cha,
Cha muốn cho mọi người được cứu độ
và nhận biết chân lý,
chân lý mà Cha đã bày tỏ nơi Đức Giêsu, Con Cha.
Xin Cha nhìn đến hàng tỉ người
chưa nhận biết Đức Giêsu,
họ cũng là những người đã được cứu chuộc.
Xin Cha thôi thúc nơi chúng con
khát vọng truyền giáo,
khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc,
niềm vui và bình an của mình cho tha nhân,
và khát vọng muốn giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới.
Chúng con thấy mình nhỏ bé và bất lực
trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất
để loan báo Tin Mừng.
Chúng con chỉ xin đến
với những người bạn gần bên,
giúp họ quen biết Đức Giêsu và tin vào Ngài,
qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.
Chúng con cũng cầu nguyện
cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.
Xin Cha cho những cố gắng của chúng con
sinh nhiều hoa trái. Amen.
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

- October 29, 2019