dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Maria, Thành Nazaréth
 
     
<<<    


VII. KÍNH CHÀO BÀ ĐẦY ƠN PHÚC

Sau khi cho biết: “Tên trinh nữ là Maria”, thánh Luca lại thêm: “Thiên thần nói với trinh nữ: Kính chào Bà, đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà!” (Lc 1.28). Chính thiên thần chào trước; thiên thần chào nhân danh Thiên Chúa vì thiên thần được Chúa sai đến một cách đặc biệt. Thiên thần Gabriel, trong lần đi sứ ở đền thờ, đã không chào ông Zacharia, mặc dầu ông là tư tế thánh thiện và đáng kính. Thiên thần chỉ có sứ mạng đem đến cho ông một tin vui, chứ không xin ông điều gì. Ơû đây, thiên thần đến nài xin một sự thoả thuận.

Chúng ta được biết thiên thần đã thưa thế nào với Mẹ Maria, và Mẹ đã kể lại làm sao những gì thiên thần đã nói với Mẹ. Chúng ta chỉ có bản văn viết bằng tiếng Hylạp của thánh sử Luca. Bản văn này có một gía trị thần học đặc biệt, và không thể được viết ra do một trí khôn nhân loại. Chúng ta thường đọc: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc”. Đọc như thế chúng ta đã làm mất một phần sự phong phú của bản nguyên cảo. Bản văn này chứa đựng một từ ngữ lịch sử là “kính chào” và một tĩnh từ là “đầy ơn phúc”.

Ngày nay người ta tranh luận để xem phải đọc là “kính mừng” hay “hãy vui lên!”. Thật ra, vấn đề ít quan trọng, vì giá trị một lời chào không do những chữ được dùng, nhưng là người đã dùng những chữ ấy. Mà ở đây, chính Thiên Chúa, qua môi giới sứ giả, chào tạo vật của Ngài. Bản văn của thánh sử Luca, viết bằng tiếng Hylạp đã dùng từ ngữ “Khairê!” có nghĩa là: “Hãy vui lên! Hoan hô! Hãy được hạnh phúc!”. Lời chào này tương đương với lời chào Dothái là “Shalom!” “Bằng an cho bà!”. Lời chào trên đây được dịch sang La Ngữ là “Ave!” “Kính chào! Chào!”.

Ngày nay người ta thích dịch từ ngữ tiếng Hylạp, không phải vì quý mến tiếng Hylạp, nhưng vì muốn tham khảo những bản văn tiên tri của Cựu Ước. Từ ngữ “Khaire!” “Hãy vui lên!” được dùng mỗi khi nói về Đấng Thiên Sai sẽ đến. Vì thế, trong viễn tượng của thánh Luca, Mẹ Đồng Trinh Maria được đồng hoá với “thiếu nữ Sion”, và Chúa Giêsu, Con Mẹ, được đồng hoá với Giavê là Vua và là Cứu Chúa. Ví dụ: “Thiên Chúa phán: Hỡi thiếu nữ Sion, hãy vui lên, vì này đây Ta đến ở giữa ngươi” (Za 2.14). Mẹ Maria là căn nguyên niềm vui của chúng ta, Mẹ là người thứ nhất được thỉnh mời để vui mừng hoan hỷ về công việc kỳ diệu Thiên Chúa đang chuẩn bị hoàn thành là ban Con mình cho thế gian.

Từ ngữ “Kính mừng Bà” vẫn giữ được vẻ tươi sáng và gía trị của nó. Chữ Ave trong tiếng Latinh không thể thay thế được. Từ xa xưa chữ Ave có liên hệ với chữ Eva là tên người mẹ đầu tiên của chúng ta. Ave là chữ Eva đảo ngược. Mẹ Maria là phản đề của Eva. Giữa thế kỷ thứ IV, Venance Fortuat đã nhấn mạnh đến chữ Ave trong thánh ca Ave Maria Stella (Kính chào Sao Biển).

Sumens illed Ave
Gabriellis ore,
Funda nos in pace
Mutans Evae nomen.

Khi nhậm lời chào Ave
Phát xuất từ miệng thiên thần Gabriel,
Mẹ đã gây dựng chúng con trong bình an,
Bằng cách biến đổi tên Eva.

Theo các học giả thì Ave hay Eva có cùng một nguyên ngữ Dothái và có nghĩa là sống.

Thiên Chúa chào Mẹ Maria qua trung gian thiên thần Gabriel là một sự kiện rất quan trọng. Thành ngữ dùng để chỉ Đức Trinh nữ thật là phi thường. Chúng ta có thói quen đọc lời chào một cách qúa máy móc nên chúng ta không thấu hiểu được nội dung lời chúng ta đọc. Thiên thần không gọi tên Maria, nhưng đã thay tên gọi bằng từ ngữ Kêcharitômênê, một tính từ diễn tả những gì Mẹ có trước mặt Thiên Chúa, và những gì Mẹ sẽ có đối với chúng ta. Thiên thần nói: “Kính chào, đầy ơn phúc!” hoặc như người ta dịch ra hiện nay là: “Hãy vui lên, tràn trề ơn phúc!” Mẹ Maria đầy ơn phúc, tràn trề hồng ân, chứa chan vẻ xinh đẹp và kiều diễm.

Thiên Chúa ban cho Mẹ một tên mới như lời tiên tri Isaia đã loan báo: “Người ta sẽ gọi Ngài bằng một tên mới, tên mà chính miệng Đức Giavê sẽ nói ra” (Is 62.2). tên mới ấy duy nhất trong Thánh Kinh, vì chỉ mình Mẹ mới được tràn trề, đầy đặn và dư thừa các hồng ân và các tặng ân Thiên Chúa. Khi người ta đặt tên cho ai thì tên ấy không biến đổi một tí gì nơi con người nhận tên. Đối với Thiên Chúa lại khác. Lời sáng tạo của Ngài mang lại đầy đủ ý nghĩa cho một tên gọi mà Ngài ban cho một tạo vật.

Đi sau từ ngữ “Đầy ơn phúc” là những chữ nhấn mạnh đến sự viên mãn ý niệm trên: “Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc hơn mọi người nữ”. Chính Thiên Chúa hiện diện một cách đặc biệt đã ban cho Mẹ tràn đầy ơn nghĩa và làm cho Mẹ trở nên độc nhất vô nhị giữa các phụ nữ. Mẹ Maria được tràn đầy, được biệt đãi và được dành riêng một cách đặc biệt cho mình Thiên Chúa. Như vậy có nghĩa là Mẹ đã lãnh nhận tất cả những gì làm cho Mẹ xứng đáng với lòng ao ước của Thiên Chúa là trở nên Mẹ của Con Ngài. Những gì không xứng đáng với Thiên Chúa không thể lôi kéo được Ngài. Thiên Chúa chỉ có thể yêu những gì chính Ngài đã đặt vào trong các tạo vật của Ngài. Đây là ánh phản chiếu của hình ảnh Ngài mà Ngài thưởng ngoạn và yêu mến. Một người càng đáng Thiên Chúa yêu và càng được Thiên Chúa yêu thì người ấy càng giống Thiên Chúa và càng nhận được nhiều ơn phúc bởi Thiên Chúa.

Những từ ngữ “Bà được chúc phúc hơn mọi người nữ”, hoặc như chúng ta đọc trong kinh Kính Mừng: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ” không gặp thấy trong một số thủ bản. Những từ ngữ này được thánh Elisabeth nói lên khi Mẹ Maria thăm viếng bà. Có lẽ một người sao lục nào đấy đã vô ý thêm vào, hay đã bỏ đi vì gặp thấy ở nơi khác.

Nghe thấy lời thiên thần chào, Mẹ Maria bối rối; Mẹ tự hỏi không biết lời chào này có ý nghĩa gì. Trong suốt lịch sử Israel, người ta chưa thấy một cách chào hỏi nào tương tự như thế. Sự hiện diện của thiên thần không làm Mẹ bối rối, nhưng là chính lời chào của thiên thần. Trong đền thờ ông Zacharia không những bối rối mà còn khiếp sợ. Nhưng Mẹ không đến nỗi quá bối rối, mất cả suy nghĩ để tìm hiểu. Khi Thiên Chúa tỏ mình ra bao giờ cũng kéo theo một cảm xúc mạnh mẽ hay yếu ớt, nhưng sau cảm xúc là lúc bình an.

Thánh Tomas Aquinas giải nghĩa như sau:

“Thiên thần Gabriel chào Mẹ Maria một cách mới lạ và rất phi thường. Như thế, thiên thần muốn làm cho Mẹ chăm chú và mở rộng lòng ra đón nhận tin mừng lớn lao mà thiên thần sẽ loan báo cho Mẹ” (3a q. 30a.4).

Mẹ cảm thấy những biến cố vĩ đại có liên hệ đến Mẹ xảy đến. Mẹ không thể thấy trước hoặc đoán ra được những gì sẽ xảy ra; Mẹ lo lắng và tự hỏi biến cố nào đây sẽ xảy ra trong đời Mẹ. Câu văn: “Thiên Chúa ở cùng Bà” trong Thánh Kinh bao giờ cũng chỉ rõ sự hiện diện đặc biệt của Thiên Chúa để thi hành sứ mệnh giải phóng dân tộc.

Trước khi giải thích lời chào, thiên thần Gabriel trấn an Mẹ bằng cách thân mật gọi tên Mẹ: “Maria, đừng sợ, vì Bà đã được đặc sủng trước mặt Thiên Chúa” (Lc 1.30). Điều đáng lưu ý ở đây là thiên thần sau khi đã gọi Mẹ “Đầy ơn phúc”, bây giờ lại nói với Mẹ: “Bà được đặc sủng” vì Mẹ Maria đã được tràn đầy hồng ân Thiên Chúa nên Mẹ được đặc sủng trước mặt Ngài. Mẹ thấm nhuần Thánh Kinh nên Mẹ không thể có ảo giác về ý nghĩa câu “Bà được đặc sủng”. Trong Cựu Ước câu này diễn tả vẻ xinh đẹp cả bên trong lẫn bên ngoài đã chiếm được lòng ưu ái của Đức lang quân. Do đấy, bà Ruth đã đắc sủng trước mặt ông Booz, và bà Esther đã đắc sủng trước mặt vua Assuerus. Đối với Mẹ Maria, Mẹ đã chiếm được lòng ưu ái và lòng nhân hậu của Thiên Chúa đến nỗi Mẹ được lựa chọn giao ước hôn nhân đã được các tiên tri loan báo.

Trong cuộc đàm thoại giữa Mẹ Maria và thiên thần Gabriel, thật sự là một giao ước đã được bàn đến, giao ước hôn nhân, nghĩa là việc Con Thiên Chúa phối hợp với bản tính loài người chúng ta. Cũng như tất cả các giao ước, cuộc thành hôn giữa Con Thiên Chúa và bản tính nhân loại chúng ta phải được hoàn toàn tự do về phía Thiên Chúa cũng như về phía nhân loại. Nếu không thế thì không còn giao ước nữa nhưng chỉ còn là cuộc chinh phục. Thiên Chúa muốn mừng lễ thành hôn của Con mình, đã sai sứ giả đến cùng Mẹ Đồng Trinh Maria để nài xin Mẹ ưng thuận. Thánh Tomas Aquinô nói rằng: “Trong giây phút hệ trọng của lịch sử Thiên Chúa và nhân loại ấy, Mẹ Maria phải chấp nhận hoặc từ chối nhân danh cả loài người” (3a q.30.1).

Thiên thần Gabriel là môi giới giữa trời và đất, giữa Tự Hữu và thụ tạo, giữa Thiên Chúa và Mẹ Maria. Thiên thần có nhiệm vụ tỏ ra thánh ý Thiên Chúa. Sau khi trấn an Mẹ bằng cách cho Mẹ biết Mẹ không có gì phải sợ vì Mẹ đắc sủng trước Thiên Chúa, thiên thần liền cho Mẹ biết diễn tiến những biến cố như Thiên chúa ao ước:

“Này đây, bà sẽ thụ thai và sinh một con trai, và bà sẽ đặt tên cho trẻ ấy là Giêsu. Ngài sẽ nên cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Đavít tổ phụ Ngài, và Ngài sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Ngài sẽ vô tận” (Lc1.31).

Nhưng Mẹ không loá mắt trước viễn tượng huy hoàng về vương triều không có ngày cùng của người con trai được hứa cho Mẹ, Mẹ hết sức bình tĩnh và nghĩ đến những hậu quả thực tiễn phát sinh ra từ một lời tiên báo như thế. Hoàn toàn tin tưởng vào sứ giả Thiên Chúa, nhưng Mẹ cũng không lưỡng lự mà xin sứ giả cắt nghĩa thêm. Mẹ đặt một câu hỏi chính xác: “Việc ấy xảy đến sao được, vì tôi không biết đến người nam?” Câu hỏi kín đáo ấy chứng minh chẳng những Mẹ sống trong tình trạng đồng trinh, mà Mẹ còn có ý sống trong tình trạng ấy mãi.

Vì Mẹ Maria đã đính hôn với thánh Giuse, nên Mẹ phải được sự thoả thuận của thánh nhân là người sẽ ăn đời ở kiếp với Mẹ để sống đồng trinh, chỉ có thế chúng ta mới hiểu được ý chí giữ mình đồng trinh của Mẹ. Sự thoả thuận này cũng kéo theo một ý hưởng tương trợ như thế về phía thánh Giuse. Một vài tác giả cho rằng thánh Giuse và Mẹ Maria có khấn giữ đức trinh khiết theo nghĩa ngày nay, nghiã là một lời tự nguyện khấn với Thiên Chúa. Có thể như vậy. Tuy nhiên, giả sử có như vậy thì Mẹ Maria và thánh Giuse phải quyết định tổ chức đời sống của mình một cách xác định trước. Trong trường hợp này người ta thấy đời sống hôn nhân của hai Đấng không còn ý nghĩa.

Chúng ta nên lấy con mắt bình thường mà nhìn mỗi Đấng một ý hướng căn bản, có thể nói được là một ý hướng bẩm sinh, luôn luôn sẵn sàng làm tất cả những gì Thiên Chúa muốn. Từ thơ ấu, cả hai đều cảm thấy hướng chiều về một định mệnh mơ hồ. Thiên Chúa đã chuẩn bị hai Đấng để hoàn thành kế hoạch cao cả. Việc chuẩn bị này đã tiến triển một cách điều hoà suốt trong thời kỳ thân xác và tinh thần hai Đấng phát triển. Hai Đấng quyết định giữ mình đồng trinh không phải vì hai Đấng từ chối yêu đương, nhưng vì hai Đấng mở rộng lòng ra để đón nhận một tình yêu cao cả hơn.

 
<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)