suy niệm mùa chay của Huệ Minh 2016-19

by Huệ Minh

 

10/03/2019

Chúa Nhật Tuần I Mùa Chay 

Đnl 26, 4-10; Rm 10, 8-13; Lc 4, 1-13

HỌC NƠI CHÚA GIÊSU ĐỂ TRÁNH CƠN CÁM DỖ

          Cám dỗ là chuyện xưa như trái đất. Từ khi có con người, đã có cám dỗ. Hẳn ta không thể quên chuyện hai ông bà nguyên tổ sa chước cám dỗ của ma quỷ. Dân Do Thái, khi bị nô lệ dưới ách người Ai cập thì muốn được tự do. Nhưng khi lang thang 40 năm trong sa mạc, phải chịu đói khát, lại bị cám dỗ quay trở lại Ai cập để được no ấm. Nhưng có thể nói, 3 cơn cám dỗ mà Đức Giêsu phải đương đầu hôm nay gồm tóm tất cả mọi thứ cám dỗ mà ta thường gặp.

          Qua trình thuật Chúa Giêsu bị cám dỗ trong sa mạc (Lc 4,1-13) thánh sử Luca muốn cho chúng ta thấy Chúa Giêsu khai mào một cuộc xuất hành mới là giải phóng loài người khỏi ách thống trị của Satan, của sự dữ, của tội lỗi, các chước cám dỗ của chúng, và cái chết như là hậu quả cay đắng cuối cùng của vòng xích oan nghiệp ấy.

          Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ, vì Người muốn chia sẻ trọn vẹn kiếp người, Người muốn nên đồng số phận với con người, và Người đã thắng cơn cám dỗ để nêu gương cho con người.

          Cám dỗ thứ nhất là cám dỗ về cái đói. Cơn cám dỗ về manna (Xh 16) mà dân Chúa đã bị thử thách trong hoang địa. Đó cũng là thử thách từng ngày của mỗi người chúng ta. Nếu chúng ta chỉ tìm thỏa mãn những khao khát của thể xác, những nỗi thèm thuồng vật chất đang cào cấu trong ta, thì chúng ta đã thất bại ngay trong cơn cám dỗ đầu tiên. "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh" (Lc 4,4). Vâng, con người còn có những giá trị cao quý khác cần phát huy, đừng hạ thấp mình xuống mức độ sơ đẳng nhất của: cơm, áo, gạo, tiền.

          Cám dỗ thứ hai là cám dỗ về quyền hành thế gian. Cám dỗ thờ ngẫu tượng, bò vàng (Xh 32,42) của dân Israel nơi hoang địa. Không chỉ hôm nay mà rất nhiều lần trong cuộc đời, Chúa Giêsu đã bị cám dỗ này tấn công. Dân chúng luôn kéo Người vào cơn cám dỗ trở nên một Đấng Cứu Thế mang tính chính trị, một vị vua trần gian đầy quyền lực vinh quang. Nhưng Người đã nhất mực khước từ. Người muốn trở nên "tôi tớ" của Thiên Chúa (Ga 13,1-20). Cơn cám dỗ về quyền hành cũng là cơn cám dỗ của tất cả mọi người. Ai trong chúng ta cũng muốn thống trị kẻ khác, muốn áp đặt ý kiến của mình trên anh em.

          Đây cũng là cơn cám dỗ về sự nghi ngờ Thiên Chúa. Vì Người thường hay vắng mặt, nên chúng ta dễ chạy theo những vị thần giả hiệu, chúng có tên là của cải, sắc đẹp, kiến thức, tài năng... Chúa Giêsu nhắc cho chúng ta lời Kinh Thánh: "Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người" (Lc 4,8).

          Cám dỗ thứ ba là cám dỗ đòi kiểm chứng, đòi xem những dấu lạ điềm thiêng (Xh 17), đòi thấy những cú nhẩy đẹp mắt, những pha ngoạn mục: Đó là cơn cám dỗ trên nóc đền thờ Giêrusalem. Cũng chính nơi đây, Đức Giêsu sẽ chịu một cơn thử thách hết sức nặng nề: đó là cơn cám dỗ muốn thoát cái chết: "Nếu có thể được, xin tha cho con khỏi uống chén này" (Lc 22,42). Dường như Chúa Cha "đã bỏ rơi" Người. Cuối cùng thì Chúa Giêsu đã không dùng quyền năng của mình để trốn tránh thân phận con người phải chết. Người đã từ chối nhẩy một cú đẹp mắt, cũng không xuống khỏi thập giá một cách ngoạn mục. Người tin tưởng vào tình yêu của Cha, Người tuyệt đối trung thành và trọn vẹn vâng theo ý Cha.

          Ma quỷ có rất nhiều mưu mô xảo kế, khi cám dỗ người nào, chúng vận dụng hết mọi thủ đoạn để hạ gục người đó. Vì thế, khi cám dỗ Chúa Giêsu, ma quỷ đã dùng chính Lời Thiên Chúa để dụ dỗ Người, nhưng Chúa Giêsu không rơi vào bẫy của ma quỷ. Trái lại, Ngài cũng đã dùng Lời của Thiên Chúa để cho ma quỷ phải bẽ mặt và bỏ đi.

          Cám dỗ của ma quỷ hiểm độc vì nó tiến từng bước: Từ hạ thấp phẩm giá con người khi khiến con người làm nô lệ cho dục vọng đến cướp mất tự do của con người khi xúi giục con người nô lệ cho ma quỷ. Và sau cùng đi đến chỗ tận cùng là chối bỏ Thiên Chúa, không coi Thiên Chúa là cha. Cám dỗ càng hiểm độc vì ma quỷ đã khéo léo học những âm mưu thâm hiểm trong lớp vỏ nhung lụa, êm ái, hợp lý và đầy quyến rũ của những nhu cầu, quyền lực và uy tín.

          Trong suốt sứ vụ của Người, Chúa Giêsu đã khước từ việc ban cho dân chúng những kiểu dấu lạ, ngay cả khi người ta ép buộc Người phải làm như vậy. Những loại dấu lạ này không có ích lợi gì cả, không đòi hỏi điều gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta, mà chỉ hạ thập giá trị của lòng tin. Lòng tin không phải là ma thuật. Sự thánh thiện không hệ tại ở việc cố gắng ép buộc Thiên Chúa phải làm theo ý muốn của chúng ta, nhưng là nỗ lực bắt buộc chính bản thân mình phải làm theo thánh ý Thiên Chúa.

          Các chước cám dỗ là đòn tấn công trên tất cả những yếu tố cơ bản đối với sứ vụ của Chúa Giêsu. Vâng, Người đến để thiết lập một vương quốc, nhưng không phải là loại vương quốc mà Satan đề nghị. Và Người đã khước từ chước cám dỗ đạt được vương quốc bằng phương tiện trần thế.

          Dưới sức nặng và sự lôi kéo của sự dữ, mỗi người chúng ta đều phải trải qua kinh nghiệm của thánh Phaolo: "việc thiện tôi muốn thì tôi lại không làm. Điều ác tôi không muốn nhưng tôi lại làm. Ở khởi đầu mùa chay, khi cho ta chiêm ngắm Chúa Giêsu chiến thắngị ma quỷ cám dỗ, Giáo hội mời gọi chúng ta ý thức về thân phận tội lỗi của mình và sức mạnh của sự dữ luôn rình rập để lôi kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa, đi trong tối tăm của đam mê lầm lạc. Ý thức thân phận yếu hèn để ta luôn biết trông cậy vào ơn Chúa giúp chúng ta vượt qua thử thách của đam mê danh lợi thú. Đồng thời, biết theo gương Chúa, chúng ta hãy tỉnh thức trong từng giờ từng phút, trong từng biến cố buồn vui của cuộc sống, luôn biết chọn lựa giá trị vĩnh cửu hơn là những giá trị mong manh của đời này. Hãy chọn Chúa và thợ phượng Chúa hơn là chọn danh lợi thú và làm nô lệ cho những đam mê thấp hèn.

          Chúa Giêsu nêu gương giúp chúng ta có được thái độ vững vàng khi phải chiến đấu với mưu chước ma quỷ. Là những người sống lăn lộn giữa lòng đời, chúng ta thường xuyên phải đối phó với những cám dỗ của ma quỷ. Chúng thường tập trung vào ba lãnh vực: quyền lợi vật chất, tham vọng thống trị và nhu cầu tình cảm. Mưu mô xảo kế của satan thì thiên hình vạn trạng. Xã hội văn minh phát triển thì các cơn cám dỗ của satan phát triển theo. Chúng mặc đủ mọi hình thức, khi thì dịu dàng mời mọc, khi thì đe dọa hung hãn. Chúng thường tạo cho chúng ta cảm giác hợp lý, được phép khi đưa ra những lập luận có vẻ vô hại. Nhất là trong thời đại hôm nay, khi lợi thú cá nhân được đề cao quá mức và nhu cầu hưởng thụ của con người được kích thích đến mức tối đa. Cái bụng, cái đầu và con tim của chúng ta luôn luôn phải đối mặt với những lời rỉ tai hay những cuộc biểu dương ồ ạt của sự dữ.

          Chúa Giêsu đã phải chiến đấu với ma qủy, với chính khuynh chiều thân xác của con người. Và Ngài đã thắng, Ngài chấp nhận chương trình Thiên Chúa về con người, Ngài chấp nhận luật lệ tự nhiên Thiên Chúa đã xếp đặt, Ngài không biến đá thành bánh, Ngài tôn trọng tự do của con người, Ngài không thách thức Thiên Chúa và đòi Thiên Chúa làm theo ý riêng mình. 

          Ngày nay, những cơn cám dỗ của ma quỷ vẫn như những chiếc bẫy giăng ra để trói buộc con người trong vòng nô lệ. Cám dỗ càng ngày càng tinh vi và càng ngọt ngào hơn nên càng hiểm độc hơn. Muốn chống trả được những cơn cám dỗ, ta phải bắt chước Đức Giêsu dùng những vũ khí sắc bén, đó là ăn chay cầu nguyện, thấm nhuần Lời Chúa và luôn sống tâm tình của người con thảo đối với Chúa.

Huệ Minh 2019

 

11/03/2019

Thứ Hai Tuần I Mùa Chay 

 Lv 19, 1-2. 11-18; Mt 25, 31-46

CUỘC PHÁN XÉT TÌNH YÊU

          Cuộc phán xét tình yêu, đưa chúng ta trở về với thực tại chân đặt trên đất, đầu ngẩng lên nghe Chúa Kitô phán xét. Vương triều của Chúa Kitô rất khác với chuyên quyền trần thế, bởi tình yêu là tiếng nói cuối cùng còn tồn tại.

          Chúa Giêsu cho chúng ta thấy ý nghĩa của vương quốc hay quyền lực là để phục vụ người khác. Người khẳng định rằng Người là Chúa, là Thầy (Ga 13,13), và là Vua (Ga 18, 37), nhưng Người đã thi hành chức năng Thầy của mình bằng cách rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,4 ), và trao ban mạng sống mình. Chúa là Vua cai trị bằng sự khiêm nhường nằm trong máng cỏ và bước lên ngai vàng là Cây Thập Giá.

          Trên Thánh Giá có một bảng chữ viết rằng : "Giêsu Nagiarét, Vua dân Do Thái" (Ga 19, 19), cái bên ngoài khẳng định mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa, vì Chúa Giêsu cai trị trên cây Thánh Giá và phán xét chúng ta bằng tình yêu, như thánh Gioan Thánh Giá đã nói:  "Anh chị em sẽ bị xét xử về tình Yêu".

          Với trang Tin Mừng hômnay, ta thấy Câu 31 mở đầu việc ngự đến trong vinh quang của Con Người có các Thiên Thần theo sau hầu hạ. Trước mặt Con Người là một đám đông hỗn độn gồm cả chiên lẫn dê. Và chính Con Người sẽ là người phân xử, tách biệt và lựa chọn: chiên ở bên này và bên kia là dê. Ở câu 32, tác giả đã nêu lên sứ vụ mục tử của Con Người. Người hiểu rõ và biết được sự khác nhau giữa chiên và dê. Đây là lúc vị mục tử sẽ phân loại bầy chiên dê hỗn tạp này, trong uy quyền và công bằng trong xét xử. Tiêu chuẩn của việc phân loại dựa trên lòng yêu mến của thần dân đối với Vua là cách đối xử của họ với anh em mình (c.40 và 45). Phần thưởng hay hình phạt đều dựa trên cách đối xử ấy.

             Mở đầu lời nói mà Đức Vua dành cho những người thuộc bầy chiên mà Người chăn dắt rằng: “Những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từthuở tạo thiên lập địa (c. 34). Cách xưng hô của Đức Vua đủ cho chúng ta biết những người bên phải là người được Chúa Cha tuyển chọn và yêu thương. Họ được chúc phúc “ vì  xưa Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm. (c. 35-36). Đức Vua kể hàng loạt việc tốt, việc lành mà họ đã cư xử với những người anh em đồng loại mà được Ngài kể như là làm cho chính Ngài “ mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”

           (c.40). Chính Ngài xác định người anh em bé nhỏ là hiện thân của Ngài trên trần gian. “ Người anh em bé nhỏ” mà chúng ta thấy Chúa nêu lên là: Người đói khát, người không có áo mặc, người không có nơi trú chân, người đau bệnh và người bị tù đày. Họ thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội, bị xã hội khinh khi, ruồng bỏ... Chính Chúa ở trong họ. Chính Chúa cần đến sự giúp đỡ, ân cần của chúng ta khi họ bị đói khát, bị bỏ rơi, bị xem thường. Chính Chúa cần chúng ta khi họ lang thang trên vỉa hè, đường phố trong những đêm giá lạnh, cô đơn. Chính Chúa cần đến chúng ta khi họ đang phải chống trả với những căn bệnh thời đại, bất trị. Chính Chúa cần chúng ta khi họ bị quên lãng trong chốn tù đày, bị xã hội gắn cho một cái mác “ đi tù về...” và họ sống trong mặc cảm không sao vươn lên để làm lại cuộc đời.

          Từ câu 41-45, Thánh sử cũng chỉ lập lại những sự kiện, những câu hỏi đối đáp như trên, nhưng tình thế lật ngược 1800  chỉ vì cách cư xử khác biệt của “ những kẻ bên trái”. Danh từ những người được chúc phúc , được chuyển thành “quân bị nguyền rủa” và nơi chốn cũng thay đổi từ “ Vương quốc dọn sẵn” nay trở thành “chốn lửa đời đời, nơi dành cho Ác Quỷ và đồng bọn”.

          Dụ ngôn kết thúc trong câu 46 đủ nói lên “cõi đi về” của mỗi người tuỳ theo cách họ cư xử với anh em đồng loại khi còn sống. Suốt dụ ngôn, chúng ta không hề thấy một lời van xin hay một cử chỉ thương xót. Lúc này chỉ còn  sự công bằng, thưởng phạt mà thôi.

          Chúa phán xét đến lòng thương xót đối với người nghèo. Chúng ta có giúp đỡ khi họ cần đến chúng ta chăng? Dụ ngôn người Samaritanô là một cách phán xét. Chúa sẽ phán xét thái độ biết tha thứ hay không: Kinh Lạy Cha và dụ ngôn hai người mắc nợ.

          Chúa sẽ phán xét về thái độ đối với Ngài như thái độ đơn sơ của trẻ nhỏ, về lòng thống hối, nhất là về đức tin. Thánh Gioan và thánh Phaolô nhấn mạnh ngày phán xét là lúc quyết định tin hay không tin và là lúc Chúa phán xét chúng ta về thái độ đối với Lời Chúa.

          “Mỗi lần các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (c. 40). Ngài gọi những người khốn cùng trong xã hội là anh em nhỏ nhất của Ngài. Làm cho họ là làm cho chính Ngài, chối từ họ là chối từ chính Ngài. Chúng ta sẽ bị xét xử vào ngày tận thế dựa trên tình yêu. Hôm nay ta có thể gặp Đức Giêsu ở nhà thương, nhà tù, nơi trại tị nạn, nơi gần một tỷ người bị đói trên thế giới, nơi bao người thiếu nước sạch để dùng.Hãy kính trọng trao cho Ngài những gì mình đã chắt chiu.

Mỗi người sẽ được xét xử theo việc làm nghĩa là phải trả lẽ về những ơn mình đã nhận lãnh, chúng ta đã nhận mười nén bạc của Thiên Chúa ban như thế nào; Nén bạc đây hiểu là tất cả được gì? chúng ta là người và được làm con Chúa... Chúng ta sẽ được xét xử từ sự sinh thành cho đến của ăn, khả năng, thời gian, sức khỏe, tiền bạc... những biến cố, niềm vui nỗi buồn ở đời.

          Thánh Phaolô cũng cho chúng ta thấy một tiêu chuẩn phán xét về việc làm. Vì chưng chúng ta sẽ phải xuất đầu lộ diện trước tòa Đức Kitô, để mỗi người lĩnh lấy thành quả đời mình trong thân xác xứng với các việc làm, việc lành hoặc dữ. Biết luật chưa đủ mà phải giữ luật, đức tin không việc làm là đức tin chết. Đức tin phải minh chứng bằng việc làm: “Ai gieo thứ gì thì gặt thứ ấy” (Gl 16, 6).

          Dụ ngôn về “cuộc phán xét chung” là một trong chuỗi dụ ngôn có nội dung nói lên cách thức chuẩn bị biến cố cánh chung như thế nào và sự tỉnh thức Chúa đòi hỏi mỗi người để rồi chúng ta tự do để đáp trả lời phán xét của Chúa. Xin cho mỗi người chúng ta trong cuộc sống hiện tại hãy gieo yêu thương để chúng ta được đứng vào hàng ngũ bên phải của Chúa như những con chiên ngoan hiền.

 

 

Chúa Nhật Tuần I Mùa Chay Năm C

 Ngày 14 tháng hai

Đnl 26, 4-10; Rm 10, 8-13;  Lc 4, 1-13

 

KẾT HỢP VỚI THÁNH THẦN ĐỂ THẮNG CÁM DỖ

 

 

Ngày hôm nay ta bắt gặp hình ảnh Chúa Giêsu bị cám dỗ trong sa mạc (4,1-13). 

Việc đầu tiên Chúa Giêsu làm trước khi thực thi Sứ Mạng Cứu Thế đó là Chúa Gêsu được Thánh Thần đưa vào hoang địa để cầu nguyện và ăn chay 40 đêm ngày và chịu cuộc thử thách, đó là chịu ma quỷ hiện đến cám dỗ đủ cách. Chắc có người tự hỏi: Có lẽ nào Satan lại dám cả gan đến cám dỗ Chúa như thế! Xin thưa: Thứ nhất: Lúc đó quỷ chưa biết rõ Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa giáng phàm, vì Ngài giống hệt như mọi người khác, thứ đến, suốt 30 năm Ngài không làm phép lạ, cũng không tỏ lộ quyền phép đặc biệt nào, nên Satan không hiểu được một Vị Thiên Chúa lại có thể sống ẩn dật với hình hài giống hệt như bất cứ phàm nhân nào khác, nên nó mới dám đến cám dỗ Người như thế! 

Qua trình thuật khỏi đầu sứ vụ Cứu Thế này, thánh Luca muốn cho chúng ta thấy Chúa khai mở một cuộc xuất hành mới để giải phóng loài người khỏi ách thống trị của Satan, của sự dữ. Từ chối các chước cám dỗ của chúng ta và cái chết như là hậu quả đắng cay của vòng xích oan nghiệt ấy. 

So sánh với trình thuật Tin Mừng theo thánh Matthêu, ta thấy trình thuật của thánh Luca có 3 đặc điểm sau đây: 

Trước tiên là vai trò của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời Chúa Giêsu. 

Ắt hẳn ta còn nhớ tất cả mọi thời điểm quan trọng trong thời Chúa Giêsu đều được ghi dấu bằng sự hiện diện của Chúa Thánh Thần. Dù làm gì, dù ăn dù ngủ, Chúa Giêsu luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Thánh Thần. 

Với thánh sử, trong kinh nghiệm Phục sinh và lịch sử của Giáo Hội, Chúa Thánh Thần không phải là một sức mạnh như diễn tả trong Kinh Thánh Cựu Ước mà là một bản vị, là Ðấng hướng dẫn cuộc đời chúng ta vào hành động trong lòng thế giới. Chính Ngài đã dẫn đưa Chúa Giêsu vào sa mạc và trợ lực Chúa Giêsu trong cơn thử thách. 

Trong sa mạc, Chúa Giêsu đã bị cám dỗ từ bỏ con đường chông gai Thiên Chúa đã vạch ra để đi theo một số con đường khác hấp dẫn ngoạn mục hơn và dễ dãi hơn. Chúa Giêsu phải chọn con đường nào đây? Dùng quyền năng cứu thế để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và hiện sinh, biến đá sỏi thành bánh mà ăn chứ không cần phải lao nhọc vất vả, hay sống theo luật công bằng hoặc tinh thần liên đới chia sẻ làm việc, hay là dùng các phép lạ lôi kéo các tín đồ cho nó mau và khỏe chứ tội gì mà phải khó nhọc rao giảng, gieo vãi hạt giống nơi tâm lòng con người. Và thôi thúc họ đối chiếu cuộc sống hằng ngày với giáo huấn sự thật làm gì? Hoặc là dùng bạo lực và các thế lực vật chất, tinh thần để lôi kéo môn đệ và tín đồ v.v... 

Có quá nhiều cám dỗ đặt ra trước mặt Chúa Giêsu, nhưng rồi ta thấy Chúa Giêsu đã chọn con đường khổ đau. 

Với thánh Luca, chiến thắng của Chúa Giêsu trên các chước cám dỗ trước ngày công khai loan báo Tin Mừng Nước Trời, báo cho biết chiến thắng sau cùng của Chúa Giêsu khi bị chết treo trên thập giá. 

Ðặc biệt thứ hai là vai trò quan trọng của thành Giêrusalem. Toàn Phúc Âm thánh Luca trình bày cuộc đời Chúa Giêsu như là một hành trình tiến về Giêrusalem, nơi Chúa Giêsu sẽ thực hiện công cuộc cứu độ trần gian, qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Ngài. 

Vì vậy, thánh Luca đặt cám dỗ thứ ba trong bối cảnh thành Giêrusalem nơi ơn cứu độ được thành toàn. Do đó không chướng ngại nào kể cả ma quỉ được phép cản trở hành trình ấy của Chúa Giêsu. 

Sau cùng của cám dỗ đó là hình ảnh sa mạc. Trong sa mạc của cuộc xuất hành xưa kia, dân Do Thái đã lẩm bẩm kêu trách Thiên Chúa. Họ đã ngã quỵ trước cám dỗ và khước từ Thiên Chúa là Ðấng giải phóng mình. Lẩm bẩm là từ ngữ Kinh Thánh dùng để diễn tả thái độ chống lại Thiên Chúa, phản đối Ngài, muốn gợi ý cho Thiên Chúa phải làm thế nào để giải phóng mình trong sa mạc. Chúa đã không nhượng bộ mà nghe lời ma quỉ cám dỗ và theo cách thế nó đề nghị để thực hiện công trình cứu thế. Mặc dù đói khát và khổ sở, Chúa Giêsu vẫn luôn kiên vững và tin vào tình yêu thương quan phòng ấp ủ của Thiên Chúa. Ngài không yêu sách, dù không trông thấy các dấu chỉ của tình yêu thương quan phòng và ấp ủ đó diễn tả bằng giàu sang, chức quyền và thành công trong đời. 

          ”Nếu ông là Con Thiên Chúa”: đó là câu nói vừa thăm dò vừa khiêu khích. Ma quỷ đang mò mẫm tìm xem điều mình nghi ngờ có đúng không. 

Thật vậy, ma quỷ muốn biết chính xác: Con Người khác thường đã ăn chay 40 ngày đêm trong hoang địa này có phải là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người không? Và để kiểm chứng, Ma Quỷ dùng mưu thuật. ”Suy bụng ta ra bụng người”, tục ngữ Việt Nam nói thế và sự thật cũng đúng như vậy, ít ra trong trường hợp của tên Quỷ đang tìm cách cám dỗ Đức Chúa Giêsu đây. 

Vốn đầy tràn kiêu căng, không muốn tuân phục, nhưng ưa thích khoe khoang, Ma Quỷ nghĩ rằng có lẽ ”Vị Khác Thường” này cũng giống như hắn. Tên Quỷ tự nhủ: ”Nếu Ông ta là Con Thiên Chúa” hẳn Ông ta sẽ vỗ ngực nhận ngay tức khắc và sẽ vung tay làm phép lạ ra oai, vừa có bánh để ăn vừa để minh chứng ta đây là Con Thiên Chúa ! Nào ngờ, tên Quỷ bị đánh bại liền. Đức Chúa Giêsu đáp: ”Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng Lời Chúa nữa!” 

Ma quỷ là loài xảo trá, là con rắn độc. Rắn thuộc loài bò sát không chân. Do đó, rắn không gây tiếng động, nên dễ dàng chộp bắt con mồi. Ma quỷ cũng thế. Để cám dỗ loài người đi theo đường tà vạy, Ma quỷ thường nhẹ nhàng êm ái lẻn vào lòng, vuốt ve phần hạ cấp nhất của con người. “Có thực mới vực được đạo”, người ta nói thế và Ma quỷ có lẽ cũng đồng ý như vậy. Ma quỷ luôn luôn bắt đầu tấn công nơi cái điểm yếu nhất của con người. 

“Khi quỷ đã thử thách Chúa đủ cách, nó rút lui để chờ dịp khác” (Lc 4:13) . Sau khi Satan bị thua trong mọi cơn cám dỗ, nó xấu hổ, bẽ bàng rút êm để chờ dịp khác! Nó thua keo này, nhưng nó sẽ chờ keo khác, chỉ khi nào chúng ta thở hơi cuối cùng thì chúng mới ngưng hẳn cám dỗ chúng ta ! 

Tin Mừng nói rõ Satan là cha sự dối trá, gian manh, quỷ quyệt, là đầu “quyền lực bóng tối” (Lc 22:53), là hoàng tử của thế giới huỷdiệt và chắc chắn “Chúng sẽ trở lại” (Jo 14:30). Vì thế, chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu cẩn thận đề phòng và quyết liệt chống trả mọi mưu chước thâm hiểm của chúng bằng Lời Kinh Thánh, bằng chuyên tâm cầu nguyện, sống thân thiết với Thiên Chúa, để múc lấy Thần Lực để có thể chiến thắng thần dữ. 

Và để chống lại mọi mưu thâm chước độc của tà thần, chúng ta có mẫu gương chiến thắng của Đức Chúa Giêsu Kitô trong trình thuật Tin Mừng hôm nay. 

Ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu, với tất cả sự khiêm tốn và đặc biệt là niềm tin để rồi có Chúa Thánh Thần cùng đồng hành, Ngài đã vượt qua cám dỗ. Ta cũng hãy xin Chúa Thánh Thần đồng hành với ta trên mọi nẻo đường đời để ta thấy cuộc đời của ta ngày mỗi ngày kết hiệp mật thiết với Chúa hơn và không có cám dỗ nào có thể khuất phục ta được.

 

 

Thứ Ba Tuần I Mùa Chay

 Is 55, 10-11; Mt 6, 7-15

LỜI KINH TUYỆT HẢO

          Trong các trình thuật Tin Mừng và cả cuộc đời Chúa Giêsu, ta thấy Chúa Giêsu luôn nêu gương mẫu cầu nguyện. Ngài xa tránh đám đông dân chúng để cầu nguyện. Chúa cầu nguyện mỗi khi có chuyện gì quan trọng, chẳng hạn trước khi lựa chọn các môn đệ, trước khi lập Bí tích Thánh Thể. Chúa cầu nguyện ở vườn cây dầu. Chúa cầu nguyện với Thiên Chúa Cha. Chúa cầu nguyện cho các môn đệ của Chúa.

          Nhiều lần nhiều lúc ta thấy Chúa nói cần phải cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Chúa đã đề ra những cách thức phải cầu nguyện làm sao: cầu nguyện nơi kín đáo, cầu nguyện khiêm nhường, cầu nguyện với lòng tin, cầu nguyện chung nhau hai ba người họp lại. Bài Tin Mừng hôm nay còn cho chúng ta một điểm nữa khi cầu nguyện là “chớ có lải nhải nhiều lời như dân ngoại.” Sở dĩ Chúa đưa ví dụ này ra là vì các thầy Biệt phái đã làm sai mục đích việc cầu nguyện, và họ gán cho việc cầu nguyện có một giá trị như cái máy, hễ đọc lên là được ơn, không kể gì đến nội tâm cõi lòng. Nhưng Chúa nhấn mạnh đến tâm hồn.

          Kinh Lạy Cha là một kinh quan trọng đối với đời sống người Kitô hữu, vì đó là kinh do chính Chúa Giêsu đặt ra, là kinh được Giáo Hội đọc nhiều hơn cả trong các cử hành phụng vụ và các cử hành khác, là kinh tóm gọn tất cả những gì phải làm trong khi cầu nguyện.

          Cầu nguyện nói lên một mối tương giao giữa Thiên Chúa và con cái Ngài, cho nên không phải xin xỏ mới là cầu nguyện hay mới là tương giao với Chúa. Một đứa con trong gia đình, dù không xin gì nhưng vẫn có một tình nghĩa đậm đà, và cha mẹ vẫn chuẩn bị những thứ cần cho tương lai của chúng. Thiên Chúa Cha trên trời há lại không hơn thế ư? Một vị thánh đã nói, khi thấy chúng ta cần điều gì thì chính Thiên Chúa làm chúng ta cảm động nhớ tới điều đó. Như vậy thì việc chúng ta cầu nguyện lại bắt đầu từ chính Thiên Chúa chứ không từ chúng ta đâu.

          Vậy thì đối với cầu nguyện vắn hay dài không phải là vấn đề. Quan trọng là ở chỗ đối tượng của việc cầu nguyện. Cầu nguyện với ai? Nếu như chúng ta cầu nguyện với một cái xác chết vô tri vô giác thì chúng ta không thể được trả lời, dù thời gian có cả năm cũng chẳng ích lợi gì. Vậy đối tượng của lời cầu xin phải là chính Thiên Chúa toàn năng hằng sống vĩnh cửu...

          Chúng ta cần cầu nguyện với Chúa Cha để sống và hoạt động tông đồ đắc lực, khi cầu nguyện như thế, chúng ta cậy nhờ Chúa Giêsu và nhờ chính lời cầu nguyện của Ngài. Có một điểm Chúa Giêsu căn dặn là trong khi cầu nguyện đừng có thái độ thuyết phục Thiên Chúa theo ý muốn của mình bằng những lời khéo léo dài dòng như những người ngoại giáo đối với các thần minh của họ. Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng làm như thế, bởi vì "Cha các con đã biết rõ các con cần gì, trước khi các con cầu xin". Nói khác đi, khi cầu nguyện, chúng ta chỉ cần đơn sơ khiêm tốn nhìn nhận mình hèn mọn thiếu thốn, vạch rõ con người của chúng ta trước mặt Thiên Chúa, rồi vững dạ cậy trông tin tưởng. Thiên Chúa chẳng những sẽ lấp đầy cái trống rỗng của chúng ta, mà còn dằn lắc, còn ban cho chúng ta nhiều ơn hơn chúng ta khấn xin.

          Kinh Lạy Cha là kiểu mẫu cho tất cả việc cầu nguyện. Theo thánh Luca, Kinh Lạy Cha có 5 lời nguyện, trong khi đó ở Phúc Âm Matthêu có 7 lời nguyện: 3 lời cầu đầu tiên nói về Thiên Chúa, Ðấng mà Chúa Giêsu dạy chúng ta gọi là Cha: Cha chúng con ở trên trời, sau đó chúng ta xin cho Danh Thánh Cha được hiển vinh, nước Cha được lan rộng trên thế gian, nhất là trong tâm hồn con người, và xin cho thánh ý Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời. Trong phần hai, có 4 lời nguyện: xin lương thực hàng ngày, nghĩa là xin cơm bánh nuôi thân xác và của ăn nuôi hồn, tức là Lời Chúa và Mình Chúa; xin tha thứ các tội xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng để được tha thứ, chúng ta cũng phải tha thứ lỗi lầm của anh em; xin ơn kiên trì để lướt thắng cám dỗ hàng ngày, nhất là trong cơn thử thách sau cùng trước sức tấn công của tà thần muốn đưa chúng ta xa lìa Chúa; xin ơn thoát khỏi mọi sự dữ để có thể phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân mọi ngày trong đời sống chúng ta.

          Kinh Lạy Cha mà Chúa Giêsu để lại là một mạc khải về Chúa Cha. Thiên Chúa của chúng ta không là Thiên Chúa xa vời hay nghiêm nghị, nhưng là Thiên Chúa gần gũi, thân mật đến độ chúng ta có thể gọi Ngài là Cha với tất cả trìu mến như một em bé gọi cha mình.

          Tỏ lộ cho cho chúng ta một Thiên Chúa như người cha yêu thương, Chúa Giêsu cũng tỏ lộ chính chúng ta là ai. Phẩm giá của con người chính là được làm con Thiên Chúa, và bởi vì là con của cùng một cha, nên chúng ta là anh em với nhau. Tình Cha con (chiều dọc) và tình em (chiều ngang) được Chúa Giêsu mạc khải cách hài hòa qua kinh lạy Cha.

          Đặc biệt trong mối tương quan chiều ngang đối với anh em. Chúa Giêsu đã đặc biệt nhấn mạnh trong lời kinh: “xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con”. Mt 6, 12).

          Khi chúng ta có lỗi với Chúa. Chúng ta thường đến với Bí tích Hòa Giải để xin ơn tha thứ. Thế nhưng, khi chúng ta có lỗi với anh em, hay anh em xúc phạm đến mình, chúng ta khó có thể tha thứ. Cũng chính vì thế mã xã hội hôm nay hận thù gia tăng, đưa đến tình trạng trả thù, giết người. Trong gia đình, vợ chồng không thể tha thứ cho nhau đưa đến tình trạng đổ vỡ, ly thân ly dị. Anh chị em ruột không thể tha thứ cho nhau, coi nhau như người dưng nước lã.

          Ta hãy xin Chúa cho ta mỗi lần đọc lên lời kinh Lạy Cha nhắc nhở cho chúng con về lòng nhân từ của Thiên Chúa, đồng thời nhắc nhở cho chúng con đều kiện để hưởng sự tha thứ: càng tha thứ cho người khác, chúng con càng được Chúa thứ tha.

Thứ Tư Tuần I Mùa Chay 

Gn 3, 1-10; Lc 11, 29-32

CÓ NIỀM TIN VÀ LÒNG MẾN ĐỂ THẤY CHÚA GIỮA ĐỜI

          Với trang Tin Mừng hôm nay, ta thấy các Luật Sĩ và Biệt Phái cứng lòng tin, dù họ đã nghe Chúa Giêsu giảng dạy, thấy những phép lạ Chúa làm, họ còn đòi Chúa các dấu lạ trên trời, như họ đã đọc thấy trong sách khải huyền Dothái: Nước trời đến kèm theo dấu lạ trên không trung, và họ quan niệm đó là kỳ công của Thiên Chúa như trong thời xuất hành, thời ngôn sứ Êlia. Chúa Giêsu nói với họ thật nghiêm khắc: Ôi thế hệ gian ác và ngoại tình chúng đòi dấu lạ, thay vì tin và sám hối.

          Và rồi trải dài suốt dòng chảy lịch sử cứu độ, ta nhận thấy rằng niềm tin vào Chúa thật sự là một niềm tin do ân huệ Chúa ban cách nhưng không, cho những ai thành tâm tìm kiếm Ngài, chứ không phải do điều kiện mà có được niềm tin ấy. Người thành tâm như thế, sẽ nhận ra Chúa ở mọi nơi, mọi lúc qua các dấu chỉ trong đời thường, cũng như lúc cầu nguyện, làm các việc đạo đức, khi gặp gỡ người khác, hay khi làm việc tông đồ. Từ đó, họ sẽ có kinh nghiệm về Chúa, tin Chúa, đón nhận những tác động của Chúa mà sám hối, hoán cải trở về với Chúa. Biết được ý Chúa mà thi hành như một sứ mạng Chúa trao, đem lại cho họ một niềm vui thiêng liêng trong đời sống làm người Kitô hữu.

          Biệt Phái và Luật Sĩ đòi dấu lạ không phải như một bằng chứng để tin, nhưng là để khiêu khích Chúa, những gì họ đã nghe đã thấy chưa đủ cho Chúa thuyết phục họ. Chúa Giêsu từ chối không làm phép lạ theo ý họ, Chúa dùng tích truyện Giona để nói về dấu lạ cả thể nơi chính bản thân Ngài, qua cuộc tử nạn và sau ba ngày Ngài phục sinh, để mời gọi mọi người tin và sám hối. Chúa Giêsu còn lấy gương mẫu dân thành Ninivê sám hối nhờ lời rao giảng của Ông Giôna, Ngài cũng liên tưởng đến Nữ Hoàng Phương Nam tìm nghe lời khôn ngoan của Vua Salômon. Đáng tiếc cho Biệt Phái và Luật sĩ vì Chúa Giêsu trọng hơn Giôna, và khôn ngoan hơn Salômon mà họ chẳng muốn nghe Ngài. Chứng tích sám hối của dân thành Ninivê và của thế hệ Nữ Hoàng Phương Namnhư một lời tố cáo nặng nề tội lỗi của Biệt Phái và luật sĩ, vì họ cứng tin đòi dấu lạ và thất trung với giao ước.

          Người Biệt Phái luật sĩ đòi dấu lạ, đó cũng là điều thông thường của chúng ta hôm nay, để thỏa mãn tính hiếu kỳ, sự đắc thắng của mình. Phép lạ chỉ có giá trị nâng đỡ niềm tin chứ không phát sinh hay ép buộc niềm tin. Cũng chính vì Chúa tôn trọng tự do con người Chúa không dùng phép lạ làm áp lực con người, nên Chúa đã không làm phép lạ như Biệt Phái và luật sĩ yêu cầu.

          Qua lời khiển trách của Chúa Giêsu đối với Biệt Phái và luật sĩ, chúng ta hãy thức tỉnh lại, chúng ta có gian ác khi đòi Chúa làm phép lạ mới tin, khi chúng ta chai đá trước lời giảng dạy của Hội Thánh. Chúng ta ngoại tình khi chúng ta sống đạo vụ hình thức, hoặc chưa thực sự sống trọn vẹn cho Chúa mà còn để lòng mình quyến luyến thụ tạo hơn Chúa, đam mê các thú vui trần thế hơn việc đạo đức. Có khi chúng ta phản bội tình thương của Chúa, để chạy theo những đam mê xác thịt.

          Hẳn mỗi người chúng ta còn nhớ khi ta đọc chuyện ông Giôna người Galilê, ai cũng nhớ ông đã bị cá nuốt ba ngày. Sau đó ông lại được cá khạc ra trên đất liền mà vẫn còn sống. Nhưng điều đáng nhớ hơn là sau kinh nghiệm đó Giôna đã biết vâng phục Chúa. Ông chấp nhận đi giảng cho dân Ninivê, một dân ngoại ở vùng là Irắc bây giờ. Thật không ngờ, lời rao giảng của ông đã kéo cả nước vào một cuộc hoán cải, Từ vua đến dân, thậm chí cả súc vật, đều ăn chay, sám hối việc mình làm. Thái độ của họ đã làm Đức Chúa đổi ý, không đoán phạt nữa. Đức Chúa không muốn trừng phạt, Ngài chỉ mong con người sám hối.

          Ninivê vốn là thành phố lớn của đế quốc Assur, nơi có đa số dân ngoại sinh sống.Người Do Thái coi dân Ninivê như kẻ thù truyền kiếp nên họ không bao giờ chuyện trò giao tiếp. Vì không muốn Chúa cứu đám dân ngoại, nên khi được sai đến Ninivê, ông Giôna đã trốn tránh bằng cách lên chiếc tàu buôn đi về phía Tây, đến đảo Tácxít là một vùng đất xa xôi để Chúa khỏi tìm thấy ông. Đức Chúa đã cho cuồng phong nổi lên khiến cả tàu hoảng sợ, họ kêu cầu Chúa và quyết định ném Giôna xuống biển vì ông là nguyên cớ gieo tai họa cho cả tàu. Chúa đã cho con cá lớn bảo vệ và đưa ông vào bờ. Sau ba ngày đêm sống trong miệng cá, ông Giôna biết không thể chống lại ý Chúa, nên ông đành trở lại thành Ninivê kêu gọi mọi người ăn năn sám hối. Sau khi nghe Giôna giảng, mọi người từ vua quan cho đến dân chúng, người lớn trẻ nhỏ đều ăn chay cầu nguyện và họ đã được Chúa tha thứ.

          Trong ngày phán xét chúng ta có thể bị kết án nặng nề hơn người khác vì chúng ta đã làm mất ơn Chúa, không dùng ơn Chúa để sinh lợi ích cho linh hồn mình và tha nhân. Phép lạ đã xảy ra hằng ngày trong Thánh lễ, trong các Bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, trong đời sống chúng ta, chúng ta có dùng để nâng cao đời sống đức tin, đi sâu vào đời sống đạo hơn không? Trong bầu khí mùa chay, chúng ta hãy sám hối và trở về với Chúa, tin Chúa và sống đạo chân thật không cần dấu lạ nào hơn là chính Chúa đã chết và sống lại. Chúng ta cũng noi gương Chúa trong việc truyền bá đức tin bằng cách dùng lời Chúa, đời sống của Chúa, những việc Chúa đã làm để yêu thương chúng ta, hơn là áp đảo bằng những việc làm thỏa mãn sự hiếu kỳ đắc thắng của người chúng ta phục vụ.

          Và ta còn nhớ Thánh Gioan tông đồ đã định nghĩa: Thiên Chúa là tình yêu để rồi mọi tạo vật xuất phát từ nguồn cội ấy đều thấm đẫm nét yêu thương. Con người được Thiên Chúa tạo dựng và tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa để rồi con người mang vẻ đẹp thuần khiết nếu biết sống theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Để giữ được vẻ đẹp ấy, chúng ta cần phải chết đi cho những đam mê dục vọng, chết đi cho những ràng buộc cũ để tiến vào miền đất mới. Vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa là sự trao hiến vô điều kiện, là thí mạng sống vì người mình yêu.Thiên Chúa yêu con người bằng thứ tình yêu nguyên sơ đến trước mọi tình yêu của tạo vật. Tình yêu ấy đã nuôi dưỡng con người bằng cuộc sáng tạo kỳ diệu thì cũng giải thoát họ bằng công cuộc cứu chuộc của Chúa Giêsu. Đứng trước tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi ở lại trong tình yêu của Người để thừa hưởng vẻ đẹp thánh thiện và có được sự sống dồi dào.

          Trong cuộc sống hôm nay, Thiên Chúa vẫn không ngừng tỏ cho nhân loại dấu lạ của tình yêu thương. Chúa Giêsu chính là dấu lạ sống động tuyệt vời nhất về tình thương Thiên Chúa dành cho con người. Nhưng để đọc được dấu lạ ấy, đòi hỏi chúng ta phải có niềm tin và lòng yêu mến. 

Thứ Năm Tuần I Mùa Chay 

Est 14, 1. 3-5. 12-14 (NV 4, 17k. 17lm. 17r-t); Mt 7, 7-12

KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN VÀ YÊU THƯƠNG

          Với Tin Mừng hôm nay, ta thấy điểm nhất hay nổi bật là: Tình thương của Thiên Chúa, tình thương đó được thể hiện như một tấm lòng của người cha độ lượng luôn lắng nghe và đáp ứng những nhu cầu chính đáng của con cái mình. Chúng ta cần có một niềm tin kiên vững vào tình thương của Thiên Chúa, tin rằng Người luôn nhận lời chúng ta kêu cầu. Trọng tâm Lời Chúa hôm nay chúng ta suy niệm có hai ý.

          Lời Chúa Giêsu hứa với chúng ta: "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho" (Mt 7, 7). Chúa Giêsu dạy chúng ta phải kiên trì trong cầu nguyện, và khi cầu nguyện hãy đặt trót niềm tín thác vào tình thương của Thiên Chúa, và cầu xin với lòng thành trong thánh ý Chúa, để làm sáng danh Chúa và đem lại ơn ích thiêng liêng cho ta, chứ không phải theo ý con người của ta.

          Chúa Giêsu dạy cho chúng ta cần phải có trong cầu nguyện là phải biết tin tưởng và cậy trông hay cầu nguyện phải tin tưởng trong kiên nhẫn. Vì Thiên Chúa là Cha, Người yêu thương và săn sóc chúng ta. Bởi vậy, chúng ta cần phải tin tưởng kiên nhẫn trong mọi hoàn cảnh, mọi công việc và mọi dự định… Có như thế, chúng ta mới nhận ra ý muốn của Thiên Chúa muốn chúng ta làm hay không; bởi vì, nếu chúng ta không kiên nhẫn cầu nguyện, thì chúng ta dễ làm theo ý của chúng ta hơn, khi chúng ta kịp nhận ra ý của Thiên Chúa. Vì vậy, tin tưởng trong kiên nhẫn là điều kiện tối cần giúp chúng ta cầu nguyện để nhận ra điều Thiên Chúa muốn thực hiện nơi chúng ta.

          Nhìn vào xã hội ngày nay là một xã hội của công nghệ, một xã hội thực dụng hay nói mạnh hơn là một xã hội mì ăn liền. Cái gì cũng muốn cho nhanh, cho được và có kết quả ngay. Vì vậy, để kiên trì trong cầu nguyện không phải là một chuyện dễ làm. Tuy nhiên, bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta là hãy kiên trì trong cầu nguyện, thì sẽ được Thiên Chúa nhận lời, vì trong Tin Mừng đã nói: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7,7-8).

          Như mẫu gương của hoàng hậu Ette trong bài Cựu ước (Et 4, 17 - 17t), trích lời cầu nguyện của bà. Hoàn cảnh lúc đó, dân Do thái đang sống trong kiếp lưu đầy bên Babylon. Tướng Aman không thương dân Dothái nên xúi giục Vua Babylon ra chiếu chỉ tàn sát người Dothái trong khắp đế quốc. Khi đó người ta nghĩ không ai ngoài Hoàng hậu Ette bà có thể cứu họ, Ette là người Dothái nhưng được làm hoàng hậu trong cung điện. Tuy là hoàng hậu nhưng bà thấy công việc của đất nước quá khó khăn vượt sức của bà, bà đã khắc khoải âu lo đến chết được nên bà liền đến nương ẩn bên Chúa (Et 4, 17k) kêu xin Người cứu giúp. Bà cầu nguyện ngày đêm cùng Thiên Chúa: "Lạy Chúa, con chẳng còn ai cứu giúp ngoại trừ Ngài" (Et 4, 17l).

          Lời cầu xin của bà đã được Thiên Chúa nhận lời, dẫu giữa ngàn gian nan đau khổ, Thiên Chúa luôn ở bên để phù trợ "Lạy Chúa, ngày chúng con gặp gian truân cùng khốn, xin nhớ đến chúng con mà chứng tỏ quyền năng của Ngài" (Et 4, 17k). Những lời cầu xin của hoàng hậu Ette, đã tin vào quyền năng của Chúa, chính trong sự kiên trì trong cầu xin đã giúp cho hoàng hậu kiên vững trong đức tin, nhất là khi chúng ta gặp thử thách, gian truân chúng ta cầu xin Chúa với tất cả lòng thành, và tin tưởng phó thác trọn vẹn nơi Chúa, Người không để cho ai cầu xin Ngài phải về không bao giờ.

          Thiên Chúa nhân lành Người không ban điều gì có hại cho ai, điển hình như phần Lời Chúa trong bài đọc Cựu ước này. Chính nhờ hoàng hậu Ette bà đã có tấm lòng vững tin vào Chúa, trong đời sống bà đã kiên trì cầu nguyện ngày đêm xin Chúa cứu người Do - thái và Thiên Chúa đã nhậm lời, kết quả là tình thế đảo ngược lại hoàn toàn, vua đã rút lại chiếu chỉ, dân Do-thái không bị tàn sát, ngược lại tướng Aman người muốn hại dân Do -thái thì lại bị giết trên chính cột hành hình mà chính ông dựng nên để giết người Do-thái, thật đúng như Lời Chúa trong thư Thánh Phalô: "Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát" (Gl 6, 8).

          "Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì anh em cũng hãy làm cho người ta" (Mt 7, 12). Thiên Chúa nhân lành khôn ngoan và thượng trí. Người không ban điều gì có hại cho ai, có những lúc với tính xác thịt yếu đuối chúng ta đã cầu xin Chúa cho xảy ra những chuyện không được may mắn, hay những tai họa hoặc những sự rủi ro cho những người chúng ta không mấy thiện cảm, hay đã làm hại ta với mục đích báo thù. thì Thiên Chúa dạy ta hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho những người hại ta. Thiên Chúa không bao giờ lại ban những điều mà chúng ta cầu xin trái ngược lại đức thương yêu. "Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?"(Mt 7, 11).

          Thiên Chúa là tình yêu, Người luôn thương yêu tất cả mọi người, Người cho mưa rơi xuống trên người hạnh phúc cũng như người bất hạnh. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai, nên Người dạy chúng ta hãy theo gương của Ngài mà sống đức bái ái yêu thương với anh chị em mình, và cầu mong điều tốt lành cho nhau. Giới luật yêu thương mà Chúa Giêsu dạy chúng ta đòi hỏi sự công bằng là trên hết, vì khi ta đối xử với tha nhân thế nào thì Thiên Chúa cũng sẽ đối xử lại với ta như vậy "Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em và còn hơn nữa" (Mc 4, 21).

          Thật thế, khi nhìn lại cuộc đời và chỉ khi chúng ta kinh nghiệm sâu xa nơi bản thân và cuộc đời của mình tình yêu và lòng thương xót của Chúa, được thể hiện nơi Đức Giê-su Kitô (Rm 8), ngang qua dấu chỉ "những điều tốt lành", chúng ta mới có thể sống một cách quảng đại và trong niềm vui, đi bước trước chia sẻ "những điều tốt lành" mình nhận được, như chính Người mời gọi chúng ta : Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta. (c. 12) 

 

 

Thứ Sáu Tuần I Mùa Chay

Ed 18, 21-28;Mt 5, 20-26

HÃY SỐNG CÔNG CHÍNH HƠN BIỆT PHÁI VÀ LUẬT SĨ

          Sự công chính mà Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ của Ngài chính là sự công chính phát xuất từ chính tình yêu chân thật không pha vụ lợi, qua đó Người kiện toàn lại lề luật và đề ra một lý tưởng sống mới cho người môn đệ đó là Luật yêu Thương. Vì trong thực tế, ta thấy Chúa Giêsu đến trần gian là để kiện toàn lề luật: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ nhưng là để kiện toàn" (Mt 5, 17).

          Và rồi qua trang Tin Mừng hôm nay ta thấy Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ một lý tưởng sống mới, đó là phải công chính hơn những người biệt phái: "Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không ăn ở  công chính hơn các Kinh sư và người Pharisiêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời" (Mt 5, 20).

          Vì vậy, người môn đệ được Chúa mời gọi phải sống công chính hơn những người biệt phái. Người biệt phái giữ luật rất chu đáo và tỉ mỉ và không bỏ sót một điều luật nào trong các khoản luật đã được đề ra, nhưng đáng tiếc là họ giữ luật một cách máy móc và hình thức, giữ luật chỉ vì luật mà không đi vào chiều kích nội tâm. Chúa Giêsu biết rõ cách sống và giữ luật của họ.

          Chính vì thế, Ngài căn dặn các môn đệ của Ngài giữ các lề luật với tâm tình yêu mến Thiên Chúa và yêu thương người khác như chính mình. Luật yêu thương mà Chúa Giêsu truyền dạy cần thực hiện cách cụ thể là sống hòa thuận và biết tha thứ: "Vậy, nếu khi anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh em, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình" (Mt 5, 23 - 24).

          Và ta thấy lễ vật cao quý và đẹp lòng Thiên Chúa nhất, đó là cuộc sống đong đầy tình yêu, vì thế để có của lễ đẹp lòng Thiên Chúa thì chúng ta phải sống chan hòa tình yêu thương với anh em mình, yêu thương phải phát xuất từ chính trong tâm của mình, không hời hợt bên ngoài, hay ở đầu môi chót lưỡi.

          Chúa Giêsu đẩy giới răn này đến chỗ triệt để, tận căn. Ngài tìm về cội nguồn của hành vi sát nhân nơi tâm con người. Nếu lòng con người không còn giận ghét anh em, và lời nói giữ được sự kính trọng, ôn hòa, thì tội giết người hoàn toàn có thể tránh được. Sống với nhau tránh sao khỏi những tranh chấp, cọ sát. Đi làm hòa với người anh em trong cộng đoàn là điều khẩn trương. Thậm chí phải để lại lễ vật sắp dâng trước bàn thánh mà đi làm hòa với một người anh em đang bất bình với mình, rồi sau đó mới trở lại dâng lễ vật cho Chúa (cc. 23–24).

          Phải chăng người ta chỉ đến được với Chúa và được đoái nhận lễ vật khi người ta đến được với anh em trong sự an hòa thứ tha? Để đến được với người đang xích mích với mình, cần khiêm hạ, ra khỏi mình và lên đường đến với người ấy. Đi bước trước để đến với người khác, dù lỗi không thuộc về mình, đó là cách làm hòa và làm lành những vết thương. Hòa giải với tha nhân phải được coi là việc cần làm ngay trước khi ta có thể hiệp thông với Thiên Chúa qua việc dâng của lễ.

          Trong cuộc sống của mỗi người, không thiếu những lúc người khác làm cho chúng ta khó chịu, bực mình, không thiếu những lúc chúng ta sống khó hòa hợp với người khác, nhưng Chúa dạy chúng ta phải đi bước trước đến với tha nhân, đi bước trước đến với người nói hành nói xấu ta, đi bước trước đến với người làm ta đau khổ, với tính xác thịt con người thật là một điều quá khó, nhưng với tình yêu mến Chúa và trong tình mến, người môn đệ sống đức công chính Chúa dạy chúng ta hãy noi gương Chúa, khi ta chiêm ngưỡng hy lễ tuyệt hảo của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, khi chung quanh Thánh Giá đông vô kể những người bất bình, những người sỉ nhục Chúa, cả những người đóng đinh và coi thường Chúa : "Ông có phải là Thiên Chúa thì hãy tự xuống khỏi thập giá đi", họ đang vui vẻ và hả hê cười nói, vì đã giết được Chúa, thì chính lúc đó Chúa dạy một bài học yêu thương và tha thứ cao tột đỉnh, Chúa ngước mắt lên trời và thưa cùng Chúa Cha: "Lạy Cha xin tha cho họ". Chính bài học này đã dạy chúng ta tha thứ không phải là nhát đảm mà là anh hùng, tha thứ không phải là thua thiệt mà được gấp ngàn lần.

          "Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người, ai giết người, thì đáng bị đưa ra tòa" (Mt 5, 21). "Chớ giết người" đó là một điều luật đã có từ thời Cựu ước và đến thời Tân ước Chúa Giêsu đã kiện toàn luật này một cách trọn hảo hơn, không phải chúng ta chỉ lo tránh giết người, mà còn phải sống với mọi người trong bầu khí chan hòa tình yêu thương, và phải tránh không phẫn nộ, không chửi mắng người anh em, và trong tư tưởng không có ác ý hại người, không có ý dèm pha chỉ trích, không loại trừ người anh em khi người anh em có tội. Chúa Giêsu cấm ngay từ trong trứng nước, ngay từ trong tư tưởng của người môn đệ Chúa, phải giữ trọn lề luật với tâm tình yêu thương, thương người như chính bản thân mình.

          Và khi suy nghĩ kỹ, ta thấy lời dạy của Chúa thật cao siêu và vượt quá tầm hiểu biết của nhiều người. Nhưng Thiên Chúa là Đấng thượng trí vô cùng, không bao giờ bắt chúng ta phải làm việc gì mà Ngài biết chúng ta không là được. Luật Chúa khó thật. Nhưng Chúa dạy phải làm, làm với lòng muốn và ý chí, vì đó là phần phúc cho chúng ta. Hơn nữa, chúng ta làm trong ơn thánh thì sẽ được Chúa ban phúc lành.

 

huệ minh March 14, 2019