Suy niệm 10 phút Mỗi Ngày
 
 

 

Suy Niệm Xuân muôn thuở Maria

 

MÙA XUÂN MUÔN THUỞ MARIA
 

“Maria: Mùa Xuân Muôn Thuở" không phải chỉ là một cụm từ hoa mỹ để gọi Mẹ Maria theo văn chương của nhân loại, hay chỉ là một kiểu sánh ví biểu tượng cho một tạo vật đệ nhất trong trật tự ân sủng.

"Maria: Mùa Xuân Muôn Thuở" hoàn toàn là một thực tại, một thực tại về cả phương diện siêu nhiên cũng như tự nhiên. Đến nỗi, có thể nói, thực tại này đúng là "một điềm lạ xuất hiện trên không trung" (KH 12:1), "kỳ diệu trước mắt chúng ta" (TV 118:23).

"Maria: Mùa Xuân Muôn Thuở" không phải chỉ là một cụm từ hoa mỹ hay một kiểu sánh ví biểu tượng về Mẹ Maria tuyệt diệu, mà hoàn toàn còn là một thực tại. Ở chỗ nào? Xin mời qúi con cái Mẹ cùng nhau từ từ tiến vào "Mùa Xuân Muôn Thuở" này theo hành trình của lịch sử nhân loại đã biến thành Lịch Sử Cứu Độ như sau:

Mùa Xuân Trước Nguyên Tội
Mùa Xuân Sau Nguyên Tội
Mùa Xuân Maria
Mùa Xuân Viên Mãn
 
1.- MÙA XUÂN TRƯỚC NGUYÊN TỘI

Theo đúng ý nghĩa của mình, một mùa được gọi là Mùa Xuân phải hội đủ 3 yếu tố, bằng không sẽ không phải là hay không còn đáng là Mùa Xuân nữa. Ba yếu tố chính của Mùa Xuân đích thực, theo cảm nhận của con người từ trước đến nay, đó là: mới mẻ (của thời gian), tươi trẻ (nơi không gian) và vui vẻ (cho nhân gian).

"Mới mẻ": Tự bản chất, Mùa Xuân là thời gian. "Mùa Xuân là Thời Gian", theo nghĩa thuần túy nhất của "mới mẻ", phải là thời-gian-ban-đầu (in the beginning), tức "thời gian" và "ban đầu" chỉ là một, (như trong STK 1:1 hay của Gioan 1:1). Hay "Mùa Xuân là Thời Gian" theo nghĩa tối thiểu nhất của "mới mẻ", đó là thời gian từ ban đầu (from the beginning), tức "thời gian" và "ban đầu" đã hơi tách biệt nhau, bằng chữ "từ", (như trong Gioan 8:44). Hoặc "Mùa Xuân là Thời Gian", theo nghĩa bình thường nhất của "mới mẻ", lại là thời gian bắt đầu, tức "thời gian" không còn là một thực tại "ban đầu" hay "từ ban đầu" nữa, song đã trở thành một tác động "bắt đầu", “bắt đầu” mở màn cho một năm mới, (như trong lịch sử và thực tế cho thấy).

"Tươi trẻ": vì Mùa Xuân thể hiện bóng dáng của mình qua không gian mát mẻ, đẹp đẽ, với cỏ cây đâm chồi nẩy lộc, hoa lá tốt tươi.

"Vui vẻ": vì Mùa Xuân làm cho chung động vật và riêng nhân gian cảm thấy dễ chịu, thoải mái, khoan khoái, hân hoan, phấn khởi, yêu đời.

"Trước Nguyên Tội", như thế, có Mùa Xuân đích thực theo cảm nhận chung của loài người như được phân tích trên đây hay không?

"Trước Nguyên Tội" ở đây là lúc "ban đầu, Thiên Chúa đã dựng nên trời đất" (STK 1:1), và cũng là lúc "Thiên Chúa nhìn xem mọi sự Ngài đã làm nên, Ngài thấy là rất tốt đẹp" (STK 1:31).

"Trước Nguyên Tội" ở đây, cũng là lúc "ban đầu", "Thiên Chúa dựng nên con người theo hình ảnh Ngài: ‘theo hình ảnh thần linh, Ngài đã dựng nên con người' Ngài đã dựng nên con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc lành cho họ khi phán: 'Hãy sinh sôi nẩy nở' hãy làm tròn đầy trái đất và làm chủ nó..." (STK 1:27).

"Trước Nguyên Tội" trong một khung cảnh như thế, "trời đất" nói chung và thiên nhiên nói riêng không phải là một Mùa Xuân Đích Thực hay sao!?!
"Mùa Xuân Trước Nguyên Tội" là một mùa xuân "mới mẻ" nhất, vì là thời-gian-ban-đầu của trời đất, thời gian tiên khởi và nguyên khôi cho tất cả mọi sự trên trời dưới đất.

"Mùa Xuân Trước Nguyên Tội" là một mùa xuân "tươi trẻ" nhất, vì không gian, bao gồm mọi sự trong thiên nhiên, mới được Thiên Chúa tạo dựng, còn nguyên vẹn, hoàn toàn "rất tốt đẹp" trước thiên nhan, như Thiên Chúa muốn và theo ý của Ngài.

"Mùa Xuân Trước Nguyên Tội" là một mùa xuân "vui vẻ" nhất, vì con người được "Thiên Chúa mang đặt ở trong vườn Địa Đường để canh tác và chăm sóc cho vườn" (STK 2:15), và được "tự do ăn mọi thứ cây trong vườn, trừ cây biết lành biết dữ" (STK 2:16-17).

“Mùa Xuân Trước Nguyên Tội" là một mùa xuân "vui vẻ" nhất, chẳng những cho riêng con người là đệ nhất tạo vật trên trần gian này, mà còn cho chung cả mọi tạo vật đã được Thiên Chúa tạo dựng nên cho con người nữa: "Chúa là Thiên Chúa hình thành từ bùn đất các loại hoang thú và chim chóc trên trời, rồi Ngài mang đến cho con người xem để con người đặt tên cho chúng' con người gọi mỗi loại là gì thì nó là như vậy" (STK 2:19).

"Mùa Xuân Trước Nguyên Tội", bởi vậy, không phải là mùa xuân của con người và cho con người hay sao?!? Địa Đường là thiên thai trên trần gian ngay "ban đầu" có nghĩa gì, nếu không có con người sống động ở giữa và ở với, theo ý muốn của Thiên Chúa, để "canh tác và chăm sóc" cho. Cũng thế, trời đất với tất cả mọi sự "rất tốt đẹp" ngay "ban đầu", theo ý muốn của Thiên Chúa, chỉ giữ được vẻ nguyên tuyền "tươi trẻ" của mình trong sứ mệnh "làm tròn đầy" và bằng quyền năng "làm chủ" của con người mà thôi.

"Mùa Xuân Trước Nguyên Tội" phải chăng chính là Mùa Thái Hòa trong Trời Đất mà "con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa" (STK 9:6) là chính Chúa xuân!
 
2.- MÙA XUÂN SAU NGUYÊN TỘI

Nếu "trước Nguyên Tội" đã có mùa xuân, thì phải chăng ngay "ban đầu" ấy trời đất cũng đã có 4 mùa xuân-hạ-thu-đông theo thời tiết như hiện nay?
Õ
"4 mùa xuân-hạ-thu-đông theo thời tiết như hiện nay", theo cảm nghiệm tự nhiên, có thể ví như tâm trạng của trời đất được bộc lộ qua những dáng vẻ thay đổi định kỳ trong thiên nhiên.

"Xuân" là thời gian đầu năm "mới mẻ", hiển hiện qua không gian nẩy nở đầy "tươi trẻ", làm cho nhân gian sống trong không gian và thời gian cảm thấy hân hoan "vui vẻ".
"Hạ" là thời gian năng động, hiển hiện qua không gian thật căng thẳng và nóng nảy, làm cho nhân gian dễ cảm thấy hung hăng, không thể ngồi yên.

"Thu" là thời gian tàn tạ, hiển hiện qua không gian vàng úa và trống vắng, làm cho nhân gian dễ cảm thấy bâng khuâng, buồn buồn.

"Đông" là thời gian cô đọng (ngày ngắn đêm dài), qua không gian lạnh lẽo và tăm tối, làm cho nhân gian cảm thấy co ro, đơn độc, nhung nhớ, mang một mầu sắc chết chóc.

"4 mùa xuân-hạ-thu-đông theo thời tiết như hiện nay", nếu quả thật "trước Nguyên Tội" đã có thì không biết tình trạng "trần truồng mà không biết xấu hổ" (STK 2:25) của hai nguyên tổ ra sao? Có thể lúc bấy giờ, khi còn ở trong tình trạng Công Chính Nguyên Thủy, tình trạng "vô tội" và không biết đến tội lỗi là gì, da thịt của ông bà được miễn nhiễm khỏi mọi bất hạnh trong đời sống, gây ra từ môi sinh hay chăng?

Thế nhưng, chính trong lúc "trước Nguyên Tội" này mà mối thân tình giữa "trời đất" và con người "làm chủ nó" không thể có gì ngăn cách. Bởi đó, nếu "trước Nguyên Tội" đã có 4 mùa, vì không có quần áo để ăn mặc theo "thời trang", thì da thịt "trần truồng" của hai ông bà chắc hẳn sẽ phải biến dạng theo "thời tiết": đỏ, vào "mùa xuân Mỹ Châu", đen vào "mùa hè Phi/Úc Châu", vàng vào "mùa thu Á Châu", và trắng vào "mùa đông Âu Châu". Nếu "trước Nguyên Tội" đã có 4 mùa, thì không biết hai nguyên tổ che đậy bản thân "trần truồng" của mình và trốn lánh Thiên Chúa làm sao được khi Nguyên Tội xẩy ra vào cuối "mùa thu lá bay", lúc mà Vườn Địa Đường đã trở thành một khu rừng thưa trần trụi?!?

"4 mùa xuân-hạ-thu-đông theo thời tiết như hiện nay", với bản chất luân chuyển theo tác động thời gian, được tỏ lộ qua hình dáng nơi không gian như thế, làm sao nó có thể xuất hiện ngay "từ đầu", khi mà "Thiên Chúa nhìn mọi sự Ngài đã làm và Ngài thấy nó rất tốt đẹp" (STK 1:31).

"4 mùa xuân-hạ-thu-đông theo thời tiết như hiện nay", do đó, chỉ bắt đầu có kể từ "sau Nguyên Tội". "Trước Nguyên Tội", nếu có "mùa" thì chỉ duy có Xuân: Mùa Thái Hòa của Trời Đất, trong trật tự tạo dựng của Đấng Hóa Công, và nếu có "thời" thì chỉ là Thời Phúc Lộc Thọ của Con Người, trong yêu thương của "Thiên Chúa là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất" (kinh Tin Kính).

"Sau Nguyên Tội" ở đây tức là lúc "con cựu xà, gọi là ma qủi hay Satan, tên cám dỗ cả thế gian" (KH 12:9), đã dùng chính miệng lưỡi thâm độc "không có sự thật trong mình" (Gioan 8:44) để sát hại con người "từ ban đầu" (Gioan 8:44).

"Sau Nguyên Tội" ở đây cũng là lúc hai nguyên tổ nghe theo "tên gian trá và là cha của những sự dối trá" (Gioan 8:44) "ăn cây (Thiên Chúa) cấm không được ăn" (STK 3:11), và "cả hai đã mở mắt ra, nhận thấy mình trần truồng" (STK 3:7), phải đan lá vả làm áo che thân mình và không dám đối diện với Thiên Chúa (x.STK 3:7,8).

"Sau Nguyên Tội" ở đây còn là lúc Bản Án Nguyên Tội được tuyên phán, minh định tình trạng băng hoại nơi cả hữu thể của "con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa" (STK 9:6), cũng như nơi bản chất của tạo vật được dựng nên "rất tốt đẹp" ngay "ban đầu" cho con người.

Theo Bản Án Nguyên Tội, hữu thể của con người bị băng hoại ở chỗ: "Ngươi sẽ đổ mồ hôi mới có của ăn... cho đến khi ngươi trở về bụi đất" (STK 3:19), và bản chất của tạo vật nói chung cũng vì con người mà bị băng hoại ở chỗ: "Vì ngươi (con người) mà khốn cho đất... Đất sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi" (STK 3:17). Phải, chính tình trạng bị biến dạng (deformation) có nghĩa tiêu cực này, chứ không phải tình trạng được biến hình (transformation) có nghĩa tích cực, nơi con người "làm chủ trái đất" và nơi "đất" ngay "từ ban đầu" như thế, mới sinh ra và mới có "4 mùa xuân-hạ-thu-đông theo thời tiết như hiện nay": Xuân thường từ cuối tháng 12 tới cuối tháng 3, Hạ thường từ cuối tháng 3 tới cuối tháng 6, Thu thường từ cuối tháng 6 tới cuối tháng 9, Đông thường từ cuối tháng 9 tới cuối tháng 12, và từ cuối mùa Đông sang đầu mùa Xuân thường có mưa để những gì chết chóc trong giá lạnh mùa Đông được hồi sinh tươi tốt trong ấm áp mùa Xuân.

"Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" từ đó bắt đầu đi vào ngõ hẻm của lịch sử nhân gian, được mở màn bằng mùa hè "đổ mồ hôi" (STK 3:19), khi "Chúa là Thiên Chúa tống cổ con người ra khỏi Vườn Địa Đường, để cầy sới đất đai mà từ đó con người được hình thành" (STK 3:23). Cũng từ đó, mưa bắt đầu đổ xuống trái đất, chứ trước đó, ngay "ban đầu", "Chúa là Thiên Chúa chưa làm mưa xuống trái đất và chưa có con người cầy sới đất đai" (STK 2:5). Từ đó, không còn "Mùa Xuân Nguyên Thủy", Mùa Thái Hòa Trời Đất nữa. Cũng từ đó, trên trái đất, có nơi một năm có đủ bốn mùa, như ở miền Bắc Việt Nam, song cũng có nơi một năm chỉ có hai mùa, mùa nóng và mùa mưa, như ở miền Nam Việt Nam.

"Mùa Xuân Sau Nguyên Tội", như thế, không phải là và không còn là Mùa Thái Hòa Trời Đất, Mùa mọi sự còn liên kết và hòa hợp với nhau như ý và theo ý Đấng Hóa Công. Nó cũng không còn là và không phải là Thời Con Người Phúc Lộc Thọ nữa, Thời con người còn sống trong Phúc được làm con cái Thiên Chúa "theo hình ảnh thần linh", hưởng Lộc tự do với quyền "làm chủ trái đất", và hưởng Thọ không "phải trở về bụi đất". Theo lịch sử nhân gian, "Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" chỉ là một trong "4 mùa xuân-hạ-thu-đông theo thời tiết như hiện nay", với thiên chức là mùa đầu trong một năm, và với sứ mạng là làm mới lại những gì đã phát triển trong "mùa hè đỏ lửa" song đã tàn tạ trong "mùa thu lá bay" và đã lịm chết trong "mùa đông nghĩa địa".

"Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" đã trở thành Mùa Hy Vọng cho con người và của con người, vì hai lý do. Thứ nhất, vì còn giữ được nét xuân, qua hai trong ba yếu tố chính là "mới mẻ" và "tươi trẻ", tuy không nguyên tuyền như "ban đầu", "Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" vẫn có thể làm cho con người "vui vẻ", vui xuân, hưởng xuân. Thứ hai, nhất là vì cái còn làm cho con người đã bị hư đi "vui vẻ" mừng xuân, đón xuân, không phải ở tại "Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" còn "nét xuân", cho bằng niềm hy vọng ở ngay chính trong lòng người.

"Niềm Hy Vọng" này bắt đầu ló dạng trước khi con người bị "Thiên Chúa tống cổ ra khỏi Vườn Địa Đường". Ngay trong Bản Án Nguyên Tội, Thiên Chúa là Đấng "yêu (con người) trước" (1Gioan 4:19) đã chẳng tự động loan báo cho họ một Tin Vui hay sao, khi nhưng không đoan hứa với con người: "Ta sẽ gây thù hận giữa ngươi (ma qủi) và người nữ, giữa giòng dõi ngươi và giòng dõi người nữ. Ngài sẽ đạp nát đầu ngươi, trong khi ngươi rình cắn gót chân ngài" (STK 3:15).

"Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" trở thành Mùa Hy Vọng chẳng những cho con người mà còn cho chung cả tạo vật nữa. Kể từ khi con người bị "Thiên Chúa tống cổ ra khỏi Vườn Địa Đường", Vườn Địa Đường vốn là thiên thai trần thế đã chẳng trở thành khu cấm địa hay sao (x.STK 3:24)? Bởi đó, thời tiết có 4 mùa định kỳ sau Nguyên Tội không phải là phản ảnh tâm trạng của trời đất hay sao, một tâm trạng "quằn quại và rên xiết" (Rm 8:22) của "toàn thể tạo vật đang ngong ngóng đợi trông cuộc hiển linh của con cái Thiên Chúa" (Rm 8:19).

"Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" sẽ mất hết ý nghĩa nếu con người sống trong lầm than và vô vọng. "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" (Nguyễn Du: Kiều): như mùa xuân hận thù đầy tang thương chết chóc với những ngày đầu năm khói lửa vào dịp Tết Mậu Thân 1968, hay như mùa xuân vô vọng tự trong lòng người, nơi các trại tị nạn Đông Nam Á, đối với thành phần Thuyền Nhân Việt Nam bị rớt thanh lọc, lo âu chờ đến phiên bị trả về với quê hương yêu dấu, nơi mà họ không còn tìm thấy an bình "vui vẻ".

"Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" là bóng ma chập chờn, nếu con người chỉ quay cuồng với cuộc sống hiện sinh. Đối với thành phần "chơi xuân kẻo hết xuân đi, cái già xồng xộc nó thì đến kia" (Trần Tế Xương?), xuân không có gì là "mới mẻ", vì càng làm cho họ già thêm, không có gì là "tươi trẻ", vì càng làm cho họ tàn phai nhan sắc, không có gì là "vui vẻ", vì càng làm cho họ thất vọng về cuộc sống hiện sinh chẳng thể nào làm cho họ hoàn toàn thỏa mãn.
 
3.- MÙA XUÂN MARIA

Maria": "Người nữ" mà Thiên Chúa đề cập đến trong Lời Hứa với con người ngay trong Bản Án Nguyên Tội chính là mầm hy vọng vươn lên ngay "từ ban đầu" và "bắt đầu" lịch sử của con người sa đoạ. Chính mầm hy vọng làm cho con người sống "vui vẻ" trong lầm than này đã biến "Mùa Xuân Sau Nguyên Tội" trở thành Mùa Hy Vọng cho con người và của con người. "Người nữ" của "Lời Hứa" trở thành niềm hy vọng cho con người và của con người này, theo Phụng Vụ Giáo Hội Công Giáo, chính là: "Trinh Nữ Maria, Đấng đã mang đến cho thế gian bình minh của niềm hy vọng và của ơn cứu rỗi" (Lễ Sinh Nhật Mẹ Maria: Lời Nguyện Sau Hiệp Lễ).

"Maria": "Người nữ" của "Lời Hứa" vươn lên ngay "từ ban đầu" trong lịch sử của con người sa đoạ như một mầm hy vọng ấy chẳng những hội đủ ngay nơi mình ba yếu tố chính làm nên Mùa Xuân đích thực, Mùa Xuân Nguyên Thủy, "Mùa Xuân Trước Nguyên Tội", mà còn chính là Mùa Xuân Viên Mãn, Mùa Xuân Muôn Thuở, cho chung mọi tạo vật, cũng như cho riêng thế giới ngày nay đang ở vào mùa đông của lịch sử nhân gian.

"Mùa Xuân Maria": "Mới Mẻ". "Mới mẻ" là bản chất nội tại làm nên Mùa Xuân. "Mới mẻ" của Mùa Xuân nói lên thời gian khởi đầu trong thiên nhiên. "Ban đầu Thiên Chúa đã dựng nên trời đất" (STK 1:1) mang tính chất "mới mẻ" của thời gian khi trời đất còn tinh nguyên. Do đó, lúc ngay "ban đầu" của đất trời, của mọi tạo vật đây chính là Mùa Xuân Nguyên Thủy.

Tiếc thay, Mùa Xuân Nguyên Thủy này đã bị "tên sát nhân từ ban đầu" (Gioan 8:44), cùng với sự cộng tác của hai nguyên tổ "muốn nên bằng Thiên Chúa" (STK3:5), làm cho tàn úa thảm thương. Thế nhưng, theo "dự án mà (Thiên Chúa) có ý ấn định trong Đức Kitô, được thực hiện khi thời gian nên trọn, đó là, đem mọi sự trên trời dưới đất đặt dưới quyền lãnh đạo của Đức Kitô" (Eph 1:9-10), lịch sử nhân loại đã trở thành Lịch Sử Cứu Độ ngay "từ ban đầu".

Tuy nhiên, trong Lịch Sử Cứu Độ này, theo thời gian, cả trước khi và ngay khi "thời gian nên trọn", Mẹ Maria cũng là nhân vật có trước nhất. Trước khi "thời gian nên trọn", qua hình ảnh "người nữ", Mẹ được Thiên Chúa nhắc đến "trước nhất", trước cả Chúa Giêsu là "giòng dõi người nữ". Ngay khi "thời gian nên trọn", Mẹ cũng là nhân vật mà Tân Ước chân nhận: "Khi thời gian ấn định đến, Thiên Chúa sai Con mình sinh bởi người nữ" (Gal 4:4), trở thành "giòng dõi người nữ", Đấng "tỏ mình ra là để phá hủy công việc của ma qủi" (1Gioan 3:8).

Giáo Hội mừng lễ Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa vào ngay ngày 1-1, ngày đầu năm dương lịch hằng năm, từ năm 1969, cũng không ngoài ý nghĩa này. ĐTC Phaolô VI như đã xác nhận như thế trong tông huấn "Marialis Cultus": "Việc cử hành này, được đặt vào ngày 1-1 hợp với sự ấn định cũ của phụng vụ Thành Rôma, là để tưởng nhớ đến vai trò Mẹ Maria đã thực hiện trong mầu nhiệm cứu chuộc này" (đoạn số 5).

"Mùa Xuân Maria": "Tươi Trẻ". "Tươi trẻ" là hình thức, là bóng dáng, là hiện thân của Mùa Xuân, làm cho Mùa Xuân sống động trong thiên nhiên. Thế gian bị "tội lỗi cùng với chết chóc đột nhập" (Rm 5:12), càng ngày càng trở nên tàn tạ xấu xa, cả về tinh thần "tội lỗi" lẫn thể chất "chết chóc". Đến nỗi, Thiên Chúa hối tiếc vì đã dựng nên con người trên mặt đất" (STK 6:6) và đã "thanh trừng khỏi mặt đất" (STK 6:7) hầu hết cả con người lẫn con vật bằng trận Đại Hồng Thủy.

Trong khi ấy, nơi Mẹ Maria lại "đầy ơn phúc" (Lc 1:28), cả trong tâm hồn cũng như ngoài thân xác của Mẹ. Tâm hồn Mẹ Maria tuyệt đối "tươi trẻ", ở chỗ, "Vô Nhiễm Nguyên Tội", như chính Mẹ đã tỏ mình ra tại Lộ Đức ngày 25-3-1858, tức "khỏi mọi tì vết của nguyên tội", như Đức Thánh Cha Piô IX định tín trong trọng sắc Ineffabilis Deus.

Thân xác Mẹ Maria hoàn toàn "tươi trẻ", ở chỗ, trọn đời đồng trinh, "không hề biết đến nam nhân" (Lc 1:34). Nhan sắc tự nhiên của Mẹ Maria tuyệt vời "tươi trẻ", ở chỗ, không già, tầm vóc và hình dung luôn ở mức độ hoàn hảo nhất, như Mẹ đã tỏ cho nữ Đáng Kính Maria D'Agreda vào thế kỷ 17: "Điều kiện và vóc dáng tự nhiên nơi thân xác đồng trinh thánh hảo của Mẹ vẫn như hồi Mẹ 33 tuổi" (Thiên Đô cuốn 4, số 736), cho dù Mẹ sống trên thế gian thiếu 26 ngày là đủ 70 tuổi (cùng sách, số 742).

Hữu thể của Mẹ đời đời "tươi trẻ", ở chỗ, cả "linh hồn vô nhiễm và thân xác trinh trong của Mẹ" (Tông Huấn Marialis Cultus số 6), như tông hiến Munificentissimus Deus của Đức Thánh Cha Piô XII định tín, được Thiên Chúa đem về trời vinh hiển.

"Mùa Xuân Maria": "Vui Vẻ". "Vui vẻ" là tác dụng của Mùa Xuân trên mọi sinh vật nói chung và nhân gian nói riêng, làm nên ý nghĩa của Mùa Xuân. Thế mà, "Sau Nguyên Tội", "tất cả mọi tạo vật quằn quại và rên xiết" (Rm 8:22), trừ duy nhất tạo vật "đầy ơn phúc" (Lc 1:28) là Trinh Nữ Maria.

Nơi "Maria đầu thai Vô Nhiễm Nguyên Tội", như hàng chữ trong thị kiến của chị thánh Catarina Labuarê ngày 27-11-1830, niềm "vui vẻ" là "được tự do" (STK 2:16) như hai nguyên tổ trong Vườn Địa Đường "trước Nguyên Tội" vẫn còn đó. Niềm "vui vẻ" này của Mẹ đạt đến mức độ tuyệt đỉnh khi "Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) ngay trong cung lòng trinh nguyên của Mẹ. Đến nỗi, niềm "vui vẻ" này đã tuôn tràn ra ngoài, qua ca vịnh "Ngợi Khen" (Magnificat), "bài ca của thời cứu tinh, hòa trộn niềm vui vẻ của cả cựu lẫn tân Yến-Duyên" (Marialis Cultus số 18): "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hân hoan (mừng rỡ, hoan lạc, 'vui vẻ') trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc tôi" (Lc 1:46-47).

Niềm "vui vẻ" của Mẹ Maria được thể hiện, trước hết, qua tác động nhận biết của Mẹ: "Ngài đã đoái trông đến phận thấp hèn tôi tớ của Ngài (và) đã làm cho tôi những sự trọng đại, danh Ngài là thánh" (Lc 1:48-49). Niềm "vui vẻ" của Mẹ, đồng thời, cũng được bộc lộ qua tác động chúc tụng của Mẹ: "Lòng thương xót Ngài trải qua đời nọ đến đời kia, hằng bao bọc những người kính sợ Ngài... như Ngài đã phán hứa... đến muôn đời" (Lc 1:49-50,55).
 
4.- MÙA XUÂN VIÊN MÃN

Mùa Xuân Nguyên Thủy, "Mùa Xuân Trước Nguyên Tội", cho dù có hội đủ 3 yếu tố chính là "mới mẻ" của thời gian, "tươi trẻ" nơi không gian và "vui vẻ" cho nhân gian, để làm nên Mùa Xuân Đích Thực, vẫn không phải là Mùa Xuân Muôn Thuở. Bởi vì, Mùa Xuân Nguyên Thủy đã không còn nữa, đúng hơn, đã biến thái (deformed) thành "Mùa Xuân Sau Nguyên Tội", một trong "4 mùa xuân-hạ-thu-đông theo thời tiết như hiện nay".

Trái lại, nơi "Mùa Xuân Maria", 3 yếu tố chính làm nên Mùa Xuân Đích Thực, chẳng những không mất, mà còn trở thành "viên mãn", trở thành bất diệt, để "Mùa Xuân Maria" không còn là gì khác hơn là chính "Mùa Xuân Muôn Thuở". "Mùa Xuân Maria" là "Mùa Xuân Muôn Thuở" vì bản chất "viên mãn" của mình như thế, trước hết là do bởi "Con Đấng Tối Cao" (Lc 1:32), Chúa của "Mùa Xuân Viên Mãn", và sau nữa, là nhờ ở chính Maria, "người đã tin" (Lc 1:45), Hồn của "Mùa Xuân Muôn Thuở" này.

"Mùa Xuân Viên Mãn" là do Chúa Xuân. Trước khi con người có, đã có Mùa Xuân Nguyên Thủy, Mùa Thái Hòa Trời Đất. Được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, với quyền "làm chủ trái đất", ngay "từ ban đầu", con người có thể được coi là chủ của mùa xuân, chủ của Mùa Xuân Nguyên Thủy này. Nói cách khác, Mùa Xuân Nguyên Thủy có là để cho con người, và nếu không có con người, Mùa Xuân Nguyên Thủy sẽ không cần có hay có cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Cũng thế, trước khi "Ngôi Lời hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), đã có "Mùa Xuân Maria". "Là trưởng tử mọi tạo vật" (Col 1:15), và "trong Người mà mọi sự trên trời dưới đất được tạo thành... tất cả được tạo thành nhờ Người và cho Người" (Col 1:16), Người cũng chính là Chúa Xuân, Chúa của "Mùa Xuân Maria". "Mùa Xuân Maria" sẽ không bao giờ có, nếu không có và không cho vị Chúa Xuân là Con Đấng Tối Cao.

Thế nhưng, Mùa Xuân Nguyên Thủy, tức "Mùa Xuân Trước Nguyên Tội" đã bị bàn tay lông lá của tà thần cũng như của con người là chủ nó làm tàn úa. Trái lại, "Mùa Xuân Maria" lại được chính tổng thần Gabriel cung kính chúc tụng: "Kính mừng đầy ơn phúc" (Lc 1:28), được bao phủ bởi "quyền phép Đấng Tối Cao" (Lc 1:35), và được "thụ thai...Con Đấng Tối Cao" (Lc 1:31-32). Vị Chúa Xuân là "Quả phúc của lòng Mẹ" (Lc 1:42) này, khi được đầu thai, cưu mang và sinh hạ bởi Mẹ, chẳng những không tác hại "Mùa Xuân Maria" đồng trinh vô nhiễm, mà còn làm viên mãn "Mùa Xuân Maria" của mình nữa.

Là "Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể...đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14,16), "đến cho chiên được sống và được sống viên mãn hơn" (Gioan 10:10), "sự viên mãn của Người là Đấng làm trọn vẹn tất cả mọi phần của hoàn vũ" (Eph 1:23), vị Chúa Xuân này chắc chắn đã làm "Mùa Xuân Maria" của mình "viên mãn" trước hết và trên hết. Mức độ "viên mãn" của "Mùa Xuân Maria" do Chúa Xuân Giêsu tạo nên đã làm cho thai nhi tiền hô Gioan "nhảy mừng" (Lc 1:41), cho thai mẫu của Gioan được "đầy Thánh Linh và kêu lên lớn tiếng" (Lc 1:42), cho cả người phụ nữ không hề biết Mẹ cũng "kêu lên: 'Phúc cho lòng đã cưu mang Ngài và vú đã cho Ngài bú'" (Lc 11:27), và còn cho "mọi đời về sau sẽ chúc khen (Mẹ) diễm phúc" (Lc 1:48).

Như thế, "Mùa Xuân Maria" chẳng những là của Chúa Xuân Giêsu Kitô mà còn cho chung tất cả mọi người và mọi thời, cho riêng Giáo Hội là nhiệm thể của Chúa Kitô nữa, và qua việc rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, "cho tất cả mọi tạo vật" (Mc 16:15) "đã phải chịu lụy thuộc trong cảnh hư hoại ngoài ý muốn của mình... đang ngong ngóng...chia sẻ tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa" (Rm 8:20,19,21).

"Mùa Xuân Viên Mãn" là nhờ Hồn Xuân. "Mùa Xuân Maria" chẳng những "viên mãn" do Chúa Xuân là Chúa Giêsu, mà còn nhờ Hồn Xuân là chính Đức Tin của Trinh Nữ "đầy ơn phúc".

Không phải vì được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhờ đó, không có đam mê tình dục, không có khuynh hướng phạm tội, mà Mẹ Maria không có thử thách (cám đỗ) và không thể phạm tội. Nếu thế thì đã không có Nguyên Tội khi hai nguyên tổ còn ở trong Sự Công Chính Nguyên Thủy, trong tình trạng vô tội và không biết đến tội lỗi là gì. Đặt trường hợp Trinh Nữ "đầy ơn phúc", vì bất cứ lý do gì, một khi đã biết rõ ý định của Thiên Chúa về mình và cho mình như sứ thần trình bày, không chịu thưa "xin vâng" (Lc 1:38), thì Người có còn đáng nhận lời chúc tụng của mẹ thai nhi tiền hô Gioan hay không: "Phúc cho Người là vị đã tin rằng lời Chúa phán cùng Người sẽ được thực hiện" (Lc 1:45).

Phải, chính nhờ Đức Tin là "Hồn Xuân" này mà "Mùa Xuân Maria" chẳng những không tự tàn héo, mà càng trở thành "Mùa Xuân Viên Mãn", đúng như ngụ ý của câu Chúa Giêsu trả lời người phụ nữ lạ khen tụng Mẹ Người: "Phúc hơn cho người nghe lời Thiên Chúa mà giữ lấy" (Lc 11:28). Đôi tân hôn cùng với khách dự tiệc cưới ở Cana là những người đã không ngờ được thưởng thức một thứ rượu ngon hơn thứ rượu đã hết của họ. "Thứ rượu ngon hơn" này chắc chắn sẽ làm cho họ "vui vẻ" trọn vẹn hơn và hoàn toàn hơn, không phải là nhờ có Mẹ Maria hay sao!?! Đâu có Mẹ ở đấy có hy vọng, có niềm vui, có sự sống. Là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ chính là "Mẹ Sự Sống" (x.STK 3:20, Gioan 14:6, 1Gioan 1:2).

"Mùa Đông Lịch Sử": Sự Chết. Thế giới hiện đại, thế giới ngay trước ngưỡng cửa của đệ tam thiên niên (mà năm 2001 là năm đầu tiên mở màn) theo Tây Lịch này cũng có thể tìm thấy Sự Sống nơi "Mùa Xuân Viên Mãn" Maria. Nhân loại về cuối đệ nhị thiên niên và từ giữa thập niên cuối cùng của kỷ nguyên thứ hai đang ở vào giai đoạn "lịch sử mùa đông".

Thật vậy, nhờ khoa học siêu đẳng và kỹ thuật tối tân, con người ngày nay xa dần thiên nhiên, không còn phải lao động "đổ mồ hôi" nhiều nữa, như lúc con người đang ở trong giai đoạn "lịch sử mùa hè" là giai đoạn tiền sử và bán khai, giai đoạn lịch sử mà lúc gay gắt nhất là lúc Con Thiên Chúa "đổ mồ hôi máu nhỏ xuống đất" (Mt 22:44) và lúc chính ngọ là lúc ánh sáng phục sinh của Mặt Trời Công Chính chiếu giãi. Thế nhưng, thực tế cho thấy, càng xa thiên nhiên, càng gần nhân tạo, càng tự động (autonomy), càng tự do (right of freedom), càng tự nhiên (naturalism), con người hình như càng xa Đấng Hóa Công, càng bại hoại về luân lý, như xã hội loài người đã từng trải qua giai đoạn "lịch sử mùa thu" từ đầu thế kỷ 19, giai đoạn kỹ nghệ mở màn.

Những hiện tượng đang xẩy ra cho thấy từ hậu bán thế kỷ 20, khởi sự từ thập niên 1960, con người bắt đầu đi vào giai đoạn "lịch sử mùa đông". Mùa đông là mùa lạnh lẽo và tối tăm, những biểu tượng của sự chết. Hơn bao giờ hết, ngày nay người ta trực tiếp ra tay giết nhau: các cường quốc giết nhau qua hai trận Thế Chiến I và II, các chủng tộc giết nhau như đang diễn ra ở Âu Châu cũng như Phi Châu, thậm chí, các thầy thuốc vốn làm nghề cứu nhân độ thế cũng biến thành thợ giết bệnh nhân "vì nhân đạo", giết thai nhi vì tôn trọng quyền tự do (pro-choice) của người mẹ v.v. Người ta giết nhau như thế là do tình trạng "lạnh", lạnh kiểu "thương hàn", lạnh từ trong ra, lạnh tình, lạnh cảm. Họ không còn biết yêu, đúng hơn, không có tình yêu: "Ai không yêu thương thì ở trong sự chết. Ai ghét anh em mình là kẻ sát nhân" (1Gioan 3:14-15).

"Mùa Xuân Viên Mãn": Sự Sống. Thế nhưng, theo chu kỳ của thời gian, sau giai đoạn "lịch sử mùa đông", biểu hiệu cho sự chết, sẽ là và phải đến giai đoạn "lịch sử mùa xuân", biểu hiệu cho sự sống cũng là dấu hiệu của sự sống: "Sự chết giống như một giấc ngủ triền miên của vũ trụ khi mùa đông tới chờ sang xuân mới thức dậy. Đối với thiên nhiên cũng như đối với các linh hồn, đó là bình minh của phục sinh". Chúa Giêsu đã nói với người nữ sứ giả giáo dân Magarita của Người trong Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu ngày 18-11-1966 như thế.

Chúa Cứu Thế đã không giáng sinh vào mùa đông cách đây 2000 năm hay sao? Giữa mùa đông giá buốt, tối tăm, mù mịt đêm hôm ấy, đã không hiện lên những dấu chỉ của một mùa xuân hay sao: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm" (Lc 2:14). Phải chăng giai đoạn "lịch sử mùa đông" càng ngày càng rùng rợn và kinh hoàng trên thế giới hiện nay chính là "những điềm thời đại" (Mt 16:3) báo hiệu Chúa Kitô sắp tái giáng?

Không ai dám quả quyết và biết chắc được lúc nào tận thế. Tuy nhiên, những biến cố liên quan đến lịch sử thế giới nói chung và Giáo Hội Công Giáo nói riêng trong thế kỷ 20 này, không phải hay sao, là "những điềm trời" (Mt 16:1) đã hiện lên báo động. Bức tường Bá-Linh sụp đổ ngày 9-11-1989 ngay sau biến cố Đông Âu 1989 không phải là "điềm trời" báo hiệu giai đoạn "lịch sử mùa đông" đang tan dần như một tảng băng tuyết trên miền bắc cực của trời đất (cũng là địa thế của Liên Bang Sô Viết trên bản đồ thế giới) hay sao? Thế nhưng, theo thú nhận của chính nhà lãnh đạo vô thần cuối cùng của chế độ Cộng Sản Sô Viết, cũng là nhân vật chủ chốt gây nên cuộc sụp đổ ở Đông Âu, thì hiện tượng cộng sản tự giải thể, như tảng băng tuyết tan dần này là do vai trò chủ chốt của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, và Đức Thánh Cha lại qui về Biến Cố Fatima, như ngài minh định trong cuốn Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của ngài.

Phải, nhờ ảnh hưởng 25 năm Biến Cố Fatima mới có cuộc hiến dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria ngày 31-10-1942 do Đức Thánh Cha Piô XII thực hiện lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội. Cuộc hiến dâng quyết liệt liên quan đến vận mệnh của thế giới này được trọn vẹn kết thúc vào ngày 25-3-1984 do Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II cùng với hàng giáo phẩm thế giới thực hiện. Song song với việc làm chủ yếu trên đây của thẩm quyền Giáo Hội, còn có phong trào Mẹ Thánh Du Quốc Tế từ ngày 13-5-1947, đến nay vẫn liên tục tiếp diễn khắp nơi trên thế giới. Tất cả những diễn tiến đó, không phải hay sao, đều là "những điềm trời" báo hiệu "Mùa Xuân Maria", "Mùa Xuân Muôn Thuở", Mùa Xuân Viên Mãn Chúa Kitô, "Đấng một lần đã chết nhưng hiện vẫn sống muôn đời" (KH 1:18). "Mùa Xuân Maria" ấy đang tưng bừng mở hội cho một Mùa "Trời Mới Đất Mới" (KH 21:1) là Thời "Canh Tân Mọi Sự" (KH 21:5).

(bài này đã được phổ biến trên các Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ 1/1995, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp 2/2000, Hiệp Nhất 2/2000, và Tam Cá Nguyệt San Vào Đời 2/2000)

Cùng Mẹ Ngợi Khen Chúa
TGP/LA Lễ Các Thánh 1/11 Năm Thánh 2000
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

- Cao Tan Tĩnh -dongcongnet sưu tầm

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)