Suy Nệm của Huệ Minh

 

Chúa Nhật  Lễ Hiển Linh 2019

Is 60, 1-6; Ep 3, 2-3a. 5-6; Mt 2, 1-12

HÃY TỎA CHIẾU ĐỜI MÌNH 

      

          Lễ Hiển Linh theo truyền thống, được cử hành vào ngày 6 tháng Giêng. Dịp Lễ này, các tín hữu Tây Phương tưởng nhớ ba nhà Đạo Sĩ thăm viếng Chúa Hài Nhi Giêsu và sự biểu lộ thần tính của Con Chúa cho Dân Ngoại. Các ngài là những đạo sĩ hay chiêm tinh gia đã từng đọc Thánh Kinh của Do thái giáo nên có sự hiểu biết về việc Đấng Thiên Sai sắp xuất hiện và muốn được gặp gỡ Người.

          Và ta cũng như những nhà khảo cổ, nghiên cứu có thể dựa vào lễ vật các ngài mang theo là những đặc sản của xứ Arabi để đoán rằng các ngài từ xứ Arabi mà đến. Đồng thời dựa vào số lễ vật, người ta cho rằng có 3 vị. Đến thế kỷ VIII, có người còn kể rõ tên của ba vị đạo sĩ ấy là: Men-ki-o (Melchior), Ban-thơ-da (Balthezar) và Gát-pa (Gaspar), đại diện cho ba châu lục thời bấy giờ là châu Âu (da trắng), châu Á (da vàng) và châu Phi (da đen).

          Với ý nghĩa Thánh Lễ hôm nay, ta thấy khởi điểm cho cuộc hành trình tìm kiếm là một ánh sao lạ xuất hiện phía trời Đông, tượng trưng cho ơn thánh dẫn khởi từ Thiên Chúa, để ai biết tiếp nhận, sẽ trở nên ánh sáng soi đường. Nhìn thấy ánh sao hằng hà sa số trên bầu trời đêm là một điều bình thường ai cũng có thể làm được, nhưng nhận thấy giữa muôn vàn lấp lánh ấy chỉ một ánh sao lạ thôi lại là chuyện chẳng bình thường chút nào, nếu không muốn nói là do tổng hợp giữa kiếm tìm và gặp gỡ, hay đúng ra giữa ơn Trời ban và lòng người biết mở ra tiếp nhận.

          Hành trình của các đạo sĩ là một hành trình đi tìm ánh sáng đức tin. Để có thể gặp được Thiên Chúa, họ phải chấp nhận ra khỏi sự êm ấm của bản thân, từ bỏ những ràng buộc của công việc, gia đình để lên đường. Các ông đã phải trải qua hành trình rất xa và gian nan, có những lúc ánh sao như vụt tắt, nhưng các vị không chán nản thất vọng, trái lại, các ông đã tìm đến cung điện của Hêrôđê để hỏi về vị vua mới sinh hiện ở đâu.

          Khi được chỉ cho biết tại Belem, đất Giuđa, các đạo sĩ lại tiếp tục lên đường, ngôi sao lại xuất hiện như để khuyến khích các ông. Các ông đã tìm đến nơi. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi và thân mẫu là bà Maria, họ liền sấp mình thờ lậy người. Các đạo sĩ bước vào nhà, là ngôi nhà nơi Thánh Gia đang sống, nhưng ngôi nhà ấy còn là hình ảnh ngôi nhà Giáo hội, là nơi Thiên Chúa đang hiện diện. Các đạo sĩ là những người dân ngoại đã tìm được Chúa Giêsu, họ được mời gọi bước vào nhà của Chúa để ở nơi đây, họ cùng với mọi người tôn thờ Thiên Chúa, được chung hưởng tình yêu và hạnh phúc với Thiên Chúa.

          Ba đạo sĩ từ Đông phương lên đường tìm kiếm dấu lạ, không phải vì mưu cầu vật chất, không có ý củng cố sức mạnh tinh thần, nhưng họ vẫn phải đối diện với nguy hiểm, lung lạc mục đích khám phá dấu lạ. Các vị Đạo sĩ nhờ được trang bị số kiến thức cần thiết để biết nhìn trời, nhìn sao, nhất là đủ khôn ngoan, để không bỏ lỡ cơ hội xem bằng mắt, bắt bằng tay dấu lạ Hài Nhi. Các mục đồng, các đạo sĩ, không thể tự biết tìm đến Belem, nếu không có dấu lạ chỉ đường, cả triều thần Hêrôđê và chúng ta hôm nay, đều cần đến sự tác động của dấu lạ mang tên Giêsu.

          Chúa Giêsu là ánh sáng. Một khi đến được với Chúa Giêsu, chính chúng ta được soi sáng và trở thành những ngôi sao dẫn đường cho người khác. Trong lịch sử đã từng có những vì sao sáng rực: thánh Phêrô, thánh Gioan, thánh Phaolô, thánh Têphanô, thánh Inhaxiô Antiôkia, thánh Âutinh, thánh Gioan Kim Khẩu, thánh Phanxicô Assisi, thánh Phanxicô Xavier, thánh Têrêxa, thánh Anrê Dũng Lạc, thánh Philipphê Phan Văn Minh, thánh Matthêu Lê Văn Gẫm, thánh Anê Lê Thị Thành… Ngay trong thời đại chúng ta cũng không thiếu những vì sao: thánh Maximilianô Kolbe, chân phước Têrêxa Calcutta…

          Và rồi ta cũng không quên ngôi sao sáng chói trong mọi thời đại: Mẹ Maria. Chung quanh chúng ta vẫn có những người đang đi tìm một ngôi sao dẫn đường. Chính chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi nhận lấy ánh sáng của Chúa để trở thành một ngôi sao, cho bạn bè, cho con cái, cho hàng xóm láng giềng. Có thể chúng ta chỉ là một ngọn đèn dầu, nhưng vẫn hữu ích cho một ai đó đi tìm nguồn sáng trong một đêm tăm tối.

          Thiên Chúa vẫn đang ngỏ lời với chúng ta trong Kinh Thánh. Nội dung Kinh Thánh là một câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và con người. Muốn tìm kiếm Chúa, ta phải chuyên tâm học hỏi và suy niệm Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh. Khi các nhà đạo sĩ cảm thấy đứng trước ngõ cụt của hành trình tìm kiếm vị Vua mới sinh, các ông đã vào Giêrusalem. Ở đây, các chuyên gia đã khảo cứu Kinh Thánh và tìm được lời giải đáp.  Nhờ hướng dẫn trong lời ngôn sứ Mika (Mk 5, 1), các ông tiếp tục lên đường và cuối cùng đạt được điều nguyện ước của mình. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta trên bước đường đời. Chuyên tâm suy niệm và sống Lời Chúa sẽ giúp ta sống thánh thiện trọn lành.

          Ngày hôm nay, việc gặp gỡ thờ lạy Giêsu không cần phải có kiến thức “thiên văn”, không cần phải hàng đêm nhìn lên bầu trời trông chờ “sao lạ”. Đúng hơn, “dấu lạ Giêsu” đang biến mọi đối tượng trở nên tình yêu của Ngài. Các mục đồng, các đạo sĩ phát hiện dấu lạ từ trời, họ đều nhanh chóng lên đường, và rồi họ thật vui mừng hạnh phúc khi gặp Hài Nhi. Mỗi chúng ta hôm nay, khi phát hiện Đức Giêsu là tình yêu bởi trời, nhất định phải khẩn trưởng gặp gỡ Ngài, nếu không niềm vui ơn cứu độ rồi cũng chỉ là chuyện tưởng tượng, chóng qua mà thôi.

          Ngày hôm nay, người Kitô hữu được soi dẫn làm việc bổn phận đối với Chúa và Hội Thánh, nhưng nếu thiếu đi sự quyết tâm, chúng ta cũng chỉ là những luật sĩ biệt phái sống trong chờ đợi theo ý mình, lý thuyết mơ hồ. Gặp được niềm vui, thấy được con đường dẫn tới hạnh phúc là mừng, nhưng nếu không dấn thân để có Chúa để được biến đổi, để đức tin trở thành hành động, thì hoàn toàn vô ích, thất bại.

          Muốn gặp Hài Nhi Giêsu, các đạo sĩ không thể ngồi nhà ung dung chờ đợi, các ngài đã lên đường, đã hành động bằng lý trí của người trưởng thành. Hành trình của các đạo sĩ có lúc sao ẩn, sao hiện, nhưng dấu lạ của tình thương không thay đổi, dù chặng đường gặp Hài Nhi của chúng ta hôm xưa và hôm nay có gian truân khác nhau. Thiên Chúa yêu thương loài người, các đạo sĩ đến Belem họ có vàng, mộc dược nhũ hương, các mục đồng đến Belem chỉ có tấm lòng, do đó bất cứ thành phần nào, đến gặp Chúa đều vui mừng hạnh phúc với tình yêu cứu độ.

          Và rồi ta thấy chính Chúa Giêsu là Ngôi Sao Mai dẫn chúng ta đi vào con đường chói ngời ngọn lửa đức mến. Bước theo ánh sáng Ngôi Sao Mai, người Kitô hữu chiếu tỏa các giá trị Tin Mừng giữa lòng trần thế. Loan báo Tin Mừng là loan báo tình yêu thương, là xây dựng “nền văn minh tình thương”. Những chứng tá đức tin cậy mến, những gương sáng đời sống gia đình, những nỗ lực thực thi các giá trị Tin Mừng chính là những ánh sao cụ thể soi đường truyền giáo trong thời đại hôm nay.

          Ngày hôm nay, trong đời sống đạo, nhiều khi thay vì chiếu sáng, chúng ta lại ưa chuộng bóng đêm khi mang trong mình sự ích kỷ như Hêrôđê! Sợ mất quyền, mất chức, sợ mất miếng cơm manh áo, hay sợ liên lụy, phiền hà cách này, cách khác, mà không dám nhìn nhận sự thật hay làm chứng và sống cho chân lý!

          Thiên Chúa vẫn luôn tỏ mình ra cho nhân loại qua những dấu chỉ tự nhiên của trời đất, qua từng biến cố lịch sử, qua Lời Người trong Thánh Kinh, qua sự hiện diện của Dân Chúa là Giáo Hội, qua các Bí tích. Muốn gặp được Thiên Chúa, nhất thiết phải nổ lực tìm kiếm. Cho dầu có những thử thách, cam go, những hiểm nguy cạm bẫy, vẫn luôn kiên trì trong đức tin, bền đổ trong lòng mến.

          Thiên Chúa yêu thương, Ngài muốn cho mọi dân tộc trên thế giới tin và đón nhận tình yêu của Ngài. Ngài dùng nhiều cách thế để đưa họ đến với Ngài và đưa tình yêu của Ngài đến với họ. Tuy nhiên, Ngài vẫn muốn dùng mỗi chúng ta là những người được hưởng tình yêu thương của Chúa, phải tiếp tục đem tình yêu ấy đến cho những anh em khác chưa nhận biết Chúa. 

Huệ Minh 2019

 

Lễ Hiển Linh 2017
Is 60, 1-6; Ep 3, 2-3a. 5-6; Mt 2, 1-12
HÃY LÀ SAO LẠ DẪN ĐƯỜNG GIỚI THIỆU CHÚA



Epiphany: manifestation or striking appearance có nghĩa là Lễ Hiển Linh.


Tiếng Hy-lạp cổ dùng chữ Theophaneia (Theophany meaning ‘vision of God’).


Lễ này được cử hành vào ngày 6 tháng Giêng theo truyền thống xa xưa. Vào Lễ này, các tín hữu Tây Phương tưởng nhớ ba nhà Đạo Sĩ thăm viếng Chúa Hài Nhi Giêsu và sự hiển linh của Con Chúa cho các Dân Ngoại.


Từ năm 1970, Giáo Hội Công Giáo Rôma, nghi thức Latinh đã cử hành Lễ Hiển Linh vào ngày 6 tháng 1 và là Lễ buộc. Các quốc gia khác có thể cử hành vào Chúa Nhật, sau ngày 1 tháng 1.
Lễ Hiển Linh còn được gọi là Lễ Ba Vua. Trong khi các tín hữu Đông Phương tưởng nhớ việc Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, được xem là sự hiển linh của Con Chúa cho toàn thế giới.


Lễ Hiển Linh là lễ Thiên Chúa tỏ mình ra cho mọi người. Thiên Chúa không chỉ tỏ mình ra cho riêng Dân của Ngài mà còn cho muôn dân. Bởi đó, mọi người trong chúng ta phải cộng tác với Thiên Chúa để làm bừng sáng lên ánh sáng đã xuất hiện từ Phương Đông. Chúng ta phải là ánh sao dẫn đường cho mọi người đến với Chúa. Tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất hôm nay đã mở ra cả một viễn tuợng lớn lao: đó là ngày và thời vinh quang của Thiên Chúa chiếu trên Dân Chúa và biến Dân Chúa thành điểm thu phục muôn dân. Mọi người từ mọi phương hướng sẽ cùng quy về một mối trong tiếng ngợi ca Thiên Chúa.


Lời ngôn sứ Isaia đã vang vọng từ 700 năm trước Công Nguyên về sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế: Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi (Is 60, 1).


Ánh sáng sẽ bừng lên trong đêm tối và con dân sẽ đón nhận vinh quang Thiên Chúa. Đấng Cứu Thế là ánh sáng đến trong thế gian để xua trừ bóng tối của tội lỗi và gian tà. Mọi dân sẽ hướng về nguồn ánh sáng để dõi tìm ơn cứu độ: Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước (Is 60, 3).


Theo truyền thuyết, những nhà chiêm tinh, nhà khôn ngoan, còn gọi là các đạo sĩ hay ba vua, đã chiêm ngắm bầu trời và nhận ra vì sao lạ. Họ đã dõi theo ánh sáng của vì sao lạ để tìm đến bái thờ Đấng đã được sai đến.


Ngôn sứ Isaia đã tiên báo về việc các bậc quân vương tiến về để thờ lạy Chúa Hài Nhi. Các nhà Đạo Sĩ Phương Đông cùng đến dâng Chúa của lễ là vàng, nhũ hương và mộc dược. Isaia đã có thị kiến về đoàn người từ các phương xa tìm đến bái thờ: Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha: tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa (Is 60, 6).


Các nhà Đạo Sĩ đã miệt mài kiếm tìm qua dấu chỉ mà không quản ngại gian khó. Các ngài đã được Thiên Chúa đáp trả như lòng mong ước.


Chúa Giêsu đã dạy : Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho (Mt 7, 8). Hồng ân Chúa bao la tuyệt vời, đoàn người dân ngoại đã được chứng kiến tận mắt ơn Cứu Độ đã tỏa sáng: Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến (Mt 2, 11).


Vàng được mệnh danh là vua của mọi kim loại. Vàng thường được coi là của lễ xứng hợp nhất để dâng tiến vua. Chúa Giêsu sinh ra để làm vua. Vị vua này không cai trị bằng vũ lực nhưng bằng tình yêu. Ngài cai quản lòng người không từ ngai vàng mà từ thập tự giá.


Sự có mặt của Ngài đã biến đổi thế giới loài người, mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Bệnh tật được chữa lành (Mt 8, 16-17), tang tóc được hân hoan (Lc 7, 11-17), tội lỗi được tha thứ (Mt 2,5), ngay cả sự chết đối với Ngài chỉ là giấc ngủ bình an (Mc 5, 39). Vì vua này xuất hiện luôn ban cho con người một niềm vui, một niềm hy vọng "Phúc cho anh em, là những người nghèo, vì triều đại Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những người đói khát vì anh em sẽ được no nê. Phúc cho anh em là những người đang khóc vì anh em sẽ được vui cười" (Lc 6, 20-21).


Nhũ hương dâng cho Hài nhi là thứ hương liệu có mùi thơm dịu mà thầy tư tế thường dùng trong các nghi thức thờ phượng. Thầy tư tế chính là trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Vị tư tế cũng chính là người mở đường dẫn lối để con người đến được với Thiên Chúa.


Ánh sao soi đường đến nơi thì đã tắt, bởi lẽ Chúa Giêsu chính là ánh sáng thật để soi rọi con người tìm ra chân lý. Chân lý con người tìm kiếm là tình yêu và gia nghiệp của Ngài. Chính chúa Giêsu sẽ dẫn đưa con người về với Chúa Cha.Thư gửi Ephêsô, thánh Phaolô đã khẳng định: "Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cũng được thừa kế gia nghiệp với người do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ban" (Eph 3,6).


Mộc dược là lễ vật dành cho người chết, là hương liệu để xông xác người. Chúa Giêsu đến thế gian để sống cho con người và cuối cùng chết cho con người. Cái chết của Ngài biểu lộ sự trung thành đối với loài người mà Ngài đã yêu thương đến tận cùng (Ep 13, 1). Chúa Giêsu không nghĩ tới mình, vì lẽ đó Ngài có thể đón tiếp mọi người và lắng nghe mọi người đến với Ngài. Cuộc sống Chúa Giêsu là một cuộc tự hiến cho con người để cứu độ con người.


Qua Kinh Thánh và lịch sử của ơn cứu độ, ta biết có nhiều tâm hồn khao khát đi tìm kiếm và mong chờ Chúa. Khi thời gian chuẩn bị đã mãn, dấu chỉ đã tỏ hiện, lòng con người thôi thúc khát mong và mùa hồng ân đã cận kề, các Đạo Sĩ tìm hỏi: "Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người."(Mt 2, 2).


Thiên Chúa tỏ mình ra. Chúng ta biết được qua trang Tin Mừng, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho muôn dân. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa nào có ai thấy Ngài bao giờ, và làm sao thấy Ngài được? Nhưng người Con duy nhất của Ngài đã làm người, và cho ta thấy được Thiên Chúa mang bản tính con người, làm người như chúng ta và ở giữa chúng ta”. Từ khi Ngôi Lời nhập thể, ai tin nhận Đức Kitô là tin nhận Thiên Chúa, ai từ khước Đức Kitô là từ khước Thiên Chúa.
Việc đi theo ngôi sao lạ để đến bái thờ và dâng Chúa những của lễ thật sự chẳng phải là việc giản đơn và cũng không phải ai cũng làm được như 3 nhà đạo sĩ.


Muốn như vậy, trước hết việc lên đường đòi phải ra khỏi nhà, giã từ những tiện nghi dễ chịu, từ bỏ những sinh hoạt quen thuộc, chấp nhận những thiếu thốn, những nguy hiểm, những bất tiện đường đi. Thiện chí của các Ngài rất cao, nên khi ngôi sao biến mất, các Ngài vẫn không nản lòng bỏ cuộc, nhưng tìm mọi cách vượt qua khó khăn, tìm mọi cách để đến gặp được Chúa. Chúa đã chúc lành cho thiện chí của các Ngài, nên đã cho các Ngài được gặp Chúa.


Khi người Kitô hữu chỉ đóng khung đời sống đạo của mình trong nhà thờ, giữa những nghi lễ, mà không nhận ra những nhu cầu, những đòi hỏi của xã hội chung quanh; khi một cộng đoàn Kitô hữu quá bám víu vào những thứ gọi là quyền lợi tôn giáo của mình mà làm ngơ trước những đau khổ, bất hạnh của kẻ khác thì chính họ đang làm dập tắt những ánh sáng dẫn đường tới Chúa Kitô.


Đời sống chúng ta là một cuộc đi tìm Chúa. Trong cuộc đi tìm, ta phải có thiện chí như Ba Vua, biết dấn thân lên đường, biết phấn đấu chấp nhận hy sinh gian khổ, biết kiên trì không nản lòng bỏ cuộc khi gặp thử thách.


Ba Vua không thể đến với Chúa nếu không có ngôi sao dẫn đường.


Hôm nay, Chúa muốn mỗi người chúng ta là một ngôi sao lạ. Chúa mời gọi ta loan báo tình thương của Chúa, đưa dẫn những tâm hồn thiện chí đến với Chúa. Và như vậy, ta hãy là ngôi sao sáng trong đời sống công bình. Hãy chiếu sáng đức thương yêu của Chúa. Hãy toả ánh sáng ấm áp tình người. Qua những luồng sáng tự nhiên phát ra từ ta ấy, chắc chắn mọi người sẽ nhận biết và tìm về với Thiên chúa là ánh sáng chân thật.

 

Thứ Hai sau lễ hiển linh  

1 Ga 3, 22 - 4, 6; Mt 4, 12-17. 23-25

CANH TÂN ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN

          Trang Tin mừng theo Thánh Matthêu hôm nay miêu tả ngày đầu tiên Chúa Giêsu khởi sự sứ vụ loan báo Tin Mừng. Sau 30 năm sống âm thầm nơi làng quê Nagiarét, đúng lúc “thiên thời địa lợi”, Chúa Giêsu rời xa gia đình ra đi tung gieo hạt giống Nước trời. 

          Thánh Kinh cho biết, sau khi chuẩn bị chu đáo cho Chúa một con đường thẳng tắp, một mảnh đất phì nhiêu màu mỡ, ông Gioan đã lui vào bóng tối âm thầm để ánh sáng Giêsu chiếu tỏa cho hạt giống nứt mộng nảy một mầm sống. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã được loan báo qua lời ngôn sứ Isaia “Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại!  Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.

          Dưới thời Chúa Giêsu, đất nước Do Thái bị cai trị bởi đế quốc Rôma, người dân phải sống kiếp nô lệ nên họ mất hết tự do. Hàng năm họ phải nộp cho Roma thuế nhà đất, thuế lợi tức, thậm chí thuế thân và nhiều loại thuế gián thu khác. Riêng người Do Thái hằng năm còn phải nộp thuế Đền Thờ và thuế thập phân.Về chính trị, Do Thái còn duy trì chế độ quân chủ nô lệ.Các nô lệ không có quyền gì về pháp lý và bị mua bán như một món hàng.

          Từ thời Cựu Ước, dân Do Thái đã phải sống trong cảnh lưu đày suốt 40 năm dài ở Babylon, trước mắt họ là con đường dài thăm thẳm tối tăm. Vì thế họ hằng ấp ủ trong lòng khát vọng sớm được giải thoát, được trở về đoàn tụ nơi quê cha đất tổ. Đức Giêsu đã đến như một vị vua của dân tộc, mở cho dân một con đường sống tự do thênh thang. Người đã đến hoàn trọn lời các ngôn sứ loan báo. Từ đây ánh sáng cứu độ đã bừng lên xua tan bóng tối sự chết, cất đi cái ách nô lệ nặng nề tủi nhục.

          Đức Giêsu chọn Galilê - miền Bắc Do Thái là miền đất của dân ngoại như một trung tâm truyền giáo vì nơi đây có vai trò tôn giáo quan trọng, nơi có thành Caphacnaum, hơn nữa Đức Giêsu đã lớn lên ở Nazareth cũng thuộc Galilê. Có thể nói Đức Giêsu đã quen thuộc địa lý xã hội chính trị và tôn giáo tại Galilê.Bên cạnh đó, người dân vùng Galilê sống cởi mở, thích đón nhận những trào lưu tư tưởng mới nên rất thuận lợi cho việc truyền giáo. Điều đáng nói ở đây, Đức Giêsu giảng dạy có uy quyền và thuyết phục hơn các kinh sư và thầy khác bởi Người có phép lạ kèm theo.

          Bệnh tật lại thuộc về thân phận con người, đã là người thì phải trải qua, không tránh được: sinh lão bệnh tử; nhưng sự sống của con người còn bị quấy phá, bị chi phối bởi ma quỉ, bởi thần dữ mới là bi đát hơn, trong mức độ ma quỉ gieo vào lòng con người và vào tương quan giữa người với người sự nghi ngờ, loại trừ, bạo lực, ham muốn, ghen tị, dục vọng… Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, những sự dữ này còn phá hoại sự sống của chúng ta hơn cả bệnh tật. Và chỉ có Lời Chúa, và tuyệt đỉnh là Lời Thập Giá (1Cr 18, 1) mới có thể chữa lành, giải thoát chúng ta khỏi Sự Dữ và những gì thuộc về Sự Dữ.

          Đức Giêsu loan báo Nước trời “đến gần” qua các dấu hiệu và việc làm cụ thể đó là ma quỷ bị xua trừ, mọi người đau bệnh tật nguyền được chữa lành.Một viễn cảnh thái bình an vui đang mở ra trước mắt mọi người. Dân chúng từ miền Galilê, vùng Thập Tỉnh, thành Giêrusalem, miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan lũ lượt kéo đến đi theo Đức Giêsu.Ai nấy lắng nghe một cách chăm chú và sửng sốt bởi chưa bao giờ họ được nghe những điều huấn giáo mới mẻ và thuyết phục như vậy.

          Tiếng gọi của Đức Giê-su mạnh đến độ làm bật tung « lập tức » (c. 20 và 22) các môn đệ đầu tiên ngay tại nơi các ông đang làm việc cùng với những người thân yêu, nơi ông gắn bó, nơi nuôi sống các ông và gia đình, nơi là sự nghiệp của ông, là cuộc đời của ông. Chúng ta còn chậm chạp và dây dưa trong cách đáp lại, chính là vì chúng ta chưa thực sự nghe được tiếng Chúa. Vì thế, chúng ta hãy ước ao và xin đích thân nghe được tiếng Chúa gọi với tất cả sức mạnh của Lời Chúa, không chỉ một lần, nhưng hằng ngày và suốt đời. Lời Chúa sẽ đụng chạm đến chốn sâu thẳm nhất nơi con người của chúng ta, sẽ lôi kéo và biến đổi chúng ta, vì Lời Chúa là Lời tạo dựng nên chúng ta.

          Nước Trời mà Đức Giê-su rao giảng mời gọi thực hiện hành trình sám hối. Bởi vì, để đón nhận Nước Trời, chúng ta phải từ bỏ tất cả những gì ngăn cản chúng ta đón nhận Nước Trời, phải giữ khoảng cách với tất cả những gì không thuộc về hay không giúp hướng về Nước Trời. Nhưng đàng khác, Nước Trời cũng lôi kéo chúng ta và làm chúng ta say mê, vì Nước Trời làm cho no thỏa những khát vọng thâm sâu và mạnh mẽ nhất của con người. Loài người chúng ta dựng nên bởi Thiên Chúa và cho Thiên Chúa, vì thế, tự bản chất hướng về Nước của Thiên Chúa.

          Đức Giêsu đã có một khởi đầu mới “thuận buồm xuôi gió”.Người đã đến để thực hiện kế hoạch cứu độ mà Thiên Chúa Cha đã trao phó.Kế hoạch đó không gì khác ngoài việc yêu thương và giải thoát loài người khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết, đem đến cho họ niềm vui, sự an bình và nguồn hạnh phúc đích thực. Nhưng để có được hạnh phúc lớn lao ấy đòi hỏi mọi người phải sám hối. Như vậy sám hối chính là thái độ cần phải có để trở thành công dân Nước Trời.Sám hối chính là nhìn nhận những yếu đuối của mình để thêm tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa.

          Ta thấy rằng Giáo hội mời gọi mỗi người chúng ta Tân Phúc-Âm-hóa” bằng việc làm “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả Lời Chúa”.Đó là nhìn nhận lại mối tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta.Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợpđể đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật.Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.

          Hơn 2000 năm qua, Giáo hội đã lãnh nhận và tiếp tục sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu thế nhưng đâu đó trên thế giới vẫn còn “đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm” chưa nhìn thấy ánh sáng cứu độ, vẫn còn những vùng đất “Galilê” chưa đón nhận hạt giống đức tin. Ý thức được sự khẩn thiết này, ước gì mỗi kitô hữu biết quảng đại dấn thân nhiều hơn nữa trong việc loan báo Tin Mừng, đặc biệt canh tân đời sống đạo trong gia đình, trong giáo xứ để Lời Chúa được vang xa, lan rộng đến tận cùng thế giới.

Thứ Ba sau lễ hiển linh 

1 Ga 4, 7-10; Mc 6, 34-44

QUAN TÂM VÀ CHIA SẺ

          Thế giới ngày nay là một thế giới đáng thương! Một thế giới đói khát Lời chân lý - Lời sự thật và tình thương nuôi dưỡng tâm hồn. Thế nhưng, sự tự mãn, bon chen, dành dựt ắp đầy trong lòng đã khiến tinh thần con người bị ‘thương thực’ không còn khả năng tiếp nhận Lời. Lời Chúa vẫn có đó, vẫn còn đó, nhưng lại ‘rơi thõm’, mơ hồ trong một thế giới đầy những tiếng ồn ào của ‘động cơ’ vật chất, phô diễn đầy những bích chương quảng cáo hưởng thụ. Có người nói với tôi “lầm” khi tôi nói với họ về cách sống theo Lời Chúa, vì chẳng ai lại ‘dại gì’ sống như thế. Tôi trả lời họ “chân lý không thể lầm”, chỉ có “con người ta sống sai lầm” mà thôi.

          Thiên Chúa là Tình Yêu, là Đấng ‘chạnh lòng thương xót’ và ta thấy Ngài là vị Mục tử nuôi chiên bằng suối nước trong và cỏ đồng xanh mỡ màng. Hình ảnh vị Thiên Chúa ấy được thể hiện rõ nét nơi Đức Giê-su trong trình thuật tin mừng hôm nay - Người “thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt.” (c. 34)

          Đám đông đi theo Đức Giê-su vì họ khát khao và say mê nghe Lời chân lý. Họ đi theo Người quên mọi khổ cực đường xa nhọc nhằn, quên cả trang bị những điều cơ bản cần thiết là lương thực cho bản thân. Tuy nhiên lòng nhiệt thành, sự say mê Lời của họ đã được đáp lại cân xứng quá lòng ước mong. Đức Giê-su không những dùng Lời để nuôi dưỡng tinh thần của họ, mà Ngài còn dùng lương thực để nuôi dưỡng thể xác đang đói khát của họ.

          Chắc có lẽ đây là hình ảnh đáng thương của dân Israel thời bấy giờ. Những người đầu mục là các tư tế và các kinh sư, lẽ ra phải dạy dỗ dân thì lại lười biếng và chỉ lo tìm kiếm tư lợi như ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã tuyên sấm: “Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình ! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên đó sao ? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt các ngươi giết, còn đàn chiên thì các ngươi lại không lo chăn dắt : Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; Chiên bệnh tật các ngươi không chữa lành; Chiên bị thương các ngươi không băng bó; Chiên đi lạc các ngươi không đưa về; Chiên bị mất các ngươi không đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta vì thiếu mục tử chăn dắt nên biến thành mồi ngon cho dã thú, chúng chạy toán loạn. Chiên của Ta tản mác trên các ngọn núi, trên đỉnh đồi. Chiên của Ta tản mác trên khắp mặt đất, thế mà chẳng ai chăm sóc, chẳng ai kiếm tìm” (Ed 34,1-6)

          Phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi 5000 người (chưa tính đàn bà và con trẻ) sau khi đã “dạy dỗ họ nhiều điều” của Đức Giê-su tiên trưng cho phép lạ Bí tích Thánh Thể Ngài thiết lập sau này. Ngày nay, Thiên Chúa – Đức Giê-su Ki-tô vẫn tiếp tục chăm nuôi chúng ta cách đặc biệt trong bàn tiệc Thánh lễ. Nơi Thánh lễ Người ban phát cho chúng ta Lời của Người như kim chỉ nam cho cuộc sống, đồng thời Người thiết đãi chúng ta chính Thánh Thể của Người làm sức mạnh nuôi dưỡng bồi bổ tâm linh và là lương thực cho cuộc sống đời đời. Khi tham dự Thánh lễ với tấm lòng thanh, khát khao tìm kiếm Lời Chúa và Thánh Thể của Người, Đức Giê-su sẽ ban cho ta thỏa mãn dư đầy để chúng ta tiếp tục nối dài hiến lễ của Người bằng cuộc sống của chính mình trong sứ vụ cứu độ con người. 

          Qua phép lạ hoá bánh ra nhiều, Chúa Giêsu trước khi tỏ hiện quyền năng mình là Con Thiên Chúa, Ngài đã chứng tỏ mình là một con người hoàn hảo với một nhân cách sung mãn. Thật vậy, ai cũng có thể nhìn thấy đám đông nhưng mấy ai nhận thấy nỗi khốn cùng của họ? Hoặc giả cũng có người nhận thấy nhưng lại đành lòng ngoảnh mặt làm ngơ. Chúa Giêsu đã nhận thấy, và chạnh lòng thương; và còn hơn thế, Ngài mời gọi các môn đệ đồng cảm và cộng tác với Ngài để cất đi nỗi khốn cùng của đoàn dân “bơ vơ như chiên không người chăn dắt” đó.

          Ân sủng và quyền năng Thiên Chúa vẫn dư dật. Tuy nhiên, Ngài vẫn muốn sự cộng tác của con người, một sự cộng tác dù nhỏ nhoi cũng đủ để cho Ngài thực hiện những điều kỳ diệu. Chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá của một em bé sẵn sàng cho đi không giữ lại cho riêng mình cộng với sự thiện chí tìm kiếm của các môn đệ, Đức Giê-su đã nuôi đủ hơn ‘mười ngàn’ nhân khẩu một cách mĩ mãn dư dật.

          Với ân huệ bánh hằng ngày, Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể, chúng ta nhận ra sự sống mỗi ngày của chúng ta là ơn huệ Chúa ban và chúng ta được mời gọi dâng lại cho Chúa «tất cả» với tâm tình biết ơn và ca tụng, dâng lại tất cả những gì chúng ta có và những gì chúng ta là ; và cái «tất cả» của chúng ta thì nhỏ bé và giới hạn như «năm cái bánh và hai con cá», nhưng chúng ta được mời gọi trao vào tay Chúa. Đây là cử chỉ mang chiều kích Thánh Thể: «năm chiếc bánh và hai con cá», là chính con người chúng ta, đã trở thành chính Chúa; tương tự như bánh là «hoa mầu của ruộng đất và công lao của con người» nhưng được dâng cho Chúa, để trở thành «Bánh Trường Sinh» nuôi dưỡng chúng ta. Và chúng ta được mời gọi cộng tác để chia sẻ và trao ban chiếc «bánh đời tôi», đã được trao vào tay Chúa và Chúa làm cho trở thành chính Chúa, cho nhiều người.

          Vì vậy, những người dám tiếp nhận Lời chân lý, dám tin vào Lời là những người dám “đi vào một cuộc phiêu lưu”, can đảm chấp nhận lội ngược dòng, dám chịu những thua thiệt mất mát, dám đón nhận những hy sinh và thậm chí bách hại có thể xảy ra. Tuy nhiên, như những người say mê theo Đức Giê-su để nghe lời Người, họ sẽ được thỏa mãn dư dật gấp trăm về ân sủng của Thiên Chúa luôn mở rộng để ban phát cho những kẻ tìm kiếm Người. Bởi vì họ sẽ được Chúa chăm nuôi cả tinh thần lẫn thể chất. 

          Vì thế, như giếng nước được khơi nguồn, càng kín múc nước ra càng trong mãi, Chúa muốn mỗi người chúng ta biết cộng tác với Người trong sự thiện chí biết quan tâm, chia sẻ và cho đi bằng hết khả năng của mình có – dù khả năng đó thật nhỏ nhoi và hạn hẹp – Chúa sẽ thực hiện những việc lạ lùng và lớn lao. Đời sống là quà tặng và ân sủng của Thiên Chúa, đặc biệt nơi bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, chúng ta đã được lãnh nhận cách nhưng không thì chúng ta cũng phải biết cho đi cách nhưng không. Có thế, phép lạ ‘hóa bánh’ của Đức Giê-su mới mãi được nhân rộng nhờ thiện chí chuyển trao Lời và chia sẻ ‘bánh’ của chúng ta cho thế giới còn nhiều ‘đói khát’ này.

 

Thứ Tư Sau Lễ Hiển Linh 

Mc 6, 45-52

CÓ THẦY - ĐỪNG SỢ !

          Trang Tin Mừng hôm nay kể lại biến cố này như một phép lạ cả thể mà chỉ mình Thiên Chúa mới có uy quyền như vậy.

          Ta thấy chuyện “Đi trên biển” không thể là một khả năng của con người đến nỗi các môn đệ “ tưởng ma”, nhưng ở đây Chúa Giêsu lại chứng tỏ khả năng phi thường ấy như một lời chứng về thân thế và sứ vụ của con người Mêsia – Đấng phải đến để giải thoát nhân loại khỏi ách thống trị của Satan đang đè nặng trên cuộc đời con người.

          Câu 45 được tác giả mở đầu bằng từ “lập tức”. Một hành động xảy ra nhanh, ngay thời điểm đó, một cách dứt khoát. Vì sao Đức Giêsu lại “bắt các môn đệ xuống thuyền… trong khi Người giải tán đám đông” trong tình thế cấp thời như vậy?

          Ta thấy hành vi này được thực hiện ngay sau phép lạ hóa  bánh ra nhiều,  mà Chúa Giê-su đã nuôi một đám đông hơn 5.000 người đàn ông, không kể đàn bà  con trẻ. Có lẽ vì không muốn các môn đệ “ngủ quên trên sự tôn vinh của con người hoặc nhìn Chúa Giê –su dưới  khía cạnh phép tắc, quyền năng để từ nay cứ “dựa dập”    vào đó để sống nhờ. Xa  tránh vinh quang, danh dự  là phần mà Chúa Giê –su “bắt” các môn đệ thực hiện. Còn Ngài lên núi cầu nguyện ( c. 46). Sau mỗi biến cố quan trọng Ngài đều dành lời ca tụng Cha Ngài. Trước mỗi biến cố vĩ đại, Ngài cũng tha thiết cầu xin ơn trợ lực của Cha, vì trong mọi việc Ngài luôn qui hướng về Chúa Cha.

          Câu 47-48 diễn tả quang cảnh sự kiện : đó là vào lúc chiều tối dần buông, thuyền ở giữa biển và không có Đức Giêsu trên thuyền, còn các môn đệ đang vất vả chèo chống vì gió thổi ngược. Trong một tình huống chiến đấu vất vả, lại không có Thầy bên cạnh, tâm trạng các môn đệ không khỏi hoang mang, lo lắng, đến nỗi khi thấy bóng của Chúa Giê-su đi trên mặt biển, tất cả các ông đều nhìn thấy nhưng họ lại cũng hoảng hốt và la lên, cho rằng: “Đó là ma. Đây cũng chính là thái độ của  chúng ta đang sống giữa thế giới đầy ma lực này. Chúng ta cứ cậy dựa vào sức riêng và quên rằng có Đức Ki tô đi cùng, nên chúng ta đã có những phản ứng và chọn lựa sai lạc.

          Thái độ của Đức Giêsu thế nào khi thấy các môn đệ rơi vào tình trạng nguy ngập ? Thánh sử thuật lại : “Thấy các ông vất vả chèo chống… Ngài đi trên mặt biển và đến với họ”. Đó là trái tim của một vị Mục tử khi thấy đàn chiên lo sợ, nhưng cũng là tấm lòng của Đấng Mêsia muốn đến cứu họ và dẹp tan sự dữ trên biển cả vì biển cả tượng trưng cho nơi ẩn náu của ma quy. Chúa Giê-su muốn chứng tỏ cho các môn đệ thấy rằng trong cơn gian nan hoạn nạn, Ngài luôn hiện diện với anh em : “Cứ yên tâm, Thầy đây, đừng sợ”. Một lời trấn an bảo đảm mạnh mẽ rằng Ngài luôn đồng hành với họ trên bước đường loan báo Tin Mừng, mặc dầu sóng biển ầm ầm, thủy triều sóng nước dâng cao… con thuyền có bị sóng đánh dập vùi, nhưng hãy yên tâm vì có Ngài ở bên.

          Khi Đức Giê-su lên thuyền, gió liền lặng ( c.51). Nếu con thuyền của chúng ta có Đức Giê-su trên đó, thì sự dữ, ma quỉ sẽ bị đẩy xa. Đó là qui luật tất yếu : ánh sáng tới, bóng tối sẽ bị đẩy lùi. Thiên Chúa không song hành với ma quỉ. Nơi Ngài chỉ có ánh sáng, chỉ có sự thiện. Đứng trước phép lạ vĩ đại này, chúng ta thấy thái độ của các môn đệ thế nào? Họ bàng hoàng sửng sốt ( 51b) và thánh sử kết luận “vì các ông không hiểu ý nghĩa phép lạ hóa bánh, lòng trí còn ngu muội” ( c.52). Như thế, các ông vẫn chưa nhận ra thiên tính của Chúa Giê-su, họ chỉ bàng hoàng ngạc nhiêu sao một con người trần thế mà biển cả, sóng gió lại vâng lời ?. Đức tin của các ông chưa được khai mở. Con mắt đức tin còn bị che khuất bởi những suy nghĩ của con người trần tục.

          Và ta thấy các Tông đồ cảm thấy ái ngại khi đứng trước sự tỏ mình của Chúa không như một con người bình thường, nhưng như là Đấng có uy quyền. Thành thử họ cố gắng vượt qua những ý nghĩ quá nông cạn, đơn sơ của mình cũng như sự hốt hoảng khi thấy Chúa đi trên mặt biển. Nhưng Chúa Giêsu đã trấn an họ bằng lời đầy an ủi: “cứ yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!”.

          Ta thấy khi Ngài trấn an họ đồng thời cũng là để đưa họ đến một sự nhận thức sâu hơn xa hơn như họ tưởng: Ngài không chỉ đơn thuần là một người gỡ họ ra khỏi các tình huống khó khăn, mà còn là người mang đến sự hài hòa và bình an khắp mọi nơi. Giờ đây, họ đến với ngài như đến với Đấng Cứu Thế, Đấng mà sẽ đưa họ tới một mức độ hiểu biết cao hơn. Như tin mừng Marcô nói: “vì các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều vì lòng trí các ông còn ngu muội”, nghĩa là lòng trí của họ bị cản trở nên họ không thể hiểu được. Chúa Giêsu đã nhiều lần giải thích cho họ mầu nhiệm vượt qua của ngài, đào sâu đức tin cho họ để họ thực sự trở thành những người sẵn sàng đáp lời mời gọi của Ngài và để họ trở nên những Tông đồ và môn đệ của Ngài.

          Thánh Gioan trong thư thứ nhất cho thấy người tín hữu chỉ có thể trở thành những môn đệ đích thực của Chúa Giêsu khi họ thực hành các giới răn yêu thương của Người. Và nếu mỗi người sống yêu thương những người thân cận theo một thể thức ấy, thì thế giới sẽ thực sự trở nên hòa bình, không còn bất hạnh, không còn nghèo đói, không còn tranh chấp, không còn chiến tranh... Nói tóm lại là chúng ta có tình yêu, mà khi có tình yêu thì chúng ta không còn sợ hãi, không lo âu, vì có Chúa luôn đồng hành với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày.

          Con thuyền của các môn đệ ngày xưa cũng chính là con thuyền Giáo Hội ngày nay, Chúa Giê-su trong Bí Tích Thánh Thể vẫn hiện diện và đồng hành với Giáo Hội từng ngày trong cuộc đời. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta có nhận ra sự hiện diện của Chúa trên con thuyền cuộc đời của mỗi người và của Giáo Hội hay không?

          Cuộc sống của chúng ta hôm nay cũng giăng đầy muôn khó nguy thử thách, bao gian nan thách đố muôn mặt của sóng biển đời đang gào thét quanh ta. Làm sao chúng ta có thể vượt qua được những đợt sóng kinh khủng ấy, nếu không có bóng dáng yêu thương đầy quyền năng của Thầy Giêsu trên mặt biển trần gian này? Thầy chính là dung mạo tình yêu thương xót của Cha từ ái, luôn hiện diện sống động trong cuộc đời mỗi chúng ta, để chở che, nâng đỡ, giúp chúng ta an tâm vững bước trên hành trình về Quê Trời.

 

Thứ Năm Sau Lễ Hiển Linh 

1 Ga 4, 19 - 5, 4; Lc 4, 14-22a

THẦN KHÍ CHÚA ĐÃ SAI TÔI ĐI

          Tìm hiểu một chút và trở lại Cựu Ước, ta thấy Năm Toàn Xá (Năm Thánh) được sách Lê-vi (ch. 25) qui định như sau: dân Israel phải cử hành Năm Thánh cứ mỗi 50 năm, để thiết lập sự hòa giải giữa con người với nhau và với Thiên Chúa. Trong Năm Thánh ấy, nô lệ được phóng thích, đất đai thế chấp được trả về chủ cũ, nợ nần được tha.

          Qua dòng lịch sử, Dân Chúa cũng duy trì niềm hy vọng sẽ có một Năm Thánh mà Thiên Chúa sẽ cử hành. Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, “hôm nay” Đức Giêsu đã khai mở Năm hồng ân đó: Ngài hiện diện và thi thố lòng thương xót cho kẻ nghèo hèn, kẻ bị giam cầm, người mù, người bị áp bức, đưa con người bước vào mối tương quan cá vị với Thiên Chúa, được tham dự vào đời sống Thiên Chúa, gọi Người là Cha.

          Thời Chúa Giêsu, dân Israel đang sống trong hoàn cảnh rất khó khăn về mọi mặt từ văn hóa, chính trị đến tôn giáo. Họ mong đợi khôn nguôi Đấng Messia đến giải phóng họ ra khỏi mọi nỗi khổ cực đang đè nặng trên họ. Chúa Giêsu đến, Ngài rao giảng về sự tự do đích thật, không phải là tự do mang tính chính trị nghĩa là giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ ngoại bang. Ngài đến khai mở Năm hồng ân và thực hiện lời các ngôn sứ đã loan báo về Đấng Cứu Thế: Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, Ngài đã sai tôi đi để giải thoát, tha thứ, công bố ơn cứu độ cho mọi người (Lc 4, 18).

          Ta thấy trong trang Tin Mừng hôm nay thuật lại, Chúa Giêsu vào hội đường "đứng lên đọc Sách Thánh.17 Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:18 Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức,19 công bố một năm hồng ân của Chúa." Sau khi nghe Chúa Giêsu, mọi người đều "thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người". Người Do Thái thán phục lời hay ý đẹp, như thế họ đã có niềm tin vào Chúa Giêsu. Chắc hẳn họ được đánh động bởi những lời Chúa vừa công bố, họ được Thánh Thần tác động để đi đến niềm tin vào Thiên Chúa.

          Chúa Giêsu trở về quê hương và Ngài vào các hội đường mà giảng dạy. Khi đọc đoạn Kinh Thánh của Isaia, nói về sứ mạng của vị Thiên Sai là đến với người nghèo, để nâng đỡ, an ủi, cứu giúp; xây dựng bình an, giải thoát con người khỏi ách thống trị của sự dữ... Đọc xong, Ngài tuyên bố, đoạn sách ấy hôm nay đã ứng nghiệm!

          Khi nói như thế, Đức Giêsu công khai đứng về phía người nghèo, bỏ rơi và bị áp bức. Đây là lựa chọn và sứ vụ của Ngài khi đến trần gian mà hôm nay đã ứng nghiệm.

          Sau khi đọc sách ngôn sứ Isaia, Chúa Giêsu tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”, nghĩa là lời ngôn sứ Isaia đã ám chỉ về Ngài và về sứ mạng của Ngài bắt đầu được thực hiện.

          Thời điểm lời Kinh Thánh ấy ứng nghiệm đã đến, đó là sự xuất hiện của Chúa Giêsu. Người đã khởi sự loan báo Tin Mừng và thực thi bao dấu lạ điềm thiêng ở Galilê. Với khởi đầu ấy, Người tuyên bố: hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe. Nếu thông thạo truyền thống Do Thái, chắc hẳn những người đồng hương của Chúa Giêsu hôm ấy phải nhận ra điều mà Chúa muốn bày tỏ: Người chính là Đấng Cứu Thế. Người đến để làm cho mọi lời Kinh Thánh của Cựu Ước nên ứng nghiệm.

          Chúa Giêsu được Thiên Chúa sai đến, được Thánh Thần dẫn đưa để thi hành sứ vụ. Sứ vụ của Chúa Giêsu không gì khác hơn là đem hạnh phúc đến cho con người, cứu giúp họ khỏi cảnh khốn cực, giải phóng khỏi cảnh bị áp bức, để con người được sống hạnh phúc trong tình yêu thương của Chúa.

          Nhìn lại cuộc đời công khai của Đức Giêsu, chúng ta có thể nhận ra tình yêu thương của Chúa dành cho con người, đặc biệt là những người nghèo khổ, người tội lỗi, người bất hạnh, người bị bỏ rơi hoặc bị loại trừ. Những con người này khi gặp được Chúa đều cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc. Họ đã gặp được một Đấng luôn quan tâm và yêu thương họ thật sự. Họ đã cảm và nếm được hương vị ngọt ngào của lòng Chúa xót thương. Chính Chúa Giêsu đã nên Tin Mừng, sự bình an và niềm hy vọng cho con người.

          Mở đầu hành trình truyền giáo, Chúa Giêsu vào hội đường của chính quê hương Ngài, công bố Tin Mừng và rao giảng cho quê hương của mình trước hết. Với những lời hay ý đẹp và được những người đồng hương tưởng thưởng, thán phục. Vẫn biết rằng sẽ có lúc những con người nơi quê hương đó đức tin của họ trở nên chai cứng và chống lại mình nhưng Chúa Giêsu vẫn dành cho họ tấm lòng ưu ái.

          Còn chúng ta thì sao? Mỗi người Kitô hữu đều có sứ mạng truyền giáo, sứ mạng này ta lãnh nhận khi chịu phép Rửa Tội, chúng ta đã thực thi sứ mệnh ấy như thế nào? Cuộc sống trong xã hội hiện đại, đó đây chung cư mọc lên, con người đang dần dần đô thị hóa các vùng miền, đưa cuộc sống của mình lên đỉnh văn minh. Nhưng chính trong bối cảnh hiện đại ấy, con người sống thu mình lại, nhà nào biết nhà nấy, hàng xóm cận kề bên nhau, chung một vách tường nhưng không biết tên nhau, không biết cuộc sống vui buồn của nhau và không bao giờ liên hệ với nhau.

          Chính vì thế, con người nhiều khi trở nên vô cảm trước những khó khăn, hoạn nạn của đồng loại mình. Cuộc sống hiện đại với những lo toan cơm, áo, gạo, tiền làm cho chúng ta mải mê với những cạnh tranh ngoài xã hội mà quên đi sứ mệnh của mình. Hôm nay Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về lòng khiêm tốn phục vụ cho những người cận kề bên mình. Có thể ngay trong gia đình mình, ngay nơi mình đang sinh sống, ngay căn hộ liền tường với nhà mình. Họ đang cần nơi chúng ta một nụ cười niềm nở, một lời hỏi thăm chân thành, một chính kiến chân thật.

          Làm chứng cho sự thật, cho Thiên Chúa, rao giảng cho Nước Trời được bắt đầu từ những việc làm đơn sơ đó. Biết đâu ngay trong gia đình mình, ta quên đi nỗi niềm trăn trở của người chồng, người vợ mình đang đeo mang, ta quên đi những khó khăn mà con cái mình đang gặp phải để rồi không có những lời động viên kịp thời. Chúa đang hiện diện nơi chính người thân của mình mà ta không nhớ để săn sóc, ủi an.

          Công việc truyền giáo phải được bắt đầu từ chính căn nhà của mình rồi tiếp nối đến cuộc sống xung quanh. Lời mời gọi của Chúa Giêsu vẫn tha thiết với mỗi người chúng ta : “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.”

Thứ Sáu Mùa Giáng Sinh 

1 Ga 5, 5-6. 8-13 (Hl 5-13); Lc 5, 12-16

LÒNG TRẮC ẨN

          Bối cảnh và luật pháp đối với người bệnh phong cùi vào thời Chúa Giêsu thật nặng nề. Những người mắc chứng bệnh phong lúc bấy giờ phải sống tách ly và biệt lập khỏi gia đình và xã hội. Họ phải để tóc và râu rối bời, áo quần rách rưới hôi hám để người sạch trông thấy mà xa tránh họ ra. Nặng nề hơn, quan niệm Do thái lúc bấy giờ, bệnh phong cùi là hình phạt rõ ràng của Thiên Chúa, nên họ không được phép đến thờ phượng Thiên Chúa trong đền thờ. Khi đi bất cứ nơi nào xin ăn, người phong cùi phải lắc chuông và hô to “Tame” nghĩa là dơ bẩn và cùi đây….Nếu họ vi phạm những luật pháp trên, họ có thể bị ném đá cho chết.

          Và câu chuyện Tin Mừng cho ta thấy Chúa Giêsu đang ở trong một thành kia, có một người toàn thân mắc bệnh phong đến, sấp mặt xuống đất, xin Người chữa anh ta lành. Sự lạ ở đây là người phong ở trong thành, một điều dường như không thể chấp nhận đối với trường hợp người mắc chứng bệnh được coi là nan y vào thời Đức Giêsu, nhất là với Luật của Do Thái Giáo; lẽ ra anh phải tránh xa thành phố, và đồng nghĩa là tránh xa những người khác, vừa đi vừa la lớn để mọi người tránh xa anh ta.

          Đó là một căn bệnh hiểm nghèo khiến bệnh nhân phải tách ly khỏi cộng đoàn, nếu không muốn nói là “bị khai trừ và kể như đã chết”. Dưới ngòi bút của thánh sử Luca, đối với người mắc bệnh phong, quyền năng của Đức Giêsu vượt trên cả luật lệ và sự chết kia. Anh sấp mặt xuống xin Chúa chữa lành; anh đã kêu xin đúng lòng thương xót của Chúa: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.”

          Lời cầu xin của người cùi nghe qua thật đơn giản, nhưng chất chứa một lòng tin vững vàng. Anh không xin được chữa lành bệnh mà xin được sạch, sạch về thể xác lẫn tâm hồn. Cái “không sạch” đã loại anh ra khỏi cộng đoàn nên điều anh thưa với Chúa cũng hàm ý xin ơn tha thứ tội lỗi đã phạm. Anh chủ động đến gặp và mở lời xin Chúa Giêsu chữa lành. Thái độ chủ động này nói lên lòng khao khát được sạch. Nhưng điều đáng nói ở đây là việc anh chuyển từ thế chủ động sang thế bị động khi đặt mình trước lòng thương xót của Chúa : “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn”.

          Khi đặt mình ở thế bị động anh đã tôn vinh quyền năng và lòng xót của Chúa vì “Ngài có thể”. Chính thái độ đặt để ý Chúa chi phối đời anh làm trái tim Chúa Giêsu rung lên, “Người chạnh lòng thương”. Đáp lại một niềm tin vững vàng và lòng phó thác tuyệt vời như thế, Chúa Giêsu đã “phá rào” khi “giơ tay đụng vào anh”. Cái đụng chạm thể xác chữa lành bệnh cùi bên ngoài, đồng thời cũng diễn đạt sự đụng chạm bên trong tâm hồn khiến tội của anh được tha thứ: “Tôi muốn, anh sạch đi”. 

          Và rồi ta thấy Tin Mừng kể lại chuyện người phong cùi dám liều lĩnh chạy theo nài xin Chúa Giêsu chữa cho mình được lành bệnh. Theo một nhà khảo cổ học Schurer, thì có một số hội đường chấp nhận cho những người bệnh phòng cùi có thể vào đó với một số điều kiện như đến lúc ban ngày trời nắng... hay qua khử trùng. Và như thế, người bệnh phong này sau khi đã cải trang, anh đã trà trộn, len lỏi vào giữa đám đông và đến quỳ sụp dưới chân Chúa để xin Chúa chữa cho mình. Hoàn toàn tin tưởng vào tình yêu thương quan tâm của Chúa Giê-su, vì thế anh ta không ép buộc nhưng hoàn toàn khiêm tốn để tùy thuộc vào quyết định của Chúa “nếu Ngài muốn xin cho con được lành sạch”.

          Với tấm lòng xót thương, nhậy cảm và đầy quyền năng của Chúa Giêsu trước tâm tình khiêm hạ và đức tin mãnh liệt tin tưởng của người bệnh phong…Và tất nhiên, Chúa Giêsu nói với anh cho anh: “Ta muốn, anh sạch đi!”…

          Đức Giêsu đã thể hiện lòng thương xót của Người, thể hiện quyền năng của Thiên Chúa yêu thương qua hành động chữa lành. Người giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.” Đức Giêsus đã thể hiện lòng thương xót vốn là đỉnh cao của tình thương, Người vượt qua tất cả mọi rào cản của những luật lệ, nguyên tắc, bởi lòng thương xót của Người cao hơn tất cả. Và chính việc chữa lành này, không những không làm cho Người nhiễm ô uế như luật lệ nói đến, nhưng lại chữa lành và làm cho người bệnh được trở lại với cộng đoàn của mình: Anh đã đi trình diện với tư tế, và dâng của lễ như ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết (Lv 14,1-32).

          Lời cầu xin của người cùi và phép lạ Chúa chữa lành bệnh cho anh mời gọi chúng ta hồi tâm suy nghĩ. Trước hết là suy nghĩ về lòng tin, sự phó thác của mỗi người chúng ta nơi Chúa. Tiếp đến là xét xem mình có đối xử với Chúa như một vị “thần đèn” chỉ để thoả mãn những lợi ích và nhu cầu của chúng ta không? Và cuối cùng, hồi tâm suy gẫm về cách thức chúng ta cầu xin như lời thánh Giacôbê nhắc nhở: “anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý” (Gc 4, 3). Chúa là Cha nhân lành tuôn đổ hồng ân xuống trên người lành lẫn kẻ dữ. Thế nhưng, cơn mưa ân sủng chỉ đọng lại nơi mảnh đất tâm hồn nào biết trũng xuống vì khiêm tốn và phó thác trước mặt Chúa. 

          Từ mẫu gương tuyệt vời về lòng thương xót của Chúa, người Ki-tô hữu chúng ta, nhất là với một tinh thần loan báo Tin Mừng giữa trần gian này, luôn được mời gọi để sống chứng tá Tin Mừng bằng một cách thức sống động và luôn được đổi mới. Loan báo Tin Mừng cách sống động vì hoạt động của chúng ta luôn được thôi thúc bởi nhu cầu và thao thức của con người; luôn mới, vì chúng ta được mời gọi có cái nhìn của lòng thương xót. Nếu như lề luật được đưa ra để giữ vững kỷ cương, nề nếp, đời sống Kitô hữu còn nhấn mạnh đến chiều kích thâm sâu hơn nữa của luật lệ, đó là lòng thương xót, một tấm lòng đầy trắc ẩn phát xuất từ cảm nghiệm Tin Mừng về Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta hơn cả chúng ta biết tha thứ và yêu thương nhau. 

 

Thứ Bảy Mùa Giáng Sinh 

 BÀI ĐỌC I: 1 Ga 5, 14-21; Ga 3, 22-30

BÀI HỌC KHIÊM TỐN CỦA GIOAN  

          Ta hãy để dành chút thời gian để nhìn lại con người Gioan Tiền Hô. Vào thời điềm này, thế giá của ông rất lớn. Mọi người đều nghe ông rao giảng và đi theo ông để được chịu phép rửa. Ngay cả vua Hêrôđê cũng thích nghe ông nói. Mọi người đều cho rằng ông là Đấng Mêsia, Đấng mà toàn dân Israel đang mong đợi. Trước những lợi thế đó, ông Gioan có thể tự nhận mình là người như dân nghĩ, và như thế ông sẽ ngày càng nổi tiếng hơn.

          Tuy vậy, ông đã không làm như thế. Ông đã không quên nghĩa vụ của mình, không quên vai trò của mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa mà thôi “chỉ là tiếng kêu trong hoang địa...” (Mt 3, 3), là người dọn đường cho Chúa đến. Chính vì thế, ngài sẵn sàng chịu bị lu mờ đi, sẵn sàng nhỏ bé lại để Chúa được lớn lên. Như vậy ông Gioan đã biết mình là ai nên đã hành động rất đúng đắn.

          “…Con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người.” Vâng, đúng vậy, lời tiên tri của ông Dacaria đã ứng nghiệm. Tin Mừng thánh Luca cho chúng ta biết: sứ vụ của Gioan Tẩy Giả được bắt đầu vào “năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tiberio…”. Nhiệm vụ của ngài là “rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”. Ông Gioan Tẩy Giả còn lớn tiếng nói: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi”

          Rất nhiều người đến với ông Gioan Tẩy Giả, trong đó có cả Đức Giêsu. Chính Đức Giêsu đã yêu cầu ông làm phép rửa cho mình.

          Sự khiêm tốn đích thật không phải là hạ mình xuống thấp hơn điều mình là, nhưng là sống đúng với điều mình là trong sự thật, đối với Đức Kitô và qua đó, với những người khác, trong đó các anh em, chị em và những người chúng ta được sai đến phục vụ. Và sự thật về thánh Gioan, và cũng là sự thật về chúng ta, đó là : Ngài không phải là Đức Kitô, nhưng là người được sai đi trước mặt Người.

          Và ta thấy một điều làm ta suy nghĩ đó là mỗi người chúng ta đã biết mình là ai chưa? đã nhìn nhận đúng địa vị của mình ở chỗ nào chưa? Nếu chúng ta biết vị trí thực sự của mình ở chỗ nào, thì chắc chắn chúng ta sẽ phải hành động đúng với địa vị của mình. Có nhiều người cố gắng để làm việc này việc kia để được nổi tiếng, coi mình là nhất và quan trọng.

          Qua đó, họ muốn mọi người phải quy phục, phải tôn vinh mình. Đây chính là một sự cám dỗ rất lớn đối với mỗi người chúng ta. Chúng ta nhớ rằng, chúng ta chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa mà thôi. Do đó, chúng ta cố gắng làm tốt mọi sự là để tôn vinh Chúa, để vinh quang Chúa được thể hiện, chứ không phải là làm cho mình được vinh quang. Chính vì thế, mỗi người hãy khiêm tốn thưa với Chúa rằng: “Này con xin đến để thực thi ý Ngài”.

          Một kinh nghiệm nữa mà chúng ta rút ra được từ Tin Mừng ngày hôm nay là tình huynh đệ giữa chúng ta với nhau.  Với bản tính yếu đuối, ích kỷ của cái tôi, chúng ta dễ bị cám dỗ ghen tỵ với người anh em mình, khi người anh em mình thành công hơn mình.

          Đứng trước sự đố kỵ đó, chúng ta thường tìm cách hạ bệ người anh em đó bằng cách này hay cách khác, để mình hơn người đó. Đây là một điều không hay, và càng không hay hơn nữa khi chúng ta là một kitô hữu. Chúa trao cho mỗi người một khả năng khác nhau. Vì thế, khi thấy người anh em mình hơn mình thì thay vì ghen tỵ, chúng ta động viên người anh em đó cố gắng phát huy, và cùng nhau làm danh Chúa được tỏ hiện. Chúng ta làm tất cả mọi sự là vì Chúa.

          Ảnh hưởng của Chúa Giêsu càng lớn, thì vai trò của Gioan càng lu mờ. Ba Tin Mừng Nhất lãm đã làm nổi bật sự kiện ấy khi đặt sứ vụ công khai của Chúa Giêsu chấm dứt vai trò của Gioan Tẩy Giả.

          Gioan đã diễn tả vai trò tiền hô của mình qua câu nói bất hủ: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”. Thay vì ghen tức, buồn phiền, Gioan đã vui mừng đóng trọn vai phụ của mình. Như một quản trò trong tiệc cưới, Gioan đã khơi dậy niềm vui và hướng mọi người đến với Tan Lang là Đức Kitô.

          Ngày nay, người Kitô hữu cũng tiếp tục vai trò của Gioan Tẩy Giả. Phương châm hành động của họ là: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”. Nhỏ lại trong những khuynh hướng xấu lôi kéo chúng ta vào tội lỗi, nhỏ lại trong những đam mê, ích kỷ của chúng ta, để nhờ đó Chúa Kitô đước lớn lên trong chúng ta.

          Dưới cái nhìn của con người, như có lần Chúa Giêsu đã khen tặng, Gioan là con người cao cả nhất được sinh ra từ người nữ. Ngày sinh của ngài được đánh dấu bằng những biến cố khác thường. Sự chào đời của ngài đã mang lại niềm vui và hy vọng cho mọi người xung quanh. Vị Ngôn Sứ được xem là cao cả nhất trong lịch sử Israel ấy đã lôi kéo được một đám đông mà chưa từng có vị nào trước ngài đã quy tụ được… Thế nhưng, cuối cùng, để hoàn tất sứ mệnh của mình, con người ấy đã nhỏ lại và mất hẳn trong kiếp tù đày và chấp nhận bị chém đầu.

          Gioan nhỏ lại trong cái chết, nhưng Chúa Giê-su lớn lên trong mầu nhiệm của Ngài, bởi vì cái chết của Gioan là một loan báo về cái chết của Chúa Giê-su… Nhưng cũng trong cái chết của Chúa Giê-su, cái chết của Gio-an mới có ý nghĩa… Trong bóng thập giá của Chúa Giê-su, Gioan đã tìm lại được chính mình.

          Tin Mừng hôm nay tập trung vào việc mạc khải diệu kỳ của tên Gioan và biến cố cắt bì đặt tên, hơn là biến cố chào đời của ông Gioan Tẩy Giả. “Yôhannan” (Gioan) có nghĩa là: “Đức Chúa tỏ lòng nhân hậu”; “Đức Chúa tỏ lòng xót thương”; “Đức Chúa ban ơn”. Ngang qua cuộc đời của Thánh Gioan Tẩy Giả, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết Ngài là Đấng từ bi nhân hậu và giàu lòng xót thương. Thiên Chúa đã, đang và sẽ thi thố quyền năng của Ngài cho mọi người chúng ta.    

          Ta, ngôn sứ của Chúa hôm nay, không cần phải làm những chuyện  to tát, kỳ vĩ như Thánh Gioan Tẩy Giả đã làm khi xưa, nhưng, chỉ cần: “rao giảng bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa để giúp họ nhận biết và tin yêu Chúa nhờ gương sống đức tin của mình”.

          Nhìn đời sống của thánh Gioan Tẩy Giả, chợt nhận ra rằng mình đã nhiều lần nhiều lúc đi tìm mình, đánh bóng mình mà quên rằng điều căn cốt là đi tìm Thiên Chúa cũng như giới thiệu Đấng Cứu Độ trần gian cho anh chị em đồng loại. Sống như thế, mới cầu mong được một chỗ nơi mà Thánh Gioan Tẩy Giả cũng như nhiều vị thánh khá đang sống trong cung lòng Thiên Chúa.

          Nguyện cho ánh sáng và sức sống của Đức Kitô tràn ngập tâm hồn và cuộc sống chúng ta, để chúng ta đạt tới tầm mức viên mãn của chính Ngài.

 

 

hm January 15, 2019