dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Maria, Mẹ Con
 
     
<<<    

MẦU NHIỆM MẸ MARIA 

Tuy Thiên Chúa toàn năng có thể một mình thực hiện mọi sự mà không cần ai cộng tác, nhưng Thiên Chúa đã muốn tùy thuộc vào Đức Mẹ như là con tùy thuộc vào mẹ. Người đã muốn Đức Mẹ cộng tác tích cực trong việc cứu thế và trong cả những ảnh hưởng của ơn cứu độ. Vì thế ta cần tìm hiểu theo chương trình của Thiên Chúa Đức Mẹ đã cộng tác thế nào, không những đối với chính Đức Kitô mà còn cả đối với Giáo hội, là nhiệm thể của Chúa Cứu Thế và đồng thời cả với từng tín hữu và từng linh mục.

Để hiểu vấn đề quan trọng này chúng ta đi ngay vào văn kiện Công đồng Vaticano II để xem Công đồng dạy gì về bản tính Giáo hội, về các đặc ân siêu nhiên và tự nhiên mà Thiên Chúa đã muốn trau dồi Giáo hội, Công đồng Vaticano II đã bàn giải rất sâu xa và đầy đủ về những điểm trên. Ta mạn phép tóm lược mấy điểm chính:

1- Trước hết theo Công đồng thì Giáo hội là một “Mầu nhiệm”, tức là một dấu chỉ, một nhiệm tích, hay một thức thể hữu hình để chỉ một thực thể vô hình mà chúng ta tin vì có lời Chúa phán. Đây là một điểm quan trong cần hiểu rõ để nói lên một cách đích thực nhiều tương quan giữa Đức Mẹ Maria và Giáo hội.

Theo Thánh Phaolô, Giáo hội của Chúa Cứu thế chính là “Mầu nhiệm”. Nghĩa là Giáo hội vừa là một xã hội nhân loại, nhưng lại hàm chứa những sung túc vô hình và thiêng liêng về ơn thánh, đã làm cho Giáo hội trở thành chính nhiệm thể của Đức Kitô, trong đó có Chúa Thánh Thần ngự để dẫn đưa người ta vào bến cứu độ (Eph, 6, 19; Col, 1, 25-27). Công đồng Vaticanô II khi tuyên xưng Giáo hội là một “Mầu nhiệm” thì có ý nêu rõ không những các khía cạnh hữu hình, bên ngoài và theo pháp lý, mà nhất là chú trọng đến khía cạnh vô hình, bên trong, thiêng liêng và linh động đã khiến Giáo hội trở thành một xã hội vừa thuộc nhân loại vừa thuộc Thiên Chúa. Quan niệm này được dựa trên nền tảng Thánh kinh, nên đã được những anh em ngoài công giáo nhiệt liệt hưởng ứng. Và vì thế Giáo hội đã bắc một mối cầu thông cảm để có thể đối thoại một cách bình thản và hữu ích với mọi giáo phái khác.

2- Theo Công đồng Vaticano II thì Giáo hội còn được quan niệm là một “Dân Chúa” một dân có Chúa làm vua. Trong Cựu ước Chúa đã chọn một dân làm của riêng, đã giao ước với họ và muốn cho họ trở thành một dân tư tế, thánh thiện (Ex, 19,15-16). Nhưng vì dân đó không tuân giữ lời giao ước nên đã bị phạt nặng nề. Tuy thế, trong dân Chúa vẫn còn một “số nhỏ” những người còn lại để lập thành một dân mới. Theo các Tiên tri thì dân mới đó sẽ là một dân đượm mầu siêu nhiên và phổ quát, nhờ có một giao ước mới được ký kết do bửu huyết của Chúa Cứu Thế, “Đấng đã tự hiến tế cho chúng ta để chúng ta khỏi mọi tội lỗi và thanh tẩy chúng ta để trở nên một dân riêng, một dân chỉ biết làm điều thiện” (Tit, 2, 14). Sự sống của chính Đức Kitô lưu hành và vận chuyển trong dân mới này, vì Đức Kitô không những là Vua mà còn là Đầu của một nhiệm thể để thông sức sống cho nhiệm thể đó.

3- Giáo hội quả là “Nhiệm Thể” của Đức Kitô. Theo thánh Phaolô thì Giáo hội là nhiệm thể của Đức Kitô, nghĩa là Giáo hội được thành hình nên bởi các tín hữu, những người nhờ phép Rửa mà được hợp nhất thực sự với Đức Kitô, đấng đã chết và sống lại, và nhờ Người mà nhận được Thánh Linh. Như thế là chúng ta có một Đức Kitô toàn diện gồm chính Đức Kitô và các tín hữu đã mật kết với người một cách thiêng liêng, nhưng sống động đến nỗi đã đồng hóa với chính Người để trở thành phụ thể của chính thân thể Người. Điều này chính Đức Kitô đã quả quyết khi Người hỏi Phaolô trên đường bắt đạo: “Phaolô, tại sao người tìm bách hại Ta” đang khi Phaolô tìm bắt giáo hữu (Act. 9, 4-57).

Giáo hội được coi như là một thân thể của Đức Kitô mà chính Người là Đầu. Điều này có thể được hiểu bằng hai cách. Cách thứ nhất: Giáo hội là một thân thể của Đức Kitô xét theo quan niệm là các tín hữu đã được đồng hoá với chính thân xác thực sự của Đức Kitô Đấng đã sống lại vinh hiển. Vì thế thánh Phaolô có thể nói: “Đức Kitô là tất cả và trong tất cả mọi người” (Col. 3, 11). Cách thứ hai: Giáo hội được gọi là thân xác của Đức Kitô xét theo phương diện là tất cả các tín hữu hợp lại làm thành một thân thể có tính cách xã hội, mà chính Đức Kitô là Đầu. Trong cách cắt nghĩa này Đức Kitô lịch sử được phân biệt ra khỏi Giáo hội như đầu và thân mình. Theo quan niệm này thánh Phaolô quả quyết: “Đức Kitô là Đầu của chính thân mình là Giáo hội” (Col. 1, 18).

Giáo hội xét  theo phương diện phân biệt ra khỏi Đầu là Đức Kitô, còn được quan niệm theo hai khía cạnh khác: Giáo hội huấn dạy và Giáo hội thụ huấn.

- Giáo hội huấn dạy gồm hàng Giáo phẩm, là những vị nhân danh  Đức Kitô cai quản Giáo hội, và xây dựng Giáo hội một cách hữu hình qua hy lễ Thánh Thể, qua các nhiệm tích và sự rao giảng lời Chúa một cách trung thực. Còn Giáo hội thụ huấn là cộng đồng tín hữu. Cộng đồng này được phân biệt với cộng đồng giáo huấn. Đó là điều thánh Phaolô nhắn nhủ hàng Giáo phẩm Ephesô: Anh em hãy đề cao cảnh giác về mình, cũng như về đàn chiên, mà trên đó Chúa Thánh Thần đã đặt anh em làm những người giám quản, để chăn dắt Hội thánh Chúa. (Act. 20, 28). Sự phân biệt như vậy rất can hệ cho việc tìm hiểu mối tương quan giữa Mẹ Maria và Giáo hội.

Khi chúng ta muốn đề cập đến mối tương quan giữa Mẹ Maria và Giáo hội thì trước hết chúng ta muốn nói đến không những Giáo hội là cộng đồng các tín hữu, mà còn đề cập cả đến Giáo hội gồm các vị chỉ huy, hay hàng giáo phẩm. Hơn nữa khi đề cập đến mối tương quan giữa Mẹ Maria và Giáo hội thì chúng ta cũng cần phân biệt nhiều giai đoạn diễn biến trước khi thành lập Giáo hội. Vì thực ra từ đời đời Chúa đã muốn lập Giáo hội như là phần bổ túc của chính Đức Kitô. Vì thế Chúa đã chuẩn bị cho Giáo hội trong Dân Chúa nơi Cựu ước. Việc chuẩn bị đã được tiếp tục theo hình thức pháp lý và một cách mầu nhiệm từ lúc Ngôi Lời nhập thể, kéo dài tới phút hy sinh trên Núi Sọ, và tới ngày lễ Hiện Xuống. Rồi ra sức sống của Giáo hội xét theo phẩm cũng như lượng sẽ bành trướng cho tới tận thế.

Trong lúc Ngôi Lời nhập thể, thì Giáo hội bắt đầu có Nền và có Đầu. Trong đời sống công khai của Chúa Cứu Thế, và cho tới sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã lo liệu lập thành một Giáo hội hữu hình. Người chọn các phần tử, chỉ định hàng tư giáo, nêu rõ mục đích và phương thế có tính cách xã hội của Giáo hội. Trên Thập giá Chúa Giêsu cứu chuộc Giáo hội bằng chính Máu Thánh Người, và nhờ đó mà Giáo hội được nhận lãnh Chúa Thánh Thần. Rồi từ sau khi sống lại và lên trời Chúa Giêsu hằng đổ tràn Thánh Thần xuống trên các chi thể của nhiệm thể Người, để các chi thể đó được hợp nhất và thánh hoá, để trở thành chi thể thực sự của thân thể Người. Chính trong các giai đoạn khác nhau này mà chúng ta sẽ thấy mối tương quan giữa Mẹ Maria và Giáo hội.

4- Sau hết Công đồng Vaticano II còn đưa ra một quan niệm nữa về Giáo hội: Giáo hội là “Hiền Thê” của Đức Kitô. Quả thế trong Cựu ước Dân Chúa Yahve (Ezech 16, 8; Os. 2, 19). Trong Tân ước cũng thấy đề cập đến một lễ cuới giữa con Thiên Chúa và Giáo hội được tượng trưng như một trinh nữ. (Math. 22, 1-4; Gn 3, 29; Mc 2, 18-19). Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Côrintô như sau: “Tôi đã đính hôn anh em cho một vị độc nhất là Đức Kitô, để tiến dâng anh em cho Người, như tiến dâng một nữ trinh thanh khiết” (2Cor 11, 2) trong thư gửi giáo đoàn Epheso, ngài quả quyết rằng hôn phối là một nhiệm tích cao trọng, vì tượng trưng cho việc hiệp nhất bất khả ly giữa Đức Kitô và Giáo hội (Eph. 5, 22-23). Thánh Gioan trong sách Khải Huyền đã tả việc hiển thắng của Đức Kitô như một lễ Cưới (Apoc. 19, 6-8 và 21, 9-11). Quan niệm về Giáo hội như Hiền thê của Chúa Cứu Thế gợi lên cho ta ý tưởng về thiên chức làm mẹ của Đức Maria đối với Giáo hội.

Theo bốn quan niệm trên, chúng ta thấy Công đồng nhận định về mối tương quan giữa Mẹ Maria và Giáo hội như sau:

1- Trước hết để hiểu tương quan giữa Mẹ Maria và Giáo hội, thì cần phải hiểu mối tương quan giữa Chúa Giêsu và Giáo hội. Đối với Giáo hội thì Chúa Giêsu là cả bốn nguyên nhân căn bản: là nguyên nhân thể chất, nghĩa là Người vừa là chi thể vừa là đầu. Người còn là nguyên nhân tác thành vì chính Người đã tác thành ra Giáo hội và còn tiếp tục ban nguồn sinh lực cho Giáo hội. Chúa Giêsu là nguyên nhân gương mẫu vì Người chính là gương mẫu Giáo hội phải theo. Sau hết Người là nguyên nhân cứu cánh vì Giáo hội phải được dẫn đưa tới cùng đích là Đức Kitô để tất cả được thuộc về Thiên Chúa Cha (1Cor 3, 23).

2- Theo Công đồng thì cùng với Chúa Cứu Thế, Đức Mẹ Maria được coi là “Đồng nguyên nhân” của Giáo hội. Người là đồng nguyên nhân tác thành vì Đức Mẹ là Mẹ Giáo hội, trước hết khi Người còn tại thế (x.c. Lumen gentium n. 53, 54) rồi ra hiện nay ở trên trời (n. 62). Công đồng nhấn mạnh đến chữ Mẹ và Đấng Cộng Tác với Chúa Giêsu xét theo lịch sử ơn cứu độ đã kể ra trong Kinh Thánh.

Đức Mẹ là đồng nguyên nhân gương mẫu, vì Đức Mẹ được tả là hình ảnh, là gương mẫu Giáo hội. Nghĩa là Chúa muốn thực hiện khuôn mẫu Giáo hội trong chính Đức Maria. Về điểm này xin coi Lumen Gentium thì trong Giáo hội, sau Đức Kitô, Đức Mẹ chiếm một địa vị cao trọng nhất và lại gần ta nhất.

Đức Mẹ là đồng nguyên nhân cứu cánh nghĩa là Giáo hội phải được định hướng để làm vinh hiển Chúa Giêsu và Đức Mẹ như là đích điểm. Đó là lý do tại sao Công đồng bàn đến việc phải tôn sùng Đức Mẹ trong số 66-67.

Trên đây là tóm lược đại ý Công Đồng Vaticanô về mối tương quan giữa Đức Mẹ Maria và Giáo hội. Ta sẽ lần lượt tìm hiểu từng điểm riêng.

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)