Suy Tư của Huệ Minh

by Huệ Minh

 

Chúa Nhật Tuần V Mùa Phục Sinh năm C-2019  

Cv 14, 20b-26 (Hl 21-27); Kh 21, 1-5a; Ga 13, 31-33a. 34-35

NHƯ THẦY ĐÃ YÊU

Ta thấy rằng không phải chỉ có Kitô giáo mới giảng dạy về tình yêu thương. Văn hoá Á đông đã từng nhấn mạnh: Tứ hải giai huynh đệ, bốn bể đều là anh em. Cha ông chúng ta thuở trước cũng đã khuyên nhủ: Thương người như thể thương thân, để nói lên tấm lòng yêu thương rộng mở đối với mọi người trong xã hội.

Tình yêu luôn luôn đòi hỏi điều tốt nhất của chúng ta và thể hiện điều tốt nhất trong chúng ta. Được yêu thương cho người ta một lòng can đảm và năng lực lạ lùng. Khi yêu cũng thế, người ta nói: tình yêu và năng lực sẽ được ban cho bạn, ở đâu có tình yêu lớn, ở đó luôn có phép lạ. "Tình yêu là ngọn lửa sưởi ấm linh hồn chúng ta, đem lại năng lực cho tinh thần và cung cấp đam mê cho đời sống của chúng ta. Nó là sự liên kết của chúng ta với Thiên Chúa và người khác" 

Nét mới mẻ của tình yêu Kitô giáo là ở chỗ: mẫu mực, thước đo tình yêu đối với tha nhân không còn là "tình anh em máu mủ", cũng không còn là "bản thân mình" nữa. Mẫu mực, thước đo của tình yêu Kitô giáo là chính tình yêu của Chúa Giêsu Kitô. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa là tình yêu trao ban, là tình yêu dâng hiến. Chúa Giêsu khi nói về tình yêu của Thiên Chúa và cũng là tình yêu của chính mình, Ngài đã khéo so sánh: "Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống cho bạn hữu" (Ga 15,13).

Luật yêu thương này là cốt tủy của đạo Chúa và cũng là nền tảng của mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau. Mến Chúa yêu người đi song đôi với nhau. Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu tha nhân và tình yêu tha nhân là thước đo tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa là mẫu mực để tình yêu con người trở nên hoàn thiện. Chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước để mỗi người noi theo: Tình yêu cốt tủy ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau" (1Ga 4, 10-11).

Như Chúa đã yêu là yêu thương chính lúc người thường không thể yêu, yêu thương chính cái điều mà người thường không thể yêu, và yêu thương những người mà người thường không thể yêu. Hơn nữa người môn đệ Chúa bó buộc phải yêu thương như thế thì mới xứng đáng là môn đệ Chúa. Chúa muốn chúng ta yêu thương theo kiểu mới đó. Không phải Chúa chỉ muốn, mà Chúa còn truyền như một giới răn "Thầy ban cho chúng con một giới răn mới".

Như Thầy đã yêu thương các con là điều răn mới mà Đức Kitô thêm vào luật cũ của Cựu ước. Nói con phải yêu thương anh chị em như chính mình con, nơi thánh Gioan 12,34 Chúa Giêsu nói: "Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con".

Như vậy, tình yêu thương này không còn phát xuất từ chính chúng ta nữa, nhưng là phát xuất từ Thiên Chúa. Lòng mến phát xuất từ Thiên Chúa như thư I của thánh Gioan 4, 7 diễn tả như sau: "Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau như vậy".

Tình thương của chúng ta đối với anh chị em là tham dự vào tình thương của chính Thiên Chúa đối với chúng ta. Cũng chính vì vậy giới răn yêu thương mới này được đồng hoá bởi tình yêu mến mà chúng ta có đối với Chúa. Yêu thương anh chị em và mến Thiên Chúa là một, và ai không yêu thương anh chị em thì cũng không 

Và ta thấy trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu ban bố và trăn trối cho các môn đệ trước khi Người ra đi chịu chết: "Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con". Giới luật yêu thương của Cựu Ước: "Ngươi không được để lòng ghét anh em. Ngươi không được trả thù, không được oán hận. Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình" (Lv 19, 17-18). Giới luật đó đã được Chúa Giêsu hoàn tất và ban bố như luật tối thượng của giao ước mới, của luật mới: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và là điều răn thứ nhất, còn điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy là ngươi hãy yêu người thân cận như chính mình. Tất cả luật Môisen và các sách Ngôn Sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy" (Mt 22, 37-40).

Đức Kitô cũng đã yêu thương chúng ta bằng một tình yêu tuyệt vời nhất: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu. Đúng thế, Ngài đã đổ máu ra để cứu chuộc chúng ta, nhờ đó chúng ta được xoá bỏ bản án của tội nguyên tổ, lấy lại địa vị làm con cái Chúa. Kể từ nay, chúng ta là anh em một nhà vì có chung cùng một người cha là Thiên Chúa. Chính vì thế, Ngài đã truyền dạy: Phải kính mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương anh em như chính mình. Đồng thời, nhờ tình bác ái yêu thương đối với anh em, mà chúng ta trở nên người môn đệ đích thực của Chúa: Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau.

Tình yêu hy sinh quên mình, tình yêu hiến dâng mạng sống của người mẹ dành cho đứa con trong câu chuyện trên đây, là lời minh chứng hùng hồn cho lời dạy của Đức Kitô trong bài Tin Mừng hôm nay: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Yêu như Thầy đã yêu chính là cúi xuống rửa chân cho nhau để bày tỏ một tình yêu sâu thẳm, cho dù người ấy là Giuđa, kẻ phản bội tình yêu. Yêu như Thầy đã yêu chính là hạ mình xuống ngang hàng với người mình yêu để cảm thông, chia sẻ và yêu thương như bạn hữu thân tình. Yêu như Thầy đã yêu chính là yêu cho đến cùng, yêu cho đến chết và chết trên thập giá. Vâng, kể từ khi Con Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại cho đến cùng, thì luật yêu thương đã trở thành điều răn mới, mới ở đây chính là yêu như Thầy đã yêu.

Chúa Giêsu không đòi các môn đệ của Ngài phải thông thái như các thầy kinh sư và ký lục. Ngài cũng không bắt họ phải sống nhiệm nhặt, gò bó như nhóm người Biệt phái Pharisêu trong việc tuân giữ các giới luật. Điều Ngài đòi nơi các môn đệ, chỉ một điều duy nhất mà thôi, là phải yêu thương anh em, yêu thương người khác như chính Ngài đã yêu thương mọi người đến tột cùng, đến hết khả năng yêu thương của Thiên Chúa.

Chính tình yêu thương vô vị lợi, phổ quát, bao dung nầy sẽ là dấu chứng của những người tin theo và tuân giữ Lời Chúa. Người môn đệ Chúa Giêsu là người biết yêu thương tha nhân và ngược lại. Ngay từ cộng đoàn các Kitô hữu tiên khởi, dấu chứng tình yêu đã trở thành chứng tá của Chúa Kitô Phục Sinh. Trong suốt lịch sử Giáo Hội, các người bên ngoài Giáo Hội cũng vẫn nhận ra Chúa là tình yêu xuyên qua những chứng từ sống động của một tấm lòng vị tha, bác ái của người tín hữu.

Giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu trăn trối lại cho các tông đồ và cho cộng đoàn Giáo hội thật mới mẻ, vì nó diễn tả thái độ dấn thân tuyệt đối và trọn vẹn mà Chúa Giêsu đã ký kết với loài người bằng chính máu của Ngài. Tình yêu thương ấy là tình yêu thương hai chiều bình đẳng giữa các tín hữu. Bởi vì trong cộng đoàn ai cũng cần yêu thương và được yêu thương. Nhưng từ nay không còn chuyện yêu người như yêu mình nữa, mà yêu người như chính Thầy đã yêu chúng con, nghĩa là Kitô hữu phải yêu thương nhau với cùng cường độ trong cùng tâm tình và kiểu cách của Chúa Giêsu là tận hiến vô biên và trọn vẹn. Tình yêu thương của Chúa Giêsu là suối nguồn, mẫu mực và linh hồn tình yêu thương của Kitô hữu. Và sau cùng, tình yêu ấy là căn cước, là chứng tích sống động giúp nhận ra ai là thành viên thực sự thuộc cộng đoàn Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô

          Vì là giới răn, là mệnh lệnh của Thầy, nên tình yêu thương huynh đệ của người môn đệ phải mang chiều kích của Thầy: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Vì là giới răn của Thầy, nên từ nay yêu thương sẽ là dấu ấn, là bằng chứng, là danh hiệu của người môn đệ: mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy khi anh em yêu thương nhau.

 

 

20/05/2019

Thứ Hai Tuần V Mùa Phục Sinh  

Cv 14, 5-17 (Hl 5-18); Ga 14, 21-26

HÃY YÊU THƯƠNG NHAU

Lời Chúa hôm nay nằm trong mạch văn ở phần của Tin Mừng Gioan,  một phần chính yếu với tựa đề : Giờ của Đức Giêsu – Lễ Vượt Qua của Chiên Thiên Chúa. Phần này, tác giả mô tả và thể hiện lại những lời nói, hành vi mang đậm tính “ từ biệt” của Chúa Giêsu, khi Ngài thấy “ Giờ của Ngài” đã đến.

Khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu trở nên khuôn mẫu của tình yêu. Cuộc đời của Ngài là một thể hiện trọn vẹn thánh ý Chúa Cha. Ðối diện với Thập Giá và cái chết, Chúa Giêsu run sợ chẳng muốn nhận lấy, nhưng xin đừng theo ý Con, một theo ý Cha. Sau cùng, Ngài đã uống cạn chén đắng để chu toàn trọn vẹn thánh ý Cha.

Thật vậy, khi một người thấy mình sắp lìa bỏ cõi trần này, họ thường cảm thấy cô đơn, trống vắng. Họ muốn có những người thân luôn ở bên cạnh để an ủi và lắng nghe họ. Chúa Giêsu cũng không nằm ngoài qui luật thiên nhiên dành cho con người. Ngài cảm được Giờ của Ngài về cùng Chúa Cha đang gần kề, sứ vụ của Ngài sắp hoàn tất, khoá học sắp kết thúc, thế mà các Tông Đồ chẳng hiểu gì về con đường cứu độ của Ngài cả. Các ông vẫn tranh giành vương quyền, chức tước ( Lc 22, 24-27). Ba năm theo Thầy giờ chỉ còn tranh chỗ ngồi bên tả, bên hữu...

Lời Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay là một soi sáng cho chúng ta về căn bản của tình yêu mà mỗi người chúng ta cần phải có đối với Thiên Chúa: "Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy". Chúa Giêsu không đòi hỏi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc về tình cảm. Nếu có được những rung cảm ấy thật quí, chúng là các dấu chỉ cho phép tin tưởng rằng: chúng ta đang yêu mến Ngài.

Tuy nhiên, nếu chưa có cũng chẳng nên bận tâm, vì chúng chỉ là những phản ứng trong cơ thể chứ không phải là điều kiện của tình yêu. Một tình yêu đúng nghĩa đòi buộc phải tìm đủ mọi cách để làm đẹp lòng người mình yêu, sẵn sàng cho đi tất cả vì người yêu. Dừng lại tất cả nơi rung cảm phần nào nói lên tâm trạng vị kỷ nơi con người muốn cho đi nhưng đồng thời lại bù đắp, cái tôi vẫn là tâm điểm của tình yêu.

Chúa Giêsu thấy giờ đây cần phải nhắc nhớ các môn đệ những  “công thức” vắn gọn, dễ nhớ , dễ hiểu... mà chúng ta sẽ thấy Ngài cứ lập đi lập lại trong bài Tin Mừng Ga 14, 21-26 này.

Mở đầu câu 21, Chúa Giêsu nói : “Ai có các điều răn của Thầy và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Ở đây, chúng ta chú ý đến 2 động từ “ có” và “giữ”. Người yêu luôn có, luôn chiếm làm sở hữu những gì có nơi người mà họ hằng yêu mến. Họ thích những gì người kia thích ; họ tập ăn, tập nói, tập đi đứng... như người họ yêu vậy. Họ muốn nên giống y như người họ yêu ; họ muốn nên một với nhau, khi yêu ai, chúng ta thường nhớ và luôn làm theo những lời người ấy căn dặn. Đó là mực thước để đo tình yêu.

Khi chúng ta yêu Chúa Giêsu là chúng ta yêu mến cả Chúa Cha nữa. Vì : Chúa  Cha và Chúa Giêsu là một ; vì Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Chúa Giêsu, vì lời của Chúa Giêsu chính là lời của Chúa Cha. Đây là một tình yêu trong tương quan liên hoàn : Tình yêu trao ban, Tình yêu truyền từ người này sang người kia và nó càng thêm dồi dào, phong phú.

Và vì thế, “Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”. Khi yêu nhau, ở trong nhau, thì  cả hai  sẽ biết rõ nhau hơn và càng yêu mến nhau hơn. “Tỏ mình ra” có nghĩa là “biết nhau”, “biết” tường tận những gì người yêu mong ước đến nỗi họ cùng nhau chia sẻ vui buồn, sướng khổ. Âu sầu của người này là nỗi buồn  của người kia. Niềm vui của người kia là hạnh phúc của người này.

Khi Chúa Giêsu nói những lời ấy xong, không biết ông Giuđa có hiểu ý Chúa không, nhưng ông đã hỏi “ Sao Chúa tỏ mình ra cho chúng con mà không tỏ mình ra cho thế gian ?” (c. 22). Nghe câu hỏi như có phần nào trách móc hay thiên vị một số người, nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu nghe vang lên trong một nỗi buồn man mác, khi Ngài muốn giải thích lý do “ tại sao thế?” của ông Giuđa. Ngài khẳng định : “Ai yêu mến Thầy, sẽ tuân giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến ở lại nơi người ấy” (c. 23). Ở câu 23 này, Chúa Giêsu xác quyết lại những gì Ngài đã nói ở câu 21, nhưng thay vì nói “ tỏ mình”, Ngài dùng từ “ở lại” nhằm giải thích cho Giuđa hiểu rõ ý Ngài hơn.  “Ở lại” cũng chính là “nên một”. Nói đến đây, chúng ta nhớ lại sự “ ở lại” của Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể.

Chúa Giêsu trước khi giã biệt các môn đệ cũng nhắn nhủ các ông về điều căn bản “Ai nghe và giữ giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Chúa Giêsu không đòi hỏi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc cảm tính…Tuy nhiên một tình yêu đúng nghĩa là luôn luôn tìm cách làm đẹp lòng người mình yêu, sẵn sàng cho đi tất cả vì người mình yêu, chứ không dừng lại ở những rung động ở thân xác phần nào nói lên tính vị kỷ của mình.

“Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại nơi người ấy”. Mỗi lần, bạn ấy xin cha mẹ đi chơi, chúng tôi đều cười nhạo: “Lớn rồi mà còn xin với xỏ. Mình trưởng thành rồi, muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm tuỳ ý”. Bạn ấy đã giải thích một cách đơn sơ nhưng hợp lý hợp tình: “Hẳn ba má không cần tôi xin, nhưng chắc chắn ba má tôi rất vui khi tôi xin phép như vậy. Tôi làm thế để được làm con và làm con thảo của ba mẹ tôi”.

Qua việc Rước Lễ, Ngài muốn Nên Một với chúng ta, muốn lưu lại trong tâm hồn, trong cuộc đời chúng ta từng ngày, từng giờ, muốn đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường ta đi trong cuộc sống. Hơn nữa, Chúa Giêsu lại tái khẳng định bằng một mệnh đề phủ định “Ai không yêu mến Thầy, thì không tuân giữ lời Thầy” Ngài nói rõ Tình yêu của chúng ta đối với  Ngài là việc vâng nghe lời Ngài. Vì “lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy” ( c. 24). Ở đây, Chúa Giêsu tỏ lộ ý muốn của Chúa Cha và Chúa Giêsu là con người đến thi hành ý Chúa Cha mà thôi. Vì “Chúa chẳng thích tế phẩm hay lễ vật... con liền thưa.  “Này con xin đến”. Trong sách chép về con : con thích làm theo thánh ý và ấp ủ luật Chúa trong lòng...”

(Tv 40, 7-9).

Trong 2 câu cuối bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nhắc nhớ cho các môn đệ rằng : Điều vâng giữ Lời Chúa, Ngài đã nói khi Ngài ở với các ông và bây giờ Ngài về cùng Cha, thì Đấng Bảo Trợ là Ngôi Ba Thiên Chúa, được Chúa Cha sai đến để dạy các ông và nhắc lại những điều Chúa đã dạy (c. 25-26). Nghĩa là Chúa Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ tất cả những gì các môn đệ phải biết mà Chúa Giêsu chưa nói. Chúa Thánh Thần cũng sẽ giúp các ông hiểu ý nghĩa của lời rao giảng và các dấu lạ của Đức Giêsu mà trước đây các ông chưa hiểu được.

Chúa mời gọi chúng ta yêu mến Chúa. Nhưng đối vối Chúa, tình yêu không chỉ là một cảm xúc mau qua, mà còn phải được chứng tỏ qua việc thi hành ý Chúa. Chính Chúa đã yêu mến Chúa Cha và đã thi hành ý Chúa Cha. Chúa cũng mời gọi chúng ta yêu mến Chúa và chứng tỏ tình yêu ấy bằng việc thi hành ý Chúa. Còn ai không giữ Lời Chúa tức là không yêu mến Chúa. Chúng ta phải hiểu rằng tuân giữ Lời Chúa và yêu mến Chúa liên kết với nhau và làm nên đời sống Kitô hữu.

Chúa Giêsu cũng muốn môn đệ của Ngài đi lại con đường Ngài đã đi qua: "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy". Giữ lời Chúa Giêsu cũng là yêu mến Thiên Chúa Cha. Vì lời Ngài là của Cha, Ðấng đã sai Ngài đến trần gian. Lời dạy của Chúa Giêsu là gì, nếu không phải là gì khác là biết quên mình vì Chúa và vì anh em, quên đi bản thân bằng cách dành cho Thiên Chúa và tha nhân một chỗ đứng ưu tiên trong tư tưởng và hành động.

"Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy". Ðức Giêsu muốn nhấn mạnh mối liên kết giữa lòng yêu mến và sự trung thành với giáo huấn của Ngài. Không thể nói yêu Ngài nếu không nghe lời Ngài. Không thể thi hành lời Ngài trọn vẹn nếu không vì yêu Ngài. Tình yêu được biểu hiện cụ thể qua hành động tuân giữ trong sự tự nguyện.

Ðiều khát mong của Ðức Giêsu được bày tỏ qua lời trăn trối: "hãy yêu thương nhau". Yêu Chúa thật là yêu thật mọi người.

 

21/05/2019

Thứ Ba Tuần V Mùa Phục Sinh 

Cv 14, 18-27 (Hl 19-28); Ga 14, 27-31a

BÌNH AN CỦA CHÚA

Trong đêm giáng sinh, các thiên thần đã hát vang trên cánh đồng Bêlem:

Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Và sau khi sống lại, lúc hiện ra với các môn đệ, sau lời chào chúc bình an, thì lập tức Chúa Giêsu đã trao ban cho các ông quyền cầm buộc và cởi mở. Hay nói đúng hơn, Ngài đã trao ban cho các ông quyền tha thứ, quyền hoà giải.

Chúa Giêsu, Đấng Chúa Cha sai đến, là Đấng trung gian của sự bình an này, nên Người có thể gọi đó là sự bình an của mình: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”.

Không phải là thứ bình an giả tạo mà nhiều lần các ngôn sứ đã cảnh báo và Chúa Giêsu đã từ chối đem xuống trên mặt đất nhưng là bình an đích thực của Thiên Chúa, mà để ban cho thế gian, Chúa Giêsu đã hy sinh mạng sống.

Hiệu quả của ơn bình an này là: các môn đệ không còn xao xuyến nữa, dù trước viễn tượng Chúa Giêsu sẽ khuất dạng, hay trước nhiệm vụ đang chờ họ, chính họ sẽ là những người đem Tin Mừng cứu độ vào giữa lòng thế giới.

Một số người thường hay tức giận trong lòng và kết quả là họ thiếu sự bình an trong trí óc và sự thanh thản trong linh hồn. Nhưng có những người khác có được sự bình an nội tâm và họ làm cho đời sống của họ khác hẳn.

Niềm an bình Thiên Chúa ban khác hẳn, loại trừ khỏi tâm hồn con người mọi thái độ hung hăng, hiếu chiến, mọi thèm khát bất chính, để làm nảy sinh ra tình yêu thương, tình bằng hữu chân thành, vô vị lợi, lòng nhân từ tha thứ và sự công chính.

Niềm an bình ấy không trùng hợp với các giá trị của thế giới này, một thế giới tội lỗi, khép kín, khước từ Thiên Chúa. Niềm an bình của Thiên Chúa không giống như an bình bề ngoài giả tạo của các chế độ ý thức hệ trần gian. Các chính quyền trần gian ngưng chiến và ký thỏa hiệp vì không còn sức để chém giết nhau, chứ không phải vì muốn cho dân nước được an sinh thái bình thực sự.

Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng, Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. Anh em đã nghe Thầy bảo: “Thầy ra đi và đến cùng anh em”.

Bình an! Shalom! Đó là lời chào chúc quen dùng tại Israel. Nhưng ở đây, đó là lời chào chúc Phục sinh của Đức Giêsu sống lại: bình an phát xuất từ sự hiện diện của Đấng được coi là Vắng Mặt, nhưng Đấng đó không ngừng trở lại đối với những kẻ yêu mến Người... Một thứ bình an mà thế gian không thể nào nhận ra được, vì thế gian không nhận ra sự hiện diện đầy an ủi đó.

Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đến cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. Bây giờ Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để anh em tin khi sự việc ấy xảy ra.

Trong khi thi hành sứ vụ tại trần gian, Đức Giêsu chỉ có thể hiện diện với tất cả những giới hạn của không gian và thời gian: đó là những giới hạn của “thân phận con người”. Đức Giêsu nhận biết điều đó: “Vì là con người, nên Thầy thấp kém hơn Chúa Cha!”. Một kiểu nói cần phải hiểu cho đúng, vì nó không phủ nhận những kiểu nói khác nhằm quả quyết Đức Giêsu ngang hàng với Chúa Cha. Chính các tông đồ cũng không hiểu biết gì vào chiều hôm đó.

Bình an Chúa hứa ban cho thật là cần thiết và an ủi, nhất là khi Người bảo chúng ta: “Đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. Bình an Thầy ban cho anh em không phải như thế gian đã ban tặng…” Thật vậy, bình an của Chúa ban không phải là một thứ an tâm trong cám dỗ và thiếu xót, không phải là tránh lương tâm dưới áp lực của tội lỗi và tật xấu, không phải là đầu hàng để sống sai trái và bất công. Song bình an của Chúa là niềm hân hoan, vì tâm hồn được hòa giải với chính mình, với tha nhân và với Thiên Chúa. Dù có đau khổ trong tinh thần hay thân xác, cả những lo âu trăn trở thì những đau khổ, những lo âu ấy cũng được chấp nhận, chia sẻ, và nó có một giá trị với những đau khổ của Chúa như một chia sẻ của những khó khăn và thử thách đối với người mình yêu thương.

Niềm an bình của Thiên Chúa là hạt giống làm phát sinh ra trời mới đất mới như được diễn tả trong chương 21 sách Khải Huyền: thành thánh Giêrusalem thiên quốc, hình ảnh Nước Trời, hình ảnh của Giáo Hội vẹn toàn được thánh hóa biến đổi trong thời cánh chung như là đích tới của ơn cứu độ. Trong đó, tín hữu không còn cần một môi giới nào, kể các đền thánh và ánh sáng mặt trời, mặt trăng, bởi vì vinh quang Thiên Chúa sẽ làm ánh sáng chiếu soi họ. Nhưng trước khi đạt tới điểm thành công ấy, Giáo Hội lữ hành trần thế cần được mọi thành phần của Thiên Chúa góp sức xây dựng, vun trồng và đổi mới. Và chúng ta chỉ có thể chu toàn sứ mệnh đó, nếu biết mở rộng cánh cửa tâm hồn cho ơn bình an của Chúa giãi tỏa, Tin Mừng của Chúa Giêsu mỗi ngày trong cuộc sống để cho Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn, hoạt động như Ngài muốn.

Người Kitô hữu phải là những người tác tạo và tái tạo hào bình, những người làm chứng cho hoàn bình trong thế giới bằng cuộc sống không bạo lực và bằng cách sống đồng tâm nhất trí với nhau. Điều kiện cần thiết là phải tin vào Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Lời được Cha sai đến loan báo Tin Mừng bình an (Cv 10, 36), phải tuân giữ Lời Chúa, và như vậy chúng ta sẽ có được sự hiện diện của Chúa trong chúng ta, như Chúa Giêsu đã tỏ cho biết: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ Lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến ở trong người ấy” (Ga 14, 23).

Khi có Chúa hiện diện trong chúng ta, chúng ta sẽ không còn lý do nào để phải lo lắng, sợ hãi. Sợ hãi, lo lắng, chứng tỏ một tâm hồn xao xuyến, chưa được ổn định, chưa được bình an và là một tâm hồn không có Chúa ngự trị.
Muốn xây dựng hòa bình của Chúa, chúng ta phải là những con người hiếu hòa, đã được ổn định và bình an trong tâm hồn. 

Nếu chúng ta còn để cho dục vọng làm chủ mình; nếu chúng ta còn khư khư bám víu sự sống mình một cách ích kỷ; nếu chúng ta còn có sợ mất mát những của cải, hoặc phải bảo vệ chúng để hưởng thụ; nếu chúng ta còn muốn thống trị kẻ khác, làm sao chúng ta có thể gieo rắc bình an và xây dựng được hòa bình? Muốn xây dựng hòa bình ở bình diện lớn, thiết tưởng phải bắt đầu từ những bình diện nhỏ, vừa tầm tay, từ cá nhân, trong gia đình, đến xã hội, đất nước và lan tỏa đến toàn thế giới.

Như vậy, bình an của Chúa nói đây là một lời trăn trối cuối cùng của Ngài khi Ngài sắp ra đi chịu chết và cũng là bình an của niềm vui khi Ngài sống lại. Bình an đó là điều qaun trọng, vì đó là ơn của Chúa Thánh Thần ban, nó chính là hạnh phúc đích thật mà chúng ta đang tìm kiếm. Bình an đó Thiên Chúa còn muốn cho mọi người, cho mọi quốc gia trên thế giới đều được hưởng mà chúng ta gọi là hòa bình.

 

22/05/2019
Thứ Tư Tuần V Mùa Phục Sinh 
Cv 15, 1-6; Ga 16, 28 

CẮT TỈA ĐỂ SINH HOA TRÁI
Chúa Giêsu đã dùng rất nhiều hình ảnh để nói về những thực tại Nước Trời. Nhưng trong các hình ảnh ấy, cây nho hẳn phải chiếm một chỗ ưu việt : ưu việt vì cây nho là giống cây phổ thông nhất của miền Palestina, ưu việt vì trong Cựu ước cây nho vốn được xem là biểu trưng của dân riêng. Nhưng như các tiên tri đã nhiều lần lên tiếng tố cáo : thay vì sản xuất rượu ngon, cây nho Israel chỉ mang lại thứ rượu đắng của bất trung và phản bội. Tiếp tục truyền thống tiên tri, Chúa Giêsu cũng lấy lại hình ảnh cây nho, nhưng cây nho chính là Ngài. Lòng tín trung mà Thiên Chúa hằng chờ đợi nơi Israel nay Ngài đã tìm thấy nơi cây nho đích thực là Chúa Giêsu.
Một giao ước mới phát sinh, bởi vì lòng trung tín của Chúa Giêsu được diễn tả trong sự vâng phục và vâng phục cho đến chết trên Thập giá, không phải là cố gắng thuần tuý của con người, mà chính là lòng thủy chung của con Thiên Chúa trong chừng mực của con người. Cây nho của giao ước mang lại những trái xum xuê có tên là tình yêu. Đó là kết quả của sự cắt tỉa : cây nho không thể sinh hoa kết trái nếu không bị cắt tỉa, tình yêu sẽ không là tình yêu đích thực và phong phú nếu không được cắt tỉa khỏi những ngọn nhành thừa thải của ích kỷ.
Và rồi với Tin Mừng hôm nay, rất gần gụi, Chúa Giêsu chọn cây nho và cành nho để trò chuyện với các môn đệ của Ngài.
Chúa Giêsu long trọng khẳng định một cách tuyệt đối và siêu việt, có âm vang Messia: “Thầy là cây nho thật”, và Thiên Chúa Cha là người trồng nho. Như vậy Chúa Giêsu có phẩm tính thần linh, và sự  sống mà Ngài chuyển thông cho những cành nho của Ngài là sự sống thần linh. Chính Giáo Hội và tất cả những người Kitô hữu là cành nho, nhất thiết phải gắn liền với thân cây nho là Đức Giêsu Kitô, để đón nhận nhựa sống thần linh của Ngài. Nước rửa tội, rượu Thánh Thể sẽ là những chính lộ của sự chuyển thông ấy từ cây nho đích thực, là cây nho ban sự sống, để thân cây nho và cành nho hình thành nên chỉ một cây nho duy nhất. Đây là một hình ảnh rất thân thương mật thiết của Chúa Kitô đối với Giáo Hội của Ngài.
Đức Giêsu là cây nho thật, cây nho hoàn hảo, cây nho sinh hoa trái như Chúa Cha mong muốn nơi Đức Kitô, là qui tụ các kitô hữu làm nên một dân riêng mới của Thiên Chúa, dân mà Ngài đã chuyển thông sự sống cho. Người kitô hữu  sống kết hợp với Chúa Kitô  nhờ đức tin thì mới có sự sống thần linh, và mới có thể sinh hoa trái cho sự sống đời đời. Cây nào sinh hoa trái thì Thiên Chúa  cắt cành tỉa lá để chúng nảy sinh nhiều hoa trái hơn.
Hệ quả của sự cắt tỉa: Có một dạo phong trào trồng nho đã nở rộ tại một số tỉnh dọc theo duyên hải miền Trung. Cây nho không còn là một thứ cây xa lạ đối với nhiều người Việt Nam nữa. Cây có trái là chuyện thường, nhưng cây phải bị cắt tỉa mới có thể đâm chồi, trổ hoa và sinh trái, đó là hình ảnh đặc trưng của cây nho. Thật thế, với đôi mắt không chuyên môn, khi nhìn vào thân nho bị cắt tỉa, có lẽ ai cũng phải xót xa, có lẽ người ta sẽ nhìn vào người trồng nho như một con người nhẫn tâm, vì người trồng nho xem ra cắt tỉa cây nho không chút tiếc xót. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, người ta sẽ ngạc nhiên khi nhìn thấy từ những cành trơ trụi những mầm non nhú ra và hoa cũng bắt đầu xuất hiện.
Cắt tỉa: cuộc đổi đời nào cũng được đánh giá bằng những cái mất và những cái được. Tuy nhiên với con mắt đức tin, người ta vẫn nhìn thấy cái được trong cái mất… Đức Hồng y Etchegaray có lần đã nói “Đứng trước cánh rừng, chúng ta không nên dừng lại ở tiếng ngã đổ của cây rừng, nhưng hãy lắng nghe âm thanh của những mầm non đang mọc lên.”
Đó là công việc của Thiên Chúa đang thực hiện trong Hội Thánh và trong mỗi kitô hữu. Ngài cắt tỉa nhiệm nhặt như không chút xót thương qua những thử thách, bằng cách chịu bách hại, đau khổ và hi sinh vì Chúa, để tôi luyện đức tin, lòng cậy trông và tình mến Chúa, vì như lửa thử vàng thì gian nan lại thử đức. Chúa gởi thử thách để thanh luyện những kẻ yêu mến Ngài, để họ trở nên những con người đem lại nhiều kết quả cho Nước Trời. Luật cắt tỉa cứng rắn như vậy, người kitô hữu mới không trở thành những cành khô héo. Nhưng Chúa Giêsu cũng an ủi các môn đệ của Ngài: “Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em”.
Vì lời Chúa ở trong các ông đã trở nên một sức mạnh biến đổi nội tâm các ngài, sức mạnh của lời Chúa giải phóng các ông khỏi gian dối và tội lỗi. Chúa Giêsu còn mời gọi các môn đệ: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em” vì “ không có Thầy anh em không làm gì được”. Lời này chỉ về cuộc sống siêu nhiên, không ai có thể nhờ phương thế riêng mình mà có thể đạt được hay tăng trưởng được.
Chúa Giêsu còn nói lên tính hiệu lực của lời cầu nguyện khi chúng ta biết kết hiệp mật thiết với Đức Kitô: “nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý”. Phần cuối của bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu diễn tả mối bận tâm của Ngài là làm vinh danh Chúa Cha, thực hiện thánh ý Chúa Cha. Điều đem lại vinh quang của người trồng nho chính là chất lượng của trái nho, cũng như sự sai trái của chùm nho. Như vậy, các môn đệ góp phần vào vinh quang của Chúa Cha bằng đời sống thánh thiện của các ngài, và bằng những kết quả sáng chói của sứ vụ các ngài thực hiện, lúc đó các ngài mới là môn đệ thực sự của Đức Giêsu Kitô.
Qua hình ảnh về sự sinh trưởng của cây nho, sự tương quan gắn bó chặt chẽ giữa cây nho và cành nho, chúng ta suy niệm để khám phá ra mối tương quan cần thiết giữa chúng ta với Chúa Kitô trong cuộc sống hằng ngày, để chúng ta biết tin vào Chúa Kitô và biết kết hợp chặt chẽ với Chúa Kitô, làm mọi việc với Chúa, vì Chúa để có kết quả thiêng liêng đời đời trong ngày cánh chung. Chúng ta siêng năng chịu các phép bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể để chúng ta gắn bó với Chúa Giêsu hơn, mới có thể sống đời sống thiêng liêng dồi dào và sản sinh hoa trái. Nhưng muốn cho đời sống chúng ta có kết quả phong phú, chúng ta còn cần sống lời Chúa và để lời Chúa thanh luyện chúng ta, tẩy sạch chúng ta khỏi các tính mê tật xấu.
Mỗi lần lời Chúa tiêu diệt một tính xấu, là một lần chúng ta sinh thêm hoa trái thiêng liêng. Càng tin vào Thiên Chúa càng sống bác ái với tha nhân và càng trở nên hoàn thiện cho bản thân, càng làm cho Thiên Chúa được vinh quang. Chúng ta luôn kết hợp với Chúa Kitô và để cho lời Chúa cắt tỉa chúng ta, dù phải hi sinh chịu đau khổ cách nào, thì đời sống đạo chúng ta mới thăng tiến được.
Chữ “Kitô hữu” có nghĩa là “Người thuộc về Đức Kitô.” Cho nên cuộc sống Kitô hữu đương nhiên phải là cuộc sống trong Đức Kitô và sống bằng sức sống của Ngài. Muốn thế thì đương nhiên phải kết hợp chặt chẽ với Đức Kitô: bằng cầu nguyện, bằng tưởng nhớ, bằng thi hành những lời Ngài dạy… Ai không làm những điều đó thì người ấy không phải là Kitô hữu thật, người ấy là cành nho khô, sớm muộn gì thì cũng bị chặt đi và quăng vào lửa.
Hôm nay có cơ hội để ta nhìn vào Giáo Hội và cuộc sống đức tin của chúng ta với một cái nhìn bình thản và tin tưởng. Mỗi kitô hữu là một ngành nho gắn liền với cây nho là chính Chúa Giêsu. Để được gắn liền với Ngài và trổ sinh hoa trái chúng ta không thể không chịu cắt tỉa khỏi những gì nghịch với Tin mừng và cốt lõi của Tin mừng là tình yêu. Sự cắt tỉa nào cũng làm chúng ta đau đớn, mất mát nào cũng làm chúng ta tiếc xót, nhưng vì đã được sống theo Tin mừng, chúng ta hãy xem như một lợi lộc cao quí nhất khi bị cắt tỉa và mất mát ấy sẽ mãi mãi tồn tại. Vả lại ngay trong cuộc sống này, giá trị của con người không được đo lường bằng những gì nó thu tích, mà bằng chính những gì nó hy sinh và cho đi. 
Để sinh nhiều hoa trái, chúng ta được mời gọi ở lại trong Đức Giê-su, như cành nho gắn liền với thân nho. Đức Giê-su ở lại trong chúng ta, và chúng ta được mời gọi ở lại trong Ngài. Và như chúng ta đều biết, “ở lại trong nhau” là ngôn ngữ của tình yêu. Thực vậy, Đức Giê-su sẽ nói tới tình yêu trong phần tiếp theo: “Chúa Cha yêu mến thầy thế nào, thầy cũng yêu mến anh em như vậy”. 
Hoa trái chính là những nhân đức. Nhân đức càng nhiều, càng trở nên như một thói quen không thể thiếu hàng ngày sẽ luôn trổ sinh hoa trái bằng những ảnh hưởng trực tiếp cho những người xung quanh. Bằng những lời nói lôi cuốn những người tội lỗi trở về đường ngay nẻo chính. Bằng những hành động bác ái yêu thương đối với hết thảy tha nhân. Nếu không có nhân đức sẽ không sinh được hoa trái.

 

23/5/2019 Thứ Năm Tuần V Mùa Phục Sinh
Cv 15, 7-21; Ga 15, 9-11

HÃY ĐONG ĐẦY TÌNH YÊU 
Thánh Gioan trong bức thư thứ nhất đã định nghĩa : Thiên Chúa là Tình Yêu. Và Thánh Phaolô cũng đã xác quyết : Hiện nay chỉ còn lại tin cậy mến, nhưng trong bộ ba đó, thì đức mến là quan trọng hơn cả.Chúng ta có thể áp dụng lời xác quyết trên trên vào đời sống gia đình, như Đức Thánh Cha Piô XI đã viết trong thông điệp “Casti connubii” : Tình yêu là rường cột vững chắc cho mọi gia đình.       
Chúa Cha đã yêu mến Chúa Con. Chúa Con đã ở trong tình yêu này bằng cách tuân giữ giới răn của Chúa Cha. Nhưng Chúa Con cũng đã yêu thương các môn đệ bằng chính tình yêu này và các môn đệ cũng có thể ở lại trong tình yêu này bằng cách tuân giữ giới răn của Chúa Con. Như vậy đối với Chúa Con: yêu thương và vâng phục là một. Chúa Con yêu mến Chúa Cha bằng cách tuân giữ giới răn của Ngài, các môn đệ cũng phải yêu mến Chúa Con bằng cách tuân giữ giới răn của Ngài.
Do đó yêu thương thật sự và trọn hảo là sẵn sàng hy sinh quan điểm của mình để tin tưởng người khác, nhưng không phải do sợ hãi hoặc tính toán, mà là để làm theo ý muốn và ước nguyện của người mình yêu. Không có sự kết hợp của hai ý muốn, tình yêu sẽ không bao giờ được trọn vẹn. Sự tuân phục lẫn nhau là tiêu chuẩn đích thực của một tình yêu trưởng thành.
Cành nho và thân nho có một mối liên hệ khăng khít: cành nho phát xuất từ thân nho; cành nho chỉ là cành nho khi thuộc về thân nho chứ không phải bất cứ một loại thân nào khác. Ngược lại, thân nho sinh cành nho để nó sinh hoa trái; cành nho không cho trái là cành nho làm hại thân nho; mà muốn có trái thì cành nho phải gắn liền với thân nho (c.4)…
Khi khẳng định: “Thầy là cây nho, anh em là cành”, Chúa Giêsu muốn nói lên mối quan hệ duy nhất giữa Ngài và người môn đệ, “vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” Chẳng làm gì được, nghĩa là không thể sinh hoa trái; mà cành nho không sinh hoa trái là cành nho vô dụng, chỉ để làm mồi cho lửa mà thôi (c.6).
“Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”, đó là lời mời gọi của Đức Giêsu đối với các môn đệ, và cũng là lời mời gọi cho bất kỳ ai muốn nên nghĩa thiết với Ngài, và muốn có được niềm vui trọn vẹn. “Hãy” đó là một sự mời mọc, sự khuyến khích đầy yêu mến và tế nhị, vì Đức Giêsu luôn tôn trọng tự do của các tông đồ, cũng như tôn trọng tự do đáp trả của mỗi chúng ta. Ngài mời gọi các tông đồ hãy “Ở lại trong”, đây quả là một điều hết sức đặc biệt được thánh sử Gioan diễn tả về mối thâm tình kết hiệp giữa thầy Giê-su và các môn đệ, giữa Thiên Chúa và con người. “Ở lại trong” chứ không phải “ở lại với” (diễn tả một sự liên hệ gần kề, mang tính thể lý), “ở lại trong” diễn tả một sự liên kết mật thiết hơn nhiều, đó là sự đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu, Đức Giêsu ở trong Chúa Cha, các môn đệ ở trong Đức Giêsu, và như thế có nghĩa rằng tất cả nên một bản vị, một Hiện hữu duy nhất không thể tách lẻ hay chia rời.
Thế nhưng làm sao chúng ta có thể ở lại trong Đức Giêsu? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời, nếu chúng ta không thực sự biết yêu mến với lòng khiêm tốn và khát khao Ngài.
Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ chìa khóa, để các ông mở cánh cửa chính đi vào mối tương quan nhiệm hiệp với Thiên Chúa (Ở lại trong), đó là giữ các điều răn của Ngài. Và chính Đức Giêsu là một ví dụ về việc tuân giữ các điều răn ấy từ Chúa Cha. Để làm điều đó:
Trước hết, các ông cần xác tín rằng, tình yêu Đức Giêsu dành cho từng người các ông là vô biên, là trọn hảo, là toàn vẹn, tình yêu ấy giống như tình yêu mà Chúa Cha đã dành cho Ngài. “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu mến anh em như vậy”.
Sau cùng, các ông cần thực hành nghĩa là tuân giữ những điều mà Đức Giêsu đã truyền dạy, cũng như chính Ngài đã tuân giữ các điều răn của Chúa Cha dạy. Khi thực hành như thế tức là các ông đang được ở trong tình yêu của Đức Giêsu, cũng có nghĩa là ở trong tình yêu của Chúa Cha.
Chính khi các tông đồ thực hiện những điều ấy, thì các ông mới được ở trong niềm vui của Đức Kitô, và như vậy niềm vui của các ông mới được nên trọn vẹn. Quả thế, niềm vui của Đức Giêsu là yêu mến và vâng phục Chúa Cha; niềm vui của Đức Giêsu cũng chính là niềm vui của người môn đệ, mà chính Ngài đã chia sẻ cho họ. Do vậy, niềm vui của người môn đệ chính là yêu mến và vâng phục Đức Giêsu, và qua đó họ vâng phục Chúa Cha.
Con người chúng ta qui hướng về tình yêu. Thực vậy, người ta ca ngợi tình yêu, nhưng đồng thời người ta cũng oán hận tình yêu. Và tình yêu đã trở nên một yếu tố cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Nhân danh tình yêu, người ta sẵn sàng làm việc, chấp nhận hy sinh và khổ đau. Cuộc sống con người là như một chuyến phiêu lưu của tình yêu đầy cam go và thử thách. Có thể là thành công rực rỡ, nhưng có thể là thất bại ê chề.
Từ thẳm sâu cõi lòng, cái ước vọng thầm kín nhất của con người vẫn là cái ước vọng yêu và được yêu. Lý do hiện hữu của con người cũng chính là tình yêu, bởi vì chúng ta được dựng nên bởi tình yêu và cho tình yêu. Như chiếc lá lìa cành sẽ bị tàn úa. Cũng vậy, sống cô đơn, thiếu vắng tình yêu sẽ làm cho con người hụt hẫng…. Đói cơm, đói gạo có thể giết chết hàng triệu người mỗi năm. Thế nhưng đối với tình yêu còn nguy hiểm và có sức tàn phá hơn nhiều. Nó chia rẽ lòng người. Nó phân hóa nhân loại. Nó biến gia đình trở thành một nhà tù, và cuộc đời trở thành một sa mạc cát nóng. Rồi nữa, trong tình yêu cũng có biết bao nhiêu hiểu lầm tệ hại. Danh từ tuyệt vời này đã gây nên biết bao nhiêu ngộ nhận cay đắng. Bởi vì người ta chưa biết yêu cho đúng đắn. Họ tưởng mình yêu người, nhưng lại hóa ra yêu mình, không quảng đại san sẻ cho nhau.
Tình yêu là một con đường một chiều, khởi đi từ bản thân chúng ta để tiến tới người mình thương mến. Tiến tới không phải để chiếm đoạt, nhưng để cho đi, để trao ban. Nếu chúng ta chỉ chiếm đoạt người yêu cho riêng mình, không bao giờ biết cho đi, không bao giờ biết trao ban, thì chắc hẳn tỉnh tình yêu sẽ chết. Hay nói một cách khác : hành động như thế là chúng ta đi ngược với con đường vào tình yêu… Đừng hỏi rằng người yêu đã làm gì cho tôi, nhưng hãy xét xem : tôi đã làm gì cho người tôi thương. Để yêu cho đúng nghĩa thì hãy dám từ bỏ để dấn thân phục vụ. Càng cho đi nhiều thì càng yêu mến nhiều. Chúa Giêsu đã nói : “Không ai yêu hơn người hiến mạng sống vì bạn hữu”. Nếu chúng ta cho đi để đòi lại theo kiểu hòn đất ném đi, hòn chì ném lại thì chúng ta chẳng được gì hết. Trái lại, chính lúc cho đi một cách quảng đại, thì chúng ta sẽ được nhiều nhất, sẽ được tất cả…
Mẫu gương đáng cho chúng ta noi theo đó là Chúa Giêsu với cái chết trên thập gía vì yêu thương chúng ta. Hôm nay Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ : “Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15, 9). Lưu lại trong tình yêu con người sẽ được tình yêu tắm gội và biến đổi. Nhưng muốn ở lại trong tình yêu, con người phải tuân giữ lệnh truyền yêu thương của Ngài, một tình yêu hướng về người khác và trao ban điều tốt lành cho người khác. Vì yêu thương Thiên Chúa đã thông ban sự tốt lành cho các thụ tạo của Ngài, Ngài đã cho con người được chung hưởng tình yêu của Người.
Ta dễ dàng thấy rằng hễ đã yêu thương ai, hẳn chúng ta muốn sống bên cạnh người ấy để chia sẻ và lấy sở thích của người ấy làm sở thích của mình. Tình yêu giữa con người với nhau còn như thế, huống chi là tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Chúa Giêsu rất mực yêu thương các môn đệ, Ngài muốn họ ở với Ngài cũng như Ngài hằng mơ ước với Thiên Chúa; Ngài muốn họ thực hành Lời Ngài cũng như Ngài luôn vâng lệnh truyền của Chúa Cha.
Trong xã hội ngày nay, lời mời gọi “Hãy ở lại trong tình thương của Chúa” luôn là một động lực mạnh mẽ, thúc bách người Kitô hữu đến gần Chúa hơn. Năm Lòng Chúa Thương xót như là một phương thế cụ thể mà Đức Giêsu qua Giáo Hội giang rộng vòng tay đón nhận và ôm ấp bất kỳ ai đến với Ngài.

 

24/5/2019 Thứ Sáu Tuần V Mùa Phục Sinh 
Cv 15, 22-31; Ga 15, 12-17
YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU

Trang Tin mừng hôm nay là những lời tâm huyết, lời trăng trối của Đức Giêsu nói với các môn đệ yêu quý nhất trong bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài bước vào cuộc thương khó khốc liệt. “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”. Giáo hội đã đón nhận lời dạy này như một “di sản thiêng liêng” và còn gọi là “điều răn mới”. Vấn đề đặt ra điều răn này “mới” ở chỗ nào, mới về thời gian, về ý nghĩa hay về một điều gì khác. Sở dĩ gọi là “điều răn mới” vì Chúa Giêsu muốn người môn đệ “yêu như Thầy”. Không phải yêu theo kiểu “đầu môi chót lưỡi”, yêu để được yêu lại, yêu vì lợi lộc, tiếng tăm hay vì bất cứ một điều gì khác.
Đức Giêsu dạy cho chúng ta biết rõ phải đáp trả tình yêu của Chúa: “Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Phẩm chất của tình yêu Kitô hữu là nên giống tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu của chúng ta phải đối chiếu với cách thức của Đức Giêsu yêu thương chúng ta: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”.
Điều răn mới trong Tin Mừng Gioan mang đậm nét Kitô học vì là “yêu thương nhau như Thầy đã yêu”. Nghĩa là yêu thương nhau bằng tình yêu mà Đức Giêsu đã dành cho các môn đệ.Thánh Gioan đã định nghĩa “Thiên Chúa là tình yêu”, hay nói cách khác tình yêu là bản chất của Thiên Chúa. Tình yêu ấy lớn hơn mọi thứ lợi lộc của cải vật chất, sâu rộng hơn mọi ước muốn, bao trùm, thắng vượt mọi yếu hèn và tội lỗi của con người. Ngài đã dùng cả cái chết của mình để định nghĩa tình yêu, để chứng minh cho “điều răn mới ấy”. Ngài không chỉ yêu người công chính mà còn yêu cả những người tội lỗi, kẻ vong ân phản bội ... Ngài đã yêu và cho đi đến giọt máu cuối cùng.
Qua và với Tin Mừng Thánh Gioan, chúng ta như được thưởng thức một bản tình ca tuyệt đẹp mà trong đó “tình yêu” được xem là một “chủ âm”. Vì tất cả mọi lời nói việc làm của Chúa Giêsu đều diễn tả tình yêu tự hiến vâng phục ý Chúa Cha và hiến mạng để chuộc tội cho loài người chúng ta. Ngài đã đến thế gian để yêu con người với nỗi cuồng si bất tận. Ngài luôn chạnh lòng thương, đồng cảm với niềm vui nỗi buồn của con người.
Và ta thấy đi đến đâu Chúa Giêsu cũng thi ân giáng phúc đến đó. Ngài đã đến để chia sẻ niềm vui trong tiệc cưới tại Cana và cũng đến đồng bàn với những người tội lỗi, bất chấp mọi tiếng đời xầm xì khinh dể. Chúa Giêsu tha thứ tội lỗi cho con người, chữa mọi bệnh hoạn tật nguyền về thể xác cũng như tâm hồn. Ngài làm cho người mù sáng mắt, người què đi được, xua trừ ma quỷ, tẩy sạch những gì là nhơ uế. Ngài đặc biệt quan tâm đến người góa bụa, trẻ em,người thấp cổ bé miệng...
Lòng thương cảm của Chúa Giêsu thấm đẫm từng trang Tin Mừng. Từng lời, từng chữ, từng cử chỉ hành động của Ngài đều tỏ cho con người biết tình thương của một  vị Thiên Chúa bao la như một người cha nhân hậu, quảng đại như một người mục tử nhân lành dám hiến mạng vì đoàn chiên, gần gũi thiết than như một người bạn luôn chia sẻ mọi nỗi khó khăn, nhọc nhằn của con người.
Là kitô hữu, chúng ta được mời gọi sống “điều răn mới” là “yêu như Thầy đã yêu”. Điều này không dễ thực hiện bởi lẽ con người chúng ta còn mang đầy tính ích kỷ, chỉ yêu những gì  thuộc về mình, có lợi cho mình, mấy ai dám yêu kẻ thù để rồi chịu thiệt thòi mất mát. Hãy   nhìn lên Chúa Giêsu là khuôn mẫu của tình yêu. 
Vì thế ai yêu thương thì nên giống Thiên Chúa. Tình yêu ấy chính là động lực cho con người thêm can đảm lướt thắng mọi nỗi sợ hãi, gian nan vất vả kể cả cái chết. Yêu thương càng nồng nàn, đức mến càng rộng khắp, giống như cách nói của thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintho “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu...Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả” (1Cr 13, 4.7).
Thiên Chúa bộc lộ cho con người biết mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa thật lớn lao, cao sâu đến nỗi hy sinh cả Người Con Một Duy Nhất. Tình yêu ấy là sự kết hợp và vâng phục ý Cha được thực hiện qua Đức Giêsu. Vì thế ai yêu thương thì nên giống Thiên Chúa, và khi yêu thương con người được gọi là bạn hữu của Thiên Chúa.
Quả thật, đức mến là yêu thương, yêu thương bao hàm sự tin tưởng. Ở một khía cạnh khác, tình yêu có sức năng động sáng tạo. Chính Thiên Chúa đã tác tạo con người có trái tim biết yêu thương để họ xây dựng đời nhau và viên toàn thăng hoa thân phận mình. Kín múc tình yêu từ Thiên Chúa Ba Ngôi, nên ai yêu thương trong Thiên Chúa thì tình yêu ấy luôn bền chặt dù có phải trải qua sóng gió, thử thách. Nếu không có Thiên Chúa là nguyên lý của tình yêu chắc chắn con người không thể yêu thương gắn bó trọn kiếp cho nhau được.
Nói về tình yêu là nói về sự sống và sự chết, bởi vì người ta sống vì yêu mà chết cũng vì yêu. Quả vậy, Đức Kitô đã sống và chết vì yêu thương con người. Ngài đã vượt qua từ cõi chết đến cõi sống, để minh chứng về công cuộc cứu chuộc vì yêu thương. Và Ngài dùng chính mẫu gương của Ngài để dạy chúng ta làm điều mà chính Ngài đã thực hiện: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương anh em”. Ngài đã chết vì chúng ta để trở nên bạn hữu của chúng ta, và mời gọi chúng ta: “Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy”. Muốn trở nên bạn hữu của Chúa, chúng ta chỉ có một điều kiện: thương yêu nhau như Chúa đã yêu.
Không có gì quý giá hơn tình yêu thương. Thế giới chỉ có niềm vui trọn vẹn, có sự an hòa hạnh phúc khi mọi người biết đối xử với nhau tình yêu thương.Tình yêu như không khí để con người hít thở mà tồn tại, thử hỏi cuộc sống này thiếu vắng tình yêu thì ai còn muốn sống. Cây không có gốc thì không đứng vững, con người không biết yêu thương thì không thể tồn tại. Nếu không có tình yêu, chim chóc sẽ ngừng ca hát, hoa lá thôi không nở, sông suối thác nguồn chẳng còn tuôn chảy róc rách. Nếu không có tình yêu, các thánh chẳng còn chịu đổ máu tử vì đạo bởi tình yêu có một mãnh lực phi thường chiến thắng cả sự chết. 
Và ta thấy tất cả mọi thứ đến từ tình yêu thì luôn vững bền. Giàu sang mà không có tình yêu là thứ giàu sang phù hoa, mau qua, thành công mà vắng bóng tình yêu thì chỉ như ánh hào quang lóe lên rồi vụt tắt. Ở nơi nào đó không có tình yêu ngự trị, nơi đó có tranh chấp, thù hận và dối gian, nơi đó in dấu muộn phiền. Tình yêu làm cho trời bừng sáng, cho đất tràn trề sức sống, cho hạt nảy mầm, cho cây trổ hoa và kết trái.
Chúa Giêsu đã khẳng định cách rõ ràng: “Anh em là bạn hữu của Thầy”. Hạnh phúc biết bao cho con người khi có Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, và là chính Thiên Chúa làm bạn! Và như một hệ luận, để trở nên bạn hữu “tri âm, tri kỷ” với Chúa Giêsu, con người, cách riêng những Kitô hữu, cần có đời sống gắn bó thân tình với Chúa và trung thành thực thi những điều làm vui lòng Người.
Noi gương Chúa Giêsu, xin cho chúng ta biết yêu thương mọi người xung quanh, quan tâm ủi an giúp đỡ họ dù chỉ là một chén nước lã, dù chỉ là một nụ cười, một ánh mắt cảm thông để tất cả chúng ta cùng được sống mãi trong tình thương của Thiên Chúa.


25/05/2019
Thứ Bảy Tuần V Mùa Phục Sinh 

Cv 16, 1-10; Ga 15, 18-21
CAN ĐẢM LÊN ! THẦY ĐÃ THẮNG THẾ GIAN
Thánh Gioan không chấp  nhận sự nhập nhằng, mù mờ trong thái độ sống. Ngài luôn có sự phân biệt rõ rệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa yêu và ghét, giữa thế gian và những gì không thuộc về thế gian... Tin Mừng hôm nay Thánh sử Gioan đã minh họa rõ hơn về hai hình ảnh đối lập ấy: một bên là thế gian và bên kia là những người Chúa chọn, những người gắn bó với Chúa ; một bên là tình yêu dành cho Thiên Chúa và bên kia là sự thù ghét thế gian mang lại.
Các nhà nghiên cứu cho thấy, thánh Gioan thể hiện xuyên suốt trong Tin Mừng thứ tư chủ đề tình yêu. Qua đoạn Tin Mừng hôm nay Ngài nêu lên một hình ảnh trái ngược làm sáng lên chủ đề tình yêu đó là “sự thù ghét”. Thống kê cho thấy Tin Mừng Gioan đã sử dụng 12 lần động từ “ghét”, động từ này hầu như các Tin Mừng khác không nói đến. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay và vài câu tiếp đó, tức Gioan 15, 18-25 động từ “ghét” đã chiếm 7 lần. Chủ từ cho động từ “ghét” thường là “thế gian”, và động từ ghét thường gắn liền với các cụm từ : bách hại, trục xuất khỏi hội đường, giết chết.
Tin Mừng hôm nay đã mở ra cách riêng cho người môn đệ và chung cho cộng đoàn của những người theo Chúa Giêsu một viễn ảnh chẳng mấy tốt đẹp: "Vì danh Thầy, họ sẽ bị thế gian bắt bớ và ghét bỏ". Trong ngôn ngữ của thánh Gioan, thế gian không có nghĩa là toàn thế giới, vì vũ trụ là công trình tác tạo do tình yêu của Thiên Chúa.
Thế gian ở đây là thế lực của sự dữ, của tất cả những gì đối nghịch cùng Thiên Chúa. Mà khi bước theo tiếng gọi của Chúa Giêsu, mặc nhiên người môn đệ đã chấp nhận dấn thân vào một đối đầu không khoan nhượng. Trong đó, họ sẽ lãnh lấy phần thua thiệt để phải hy sinh cả mạng sống. Ðiều này không chỉ xảy ra trong Giáo Hội thời sơ khai, nhưng mãi mãi cho đến hôm nay vẫn luôn còn bị bách hại.
Chúa Giêsu đã cho họ biết trước rằng làm môn đệ Ngài thì phải chấp nhận bị thế gian thù ghét. Nhưng thực tế, chúng ta một mặt tránh làm những gì khiến thế gian thù ghét mình, mặt khác còn tìm cách để thế gian yêu thương chiều chuộng mình. Hẳn là chúng ta không nên cố tình chọc tức thế gian, nhưng không nên quên lời Chúa nói: Chúng con ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian.
“Vì các con không thuộc về thế gian…nên thế gian ghét các con”. Người thế gian coi tiền bạc trọng hơn đạo đức, lọc lừa nhiều hơn là chân thật, ai cũng ích kỷ lo cho bản thân, thậm chí chà đạp lên người khác… Kitô hữu không thể sống như họ, cho nên bị họ thù ghét. Vậy, nếu vì phải sống theo lý tưởng tốt đẹp của mình mà bị thế gian thù ghét, chúng ta hãy chấp nhận.
“Nếu thế gian ghét các con, các con hãy biết rằng họ đã ghét Thầy trước”. Chúng ta chấp nhận bị thế gian thù ghét vì lý do chúng ta làm môn đệ Chúa, chúng ta phải vác Thập giá hằng ngày mà theo Chúa.
“Giả như anh em thuộc về thế gian, thế gian yêu thích những gì thuộc về nó. Nhưng anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em ra khỏi thế gian nên thế gian ghét anh em”.
Chúa Giêsu đưa ra câu trả lời thật rõ : “Tôi tớ không lớn hơn chủ” ; “Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy”. Ở những nơi khác của Tin Mừng Nhất Lãm cũng nói lên điều đó. Số phận những Kitô hữu gắn liền với số phận của Chúa Giêsu. Nếu Chúa Giêsu bị hiểu lầm, chống đối, thù ghét... thì số phận của những người theo Ngài cũng giống như vậy. (Mc 1, 9-13 ; Mt 10, 17-22.23-29 ; Lc 12, 2-9.51-53).
Mặt khác, khi thuộc về Chúa, nghĩa là đứng ở phía đối lập với thế gian, mà thế gian thì ghét những ai không thuộc về chúng. Hơn nữa, đời sống của những người không thuộc thế gian là một đời sống công chính, vượt ra ngoài bóng tối tội lỗi. Đời sống ấy gián tiếp là lời tố cáo những thế lực đen tối, tội lỗi. Đời sống thánh thiện của người theo Chúa sẽ là lời kết án những ai sống bừa bãi. Khi bạn sống ngay thật bác ái, thì sẽ làm cho những ai sống trái với những điều ấy khó chịu, họ sẽ né tránh và loại trừ bạn. Đời sống ấy ắt hẳn là nguyên nhân của mọi sự loại trừ.
Ở Ga 15, 1-17 ngay trước đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nhắc các môn đệ của Ngài “hãy lưu lại trong tình yên và tình bạn với Ngài”. Nghĩa là, trước khi những người theo Chúa chịu sự ngược đãi của thế gian, thì trước đó họ phải được liên kết mật thiết với Chúa Giêsu. Họ phải nên một với Ngài như cây và cành, như đầu và chi thể. Nếu họ có được điều này, thì những gì thế gian đem lại sẽ không thể tách họ ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.
Tuy nhiên một điều đem lại nguồn an ủi lớn lao cho những ai đi theo Chúa, Chúa nói ngay sau đoạn Tin Mừng hôm nay : Ngài hứa ban bình an và niềm vui của Ngài cho những ai theo Ngài. Và khi có niềm vui và bình an của chính Chúa, khi ấy những ai đi theo Ngài sẽ có đủ sức mạnh vượt thắng thế gian.
Sống cho sự thật, làm chứng cho sự thật, dám nói lên sự thật là chấp nhận bị tẩy chay, bị loại trừ, bị bách hại. Một số phận như thế lại càng rõ nét hơn trong một chế độ xây dựng trên dối trá, lừa bịp. Trong một chế độ như thế, những ai trung thành với Chúa Giêsu, Ðấng đã bị bách hại vì sự thật, chắc chắn không thể không bị bách hại.
Như vậy để giải quyết vấn đề thế gian thù ghét những người không thuộc về chúng, Chúa Giêsu muốn những ai thuộc về Ngài phải liên kết chặt chẽ với Ngài. Nếu người ấy kết hợp mật thiết với Ngài, họ phải tin rằng họ không bị bỏ rơi, họ được bình an và tình yêu Thiên Chúa sẽ bao phủ, thế lực của tình yêu sẽ chiến thắng sự gian ác. Chúa đã nói : anh em hãy vui lên, Thầy đã thắng thế gian, và chắc chắn ai gắn bó với Ngài cũng sẽ thắng thế gian.
Tin Mừng hôm nay cho ta thấy : “Vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.” (Ga 15, 19). Thế gian mà Chúa nói đến ở đây là một thế gian đố kỵ và thù nghịch với Thiên Chúa, Đấng chân thật, tràn đầy tình yêu và sự sống. Thánh Phaolô cũng mô tả: Đó là một thế gian “ích kỷ, ham tiền bạc, khoác lác, kiêu ngạo, nói lộng ngôn,.. vô ơn bạc nghĩa, phạm thượng, vô tâm vô tình, tàn nhẫn, nói xấu, thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc, nông nổi, lên mặt kiêu căng, yêu khoái lạc” (2 Tm 3, 2 – 4). Kết cục của nó sẽ là sự diệt vong, hư mất đời đời.
Khi mang danh là Kitô hữu nghĩa là chúng ta thuộc về Đức Kitô, được thông phần đau khổ với Ngài và được vinh hạnh cùng Ngài cứu chuộc thế giới ngang qua những đau khổ mà chúng ta phải chịu vì danh Đức Giêsu. Vì thế: những trái khuấy dồn dập tư bề; những đau khổ về tinh thần lẫn thể xác như: bị bắt bớ, đánh đập và ngay cả cái chết... chúng ta hãy vui mừng hân hoan, bởi lẽ, lúc đó, chúng ta được trở nên giống Đức Giêsu hơn bao giờ hết và thật vinh hạnh vì được thuộc về Ngài chứ không thuộc về thế gian.
Là Kitô hữu, ta không thuộc về thế gian đang trên đà diệt vong của nó. Nhưng Chúa cũng không cất chúng ta ra khỏi thế gian. Chúa đã chiến thắng thứ thế gian tội lỗi ấy rồi và Chúa đang mời gọi ta hãy can đảm dấn thấn để chiến thắng thế gian: “Giữa thế gian, các con sẽ phải đau khổ, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16, 33).
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta ý thức sâu sắc về danh hiệu kitô của chúng ta. Mang danh hiệu kitô là tham dự vào mầu nhiệm Tử nạn và Thập giá của Chúa Kitô, nhưng chúng ta tin chắc rằng nhờ tham dự vào mầu nhiệm khổ nạn và Thập giá ấy mà chúng ta góp phần vào việc cứu rỗi và canh tân thế giới. Khổ đau mà các kitô hữu đang phải gánh chịu vì Danh Chúa Giêsu là hạt giống trổ sinh những hoa trái của niềm tin.

 

 

CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH 2016

Cv 14, 20b-26; Kh 21, 1-5a; Ga 13, 31-33a. 34-35

YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU

Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại những tâm tư của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ trước khi Ngài bước vào cuộc thương khó. Giờ đây, sau khi Ngài trỗi dậy từ cõi chết và trước khi rời xa các môn đệ để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu một lần nữa nhắn nhủ các môn đệ những lời từ sâu thẳm cõi lòng: anh em hãy thương mến nhau.

Chúa Giêsu không nhắc nhở các môn đệ ghi nhớ điều gì khác, không phải là những điều Ngài đã giảng dạy, không phải là các phép lạ lớn lao, nhưng là điều liên quan đến chính nội tâm của từng người, đó là khả năng để yêu mến. 

Với điều răn “Anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (13,34), Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ ý muốn cuối cùng và di chúc của Người: Người sẽ nhắc lại thêm hai lần nữa (x. Ga 15,12.17).

Chúa Giêsu cho các môn đệ thấy mộtcách thức theo đó Ngài sẽ tiếp tục hiện diện giữa các ông và Ngài quy định cách sống của các ông. Các môn đệ phải quy hướng bản thân về tình yêu của Ngài, là tình yêu mà mỗi ông đã trải nghiệm.

Trong tình yêu này, mỗi ông phải là Giêsu cho người khác, phải chấp nhận người khác, giúp đỡ người ấy, quan tâm đến điều thiện hảo của người ấy, như chính Chúa Giêsu đã làm. Như thế, các ông sẽ làm cho Chúa Giêsu hiện diện cho nhau trong cái đặc điểm tiêu biểu của Người: tình yêu. Các môn đệ được ngỏ lời với như là mộtcộng đoàn, các ông phải định hướng đời mình theo sự hiệp thông đời sống mà các ông đã có thể có với Chúa Giêsu.         

Chúa Giêsu không nghi ngờ lòng nhiệt thành của Phêrô, Ngài cũng không cần lo lắng về lòng trung thành của Giacôbê hay của Gioan, Chúa Giêsu đã từng khen ông Nathanaen là nơi ông “không có gì gian dối”, v.v. Chúa Giêsu hài lòng về nhiều đặc nét cá tính của môn đệ. Duy chỉ có một điều khiến Chúa Giêsu ưu tư là tương quan giữa các ông với nhau.

Chắc chắn Chúa Giêsu nhớ khi Ngài loan báo cho các ông về cuộc thương khó Ngài sắp trải qua, các ông lại lo tranh luận xem ai là người lớn nhất. Trong bối cảnh ấy, cũng dễ hiểu tại sao Chúa Giêsu chỉ căn dặn các môn đệ điều mà Ngài gọi là “điều răn mới”: “như Thầy đã yêu mến anh em, anh em hãy yêu mến nhau. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy: là anh em có lòng yêu mến nhau.” (Ga 13, 34-35)

"Mọi gười cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau". Xin ban thêm đức tin và lòng yêu mến cho chúng con, để chúng con có thể thờ phượng Chúa với tâm tình biết ơn, chúc tụng Chúa hết con người chúng con. Để khi cảm nhận được những tình yêu Chúa, chúng con biết cho đi, biết chia sẻ những gì chúng con nhận được cho anh chị em chung quanh của chúng con, và như thế chúng con trở nên nhân chứng tình yêu Chúa cho mọi người.

Chúa Giêsu để lại cho các ông một mẫu gương của lòng yêu mến, đó là hãy yêu thương như Ngài, yêu thương hết lòng và yêu đến cùng. Khía cạnh thứ hai là chính ở dấu chỉ các môn đệ yêu mến nhau làm chứng cho người ta các ông là người của Chúa, là môn đệ của Thầy Giêsu.

Như vậy, tất cả những điều khác, dù quan trọng và hữu ích, nhưng nếu chưa có lòng yêu thương thực sự đối với nhau, hình ảnh người môn đệ có nguy cơ bị phai mờ, vai trò chứng nhân của Thầy Giêsu có thể không đủ thuyết phục. Yêu mến như Thầy trở thành khuôn mẫu và dấu chỉ cụ thể không những cho các môn đệ mà còn cho tất cả những ai bước theo Chúa.

Kinh nghiệm thực tế chỉ cho chúng ta rằng liên đới và yêu mến tha nhân là một thách đố lớn lao. Không dễ để đồng cảm với người bên cạnh và càng khó hơn để yêu thương những ai khác biệt hay thậm chí thù nghịch. Để yêu thương cần một con tim trong suốt và cõi lòng rộng mở. Con tim trong suốt để không lưu giữ những dấu vết ích kỷ và cõi lòng rộng mở để tha thứ không ngừng. Được như thế, ta mới có thể yêu mà không tính toán, thương mà không quản ngại khó khăn.

Vào năm 1995, một trận động đất với cường độ mạnh đã xảy ra tại Thành phố Kô-bê Nhật Bản. khiến cho nhiều nhà cửa trong thành phố sụp đổ trở thành những đống gạch khổng lồ, gây thiệt hại rất lớn cho thành phố về người và của. Các đội cứu hộ ngày đêm làm việc khẩn trương để lôi ra từ những đống gạch đổ nát nhiều xác chết và người bị thương. Nhưng cũng chính từ tai họa này, người ta đã khám phá ra một câu chuyện cảm động về một tình yêu hy sinh quên mình như sau:
Đến ngày thứ hai của cuộc đào bới, thì từ dưới một ngôi nhà đổ nát, người ta đã đào lên được hai mẹ con vẫn còn sống thoi thóp. Đứa con nhỏ mới được vài tháng tuổi đang nằm ngủ yên trong lòng mẹ, đang khi mẹ của em lại bị hôn mê bất tỉnh.

Sau khi được cứu sống, một nhà báo đã phỏng vấn bà mẹ trẻ ấy như sau: “Làm thế nào mà hai mẹ con chị có thể sống được đến hai ngày dưới đống gạch đổ nát kia?”. Chị đáp: “Tuy bị vùi dưới tòa nhà, nhưng rất may chúng tôi đã không bị đè chết. Mấy tiếng đồng hồ sau thì con tôi khóc đòi ăn đang khi tôi chẳng còn giọt sữa nào. Tôi quờ quạng tìm xem có cái gì ăn cho đỡ đói không. Bất ngờ bàn tay tôi chạn vào một con dao sắc trong cái giỏ bên mình. Tôi cầm dao rạch một đường ở ngón cái cho chảy máu, rồi ấn ngón tay bị cắt vào miệng con để bú máu thay vì sữa mẹ. Sau khi bú ngón tay của tôi được mươi phút thì cháu nằm im ngủ. Nhưng rồi lại tiếp tục khóc vì đói. Tôi liền rạch thêm một đường nữa nơi ngón tay khác và cho cháu bú. Sau đó tôi ngất đi lúc nào không biết cho tới khi cả hai mẹ con được cứu sống”. Nhà báo tiếp tục hỏi: “Thế chị không nghĩ rằng làm như thế thì chị sẽ bị mất máu chết sao?” Chị ta trả lời: “Lúc ấy, tôi không nghĩ đến mình, mà chỉ lo kiếm cái gì cho con bú để nó được sống!”.

Để yêu thương cần một con tim trong suốt và cõi lòng rộng mở. Con tim trong suốt để không lưu giữ những dấu vết ích kỷ và cõi lòng rộng mở để tha thứ không ngừng. Được như thế, ta mới có thể yêu mà không tính toán, thương mà không quản ngại khó khăn.

Ước gì lời nhắn nhủ yêu thương của Chúa cho các môn đệ được chúng ta thuộc lòng, khi chứng kiến chúng ta bày tỏ lòng thương mến anh chị em đồng loại, nhìn ra tình yêu của Chúa tiếp tục hiện hữu và người môn đệ của Chúa không ngừng bày tỏ Ngài cho thế giới. Xin Chúa Giêsu phục sinh thánh hoá chúng ta trong lửa mến để tình yêu thương không bao giờ vơi cạn nơi con tim nhỏ bé của chúng ta nhờ biết mở ra với tình yêu vô hạn của Chúa.

 

Huệ Minh May 30, 2019