dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Maria, Thành Nazaréth
 
     
<<<    


III. HÒM BIA GIAO ƯỚC

Lời Thiên Chúa giao ước với Abraham 19 thế kỷ trước khi Đấng Thiên Sai sinh ra, Ngài thoả thuận lại với Isaac và Giacóp. Những biến cố xảy ra cũng có một ý nghĩa tiên tri. Isaac được cha hiến dâng cho Thiên Chúa và vác củi để đốt của lễ toàn thiêu là hình ảnh Chúa Kitô. Bà Rebecca là hình ảnh Mẹ Maria. Những mưu kế Giacóp đã dùng để chiếm đoạt quyền trưởng nam của Esau, anh mình, thì đáng khiển trách; những lời Giacóp nói dối vẫn là những lời quanh quéo. Danh dự của Giacóp hệ tại ở việc đặt tất cả mọi sự dưới lời chúc lành của Thiên Chúa, trong khi ấy Esau lại nhường lời chúc lành để lấy một chén cháo đậu. Đàng khác, trong câu chuyện của hai anh em còn có vấn đề khác nữa hơn là vấn đề trưởng nam, và quyền ăn trên ngồi trước. Có mầu nhiệm thay thế mà Con Thiên Chúa sẽ thực hiện khi nhập thể trong lòng Mẹ Đồng Trinh Maria. Tân Ađam thay thế Cựu Ađam để xin Cha Ngài chúc lành cho chúng ta.

Trong câu chuyện Esau và Giacóp, việc bà Rebecca can thiệp rất quan trọng. Chính bà đã dặn Giacóp trước và đã thúc đẩy Giacóp hành động; chính bà đã sửa soạn bữa tiệc để đem lại cho tâm hồn cụ già Isaac niềm vui sướng; chính bà lấy áo Esau mặc cho Giacóp, cùng lấy bờm sờm lông lá bọc cổ và tay cho Giacóp. Giacóp thật là Chúa Kitô, còn bà Tân Rebecca, mẹ của Tân Giacóp, là Mẹ Đồng Trinh Maria. Chính Mẹ đã lấy áo của cựu Ađam mặc cho Con Thiên Chúa. Thánh Bernardo bình giải với một vẻ hơi hài hước như sau:

“Lạy Chúa, con biết theo bản tính Chúa không xu xi; Chúa hiền lành và khiêm nhường trong lòng, Chúa thật đáng yêu và trí khôn Chúa thật dịu dàng. Thật ra, Chúa đã được xức dầu hân hoan chan hoà hơn các bạn đồng liêu của Chúa. Nhưng tại sao bây giờ Chúa lại có lông có lá bờm sờm như Esau? Gương mặt nhăn nheo và gớm ghiếc này là gương mặt của ai? Tại sao lại có lông thế này? Lông ấy là của con, vì bàn tay lông lá chứng tỏ con giống tội nhân. Con nhận ra rằng lông ấy thuộc về con, và con nhìn ngắm Chúa Cứu Chuộc đã mặc lấy da của riêng con.

Tuy nhiên, không phải bà Rebecca, nhưng là Mẹ Maria đã mặc cho Chúa tấm da lông lá. Mẹ sinh Chúa ra cho thế giới, Mẹ càng thánh thiện thì càng xứng đáng tiếp nhận lời chúc lành. Đàng khác, rất có thể Mẹ lấy áo của con vì chính Chúa Giêsu đã xin cho con được thừa hưởng gia nghiệp” (Ct 28.2).

Giacóp phải trốn lánh cơn giận dự của Esau. Oâng di cư sang đất Mesopotamia, nơi đây nhờ tài khôn khéo và mánh lới xảo quyệt, ông đã thành công mỹ mãn. Nhưng việc thành công này không quan trọng. Điều quan trọng ở đây là Thiên Chúa đã nhiều lần can thiệp vào cuộc đời Giacóp để biến ông nên tổ tiên một dân tộc sẽ sinh ra Chúa Cứu Thế.

Các con Giacóp ghen tị nhau, và Giuse đã bị các anh bán đi. Từ thân phận nô lệ, Giuse đã trở nên phó vương Ai-cập, con cháu Giacóp sinh sản đông đảo, làm ăn giàu có, và quên cả Đất Hứa. Sau bốn thế kỷ, dân số và những thành công của người Do-thái lấn át cả dân Ai-cập, dân Ai-cập liền bắt người Do-thái làm nô lệ cho đến quãng năm 1230 trước Chúa Kitô.

Bấy giờ Thiên Chúa xúi giục ông Maisen, một nhà giải phóng đứng lên. Trước khi uỷ thác cho ông Maisen sứ mạng đem dân ra khỏi xứ nô lệ, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho ông trên núi Horeb, giữa một bụi gai đang cháy mà không hề hấn gì. Bụi gai cháy mà còn nguyên vẹn là một biểu tượng ám chỉ Mẹ Đồng Trinh Maria. Một tạo vật yếu đuối mang trong mình ngọn lửa bùng cháy mà không bị tổn hại.

Sau khi ra khỏi Ai-cập và băng qua biển Đỏ, Thiên Chúa lại tỏ mình ra cùng Maisen trên núi Sinai trước mặt toàn dân. Núi rung chuyển và chớp sáng loè trên các tầng mây, tiếng kèn vang dậy, trong khi một đám mây dầy đặc bao phủ ngọn núi. Dân chúng kinh hoàng. Ông Maisen thân thưa và Thiên Chúa trả lời (Xh 19.16).

Thiên Chúa muốn ký kết một giao ước với dân mình; Ngài muốn hiện diện giữa con cái Israel mặc dầu họ bất trung đến độ đi thờ bò vàng. Dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện là một đám mây sáng bay là là trên chiếc lều hội nghị. Cách đặc biệt là hòm bia Giao Ước, một chiếc hòm bằng gỗ quý khảm vàng cả trong lẫn ngoài. Hai bia đá có khắc ghi Mười Điều Răn đặt trong hòm bia giao ước (Xh 25.37,1).

Hòm bia giao ước là một biểu tượng đẹp nhất và có nhiều ý nghĩa nhất ám chỉ Mẹ Đồng Trinh Maria. Trong lời giao ước núi Sinai, ông Maisen là trung gian giữa Thiên Chúa và dân Israel. Hòm bia là dấu chỉ hữu hình, nhưng là vật chất và bất động, của giao ước đã ký. Đối với giao ước mới thì Mẹ Maria là trung gian giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Mẹ không còn là một chiếc tráp quý giá và mang nhiều kỷ vật, nhưng bất động. Mẹ là một hòm bia sống động và yêu thương chứa đựng chính Thiên Chúa. Trên Mẹ không có một đám mây bao phủ, nhưng là chính quyền năng Đấng Tối Cao. Thiên Chúa hiện thân trong hòm bia giao ước ấy.

Hòm bia giao ước cũ đi theo dân chúng trong cuộc lữ hành đi qua sa mạc cho đến Đất Hứa. Mẹ Maria cũng thế, Mẹ hiện diện giữa dân Chúa đang đi tới; Mẹ ở với chúng ta trong những ngày may lành cũng như trong những khi gặp rủi ra cho đến khi chúng ta hoan hỉ đến được nước Cha trên trời. Bao giờ Mẹ cũng là dấu chỉ Thiên Chúa ở với chúng ta.

Lịch sử của dân tộc được ưu tuyển gồm tóm lại trong những thất tín liên tục về phía dân Chúa và trong lòng thuỷ chung vĩnh cửu về phía Thiên Chúa. Khi dân Israel quay về với các thần thì Thiên Chúa phạt họ và trao họ cho quân thù; khi họ sám hối họ lại có những nhà giải phóng mà những hành động rất lừng danh như Gedeon, Samson, v.v. Phụ nữ cũng lập được công trạng rất đáng khen; những lần các bà can thiệp bao giờ cũng cứu nguy được toàn dân và thực hiện được ý định Thiên Chúa.

Những phụ nữ ấy là hình ảnh Mẹ Maria; dĩ nhiên không vì cách hành động của họ, vì hành động của họ không nên theo, nhưng do ý chí bất khuất cứu dân, cứu nước, và do lòng tín thác tuyệt đối vào sự can thiệp của Thiên Chúa. Tất cả họ đều có chung điểm này là trong những hoàn cảnh bi ai nhất họ đều quyết tâm cứu dân tộc họ. Họ tin vững vàng rằng Thiên Chúa sẽ can thiệp hoặc sớm hoặc muộn, và họ phải hoạt động với bất cứ giá nào. Vì họ chắc rằng Thiên Chúa sẽ can thiệp, và vì họ hành động với tất cả lòng quảng đại, nên họ là hình ảnh xa xôi ám chỉ Mẹ Maria.

Trước hết phải kể bà Deborat. Bà là phụ nữ đầu tiên đảm trách những trách nhiệm chính trị và phát biểu nhân danh Thiên Chúa. Bà ra lệnh cho tướng Barag, tư lệnh quân đội của bà, phải giải phóng xứ sở khỏi ách người Canaan. Barag lưỡng lự và trả lời: “Nếu bà đi với tôi thì tôi sẽ đi! Nếu bà không đi thì tôi sẽ không đi!” Deborat đáp lại: “Dĩ nhiên, tôi sẽ đi với tướng quân chứ!” (Th 4.8). Bà cho tướng Borag biết lòng nhát đảm của ông sẽ đưa lại cho ông một chiến thắng không vinh dự. Sau bà Deborat phải kể đến bà Judith và bà Esther. Cả hai đều liều mạng sống và liều danh dự để cứu dân tộc. Đối với những phụ nữ này thì vinh hiển Thiên Chúa và lợi ích toàn dân cũng chỉ là một.

Đức Pio XII đã gọi Mẹ Maria là người chiến thắng các trận chiến của Thiên Chúa. Mẹ hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, và Thiên Chúa đã đáp ứng lại quá điều Mẹ mong ước. Nhưng ai lắng nghe lời Mẹ và nhận Mẹ làm người hướng dẫn thì sẽ được thành công vượt xa mọi dự đoán. Khi những khó khăn xem ra không vượt thắng nổi, khi những lý lẽ lừa dối làm chúng ta bó tay thụ động, chúng ta hãy thưa với Mẹ Maria thế này: “ Nếu Mẹ đi với con thì con sẽ đi!”, và chúng ta hãy nghe Mẹ trả lời: “Dĩ nhiên, Mẹ sẽ đi với con chứ!”. Sự hiện diện của Mẹ chỉ là dấu chỉ của sự hiện diện toàn năng và vô cùng yêu thương khác, sự hiện diện của Thiên Chúa.

Còn một phụ nữ khác đáng chúng ta nhắc đến một cách đặc biệt, đó là bà Anna, thân mẫu tiên tri Samuel. Bà không có con. Trong một buổi cầu kinh sốt sắng, dài dòng và vô vị lợi, bà nài xin với Chúa gần hòm bia giao ước, ở Silo. Lời cầu nguyện của bà đã không được ai hiểu biết lại còn bị chế diễu, vì thày cả Heli cho bà là người say rượu. Đứa con mà bà ao ước sinh ra năm sau, và khi nó khôn lớn thì bà lại hiến dâng nó cho Thiên Chúa. Bà Anna nói với thày cả Heli rằng: “ Tôi cầu nguyện là để có được đứa trẻ này. Thiên Chúa đã nhân lời tôi cầu xin, và đến lượt tôi, giờ đây tôi lại hiến dâng nó cho Thiên Chúa” (1Sm 1.27).Lúc ấy bà Anna hát ca vịnh mà câu mở đầu cũng giống như ca vịnh Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (1Sm 2.1).

Xung quanh hòm gia giao ước, ở Silo, việc phụng thờ hay bị tục hoá do những lợi lộc và cảnh vô luân. Hòm bia không còn được coi như dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện, và dấu chỉ đòi hỏi phải nên thánh. Hòm bia không còn là bùa hộ mệnh bảo đảm chiến thắng mà không cần có lòng thống hối. Người Philitinh tấn công dân Israel, các kỳ lão sai người đi rước hòm bia như là một bảo đảm cho chiến thắng. Nhưng thương hỡi Israel đã chiến bại và hòm bia rơi vào tay địch quân. Thật là một ô nhục tột độ cho dân Israel, và cũng là một thất vọng ê chề cho người Philitinh.

Sau một cuộc viễn du hùng tráng, hòm bia trở về và lại được tiếp đón ở Qiriat-Yearim, trong nhà Aminadat, và ở lại đấy một thế kỷ (1Sm 7.1). Trên ngọn đồi này đã được thiết lập một thánh đường theo nghi lễ Byzantin vào thế kỷ thứ V; người ta đến hành hương nơi này, và hằng năm có một đại lễ mừng vào ngày mùng 2 tháng 7. Ơû chính địa điểm để hòm bia ngày xưa, hiện nay xây một vương cung thánh đường dâng kính Đức Mẹ Hòm Bia Giao Ước. (việc xây dựng vương cung thánh đường này là do công lao của chị Josephine de Giêrusalem; nhờ đời sống thánh thiện và chí bền bỉ chị đã thắng vượt được mọi trắc trở (cf. S.M. Durand, soeur Josephine de Jerusalem, Editions Saint-Paul, Paris 1973).

 
<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)