dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Maria, Thành Nazaréth
 
     
<<<    


VI. THIÊN CHÚA SAI SỨ GIẢ NGÀI 

Thiên Chúa xem ra không vội vã thực hiện những lời Ngài đã hứa với các tiên tri. Trong bối cảnh chính trị và tôn giáo thời ấy không một biến cố nào báo trước Đấng Thiên Sai sắp đến. Nhà Đavít chẳng những không có quyền cai trị, mà cũng không có ảnh hưởng gì. Xứ Judea được cai trị bởi vua không phải Dothái, mà quyền hạn của nhà vua lại tuỳ thuộc một nhà vua ngoại giáo là hoàng đế Roma. Mặc dầu thế, dân Dothái vẫn ao ước một anh hùng giải phóng.

Trong những người mong chờ Đấng Thiên Sai có gia đình tư tế ông Zacharia và bà Elisabeth. Cả hai đều thuộc dòng dõi Aaron. Hình như Thiên Chúa không chúc lành cho đôi vợ chồng già này vì họ không có con. Một ngày kia, ông Zacharia thi hành những nghĩa vụ tư tế theo phiên, ông vào cung thánh đốt hương trên bàn hương án. Dân chúng đứng bên ngoài cầu nguyện. Mục tiêu của buổi cầu nguyện hôm ấy là nài xin Thiên Chúa đoái thương dân Ngài, và sai Đấng Thiên Sai toàn dân đang trông đợi đến.

Một thiên thần đã hiện ra với tư tế Zacharia đang khiếp sợ. Thiên thần trấn an ông, xác quyết với ông rằng lời ông cầu nguyện đã được chấp nhận và Elisabeth, bạn ông, sẽ sinh một con trai. Zacharia không dám tin và xin một dấu chỉ. Thiên thần xưng danh: “Ta là Gabriel đứng chầu trước tôn nhan Thiên Chúa” và cho một dấu chỉ như sau: “Ông sẽ bị câm” (Lc 1.19). Chính Zacharia là dấu chỉ. Tật câm lạ lùng của ông không thể giấu được ai.

Thiên thần hiện ra với ông Zacharia không phải là một nhân vật giả tưởng, cũng không phải chỉ là sự gợi lại hành động Thiên Chúa, đấy là một nhân vật có thật, mang một tên gọi cá nhân và lãnh nhận một sứ mạng. Nhân danh Thiên Chúa thiên thần nói và tuyên bố được Thiên Chúa sai đến để loan báo thời Đấng Thiên Sai đã đến. Thiên thần đem sứ điệp đến Giêrusalem, trong đền thờ, giữa một buỗi lễ toàn dân đang tụ tập cầu nguyện.

Nhiệm vụ đầu tiên của thiên thần Gabriel chỉ mới là dẫn lối vào mầu nhiệm. Sáu tháng sau cũng lại thiên thần Gabriel lãnh nhận một sứ mạng mới, sứ mạng này đã đưa thiên thần vào chính trung tâm mầu nhiệm. Thánh Luca viết:

“Thiên thần Gabriel lãnh một sứ mạng từ Thiên Chúa đi đến một thị xã xứ Galilea gọi là Nazareth, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Đavít, và tên trinh nữ ấy là Maria” (Lc 1.26).

Đoạn Phúc Âm này là một đoạn hay nhất, đáng lưu ý về tính cách đơn sơ và đầy đủ. Người ta có thể suy ngắm đoạn này suốt cả đời mà không hiểu hết được vẻ phong phú. Trong các thế kỷ, không một sử gia nào mang một trọng trách vĩ đại, và kéo theo những hậu quả lớn lao đến thế.

Trong sứ mạng thứ nhất, thiên thần Gabriel chỉ nhân danh Thiên Chúa trao một sứ điệp. Thiên thần báo tin những gì sẽ phải xảy ra mà không hỏi ý kiến bất cứ một ai; thiên thần quả quyết mình mang một sứ mạng, và nói với giọng chủ nhân ông. Trong sứ mạng thứ hai, sứ mạng ở Nazareth là sứ mạng hoàn toàn khác hẳn. Thiên thần Gabriel không đến để trao một sứ điệp, nhưng đến để nhân danh Thiên Chúa giải quyết một vấn đề. Thiên thần đến để điều đình ký kết một khế ước.

Chính Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng, đã khởi xướng lên khế ước này. Ngài đã dự định ban cho thế giới Con Một mình để giải phóng con người khỏi tội lỗi, và làm cho con người nên nghĩa tử Ngài. Ngài không muốn bắt buộc thế giới nhận Con mình làm Vua, nhưng Ngài ao ước Con mình được thế giới đón nhận hoàn toàn trong tự do và tự động. Ngài sai thiên thần Gabriel đến cùng Mẹ Maria thành Nazareth mà Ngài đã lựa chọn để nếu Mẹ muốn thì Mẹ trở nên Mẹ của Con Ngài.

Thiên thần Gabriel được sai đến trong một thị xã xứ Galilea gọi là Nazareth. Xứ Galilea không có tiếng tăm gì đối với người Dothái ở Giêrusalem. Đây là “một quận của các quốc gia” (Is 8.23), là một hành lang của các dân ngoại giáo.

Thị xã Nazareth không có gì là quan trọng; không tiên tri nào nói đến Nazareth. Thiên Chúa đã sai thiên thần Gabriel vào trong thị xã không tên tuổi ấy, đến với một thiếu nữ. Trong Cựu Ước người ta chưa bao giờ thấy sứ giả Thiên Chúa đến thưa truyện với một thiếu nữ và xin thiếu nữ ưng thuận. Thiếu nữ ấy đã hứa hôn với một người thuộc dòng tộc Đavít, tên là Giuse. Giuse và Maria là hai tên gọi quá phổ thông, là hai cá nhân hoàn toàn xa lạ. Không một tính từ nào hợp với họ, tất cả chỉ là tầm thường, và xét về phương diện loài người thì tất cả đều là vô ích.

Khi chọn những cá nhân không được thế giới biết đến, lại sống trong một thị xã không tăm tiếng, Thiên Chúa muốn minh chứng rằng đây đúng là công việc của Ngài, chứ không phải là công việc của loài người. Lời thánh Phaolo nói áp dụng một cách tuyệt diệu vào thánh Giuse và Mẹ Maria như sau:

“Thiên Chúa đã lựa chọn những kẻ ngu dại trong thế gian để khiến những người khôn ngoan phải bẽ bàng; Thiên Chúa chọn những người yếu đuối để thế gian phải thẹn thùng; Thiên Chúa lựa chọn những điều thế gian khinh thường và miệt thị, chọn cả những sự không có ngõ hầu huỷ bỏ những sự đã có, để không một ai khoe mình trước tôn nhan Ngài được” (1Cor 1.27-29).

Thánh Giuse cũng như Mẹ Maria, không đấng nào xứng đáng được Chúa ưu tuyển. Lựa chọn là một việc làm hoàn toàn do lòng nhân hậu của Chúa. Bao giờ Chúa cũng được toàn quyền tự do trong việc Ngài chọn lựa.

Thiên Chúa đã biết Mẹ Maria và thánh Giuse, đã chuẩn bị hai đấng để thi hành đại cuộc canh tân mà Ngài sẽ thực hiện. Giuse thuộc nhà Đavít, vì thế thánh nhân được quyền hưởng những lời đã hứa với tổ tiên mình. Mẹ Maria hình như cũng thuộc chi tộc Giuđa, và cũng là miêu duệ Đavít; hơn nữa Mẹ còn có những liên hệ họ hàng với một gia đình tư tế, gia đình ông Zacharia và bà Elisabeth. Điều can hệ đối với chúng ta ở đây là nên biết rằng Mẹ Maria đã gia nhập một cách đặc biệt vào nhà Đavít nhờ việc Mẹ đã đính hôn với thánh Giuse. Thánh nhân là hậu duệ đích thực của Đavít, và hai gia phả các thánh sử còn để lại làm chứng điều này một cách chắc chắn.

Trong hoàn cảnh nào và với cách thế nào thánh Giuse và Mẹ Maria đã quyết định ăn đời ở kiếp với nhau? Chúng ta không hề biết. Các sách Nguỵ Phúc Âm (Evangiles pocryphes) cho chúng ta những chi tiết thật là hoang đường. Chúng ta không nên lưu ý tới. Hình như vào thời gian ấy thanh niên cũng như thiếu nữ có quyền nói lên quan điểm của mình trong việc lựa chọn người bạn đời. Những cuộc gặp gỡ nhau có thể được gia đình khuyến khích, vì thế việc đính hôn và việc thành hôn của thánh Giuse và Mẹ Maria được hoàn toàn tự do. Hai người đã thoả thuận một cách tự tình và chân thành, chứ không có một ép buộc nào từ bên ngoài.

Công trạng của Mẹ Maria là hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa, và tín thác vào người mà Thiên Chúa đã ban cho mình làm bạn trăm năm. Mẹ không hề biết rồi đây lòng tín thác ấy sẽ đưa Mẹ đến đâu. Về phía thánh Giuse lại có công trạng là tín thác vào người mà Thiên Chúa đã ban cho mình làm hiền thê. Thánh nhân hoàn toàn tin tưởng vào con đường Mẹ sẽ dẫn thánh nhân đi, và cũng không nghi ngờ về những gì Mẹ sẽ đem lại cho thánh nhân. Nhờ đính hôn với Mẹ, thánh Giuse ban cho Mẹ quyền được hưởng những lời đã hứa cùng Đavít. Mẹ được thừa hưởng một đặc quyền khác hơn là được ngự giữa một triều đình lộng lẫy như triều đình vua Salomon. Mẹ chắc chắn được nghĩa cùng Thiên Chúa và có quyền làm Mẹ Đấng Thiên Sai.

Chắc hẳn, thánh Giuse và Mẹ Maria cũng như các thanh niên và thiếu nữ khác, đã phác hoạ kế hoạch tương lai, và đã mơ ước một đời hạnh phúc. Thiên Chúa đã đến làm hư hỏng mọi kế hoạch, và làm xáo trộn mọi xếp đặt của trí tưởng tượng. Đồng thời mọi sự đều được hoàn thành một cách bất ngờ. Tất cả những ao ước và những hy vọng của hai đấng đều thất bại. Thiên Chúa đã ban cho Mẹ Maria và thánh Giuse được tràn đầy qúa mức độ. Hai đấng đã thương yêu nhau một cách âu yếm và thắm thiết khác thường. Không bao giờ một thanh niên và một thiếu nữ mang lại cho nhau những tài sản phong phú đến thế trong cuộc hôn nhân. Thánh Giuse trao tặng Mẹ Maria di sản thiêng liêng của Đavít, và Mẹ Maria trao ban Con Thiên Chúa cho thánh Giuse. Lời tán dương thánh Giuse được gồm tóm trong câu Phúc Âm này: “Giuse là bạn trăm năm Maria, bởi bà Chúa Giêsu đã sinh ra” (Mt 1.16). còn lời ca tụng Mẹ Maria lại được tóm lược trong câu này: “Một trinh nữ đã hứa hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Đavít” (Lc 1.27).

Thiên thần Gabriel đã thi hành sứ mệnh đầu tiên trong đền thờ Giêrusalem, giữa một buổi lễ, với những tiếng hát véo von, với những tiếng cầu kinh sốt sắng, và những làn khói bốc lên từ hy lễ. Còn sứ mạng lần thứ hai không để lại một chi tiết đích xác nào về nơi chốn và về hoàn cảnh. Chúng ta chỉ biết được tên thị xã là Nazareth, và tên trinh nữ mà thiên thần đã được sai đến là Maria. Thánh Bernardo tự đặt câu hỏi:

“Tại sao thiên thần được sai đến Nazareth? Tại sao Thiên Chúa lưu tâm đến một thị xã không quan trọng? Phải chăng Thiên Chúa đã tìm ra được lý do chính trong lời Chúa Giêsu đã phán: “Kho tàng ngươi ở đâu thì lòng trí ngươi cũng ở đó” (Mt 6.21). Kho tàng Thiên Chúa giấu ẩn ở Nazareth, và kho tàng ấy chính là Mẹ Maria; vì thế lòng Thiên Chúa cũng ở Nazareth”.

Trong một lễ Mẹ Chịu Truyền Tin, thánh Bernardo còn giải nghĩa cho các đan sĩ của ngài như sau:

“Thật là lạ lùng, Nazareth, một thị xã quá bé nhỏ, lại được đón tiếp một vị sứ giả cao trọng được sai đến bởi một vị vua quá cao sang! Đây là một kho tàng quý giá cất giấu trước con mắt loài người chứ không phải cất giấu đối với Thiên Chúa. Kho tàng Thiên Chúa phải chăng là Mẹ Maria. Ơû đâu có Mẹ Maria thì ở đấy có lòng Thiên Chúa. Mắt Thiên Chúa chăm chăm nhìn vào Mẹ, vì ở khắp mọi nơi Ngài vẫn nhìn đến đức khiêm nhường của nữ tì Ngài. Ngài biết thiên đàng vì Ngài là Con Một Chúa Cha. Vì Ngài biết thiên đang nên Ngài cũng biết Nazareth. Tại sao Ngài lại không biết quê hương Ngài? Tại sao Ngài lại không biết di sản của Ngài ở đâu? Ngài thừa hưởng thiên đàng do Cha mình, và nhận lấy Nazareth do Mẹ mình” (Ann 3.7).

thiên thần được sai đến cùng một trinh nữ đã đính hôn. Hai từ ngữ đều quan trọng. Maria là trinh nữ và đã đính hôn, nghĩa là đã hứa hôn. Ơû đâu không nói gì đến tuổi của Mẹ Maria và tuổi của thánh Giuse. Tưổi chính xác không mấy quan trọng, điều hệ trong là đức đồng trinh của Mẹ Maria và việc Mẹ thành hôn với thánh Giuse. Nhờ kết duyên với thánh Giuse bằng việc đính hôn, Mẹ đã dấn thân vào một con đường bí mật mà Mẹ không biết đầu đuôi ngọn ngành. Mẹ lãnh nhận từ thánh Giuse quyền hưởng những lời hứa về Đấng Thiên Sai.

Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán ngày giờ và nơi chốn xảy ra biến cố Truyền Tin. Chúng ta mừng lễ Mẹ Chịu Truyền Tin vào ngày 25 tháng 3 hằng năm. Chúng ta đặt lễ này trong mối tương quan với lễ Sinh Nhật và lễ Phục Sinh. Đây là một lễ mùa Xuân, một ngày hội đầu Xuân, và một ngày lễ hy vọng. Chúng ta không hay biết gì về nơi chốn xảy ra cuộc đối thoại giữa thiên thần và Mẹ Maria. Thánh Ambrosio thích nhìn ngắm Mẹ sống cô đơn trong một căn phòng nhỏ, không có bạn gái, không người chứng kiến. Chỉ mình thiên thần tìm ra Mẹ (In Luc 2). Trái lại, các nghệ sĩ thích vẽ thêm các thứ trang trí rườm rà vào.

Người ta cũng không bỏ qua được một truyền thống khá cổ thời ngày nay còn thịnh hành bên các Giáo hội Đông phương. Thiên thần Gabriel thăm viếng Mẹ có lẽ vào ban trưa, ở ngoài giếng nước trong khi Mẹ ra kín nước như tất cả các phụ nữ trong thị xã. Vì thế, biến cố vĩ đại Nhập Thể mới ăn khớp được với những việc Thiên Chúa đã dự định làm.

 
<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)